Trùng Tuyên Thánh Điển NIKĀYA 15 - 02-04-2024
TRÙNG TUYÊN THÁNH ĐIỂN NIKĀYA 15 (02/04/2024)
–Thích Minh Thành–
Sư Phụ: Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta có tiết mục trùng tuyên Thánh điển, nói nôm na là trả bài, nhắc lại những lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây là điều mà ngày xưa các bậc thánh Tăng đã từng làm mấy ngàn năm qua, khi Đức Phật còn tại thế ngài nói cái gì, lặp tới lặp lui lặp tới lặp lui rất là nhiều lần, các thánh chúng cũng như vậy rồi sau đó Đức Phật nhập Niết-bàn thì được ngài Maha Ca-diếp, Maha Kassapa triệu tập trong hang Thất Diệp mời thỉnh năm trăm vị thánh Tăng A-la-hán kết tập kinh điển lần thứ nhất cho đến lần thứ hai, lần thứ ba. Giờ này chúng ta mới có được thánh pháp tạng Nikāya như những bậc thánh Tăng cao đức đã dày công phiên dịch, cố hòa thượng Thích Minh Châu là Ni Sư Chơn Tín Toàn phân loại. Chúng ta thừa hưởng được cái tài sản vĩ đại của thánh pháp, chúng ta là những người con cháu sau này được tiếp cận, được học hỏi, được tu tập, được lợi ích.
Thầy Thiện Huệ:
"Vị Tỳ-kheo thích Pháp,
Mến pháp, suy tư Pháp.
Tâm tư niệm chánh Pháp,
Không rời bỏ chánh Pháp"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 364)
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói cho chúng con ý nghĩa của lời dạy đấy, sau khi nghe lời dạy của Thế Tôn, chúng con sẽ thọ trì. Vậy này đại chúng, hãy nghe và suy nghiệm kĩ, ta sẽ giảng. Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau.
Con kính bạch chư tôn thiền đức cùng các chư vị hiền trí, việc trùng tuyên thánh điển điều này rất là lợi ích cho tự thân cũng như là cho tất cả chúng sanh vì sự an lạc, hạnh phúc, lợi ích cho chư thiên và loài người. Khi Thế Tôn thuyết pháp tức là ngài rống tiếng rống của con sư tử, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho các đệ tử Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, phạm thiên cho đến các hàng phàm phu Thế Tôn thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo không phải là không cẩn thận, không chu đáo.
Sư cô 1: Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính thưa chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni và sự hiểu biết của con cạn cợt về bài pháp này, bài kinh này con rút ra hai bài học là nhắc nhở cái tâm, cái thân này là vô thường. Con rất ấn tượng và tâm đắc, con không có chiều cái thân này, để cho nó sống và làm thực hành đúng như trong kinh và mình sống một cuộc đời có lợi ích. Khi mình ra đi mình không có thấy tiếc nuối, đó là câu đầu con hiểu và tiếp theo là cái thân này nó là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái, vì vô minh, tham ái nên mình có mặt sanh trong đời này. Giờ nhân duyên mà mình biết đến Phật pháp, từ khi con biết đến Phật pháp thì con thấy rất là nhiệm màu, nó đã thay đổi cả cuộc đời của con.
Khi con quán sát nhìn lại thì con thấy con rất là hạnh phúc, những tháng ngày con ở đây con rất là hoan hỉ và vui trong niềm an lạc. Bên cạnh đó con luôn e dè, con sợ mình nói ra thì nó sẽ chướng ngại mình không thể đi tiếp tục khi mình chưa có đủ phước báu thì không nên vội nói. Con tự nhắn cái tâm con là đừng có vội, cái gì cũng vội, vội đến rồi vội đi thì con thấy rất tiếc uổng, con tự nói trong tâm con là mỗi ngày con cố gắng và con sống sao cho để khi mình ra đi mình không có hối hận và con luôn phát nguyện là mình tu không phải chỉ đời này mà đời đời kiếp kiếp gặp được thánh pháp mình tu tập để sống một cuộc đời có lợi ích, không phải sống với cái tâm phàm phu như trước kia. Mình vô minh, vì khao khát, khát ái nên mình đến trong cuộc đời này và con nhìn lại thì trong nửa cuộc đời từ khi nhỏ đến lớn lên hai mươi tuổi con sống trong sự rất là đau khổ, khi biết đến Phật pháp thì con thấy được sự nhiệm màu đến với con và nó cũng tháo gỡ lần lần.
Con rất là trân quý những tháng ngày ở đây học pháp, sư phụ đã chỉ dạy cho con, con cảm nhận từng ly từng tí, tuy có những lúc sư phụ không có trực tiếp nhưng mà qua sự gián tiếp sư phụ giảng dạy cho chúng con thì bản thân con cảm nhận như một vị cha già chỉ hết và mình nghiền ngẫm như thế nào, mình tự đi, không ai mà đi thay thế giùm mình. Đó là một điều mà con tâm đắc nhất trong bài kinh của ngài Ratthapàla, những lúc con không có hộ trì căn, con sống mà có lúc con hơi buông thả thì vô tình hay không cố ý con có lỡ lời hay là làm điều gì ai buồn đó thì bản thân con rất là trạo cử, tối về thì con tưởng cái hình bóng người đó và con lạy sám hối để con không muốn tiếp tục tạo thêm những cái nghiệp mới. Chính mình tạo nghiệp mới tiếp tục là mình còn tái sanh, đây là những cái điều mà con ưu tư, lo lắng và rất sợ và chính những bài kinh là một điều nhắc nhở để con luôn luôn sống trong một cuộc đời không có uổng phí kiếp người và gìn giữ để cho nó không có lừa mình.
Đó là sự hiểu biết của con trong bài pháp này cạn cợt, con mong trên sư phụ quý thầy, quý Ni sư chỉ dạy cho con và con nắm rõ và hiểu biết một cách sâu sắc hơn để con nỗ lực, tiếp tục tu tập trên con đường tu dòng pháp này. Con niệm ân đức quý thầy, quý Ni sư và những các bậc hiền trí đã lắng nghe con trong thời gian. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Bài kinh vừa rồi sư cô đọc rất là quan trọng đối với những người xuất gia, bài này sư phụ có giảng rất là kỹ, đại chúng chúng ta cũng như các vị ở xa chúng ta về nghe lại thành quả của người tu và bốn chân lý vĩ đại. Sư phụ giải thích bài Niệm Thân Vô Chủ rất là rõ, đại chúng về nghe lại những bài đó, thành quả của người tu và bốn chân lý vĩ đại. Con mời các vị tiếp theo.
Sư cô 2: con xin được phép đọc bài kinh niệm lòng tin bất động, Kinh Cần Phải Khích Lệ.
"- Này Ananda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống. Với những người ấy, này Ananda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm. Thế nào là ba?
- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Ðức Phật: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với pháp: 'Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu'. Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: 'Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng được cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời'.
- Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại. hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
- Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
- Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại,hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Này Ananda, với ai Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống. Với những người ấy, này Ananda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm này" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, Cần Phải Khích Lệ)
Thầy Thiện Huệ: Cô hiểu như thế nào pháp là thiết thực hiện tại?
Sư cô 2: Dạ ở đây như dòng pháp Nikāya này bắt đầu từ việc đơn giản nhất, pháp đơn giản nhất là nhận diện ngũ uẩn thì thiết thực hiện tại là ngay khi mình quay vào bên trong mình nội soi năm uẩn sẽ thấy ra được sự thật ở trong tự thân của mình, thấy được cái lý về vô thường, khổ và vô ngã ở trong ngay tự thân của mình ạ. Con còn nông cạn và cạn cợt, con xin có đôi lời là như vậy ạ.
Thầy Thiện Huệ: Con mời thầy Pháp Tâm giải thích ngắn gọn, đơn giản cho các vị hiểu thêm.
Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên chư tôn đức Tăng Ni cùng chư hiền trí. Trong kinh Nikāya Đức phật có dạy thế nào là pháp thiết thực hiện tại, đó là khi mình nhìn lại trong nội tâm nhìn thấy được tham và tham đang có mặt, thấy được si, thấy được sân và đang có mặt trong nội tâm qua sự nhận diện năm uẩn, nhìn sâu vào trong cảm giác, ở trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác khó chịu có sân, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si. Đó là lời con suy tư cũng như trong lời Đức Phật dạy, kính trên quý thầy chỉ dạy, quý Ni sư hướng dẫn thêm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Cho thầy tràng vỗ tay đi, có bài kinh du sĩ đến hỏi Đức Thế Tôn như thế nào là thiết thực hiện tại, Thế Tôn chỉ hỏi ông ấy đơn giản thôi, nội tâm ông có tham, biết có tham không? Dạ có biết. Nội tâm ông có sân, ông biết có sân không? Dạ có biết. Nội tâm ông có si, ông biết là có si không? Dạ biết. Cái tham, cái sân, cái si này nó làm khổ mình, khổ người, nó làm hại mình, hại người ông thấy có phải vậy không? Dạ đúng vậy, khi thấy tham, sân, si làm hại mình, hại người, khổ mình, khổ người, ông nhiếp phục nó, ông diệt tận nó thì sẽ an lạc cho mình và cho người, có phải vậy không? Dạ phải. Đức Phật nói đó là thiết thực hiện tại đó.
"Pháp là thiết thực hiện tại, pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu?
- Vậy này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời; Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham ái'? Hay nội tâm không có tham ái. Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham ái'?
- Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham ái'. Hay nội tâm không có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham ái. 'Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm ta có si'? Hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si'?
-Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si.' Hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si.' Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại...Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có thân uế..., hay nội tâm có khẩu uế...hay nội tâm có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta có ý uế'? Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có ý uế...'?
- Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta có ý uế'. Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có ý uế'. Như vậy này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (VI). Cho Đời Này (2))
Thông qua việc thầy Pháp Tâm nói mình có sự nhận diện là ngũ uẩn nhìn lại các cảm thọ từ đó mình sẽ phát giác, phát hiện ra tham, sân, si rồi mình có phương pháp nhiếp phục, chế ngự diệt tận nó, làm cho nó lắng dịu dập tắt hoàn toàn, đem lại bình an và hạnh phúc cho mình, đó là thiết thực, là hiện tại. Con mời vị tiếp theo.
Cô Hiền Duyên: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Dạ được ơn trên sư phụ vì lòng thương tưởng cho chúng con buổi trùng tuyên thánh điển ngày hôm nay, con giới tử Hiền Duyên xin phép được trùng tuyên bài kinh Sống Theo Pháp trong tạng kinh Nikāya thuộc kinh Tăng Chi Bộ, tập II.
"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- 'Sống theo pháp, sống theo pháp', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo là vị sống theo pháp?
- Ở đây, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thông suốt pháp tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo thông đạt nhiều kinh điển, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy dùng trọn cả ngày để trình bày pháp cho các người khác, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đấy gọi là Tỳ-kheo thuyết trình nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để tụng đọc, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo đọc tụng nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với tâm tùy tầm tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày suy tầm về pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo suy tầm nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Ở đây, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy không dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, không phế bỏ sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, như vậy Tỳ-kheo sống theo pháp.
Này Tỳ-kheo, như vậy Ta đã thuyết về học thuộc lòng nhiều, đã thuyết về thuyết trình nhiều, đã thuyết về đọc tụng nhiều, đã thuyết về suy tầm nhiều, đã thuyết về sống theo pháp. Này Tỳ-kheo, điều gì bậc Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ khởi lên, các điều ấy, Ta đã làm cho các Thầy. Này Tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Này Tỳ-kheo, hãy tu Thiền, chớ có phóng dật, chớ có để về sau sẽ phải hối tiếc. Ðấy là lời giáo giới của Ta cho các Thầy" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VIII. Phẩm Chiến Sĩ, (III. Sống Theo Pháp (1))
Dạ mô Phật con không biết đại chúng có hoan hỉ khi con đọc bài kinh này không? Con cũng vậy khi con được đọc bài kinh này và suy tư về bài kinh sống theo pháp thì cảm thọ trong con rất là hoan hỉ vì con biết được thế nào là sống đúng theo pháp của Đức Phật. Khi con đọc bài kinh này thì một câu hỏi được đặt ra trong con đó chính là việc sống độc cư an tịnh và nội tâm an chỉ là pháp như thế nào mà nó lại quan trọng đến việc Thế Tôn tuyên bố rằng dù có dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, hay dùng trọn cả ngày để thuyết trình, để trình bày pháp cho người khác hay suy tầm về pháp, hay tụng đọc pháp nhưng bỏ phế việc sống độc cư an tịnh và nội tâm an chỉ thì cũng không phải là sống theo pháp của Đức Phật.
Con bắt đầu tìm hiểu về từ sống độc cư an tịnh và nội tâm an chỉ, con mới hiểu ra được rằng việc sống độc cư an tịnh không chỉ là nói đến việc mình sống một mình mà nó còn thể hiện qua việc dù trong hoàn cảnh nào đối duyên xúc cảnh thì mình không để nội tâm của mình chạy theo sáu trần, không bị sáu trần chi phối, biết quay về thân tâm nhìn nhận thân tâm, độc cư ra khỏi các pháp tà kiến, không đúng pháp thì đó cũng được gọi là việc sống độc cư an tịnh và nội tâm an chỉ, chính là việc chánh niệm tỉnh giác, đưa sự định tĩnh trở về trên thân, khẩu, ý của chính mình. Khi con tìm hiểu về ý nghĩa của pháp sống độc cư an tịnh và nội tâm an chỉ thì khi đó con nhìn nhận lại pháp hành Nikāya mà con đang được sư phụ chỉ dạy thì trong con có một sự hoan hỉ rất là lớn, vì con biết được pháp hành Nikāya của bậc đạo sư và sư phụ đang chỉ dạy là sống đúng theo pháp của Đức Phật.
Lý do mà con nói như vậy chính là những cái pháp hành mà sư phụ hướng dẫn cho chúng con tu học căn bản cốt lỗi đó chính là nhận diện ngũ uẩn, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, an tịnh, lắng dịu và những pháp khác. Khi con suy nghiệm lại con thấy tất cả những pháp này đều giúp cho mình đạt được nội tâm an chỉ, sự an tịnh, lắng dịu trong thân tâm chỉ có khi mình quay về thân tâm nhìn nhận lại thân tâm thì lúc đó mình mới có thể phát hiện ra những cái tham, sân, si đang vận hành, sanh khởi cũng như là những rác bẩn ở trong tâm. Và phần thứ hai đó chính là phần cuối bài kinh Đức Phật đã có nhấn mạnh lại đệ tử của ngài phải tu thiền, không được bỏ việc tu thiền, không được buông lung phóng dật thì khi đó con suy nghĩ và kết nối lại những lời dạy lúc đầu của Đức Phật thì con thấy được sự nhất quán là việc tu thiền cũng chính là việc sống độc cư an tịnh và giúp cho mình quay về chuyên chú về nội tâm an chỉ. Khi đó con nhớ lại một vài câu kệ trong bài kinh Pháp Cú Đức Phật cũng có nói rằng:
"Không trí tuệ, không thiền,
Không thiền, không trí tuệ.
Người có thiền có tuệ,
Nhất định gần Niết-bàn"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 372)
Khi đó con mới thấy được tầm quan trọng của việc tu thiền, mình hướng vào bên trong nội tâm nhìn nhận lại thân tâm chính mình. Khi đó con mới hiểu rằng vì sao Đức Phật nói rằng những việc như là học thuộc lòng pháp, thuyết trình pháp, đọc pháp hoặc là suy tầm về pháp, những việc đó Đức Phật đã có làm nhiều và việc của mình chính là phải tu thiền. Vì khi tu thiền thì trí tuệ mới được khai mở, khi tu thiền tâm được định tĩnh, các pháp bất thiện sanh khởi mình cũng sẽ rất dễ nhận biết và đánh đuổi, khi tu thiền tâm có định, nội tâm được trong sáng thì trí tuệ mới sanh khởi. Nếu mình chưa có chánh kiến thì khi suy tầm về pháp hay là học thuộc lòng pháp thì những kiến thức mình hiểu được chỉ trên mặt chữ, trên tưởng tri, trên thức tri chứ rất khó để khai mở được tuệ tri. Do đó mà việc tu thiền là một việc rất, rất, rất là cần thiết trên con đường giải thoát, ở đây con thấy pháp hành của sư phụ vừa cho thiền chỉ vừa cho thiền quán.
Thiền chỉ để giúp nội tâm được trong sạch, trong sáng, quay về nhìn nhận lại thân tâm, thiền quán để cho chúng con mở rộng trí tuệ, vừa giúp tâm giải thoát vừa giúp tuệ giải thoát. Do đó khi con chiêm nghiệm lại những lời kinh này thì cảm thọ trong con nó rất là hoan hỉ mặc dù con biết là việc con thực hành cũng chưa được nhiều vì còn vô minh, vì còn những lậu hoặc nhưng mà bước đầu con đặt ra đó chính là mình làm sao phải thành tựu được một cái lòng tin vững chắc trong giáo pháp này vì thật sự đây là giáo pháp chính thống của Đức Phật, mình hành mình sẽ tới, mình có thực hành theo thì mình sẽ đạt được giải thoát mặc dù không nhanh thì chậm. Do đó bước đầu tiên con đặt ra đó chính là làm sao mình phải thành tựu được một cái lòng tin vững chắc trong giáo pháp này. Cuối cùng để tóm lại bài kinh thì con muốn nói là đó chính là nếu muốn làm người con ngoan của Phật, nghe lời Phật, nghe theo giáo pháp của Phật, sống theo pháp của Đức Phật thì chúng ta phải hành thiền, không được buông lung phóng dật, hướng ngoại và phải biết quay về sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ, đó chính là việc thực hành nhận diện ngũ uẩn, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, tập an tịnh, lắng dịu.
Đó là một vài sự chiêm nghiệm trong con về bài kinh Sống Theo Pháp, con kính trình lên trên sư phụ, quý thầy, Quý Ni sư cùng tất cả các bậc hiền trí. Trong khi con trình pháp có điều gì đó chưa đúng pháp con kính ngưỡng mong trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư cùng tất cả các bậc hiền trí chỉ cho con để con được đi đúng hướng và có sự tiến bộ hơn trong tu tập. Con chân thành cảm ơn sư phụ, quý thầy, quý Ni sư cùng tất cả các bậc hiền trí đã lắng nghe con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Cô Hiền Ánh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, chư tôn đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí. Dạ kính bạch trên sư phụ, chư tôn đức Tăng Ni và chư vị hiền trí, giới tử con pháp danh là Hiền Ánh, chiều hôm nay dưới sự cho phép từ trên sư phụ cho đại chúng có một buổi trùng tuyên thánh điển và trong con cũng có những suy tư chiêm nghiệm về bài kinh con xin phép được đọc bài kinh Sợi Dây Tái Sanh, Tương Ưng Bộ kinh, tập III.
"Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
... đối với thọ... với tưởng... với các hành...
Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt tái sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Sợi Dây Tái Sanh)
Trong con tâm đắc nhất là bài kinh Sợi Dây Tái Sanh, theo ý hiểu nông cạn của con là do chúng ta còn vô minh, tham ái nên yêu thích, chấp thủ vô sắc. Sắc đối với hàng cư sĩ, Phật tử thì đó chính là nhà cửa, xe cộ, con cái, tiền bạc và khi chúng ta chấp thủ, tham đắm vào những thứ này sẽ sanh ra bản ngã và càng tăng thêm lòng dục, lòng tham. Đây cũng chính là những cái mồi nhử của ác ma khiến chúng ta đi vào con đường ác, để mà cho những hàng cư sĩ Phật tử được bình an trong vòng luân hồi sanh tử này thì chúng ta phải tu dưỡng một tâm hiền thiện, biết cho đi và từ đó chúng ta giảm bớt lòng tham, lòng dục của mình. Đối với người xuất gia thì đó chính là chúng ta còn chấp thủ vào sắc thân của mình và chúng ta phải phá thân kiến, luôn thấy biết được rằng cái thân này là do duyên sanh, cơm cháo và tinh cha huyết mẹ tạo thành, nó là kết hợp giả dối, không có ai ở trong đó, không có gì là tôi, là tự ngã của tôi và chúng ta cần phải nhìn thấy được vị ngọt của sắc, sự nguy hiểm. Từ đó chúng ta thoát ly ra khỏi sắc.
Tiếp theo trong con là một cảm thọ ưu tư khi chiêm nghiệm về sự chấp thủ vào thọ; tưởng; hành; thức và trong ý hiểu của con thì do mình có cái thức rõ biết chỉ đơn thuần là rõ biết thế thôi nhưng mà lúc nào chúng ta cũng chấp vô cái thức là của tôi nên sẽ dẫn đến chấp vô ý hành này là tôi, là của tôi, do tôi hiểu như thế này và từ đó chúng ta sẽ lại phải tái sanh qua một kiếp khác và chịu đau khổ. Theo con chiêm nghiệm để phá được thân kiến, phá được sự bám chấp vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì chúng ta phải tu tập Tứ Niệm Xứ, luôn an trú trong hiện tại và trong sự tu tập của con thì con bị ý hành dẫn dắt rằng không biết ngày mai mình có sống được không nên con cứ muốn học, muốn tu những cái gì đó cao siêu nhưng thực chất những điều căn bản thì mình chưa có làm được.
Khi tu tập thì con thấy được rằng khi mình chưa có tâm hiền, chưa có những điều căn bản thì tu tập Tứ Niệm Xứ sẽ rất là khó. Cho nên để mình nhìn thấy được ngũ uẩn, tu tập Tứ Niệm Xứ Thì đầu tiên như sư phụ nói chúng ta phải tu tập tâm hiền trước và tiếp theo đó là phương pháp diệt ngã thì sau đó chúng ta mới có thể tu tập sâu vào dòng pháp này. Trên đây là những sự hiểu biết nông cạn của con, trong khi trình pháp con có những gì sai sót thì con xin kính trên sư phụ, chư tôn đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn mà chỉ dạy thêm cho con trên bước đường tu học. Con xin cảm ơn mọi người đã nghe con trình pháp. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư tôn đức Tăng Ni và các bậc hiền trí. Dạ mô Phật thưa thầy cho con hỏi con có thể trùng tuyên lại bài niệm thân vô chủ vừa nãy không ạ?
Thầy Thiện Huệ: Cô thuộc bài nào khác nữa không, đọc bài khác đi
Sư cô 3: Con kính thưa trên sư phụ, trên quý thầy, quý sư cô, con xin được trùng tuyên bài niệm thánh trí bốn thánh trí ngũ uẩn.
-Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
-Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
-Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
-Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.
Mô Phật, theo trí tuệ thấp kém của con thì con chỉ hiểu được rằng sự chấp tủ ngũ uẩn ở đây đó chính là mình chấp thủ vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Mình chấp bởi vì mình chấp thủ vào những cái hình bóng ở bên trong tâm của mình, những cái hình bóng của tự thân mình, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống như thế nào và mình chấp thủ vào những cái cảm giác vui, những cảm giác buồn, những cảm giác trơ trơ, ngơ ngơ, mình chắp thủ vào những cái suy nghĩ ở bên trong của mình và mình cho rằng những cái mà mình thấy, mình biết, mình nhìn thấy, mình nhận biết đó nó là mình và của mình và nó sanh cho mình rất là nhiều sự phiền não. Và sự chấp thủ vào cái sắc đó chính là chấp thủ vào cái thân này, nó cho cái thân này là mình, là của mình, nó yêu thích, nó thương cái thân này. Cho nên khi không may cái sự vô thường nó đến, hoặc là ai đụng chạm vào cái thân này, hoặc là cái thân này nó bị sức mẻ một chút gì đó liền sanh ra cái sự đau khổ, cái sự phiền não.
Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái là bởi vì mình không thấy rõ được ngũ uẩn cho nên mình mới có cái sự vô minh. Và cái sự vô minh của mình nó từ nhiều đời, nhiều kiếp cùng với những cái tập khí nên là nó rất là dày đặc và cái sự khát ái ở đây con hiểu rằng là nó khát ái ở bên tự thân bên trong này. Nó luôn yêu thích cái thân này, luôn mong muốn, luôn thích rằng cái thân này phải như thế này, phải đẹp như thế này, thích đến từng dáng đi, đứng, ngồi, nằm, ăn uống và cách nói chuyện. Nó yêu thích vào đôi mắt, khuôn mặt, cái mũi, cái miệng này, nó yêu thích toàn bộ ở trên thân thể này của nó, nó yêu thích trong từng suy nghĩ rằng người khác mình nghĩ như thế nào và người khác nghĩ gì về mình. Ở phía bên ngoài thì nó luôn khao khát, mong muốn tìm cầu bởi những cái sự yêu thương, cái sự quan tâm từ phía bên ngoài cho nó cái sự ấm áp, ngọt dịu.
Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái, Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. Ở đây con hiểu rằng là mình còn phải thực tập theo con đường Bát Chánh Đạo của Đức Phật đã chỉ dạy, và thực tập trên con đường Tứ Niệm Xứ thì dần dần mình mới tháo gỡ được cái sự vô minh và cái sự khát ái đối với cái sự chấp thủ vào cái ngũ uẩn này của mình. Và đó là những cái sự chiêm nghiệm, suy nghĩ ở trong con còn nhiều cạn cợt, con ngưỡng mong trên quý thầy, quý sư từ bi, thương xót chỉ dạy thêm cho con để con có được những bước tiến hơn trong tu học. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Tịnh Hòa:Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Dạ kính thưa sư phụ được sự dạy của sư phụ con pháp danh Tịnh Hòa xin được trùng tuyên bài kinh niệm oai nghi, kinh Niệm Xứ, Trung Bộ I.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi, tuệ tri: 'Tôi đi', hay đứng, tuệ tri: 'Tôi đứng', hay ngồi, tuệ tri: 'Tôi ngồi', hay nằm, tuệ tri: 'Tôi nằm'. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. 'Có thân đây', vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Dạ kính thưa sư phụ với sự hiểu biết nông cạn của con, con xin trình bày về sự chiêm nghiệm của mình về bài kinh này. Đầu tiên Đức Thế Tôn chỉ dạy cho các vị Tỳ-kheo về bốn oai nghi và vị Tỳ-kheo phải giữ tâm chánh niệm khi đi rõ biết là đang đi, khi ngồi, khi đứng, khi nằm rõ biết tất cả cử chỉ, hành động, oai nghi ở trên thân. Vị Tỳ-kheo khi nói, khi nhìn, khi co tay, duỗi tay hay khi ăn, khi nhai, khi nếm, khi đắp y, khi mang bát, tất cả những cái hành động ở trên thân đều phải chánh niệm và rõ biết cái hành động của mình. Điều thứ hai là Đức Thế Tôn dạy về quán tánh sanh khởi trên thân, quán tánh diệt tận trên thân và quán tánh sanh diệt trên thân, ở đây con được hiểu là nhắc nhở vị Tỳ-kheo quán tưởng về ba mươi hai thể trược từ trên đỉnh đầu cho đến gót chân của mình đều được bao bọc bởi một lớp da trơn láng, ở bên trong chứa đựng đầy những thứ nhơ nhớp, bất tịnh và rỉ chảy mỗi ngày.
Vì vậy tỳ kheo không nên chấp trước vào những vật gì ở trên thân thể của mình và vị Tỳ-kheo rõ biết về sắc thân tứ đại của mình là do bốn đại cấu thành. Địa giới ví dụ như là tóc, răng, xương, da, thịt, thủy giới là máu, mủ, mỡ, nước xương khớp, nước tiểu, vân vân, hỏa giới là hơi ấm và sức nóng ở bên trong bụng để tiêu hóa, biến hoại thức ăn, phong giới là hơi thở ra vào rõ biết hơi thở ở những cái không gian gió ở trong bụng. Tiếp theo là quán tưởng về chín giai đoạn của một tử thi thì lúc này con nhớ tưởng đến cái video về cái một xác chết được các nhà khoa học bỏ vào rừng để theo dõi quá trình phân hủy của tử thi, lúc này những tử thi bắt đầu trương phòng lên và những cái vết thâm tím bắt đầu vỡ ra, cái cơ thể chuẩn bị tái xanh, xanh lại và mủ máu bắt đầu nổ tung ra, chảy dịch ra, các côn trùng từ bên trong lẫn bên ngoài đục khoét rất là nhiều. Cuối cùng chỉ còn trơ lại bộ xương và theo năm tháng sẽ thành tro tàn.
Quá trình đọc bài kinh cũng như chiêm nghiệm thì con hiểu được như vậy, con cũng có một vài lời nhắn nhủ và tác ý tự thân mình.
Tâm mê ơi tâm mê
Nhìn đi sắc thân tứ đại rã rời
Ngươi cho ngươi tốt ngươi bền
Ngờ đâu tắt thở bốc mùi hôi tanh
Giòi bọ lúc nhúc sanh ra
Còn đâu sắc đẹp ngắm nhìn trong gương
Còn đâu giọng nói tiếng cười
Còn đâu cái ngã, cái này của ta
Ngươi xem ngươi còn lại gì
bộ xương gãy vụn không ai thèm nhìn
Ngươi xem ngươi có được chi
Một thân nuôi dưỡng giờ đi không về
Dạ con kính trình lên sư phụ, xin sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng chỉ dạy và hướng dẫn thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Cô Ấn Hạnh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin phép được trùng tuyên bài kinh Nước Mắt, Tương Ưng Bộ kinh, tập II.
"-- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?
-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng, cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
-- Lành thay, lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay, này các Tỳ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
... các Ông chịu đựng con chết...
... các Ông chịu đựng con gái chết...
... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...
... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... bị tham ái trói buộc.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Khi con được tiếp xúc với những lời kinh trong Tương Ưng Vô Thỉ có lẽ bài kinh này làm con xúc động nhiều nhất bởi vì tựa đề của bài kinh là Nước Mắt. Con sâu chuỗi tất cả những gì mà con được sống trong cuộc sống này thì có lẽ là nước mắt, đó là sự quen thuộc đối với con, chính vì vậy khi con được tiếp xúc với bài kinh này thì cái tựa đề ngay khi con được tiếp nhận nó đã làm tâm tư con có một cái sự chấn động và khi mà con đọc từng lời, từng lời trong bài kinh thì nó cuốn hút con theo từng lời, từng lời mà Đức Thế Tôn chỉ dạy.
Khi con chưa được tiếp nhận bài kinh này thì con vẫn chưa hiểu được dòng luân hồi mà con phải đi nó lâu xa và nó nhiều. Lúc con chưa tiếp nhận dòng tạng kinh Nikāya thì thật sự đối với con thì con cảm nhận cuộc sống này là một đời một kiếp, thật sự những cái trí tuệ trong tạng kinh Nikāya và nhất là cái bài kinh Nước Mắt này thì nó khai mở cho con, gọi là nó khai mở cho con một cái chiều sâu trong cái dòng luân hồi sinh tử. Từ khi con được tiếp nhận dòng kinh Nikāya và được thực hành về nhận diện ngũ uẩn, con cứ lắng tâm mình theo từng lời dạy của Đức Thế Tôn thì quả thật con mới có thể hiểu sâu sắc cái dòng luân hồi con đã phải đi qua chứ không phải như trước đó khi con còn ở ngoài đời.
Chính vì vậy từng lời dạy trong kinh nó cứ cuốn hút con đi từ bài giảng này cho đến bài giảng khác, nó giống như là một cái lực hút mà con cứ mỗi ngày, mỗi ngày con đều muốn tìm hiểu và muốn được đọc thật nhiều, thật nhiều những bài kinh trong lời dạy của Đức Thế Tôn. Khi con cảm nhận được dòng luân hồi lâu xa này thì nó khai mở cảm thọ trong con kinh khủng khiếp, khi mà con hiểu được chữ vô thỉ là luân hồi này khởi điểm không thể nêu rõ thì con có được một cái cảm thọ rất là lạ trong con. Ngay giây phút đó con cảm nhận được là những gì con đi trong dòng luân hồi này, cái trí nhớ đó con bị lấy đi lấy cắp đi để mỗi một đời một kiếp con chỉ có thể nhớ được trong đời, trong một kiếp đó thôi chứ con không có được nhớ cái dòng luân hồi sinh tử này và những cái lời của Đức Thế Tôn giống như phá cái chấp về cái sự vô minh tăm tối trong con. Con giống như là một người trong bóng đen, khi mặt trời chân lý, mặt trời bình minh mọc thì cái quan cảnh con được nhìn thấy nó khác so với khi con còn ở trong bóng đen.
Những gì trong bài kinh thì con nhớ lại trong cái sự sống của con, những thứ mà con nhìn thấy chỉ có một đời một kiếp, những giọt nước mắt mà con phải rơi con cảm nhận là nó đã đầy tràn. Nhưng bước vào cái trí tuệ trong bài kinh Nước Mắt trong Tương Ưng Vô Thỉ này thì nó làm cho con sinh khởi được một cái cảm thọ ngao ngán và nhìn thấy được cái sự đau khổ mà con đã đi trong cái luân hồi này. Nó không đơn giản chỉ là một đời một kiếp mà nó là vô lượng vô biên kiếp mà ngay cả trí tuệ của Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà cũng không thể tìm được cái khởi đầu khi chúng con phải đi trong vòng luân hồi sinh tử này. Ngay giây phút đó một cái sự gọi là rung chấn toàn thân tâm của con và nó làm cho con sinh khởi được cái sự nhàm chán đối với sự sanh tử này, và chỉ một đời một kiếp mà con nhớ lại trong cái đời này thôi thì khi con nhìn thấy những cái bệnh từ người thân của mình, hay là những cái đau khổ từ người thân của mình thì những giọt nước mắt đó đã làm cho con mệt mỏi và đau khổ đến tột cùng như thế, huống là cái dòng luân hồi này mà chúng con phải đi trong cái dòng sanh tử này là nó vô thỉ.
Khi con cảm nhận được cái trí tuệ này thì thật sự trong con cái lòng biết ơn đối với Đức Thế Tôn là vô lượng vô biên không thể diễn đạt được. Con có một cái sự tri ân giáo pháp của ngài một cách sâu sắc, bởi vì nhờ con tiếp xúc được cái trí tuệ trong tạng kinh Nikāya do Đức Thế Tôn giảng dạy thì con mới có thể hiểu được cái bản chất thật. Khi con sống và hiện hữu trong cái cuộc đời này, trong dòng luân hội sinh tử này nó chỉ là sự đau khổ nhấn chìm trong những cái dòng cảm thọ mà chúng con không thể thoát ra được, chúng con cứ bị trôi lăn, bị nhấn chìm và bị cái dòng quay sanh tử này dẫn chúng con đi miên man mà chúng con không có nhận ra được là mình phải đi như vậy trong cái sự vô minh tăm tối nó được lặp đi lặp lại, không có điểm dừng. Ngay lúc đó con thật sự phát khởi được một cái tâm chỉ muốn dừng lại trong luân hồi sinh tử này.
Chính vì vậy khi con đến với những lời dạy của Đức Thế Tôn thì con rất là cảm ơn và chỉ muốn nỗ lực tận sức mình để có thể dừng lại được cái dòng luân hồi sống chết đau khổ nhấn chìm chúng con. Con cũng mới tu học nên cái sự cảm nhận pháp của con nó còn rất là cạn cợt, con hiểu đến như vậy và con xin được kính trình lên sư phụ cũng như chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Cung tỉnh đại chúng ta đứng lên đọc theo con. Bạch Thế Tôn con thọ Trì khổ là thánh đế thứ nhất do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn con thọ trì khổ tập là thánh đế thứ hai do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn con thọ trì khổ diệt là thánh đế thứ ba do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn con thọ trì con đường đưa đến khổ diệt là thánh đế thứ tư do Thế Tôn thuyết giảng.
Lúc nãy con ngồi nhớ lại mấy chữ trong kinh Nikāya Đức Thế Tôn nói pháp tín thọ, nghĩa tín thọ cho nên có thầy Pháp Nghĩa ngồi đây. Giờ này con thỉnh thầy trùng tuyên thánh điển.
Thầy Pháp Nghĩa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và các bậc hiền trí. Được sự chỉ dạy và cho phép của sư phụ hôm nay được trùng truyền thánh điển và con xin được phép trùng tuyên thánh điển bài kinh mà con cũng rất là thích, đó là bài kinh Sanh Nhân, kinh Tương Ưng Bộ, tập I.
"-- Cái gì sanh thành người?
Cái gì luôn dong ruỗi?
Cái gì chịu luân hồi?
Vì đâu, không giải thoát?
-- Ái dục sanh thành người,
Chính tâm luôn dong ruỗi,
Chúng sanh chịu luân hồi,
Vì khổ, không giải thoát" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, VI. Phẩm Già, VI. Sanh Nhân)
"-- Cái gì sanh thành người?
Cái gì luôn dong ruỗi?
Cái gì chịu luân hồi?
Cái gì người nương tựa?
-- Ái dục sanh thành người,
Chính tâm luôn dong ruỗi,
Chúng sanh chịu luân hồi,
Chính nghiệp, người nương tựa" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, VI. Phẩm Già, VII. Sanh Nhân)
Chỉ với những dòng kệ được vị thiên hỏi Thế Tôn và khi đọc những lời đầu bài kinh con có đặt câu hỏi trí tuệ của Thế Tôn thật là siêu việt, ngay cả đến cái lợi tựa của bài kinh cũng đã nói lên được sanh nhân, nguyên nhân chúng ta bị sanh. Ở đây là bị sanh chứ không phải là được sanh, tức là được sanh là những vị hướng vào Dự Lưu trở lên hay là Dự Lưu chỉ trở lại đời này trong tối đa là bảy lần còn chúng ta bị sanh cho nên vị thiên mới hỏi cái gì sanh thành người rồi Thế Tôn trả lời ái dục sanh thành người.
Khi nghe đến câu trả lời của Thế Tôn con thấy thật là sâu sắc, ở đây không chỉ là ái dục nam nữ mà nó còn cả những pháp trong đó rất là thâm sâu và vi diệu. Trong bài kinh Tịnh Tướng của Thế Tôn cũng đã chỉ dạy:
"- Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỳ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
Ta không thấy một tiếng nào khác, này các Tỳ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như tiếng người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
Ta không thấy một hương... một vị... một xúc nào khác, này các Tỳ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương... vị... xúc người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, xúc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, I. Phẩm Sắc, 1-10 Nữ Sắc v.v...)
Đối với người đời thì chúng ta hiểu rất là dễ ái dục sanh thành người, người đời ưa thích nhà cửa, ruộng vườn, tiền tài, danh vọng, đối với người tu Thế Tôn thật là đầy tình thương và đầy lòng từ mẫn ngài đã chỉ ra muốn thoát khỏi ái dục thì phải để tâm đến sắc; thanh; hương; vị; xúc cho nên Thế Tôn mới nói không thấy một pháp nào khác xâm chiếm và ngự trị trong người đàn ông như sắc; thanh; hương; vị của người đàn bà và ngược lại cũng như vậy, đó là sắc; thanh; hương; vị của người đàn ông xâm chiếm và ngự trị trong người đàn bà. Về sắc chắc mọi người cũng đã hiểu rồi, âm thanh chỉ vô tình thôi chúng ta có thể lướt qua nghe một giọng của một người nam, hay một người nữ thật là đầm ấm, trìu mến và dễ chịu rồi chúng ta bị dính mắc ở trong đó. Khi dính mắc rồi thì rất là khó để cởi bỏ, cởi trói sự kiết sử, sự trói buộc, lúc đó nó xâm chiếm và ngự trì tâm mình nếu không có sự tác ý, sự để tâm tu học thì đó là một điều rất là khó để mình tách ra khỏi sự xâm chiếm của những âm thanh như vậy.
Không chỉ là những lời nói êm tai, ngọt dịu rồi những lời nói khó nghe cũng làm cho mình khởi lên những cái tâm không hài lòng. Từ đó mình khởi lên những tâm bất thiện khiến cho mình phải khổ sở, phải hứng chịu những lời không có hay ho, đưa đến cho mình phải buồn tủi, khóc than. Vừa rồi là âm thanh đến mùi hương thì thật là khủng khiếp, cũng như âm thanh thì mùi hương khi chúng ta lướt qua cũng bị chịu sự chi phối của mùi hương dễ chịu, thoang thoảng rồi bị nắm giữ, bị sự xâm chiếm ngự trị trong mình. Khi trở về thì mình luôn luôn có những thương tưởng những hình bóng thật là vi tế của mùi hương, nó đem đến sự ngự trị, nó làm cho mình phải luôn luôn sự thôi thúc tìm cầu ở trong đó.
Vị và xúc cũng thật là khủng khiếp, sự xúc chạm, đụng chạm nhẹ giữa đôi bàn tay đối với đôi bàn tay, hay là đối với thể xác cũng đưa đến sự tham ái, sự đắm nhiễm ở trong đó. Khi đã đưa đến sự khổ sở như vậy thì thật là bất hạnh đối với chính người tu của mình, khi đọc lời Thế Tôn trả lời vị thiên ái dục sanh thành người con rất là kinh sợ bởi vì mình đã trôi lăn trong dòng sanh tử này thật là nhiều rồi. Mình cứ hướng tâm ra bên ngoài đi tìm những cảnh sắc bên ngoài rồi sắc bên trong, sắc người nữ, sắc người nam mà không chịu nhìn nhận lại chính ái dục này sẽ làm cho mình phải tái sanh trong những cảnh khổ.
Sắc là ví như đống bọt giống như trong bài kinh Bọt Nước, mình cũng là đống bọt, người kia cũng là đống bọt. Khi là đống bọt rồi thì nó là trống không, nó đâu có cái gì ở trong đó, chúng ta cứ mãi đắm chìm, nắm giữ, chấp thủ. Nó đã trống không, trống rỗng, thân trống rỗng, không ai trong đó, chỉ có tanh hôi với hôi tanh, máu mủ bầy nhầy phân, nước tiểu, nhìn kỹ bên trong chẳng có ai. Nó là cái gì mà chúng ta phải nắm giữ, chấp thủ mà không biết rằng chỉ có tanh hôi với hôi tanh trong một cái thân xác sáu mươi kí lô này, nó được bao bọc bởi lớp da. Chúng ta cứ nhìn vào vẻ bề ngoài mà không nhìn sự thật ở bên trong bao bọc và lúc da thôi, khi mà lớp da nó được rạch ra, được vạch trần ra thì chúng ta không chịu sự chấp nhận sự thật nó phũ phàng.
Máu mủ bầy nhầy phân, nước tiểu, nhìn kỹ bên trong lúc này chẳng có ai, chẳng có một Pháp Nghĩa nào ở trong đây mà chỉ toàn là máu, mủ, gan, phèo, phổi mà thôi mà sao con cứ mãi nắm giữ, kiếm tìm. Thật là đáng thương cho chính mình! Tiếp theo đó là vì đâu không giải thoát, vì khổ không giải thoát, trong bài kinh phân biệt sự thật Đức Phật cũng đã chỉ dạy cái gì khổ, sanh, già, bệnh, chết là khổ, cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tấn hội khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức tạo nên mọi vai tuồng, sắc; thọ; tưởng; hành; thức dựng vở tuồng tái sanh, sắc; thọ; tưởng; hành; thức làm sanh tử không dừng, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là nguồn của khổ đau, tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
Vì sao năm thủ uẩn là khổ? Bởi vì mình cứ nhìn vào những vị ngọt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà không biết rằng nó phải chịu sự biến đổi của cảnh trần bên ngoài, bị thay đổi nên gọi là sắc, bị thay đổi cái gì, bị thay đổi bởi nóng, lạnh, đói, khát. Mình không biết được cái thân sắc sáu mươi kí lô này nay mặt người mai mặt thú, có thể lúc này ngồi đây là một thân sắc đầy đủ sáu căn nhưng một lúc nữa nó sẽ không còn được như vậy. Mình cứ luôn luôn nắm giữ tìm cầu vị ngọt của sắc, vị ngọt của thọ, vị ngọt của tưởng, hành và thức mà không thấy được sự nguy hại của ngũ uẩn, sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại đối với ngũ uẩn đó là sự nguy hại.
Nguy hại ở đây là gì? Như đối với thọ mình luôn luôn đi tìm những cảm giác dễ chịu, những cảm giác đưa đến cho mình sự khoan khoái, vui thích mà không biết được rằng ai thấy lạc là khổ, vì đi tìm cầu sự lạc ở trong đó đến khi mất đi sự vô thường, khổ thì lúc đó mình mới không chịu nhận ra đó là sự biến hoại, sự hoại tan, sự hoại diệt. Cho nên chúng ta mới khổ, rồi những cảm giác không vui, không khổ, không lạc giống như những người bị trầm cảm luôn luôn đắm chìm trong cảm giác đó, không biết cách thoát ra, đi tìm cầu cái gì ở trong đó những cảm giác không khổ không lạc. Thật là đáng thương cho chính mình và đáng thương tất cả chúng sanh đã và đang bị hứng chịu, rồi những hình bóng, bóng dáng, chúng sanh luôn luôn hướng đến tìm cầu những điều của quá khứ, không quay lại nhìn giây phút hiện tại để rồi chịu sự khổ đau, đau đớn khi phải luôn luôn đi tìm những hình bóng, bóng dáng của ngày xưa để khỏa lắp, để che lắp đi những đau khổ mà phải hứng chịu.
Thật là khổ! Rồi những suy nghĩ, chúng ta luôn luôn đi tìm những suy nghĩ xa vời, mông lung, đi tìm những cái gì thật là vĩ đại ở tương lai mà không quay lại nhìn lại những suy nghĩ bây giờ và ở đây mình đang bị nó, hay đang trú ở trong những suy nghĩ thiện lành. Rồi sự nhận thức, sự rõ biết, mình cứ nắm giữ, chấp thủ trong cái biết của mình mà không biết rằng nó cũng là vô thường, nó cũng sẽ đi đến hoại diệt. Cứ như vậy, vì khổ, vì nắm giữ vào năm thủ uẩn cho nên sẽ không được giải thoát, vì thế tâm mới rong ruổi, chính tâm luôn rong ruổi, chúng sanh chịu luân hồi. Tâm ở đây là thọ; tưởng; hành và thước rồi chúng sanh phải chịu luân hồi vì không thấy được khổ, khổ tập, khổ diệt và không thấy được con đường để thoát ra khỏi cảnh khổ cho nên trong căn bản trí một bài kinh đầu tiên, niệm nguyên nhân luân hồi một được bậc đạo sư cho chúng ta tụng đọc mỗi ngày.
"Thế Tôn nói với các vị Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
Ta và các Ngươi. Này các Tỳ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm:
- Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Khi đọc câu này con liên tưởng đến những lời trong bài kệ của bậc đạo sư:
Lủi thủi trong sanh tử
Đến đi chỉ một mình
Ngoái lại nhìn sau trước
Nghiệp bạn đường của ta
Lủi thủi trong sanh tử, đến đi chỉ một mình, có gì đâu là cha, là mẹ, là ông, là bà, là con, là cháu ở đây, là huynh, là đệ. Đến khi trút hơi thở thì chúng ta lủi thủi một mình đi trong sanh tử rồi lúc đó mình hứng chịu những cái gì, là nghiệp bạn đường của ta.
"Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
Chính nghiệp người nương tựa, chính những thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp này trong đời sống hằng ngày đó là những điều mà chúng ta phải hứng chịu. Thân, khẩu, ý là nghiệp mà chúng ta phải để ý, để tâm vì mỗi nghiệp bất thiện về thân, về khẩu, về ý là chúng ta phải hứng chịu khi trút hơi thở cuối cùng này đi về đâu thì chính nghiệp, ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa từ của nghiệp, là thai tạng của nghiệp. Thân nghiệp là những cái gì? Đó là từ bỏ sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục. Khẩu nghiệp là gì? Tức là nói láo, nói lời hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm. Ý nghiệp là gì? Đó là những tâm tham sân và những người có sự hiểu biết về chánh kiến, đưa đến thành tựu chánh kiến giống như lời trong bài kinh Thanh Tịnh:
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là ý thanh tịnh?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người không có tham lam, với tâm không sân không hận, có chánh tri kiến. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là ý thanh tịnh" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XII. Phẩm Ðọa Xứ, Thanh Tịnh (1))
Đây là lời của Phật để nói lên, để hướng dẫn chúng ta làm sao đưa đến cái nghiệp về ý được thanh tịnh, để khi rút hơi thở cuối cùng nghiệp bạn đường của ta đó là những nghiệp thiện, nghiệp lành đưa đến tái sanh những cõi hiền thiện. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính thưa đại chúng vì thời gian không cho phép với lại sự chiêm nghiệm của con cũng chưa được sâu sắc, cũng còn những điều thiếu sót, trong khi chia sẻ rất mong trên quý thầy, quý ni sư, sư cô và các bậc hiền trí hoan hỉ chỉ dạy thêm cho con và bỏ qua những lỗi lầm trong lúc chia sẻ có điều sai sót. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí, con xin tri ân sư phụ đó có buổi trùng tuyên thánh điển, con xin trùng tuyên bài Lưỡi Câu trong Tương Ưng Bộ, tập II.
"... Tại Sàvatthi.
-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Người câu cá, này các Tỳ-kheo, chỉ cho ma, lưỡi câu, này các Tỳ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Như vậy, khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông phải học tập như sau: 'Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Và đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú'.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập" (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Lưỡi Câu)
Con xin chia sẻ sự hiểu biết của con qua bài kinh Lưỡi Câu, lợi đắc cung kính danh vọng, đó là một chướng ngại đối với sự tu tập trên con đường giải thoát vì những thứ đó tăng trưởng lòng tham, lòng dục, tăng trưởng cái tham, sân, si, tăng trưởng cái bản ngã, tăng trưởng vào sự chấp thủ năm uẩn này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, chấp thủ vào những vật chất làm tăng trưởng thêm cái tâm vô minh luân hồi khổ đau. Đối với lợi đắc cung kính danh vọng của người thế gian thì họ thích thú, hân hoan là ước muốn, ước mong, đối với người thế gian, còn người xuất gia theo con đường giải thoát theo giáo pháp Đức Phật chỉ dạy là lìa dục, lìa tham, độc cư thiền định để đoạn diệt những tham, sân, si những lợi đắc cung kính danh vọng.
Chính Đức Phật cũng là người sống trong lợi đắc cung kính danh vọng nhưng ngài đã từ bỏ lúc ngài còn làm thái tử, tất cả những thứ ngài có mọi người đều ước muốn nhưng ngài không thích thú và ngài đã từ bỏ để tìm con đường thoát khỏi sanh tử khổ đau, thoát khỏi năm uẩn và ngài đã đạt được, đã thành bậc Chánh Đẳng Giác và chỉ dạy cho hàng đệ tử có con đường giải thoát. Đó là phải lìa dục, lìa tham, viễn ly, độc cư thiền định và an trú trong chánh pháp, sống chánh niệm tỉnh thức trên Tứ Niệm Xứ thân – thọ – tâm – pháp và sống một đời sống theo tám đúng: Thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, hành động đúng, tinh tấn đúng, niệm đúng và định đúng để đoạn từ những tham, sân, si để thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Với lợi đắc cung kính thì với một cái tâm vô mê thì thích thú, hân hoan và vui thích trong đó, say đắm, tự hào nhưng không biết đó là cạm bẫy của ác ma, là mồi nhử của ác ma để đưa chúng ta vào con đường sanh tử, vào ba con đường ác, vào khổ đau, mà ác ma nó thích thú, hân hoan, ác ma nó giăng bẫy ở khắp nơi, bên trong thì có sắc; thọ; tưởng; hành; thức, ở ngoài thì có năm dục trưởng dưỡng sắc; thanh; hương; vị; xúc, ở giữa thì có mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý . Ở đâu cũng có cả cạm bẫy của ác ma, nếu chúng ta sống không tỉnh thức, không dùng chánh pháp để làm kim chỉ nam để làm đời sống thì chúng ta nhìn ở đâu, nghe ở đâu cũng đều bị ác ma dẫn dắt rồi tìm cầu, thích thú, hân hoan ở trong đó và cuối cùng là khổ đau sanh tử luân hồi.
Ví dụ như người câu cá quăng lưỡi câu xuống hồ nước, nếu con cá nó biết trong cái mồi kia có lưỡi câu thì nó đã không ăn, tại vì tâm nó vô minh, nó thích thú, hân hoan khi thấy có miếng mùi ngon, theo bản năng của tâm vô minh nó đã nuốt mồi và nuốt luôn cái lưỡi câu, bị người câu cá bắt đem về muốn làm gì thì làm. Cũng vậy, lợi đắc cung kính là cạm bẫy của ác ma để chúng ta đi vào ba con đường ác để khổ đau sanh tử luân hồi kéo dài, vì vậy đối với người xuất gia đi theo con đường giải thoát mà Đức Phật đã chỉ dạy thì những thứ đó chúng ta phải từ bỏ, phải sợ hãi, phải tránh xa nó, không cho nó đến gần vì những thứ đó nó làm thỏa mãn cái tâm vô minh, tâm dục, lòng khát ái của chúng ta. Nếu chúng ta không tỉnh giác sẽ bị nó dẫn dắt đi trong khổ đau sanh tử luân hồi vì vậy mà vì vậy mà chúng ta phải luôn luôn an trú trong pháp, phải luôn luôn tỉnh thức được những thứ cạm bẫy được những lợi đắc cung kính, danh vọng.
Phải luôn luôn tỉnh thức, soi rọi lại tâm của mình có còn tham dục, còn thích hướng ngoại tìm cầu hay không, có được an trú trong pháp chưa, có sợ hãi với những lợi đắc cung kính, có nhàm chán đối với năm uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức chưa. Khi đó chúng ta sẽ được an lạc và không bị rơi vào cạm bẫy của ác ma, sống đúng với chánh pháp, sống đúng với giá pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy. Lợi đắc, cung kính, danh vọng, ba thứ đó là một người bình thường, một người tâm vô minh thì họ rất chi là thích thú, rất chi là muốn có tại vì cái tâm vô minh, khát ái nhiều đời nhiều kiếp chỉ muốn chạy tìm kiếm những cái đó, để rồi cuối cùng bị sanh tự luân hồi tiếp tục không thoát khỏi. Nó thật là đắng cây, ác độc, là một chướng ngại để tu tập con đường giải thoát. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin hết.
Thầy Thiện Huệ: Các hiền giả chiều nay thấy có hoan hỉ không ạ? Khi Con ngồi lắng nghe các chư hiền trùng tuyên cảm thọ con rất là hoan hỉ, hỷ lạc vì mình nghĩ rằng giờ phút này thật là phước báo, thật là may mắn, cách Phật gần ba ngàn năm mà giờ này tất cả các chư hiền được ngồi đây để trùng tuyên, tuyên đọc lại những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Đây là một điều phúc lành cho chúng ta và giờ phút này chúng ta thấy rất là thiêng liêng và thần thánh với những lời pháp ngữ của Thế Tôn vang động cả núi rừng, chư thiên hoan hỉ, kẻ còn người mất đều được lợi lạc thấm nhuần ở trong giáo pháp. Do đó chúng ta phải trân quý, trân trọng những giờ phút hiện tại, mình tu học như thế này bởi vì tất cả các chư hiền ngồi đây hiện giờ là chúng ta tu tập tích tụ bao nhiêu công đức, phước báo, giữ giới chúng ta mới được ngồi đây lắng nghe những lời chánh pháp như vậy.
Chúng ta đang có một chút ít đất dính trên đầu móng tay của Thế Tôn thôi, hiện giờ đây chúng ta là một chút ít đất dính trên đầu móng tay của Thế Tôn được sanh ra làm người, được khoác lên mình những chiếc y giải thoát đầu tròn áo vuông. Chúng ta thấy hạnh phúc không? Do đó thường xuyên nhắc nhở mình tại sao mình đi tu, mình đi tu với mục đích gì, đó là những câu hỏi mình thường xuyên tự đặt câu hỏi cho mình và tự mình phải trả lời. Đó là những câu hỏi để nhắc nhở, sách tấn cái tâm của mình luôn nhớ lại những gì mình đã từ bỏ để mình từ bỏ xóm làng, ông bà, cha mẹ theo thầy xuống tóc để xuất gia tu học. Mình vào tu học mình đã làm được những điều gì, phải tự nhắc nhở, sách tấn cái tâm mình, đừng để cho nó xao lãng cái việc đó, nhắc nhở mục đích của mình tu là gì, tại sao mình bỏ nhà, bỏ cha, bỏ mẹ đi xuất gia, luôn luôn tự đặt câu hỏi nhắc nhở mình.
Tại vì cái đời sống của người xuất gia là không có giai cấp, mất hết giai cấp rồi và đời sống của chúng ta phải tùy thuộc vào những người khác, tùy thuộc vào những sự cúng dường của Đàn-na tín thí, trong đó có cả ông bà, cha mẹ chúng ta. Mình xác định được cái điều đó để mình tu như thế nào, mỗi ngày tự nhìn lại nhắc nhở mình cái sự tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học của mình tu học đến đâu rồi, ngày hôm nay mình đã làm được những điều phước lành gì, mình tu tập được những cái trí tuệ gì, mình học được những cái pháp gì. Mỗi ngày mình nhìn lại, tự kiểm điểm lại bản thân mình, mình tu làm sao cho xứng đáng với sự thọ lãnh cúng dường của Đàn-na tín thí để mình biết trân quý, trân trọng những giờ phút tu học như thế này, quý báo lắm. Thế Tôn nói những danh vọng, lợi đắc, cung kính là đắng cay, là ác độc, mình phải nhàm chán, xa lìa đối với những cái đó, mình tham đắm, mình dính mắc ở trong đó là chướng ngại để cho mình tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.
Do đó người tu mình phải xác định rằng phải văn, tư, tu, giới, định, tuệ, tu tập từ, bi, hỷ, xả, nhiếp phục và đoạn tận dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã để hoàn thành công việc của một người tu, cứu cánh của một đời sống phạm hạnh để làm sao mình xứng đáng chúng Tăng là đệ tử của Thế Tôn là đáng được chấp tay, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được tôn trọng, là ruộng phước vô thượng ở trên đời bằng cách chúng ta cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, trao dồi giới hạnh, giới đức, thiền định, tu tập trí tuệ, siêng năng học pháp, nghe pháp, thiền quán, thiền định, tránh những cái xúc ở bên ngoài để mình tập trung vào để mình sống theo pháp, mình sống đời sống viễn ly, an tịnh, thiền định, triển khai những cái pháp thiền quán để mình phá tung, phá vỡ những cái tham, sân, si, những cái lậu hoặc để mình hoàn thành được một đời sống cứu cánh phạm hạnh của một người tu. Con rất mong đại chúng cố gắng nhớ lại ý chí cao đẹp của mình lúc ban đầu, tinh tấn, nỗ lực tu hành.
Nhớ mãi không quên
Biết ơn biết nghĩa
Nhớ mãi không quên
Hiền thiện từ bi
Nhớ mãi không quên
Sáu pháp hòa kính
Nhớ mãi không quên
Diệt tham, sân, si.
Biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
–Thích Minh Thành–
Sư Phụ: Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta có tiết mục trùng tuyên Thánh điển, nói nôm na là trả bài, nhắc lại những lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây là điều mà ngày xưa các bậc thánh Tăng đã từng làm mấy ngàn năm qua, khi Đức Phật còn tại thế ngài nói cái gì, lặp tới lặp lui lặp tới lặp lui rất là nhiều lần, các thánh chúng cũng như vậy rồi sau đó Đức Phật nhập Niết-bàn thì được ngài Maha Ca-diếp, Maha Kassapa triệu tập trong hang Thất Diệp mời thỉnh năm trăm vị thánh Tăng A-la-hán kết tập kinh điển lần thứ nhất cho đến lần thứ hai, lần thứ ba. Giờ này chúng ta mới có được thánh pháp tạng Nikāya như những bậc thánh Tăng cao đức đã dày công phiên dịch, cố hòa thượng Thích Minh Châu là Ni Sư Chơn Tín Toàn phân loại. Chúng ta thừa hưởng được cái tài sản vĩ đại của thánh pháp, chúng ta là những người con cháu sau này được tiếp cận, được học hỏi, được tu tập, được lợi ích.
Thầy Thiện Huệ:
"Vị Tỳ-kheo thích Pháp,
Mến pháp, suy tư Pháp.
Tâm tư niệm chánh Pháp,
Không rời bỏ chánh Pháp"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 364)
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy nói cho chúng con ý nghĩa của lời dạy đấy, sau khi nghe lời dạy của Thế Tôn, chúng con sẽ thọ trì. Vậy này đại chúng, hãy nghe và suy nghiệm kĩ, ta sẽ giảng. Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau.
Con kính bạch chư tôn thiền đức cùng các chư vị hiền trí, việc trùng tuyên thánh điển điều này rất là lợi ích cho tự thân cũng như là cho tất cả chúng sanh vì sự an lạc, hạnh phúc, lợi ích cho chư thiên và loài người. Khi Thế Tôn thuyết pháp tức là ngài rống tiếng rống của con sư tử, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho các đệ tử Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, phạm thiên cho đến các hàng phàm phu Thế Tôn thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo không phải là không cẩn thận, không chu đáo.
Sư cô 1: Thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính thưa chư tôn đức Tăng, chư tôn đức Ni và sự hiểu biết của con cạn cợt về bài pháp này, bài kinh này con rút ra hai bài học là nhắc nhở cái tâm, cái thân này là vô thường. Con rất ấn tượng và tâm đắc, con không có chiều cái thân này, để cho nó sống và làm thực hành đúng như trong kinh và mình sống một cuộc đời có lợi ích. Khi mình ra đi mình không có thấy tiếc nuối, đó là câu đầu con hiểu và tiếp theo là cái thân này nó là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái, vì vô minh, tham ái nên mình có mặt sanh trong đời này. Giờ nhân duyên mà mình biết đến Phật pháp, từ khi con biết đến Phật pháp thì con thấy rất là nhiệm màu, nó đã thay đổi cả cuộc đời của con.
Khi con quán sát nhìn lại thì con thấy con rất là hạnh phúc, những tháng ngày con ở đây con rất là hoan hỉ và vui trong niềm an lạc. Bên cạnh đó con luôn e dè, con sợ mình nói ra thì nó sẽ chướng ngại mình không thể đi tiếp tục khi mình chưa có đủ phước báu thì không nên vội nói. Con tự nhắn cái tâm con là đừng có vội, cái gì cũng vội, vội đến rồi vội đi thì con thấy rất tiếc uổng, con tự nói trong tâm con là mỗi ngày con cố gắng và con sống sao cho để khi mình ra đi mình không có hối hận và con luôn phát nguyện là mình tu không phải chỉ đời này mà đời đời kiếp kiếp gặp được thánh pháp mình tu tập để sống một cuộc đời có lợi ích, không phải sống với cái tâm phàm phu như trước kia. Mình vô minh, vì khao khát, khát ái nên mình đến trong cuộc đời này và con nhìn lại thì trong nửa cuộc đời từ khi nhỏ đến lớn lên hai mươi tuổi con sống trong sự rất là đau khổ, khi biết đến Phật pháp thì con thấy được sự nhiệm màu đến với con và nó cũng tháo gỡ lần lần.
Con rất là trân quý những tháng ngày ở đây học pháp, sư phụ đã chỉ dạy cho con, con cảm nhận từng ly từng tí, tuy có những lúc sư phụ không có trực tiếp nhưng mà qua sự gián tiếp sư phụ giảng dạy cho chúng con thì bản thân con cảm nhận như một vị cha già chỉ hết và mình nghiền ngẫm như thế nào, mình tự đi, không ai mà đi thay thế giùm mình. Đó là một điều mà con tâm đắc nhất trong bài kinh của ngài Ratthapàla, những lúc con không có hộ trì căn, con sống mà có lúc con hơi buông thả thì vô tình hay không cố ý con có lỡ lời hay là làm điều gì ai buồn đó thì bản thân con rất là trạo cử, tối về thì con tưởng cái hình bóng người đó và con lạy sám hối để con không muốn tiếp tục tạo thêm những cái nghiệp mới. Chính mình tạo nghiệp mới tiếp tục là mình còn tái sanh, đây là những cái điều mà con ưu tư, lo lắng và rất sợ và chính những bài kinh là một điều nhắc nhở để con luôn luôn sống trong một cuộc đời không có uổng phí kiếp người và gìn giữ để cho nó không có lừa mình.
Đó là sự hiểu biết của con trong bài pháp này cạn cợt, con mong trên sư phụ quý thầy, quý Ni sư chỉ dạy cho con và con nắm rõ và hiểu biết một cách sâu sắc hơn để con nỗ lực, tiếp tục tu tập trên con đường tu dòng pháp này. Con niệm ân đức quý thầy, quý Ni sư và những các bậc hiền trí đã lắng nghe con trong thời gian. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Bài kinh vừa rồi sư cô đọc rất là quan trọng đối với những người xuất gia, bài này sư phụ có giảng rất là kỹ, đại chúng chúng ta cũng như các vị ở xa chúng ta về nghe lại thành quả của người tu và bốn chân lý vĩ đại. Sư phụ giải thích bài Niệm Thân Vô Chủ rất là rõ, đại chúng về nghe lại những bài đó, thành quả của người tu và bốn chân lý vĩ đại. Con mời các vị tiếp theo.
Sư cô 2: con xin được phép đọc bài kinh niệm lòng tin bất động, Kinh Cần Phải Khích Lệ.
"- Này Ananda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống. Với những người ấy, này Ananda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm. Thế nào là ba?
- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Ðức Phật: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với pháp: 'Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu'. Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: 'Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng được cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời'.
- Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại. hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
- Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
- Dầu cho bốn đại chúng có đổi khác, này Ananda, địa đại, thủy đại,hỏa đại, phong đại, nhưng vị thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng không có đổi khác. Ở đây, đổi khác là như thế này: Vị Thánh đệ tử ấy, này Ananda, thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, sẽ sanh vào địa ngục, loại bàng sanh hay cõi ngạ quỷ. Sự kiện này không xảy ra.
Này Ananda, với ai Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống. Với những người ấy, này Ananda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm này" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, Cần Phải Khích Lệ)
Thầy Thiện Huệ: Cô hiểu như thế nào pháp là thiết thực hiện tại?
Sư cô 2: Dạ ở đây như dòng pháp Nikāya này bắt đầu từ việc đơn giản nhất, pháp đơn giản nhất là nhận diện ngũ uẩn thì thiết thực hiện tại là ngay khi mình quay vào bên trong mình nội soi năm uẩn sẽ thấy ra được sự thật ở trong tự thân của mình, thấy được cái lý về vô thường, khổ và vô ngã ở trong ngay tự thân của mình ạ. Con còn nông cạn và cạn cợt, con xin có đôi lời là như vậy ạ.
Thầy Thiện Huệ: Con mời thầy Pháp Tâm giải thích ngắn gọn, đơn giản cho các vị hiểu thêm.
Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên chư tôn đức Tăng Ni cùng chư hiền trí. Trong kinh Nikāya Đức phật có dạy thế nào là pháp thiết thực hiện tại, đó là khi mình nhìn lại trong nội tâm nhìn thấy được tham và tham đang có mặt, thấy được si, thấy được sân và đang có mặt trong nội tâm qua sự nhận diện năm uẩn, nhìn sâu vào trong cảm giác, ở trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác khó chịu có sân, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si. Đó là lời con suy tư cũng như trong lời Đức Phật dạy, kính trên quý thầy chỉ dạy, quý Ni sư hướng dẫn thêm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Cho thầy tràng vỗ tay đi, có bài kinh du sĩ đến hỏi Đức Thế Tôn như thế nào là thiết thực hiện tại, Thế Tôn chỉ hỏi ông ấy đơn giản thôi, nội tâm ông có tham, biết có tham không? Dạ có biết. Nội tâm ông có sân, ông biết có sân không? Dạ có biết. Nội tâm ông có si, ông biết là có si không? Dạ biết. Cái tham, cái sân, cái si này nó làm khổ mình, khổ người, nó làm hại mình, hại người ông thấy có phải vậy không? Dạ đúng vậy, khi thấy tham, sân, si làm hại mình, hại người, khổ mình, khổ người, ông nhiếp phục nó, ông diệt tận nó thì sẽ an lạc cho mình và cho người, có phải vậy không? Dạ phải. Đức Phật nói đó là thiết thực hiện tại đó.
"Pháp là thiết thực hiện tại, pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu?
- Vậy này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời; Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham ái'? Hay nội tâm không có tham ái. Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham ái'?
- Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham ái'. Hay nội tâm không có tham ái, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham ái. 'Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm ta có si'? Hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si'?
-Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si.' Hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si.' Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại...Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có thân uế..., hay nội tâm có khẩu uế...hay nội tâm có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta có ý uế'? Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có ý uế...'?
- Thưa có, thưa Tôn giả.
- Này Bà-la-môn, nội tâm có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta có ý uế'. Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có ý uế'. Như vậy này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng" (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (VI). Cho Đời Này (2))
Thông qua việc thầy Pháp Tâm nói mình có sự nhận diện là ngũ uẩn nhìn lại các cảm thọ từ đó mình sẽ phát giác, phát hiện ra tham, sân, si rồi mình có phương pháp nhiếp phục, chế ngự diệt tận nó, làm cho nó lắng dịu dập tắt hoàn toàn, đem lại bình an và hạnh phúc cho mình, đó là thiết thực, là hiện tại. Con mời vị tiếp theo.
Cô Hiền Duyên: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ tôn kính, con chân thành đảnh lễ trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Dạ được ơn trên sư phụ vì lòng thương tưởng cho chúng con buổi trùng tuyên thánh điển ngày hôm nay, con giới tử Hiền Duyên xin phép được trùng tuyên bài kinh Sống Theo Pháp trong tạng kinh Nikāya thuộc kinh Tăng Chi Bộ, tập II.
"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- 'Sống theo pháp, sống theo pháp', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo là vị sống theo pháp?
- Ở đây, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thông suốt pháp tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo thông đạt nhiều kinh điển, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy dùng trọn cả ngày để trình bày pháp cho các người khác, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đấy gọi là Tỳ-kheo thuyết trình nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày để tụng đọc, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo đọc tụng nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo với tâm tùy tầm tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Vị ấy dùng trọn cả ngày suy tầm về pháp, bỏ phế sống độc cư an tịnh, không nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo suy tầm nhiều, nhưng không sống theo pháp.
Ở đây, này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo học thuộc lòng pháp, tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy không dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, không phế bỏ sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ. Này Tỳ-kheo, như vậy Tỳ-kheo sống theo pháp.
Này Tỳ-kheo, như vậy Ta đã thuyết về học thuộc lòng nhiều, đã thuyết về thuyết trình nhiều, đã thuyết về đọc tụng nhiều, đã thuyết về suy tầm nhiều, đã thuyết về sống theo pháp. Này Tỳ-kheo, điều gì bậc Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì lòng từ khởi lên, các điều ấy, Ta đã làm cho các Thầy. Này Tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Này Tỳ-kheo, hãy tu Thiền, chớ có phóng dật, chớ có để về sau sẽ phải hối tiếc. Ðấy là lời giáo giới của Ta cho các Thầy" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VIII. Phẩm Chiến Sĩ, (III. Sống Theo Pháp (1))
Dạ mô Phật con không biết đại chúng có hoan hỉ khi con đọc bài kinh này không? Con cũng vậy khi con được đọc bài kinh này và suy tư về bài kinh sống theo pháp thì cảm thọ trong con rất là hoan hỉ vì con biết được thế nào là sống đúng theo pháp của Đức Phật. Khi con đọc bài kinh này thì một câu hỏi được đặt ra trong con đó chính là việc sống độc cư an tịnh và nội tâm an chỉ là pháp như thế nào mà nó lại quan trọng đến việc Thế Tôn tuyên bố rằng dù có dùng trọn cả ngày để học thuộc lòng pháp, hay dùng trọn cả ngày để thuyết trình, để trình bày pháp cho người khác hay suy tầm về pháp, hay tụng đọc pháp nhưng bỏ phế việc sống độc cư an tịnh và nội tâm an chỉ thì cũng không phải là sống theo pháp của Đức Phật.
Con bắt đầu tìm hiểu về từ sống độc cư an tịnh và nội tâm an chỉ, con mới hiểu ra được rằng việc sống độc cư an tịnh không chỉ là nói đến việc mình sống một mình mà nó còn thể hiện qua việc dù trong hoàn cảnh nào đối duyên xúc cảnh thì mình không để nội tâm của mình chạy theo sáu trần, không bị sáu trần chi phối, biết quay về thân tâm nhìn nhận thân tâm, độc cư ra khỏi các pháp tà kiến, không đúng pháp thì đó cũng được gọi là việc sống độc cư an tịnh và nội tâm an chỉ, chính là việc chánh niệm tỉnh giác, đưa sự định tĩnh trở về trên thân, khẩu, ý của chính mình. Khi con tìm hiểu về ý nghĩa của pháp sống độc cư an tịnh và nội tâm an chỉ thì khi đó con nhìn nhận lại pháp hành Nikāya mà con đang được sư phụ chỉ dạy thì trong con có một sự hoan hỉ rất là lớn, vì con biết được pháp hành Nikāya của bậc đạo sư và sư phụ đang chỉ dạy là sống đúng theo pháp của Đức Phật.
Lý do mà con nói như vậy chính là những cái pháp hành mà sư phụ hướng dẫn cho chúng con tu học căn bản cốt lỗi đó chính là nhận diện ngũ uẩn, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, an tịnh, lắng dịu và những pháp khác. Khi con suy nghiệm lại con thấy tất cả những pháp này đều giúp cho mình đạt được nội tâm an chỉ, sự an tịnh, lắng dịu trong thân tâm chỉ có khi mình quay về thân tâm nhìn nhận lại thân tâm thì lúc đó mình mới có thể phát hiện ra những cái tham, sân, si đang vận hành, sanh khởi cũng như là những rác bẩn ở trong tâm. Và phần thứ hai đó chính là phần cuối bài kinh Đức Phật đã có nhấn mạnh lại đệ tử của ngài phải tu thiền, không được bỏ việc tu thiền, không được buông lung phóng dật thì khi đó con suy nghĩ và kết nối lại những lời dạy lúc đầu của Đức Phật thì con thấy được sự nhất quán là việc tu thiền cũng chính là việc sống độc cư an tịnh và giúp cho mình quay về chuyên chú về nội tâm an chỉ. Khi đó con nhớ lại một vài câu kệ trong bài kinh Pháp Cú Đức Phật cũng có nói rằng:
"Không trí tuệ, không thiền,
Không thiền, không trí tuệ.
Người có thiền có tuệ,
Nhất định gần Niết-bàn"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 372)
Khi đó con mới thấy được tầm quan trọng của việc tu thiền, mình hướng vào bên trong nội tâm nhìn nhận lại thân tâm chính mình. Khi đó con mới hiểu rằng vì sao Đức Phật nói rằng những việc như là học thuộc lòng pháp, thuyết trình pháp, đọc pháp hoặc là suy tầm về pháp, những việc đó Đức Phật đã có làm nhiều và việc của mình chính là phải tu thiền. Vì khi tu thiền thì trí tuệ mới được khai mở, khi tu thiền tâm được định tĩnh, các pháp bất thiện sanh khởi mình cũng sẽ rất dễ nhận biết và đánh đuổi, khi tu thiền tâm có định, nội tâm được trong sáng thì trí tuệ mới sanh khởi. Nếu mình chưa có chánh kiến thì khi suy tầm về pháp hay là học thuộc lòng pháp thì những kiến thức mình hiểu được chỉ trên mặt chữ, trên tưởng tri, trên thức tri chứ rất khó để khai mở được tuệ tri. Do đó mà việc tu thiền là một việc rất, rất, rất là cần thiết trên con đường giải thoát, ở đây con thấy pháp hành của sư phụ vừa cho thiền chỉ vừa cho thiền quán.
Thiền chỉ để giúp nội tâm được trong sạch, trong sáng, quay về nhìn nhận lại thân tâm, thiền quán để cho chúng con mở rộng trí tuệ, vừa giúp tâm giải thoát vừa giúp tuệ giải thoát. Do đó khi con chiêm nghiệm lại những lời kinh này thì cảm thọ trong con nó rất là hoan hỉ mặc dù con biết là việc con thực hành cũng chưa được nhiều vì còn vô minh, vì còn những lậu hoặc nhưng mà bước đầu con đặt ra đó chính là mình làm sao phải thành tựu được một cái lòng tin vững chắc trong giáo pháp này vì thật sự đây là giáo pháp chính thống của Đức Phật, mình hành mình sẽ tới, mình có thực hành theo thì mình sẽ đạt được giải thoát mặc dù không nhanh thì chậm. Do đó bước đầu tiên con đặt ra đó chính là làm sao mình phải thành tựu được một cái lòng tin vững chắc trong giáo pháp này. Cuối cùng để tóm lại bài kinh thì con muốn nói là đó chính là nếu muốn làm người con ngoan của Phật, nghe lời Phật, nghe theo giáo pháp của Phật, sống theo pháp của Đức Phật thì chúng ta phải hành thiền, không được buông lung phóng dật, hướng ngoại và phải biết quay về sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ, đó chính là việc thực hành nhận diện ngũ uẩn, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, tập an tịnh, lắng dịu.
Đó là một vài sự chiêm nghiệm trong con về bài kinh Sống Theo Pháp, con kính trình lên trên sư phụ, quý thầy, Quý Ni sư cùng tất cả các bậc hiền trí. Trong khi con trình pháp có điều gì đó chưa đúng pháp con kính ngưỡng mong trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư cùng tất cả các bậc hiền trí chỉ cho con để con được đi đúng hướng và có sự tiến bộ hơn trong tu tập. Con chân thành cảm ơn sư phụ, quý thầy, quý Ni sư cùng tất cả các bậc hiền trí đã lắng nghe con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Cô Hiền Ánh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, chư tôn đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí. Dạ kính bạch trên sư phụ, chư tôn đức Tăng Ni và chư vị hiền trí, giới tử con pháp danh là Hiền Ánh, chiều hôm nay dưới sự cho phép từ trên sư phụ cho đại chúng có một buổi trùng tuyên thánh điển và trong con cũng có những suy tư chiêm nghiệm về bài kinh con xin phép được đọc bài kinh Sợi Dây Tái Sanh, Tương Ưng Bộ kinh, tập III.
"Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
... đối với thọ... với tưởng... với các hành...
Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt tái sanh" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Sợi Dây Tái Sanh)
Trong con tâm đắc nhất là bài kinh Sợi Dây Tái Sanh, theo ý hiểu nông cạn của con là do chúng ta còn vô minh, tham ái nên yêu thích, chấp thủ vô sắc. Sắc đối với hàng cư sĩ, Phật tử thì đó chính là nhà cửa, xe cộ, con cái, tiền bạc và khi chúng ta chấp thủ, tham đắm vào những thứ này sẽ sanh ra bản ngã và càng tăng thêm lòng dục, lòng tham. Đây cũng chính là những cái mồi nhử của ác ma khiến chúng ta đi vào con đường ác, để mà cho những hàng cư sĩ Phật tử được bình an trong vòng luân hồi sanh tử này thì chúng ta phải tu dưỡng một tâm hiền thiện, biết cho đi và từ đó chúng ta giảm bớt lòng tham, lòng dục của mình. Đối với người xuất gia thì đó chính là chúng ta còn chấp thủ vào sắc thân của mình và chúng ta phải phá thân kiến, luôn thấy biết được rằng cái thân này là do duyên sanh, cơm cháo và tinh cha huyết mẹ tạo thành, nó là kết hợp giả dối, không có ai ở trong đó, không có gì là tôi, là tự ngã của tôi và chúng ta cần phải nhìn thấy được vị ngọt của sắc, sự nguy hiểm. Từ đó chúng ta thoát ly ra khỏi sắc.
Tiếp theo trong con là một cảm thọ ưu tư khi chiêm nghiệm về sự chấp thủ vào thọ; tưởng; hành; thức và trong ý hiểu của con thì do mình có cái thức rõ biết chỉ đơn thuần là rõ biết thế thôi nhưng mà lúc nào chúng ta cũng chấp vô cái thức là của tôi nên sẽ dẫn đến chấp vô ý hành này là tôi, là của tôi, do tôi hiểu như thế này và từ đó chúng ta sẽ lại phải tái sanh qua một kiếp khác và chịu đau khổ. Theo con chiêm nghiệm để phá được thân kiến, phá được sự bám chấp vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì chúng ta phải tu tập Tứ Niệm Xứ, luôn an trú trong hiện tại và trong sự tu tập của con thì con bị ý hành dẫn dắt rằng không biết ngày mai mình có sống được không nên con cứ muốn học, muốn tu những cái gì đó cao siêu nhưng thực chất những điều căn bản thì mình chưa có làm được.
Khi tu tập thì con thấy được rằng khi mình chưa có tâm hiền, chưa có những điều căn bản thì tu tập Tứ Niệm Xứ sẽ rất là khó. Cho nên để mình nhìn thấy được ngũ uẩn, tu tập Tứ Niệm Xứ Thì đầu tiên như sư phụ nói chúng ta phải tu tập tâm hiền trước và tiếp theo đó là phương pháp diệt ngã thì sau đó chúng ta mới có thể tu tập sâu vào dòng pháp này. Trên đây là những sự hiểu biết nông cạn của con, trong khi trình pháp con có những gì sai sót thì con xin kính trên sư phụ, chư tôn đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn mà chỉ dạy thêm cho con trên bước đường tu học. Con xin cảm ơn mọi người đã nghe con trình pháp. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư tôn đức Tăng Ni và các bậc hiền trí. Dạ mô Phật thưa thầy cho con hỏi con có thể trùng tuyên lại bài niệm thân vô chủ vừa nãy không ạ?
Thầy Thiện Huệ: Cô thuộc bài nào khác nữa không, đọc bài khác đi
Sư cô 3: Con kính thưa trên sư phụ, trên quý thầy, quý sư cô, con xin được trùng tuyên bài niệm thánh trí bốn thánh trí ngũ uẩn.
-Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
-Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
-Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
-Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn.
Mô Phật, theo trí tuệ thấp kém của con thì con chỉ hiểu được rằng sự chấp tủ ngũ uẩn ở đây đó chính là mình chấp thủ vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Mình chấp bởi vì mình chấp thủ vào những cái hình bóng ở bên trong tâm của mình, những cái hình bóng của tự thân mình, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống như thế nào và mình chấp thủ vào những cái cảm giác vui, những cảm giác buồn, những cảm giác trơ trơ, ngơ ngơ, mình chắp thủ vào những cái suy nghĩ ở bên trong của mình và mình cho rằng những cái mà mình thấy, mình biết, mình nhìn thấy, mình nhận biết đó nó là mình và của mình và nó sanh cho mình rất là nhiều sự phiền não. Và sự chấp thủ vào cái sắc đó chính là chấp thủ vào cái thân này, nó cho cái thân này là mình, là của mình, nó yêu thích, nó thương cái thân này. Cho nên khi không may cái sự vô thường nó đến, hoặc là ai đụng chạm vào cái thân này, hoặc là cái thân này nó bị sức mẻ một chút gì đó liền sanh ra cái sự đau khổ, cái sự phiền não.
Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái là bởi vì mình không thấy rõ được ngũ uẩn cho nên mình mới có cái sự vô minh. Và cái sự vô minh của mình nó từ nhiều đời, nhiều kiếp cùng với những cái tập khí nên là nó rất là dày đặc và cái sự khát ái ở đây con hiểu rằng là nó khát ái ở bên tự thân bên trong này. Nó luôn yêu thích cái thân này, luôn mong muốn, luôn thích rằng cái thân này phải như thế này, phải đẹp như thế này, thích đến từng dáng đi, đứng, ngồi, nằm, ăn uống và cách nói chuyện. Nó yêu thích vào đôi mắt, khuôn mặt, cái mũi, cái miệng này, nó yêu thích toàn bộ ở trên thân thể này của nó, nó yêu thích trong từng suy nghĩ rằng người khác mình nghĩ như thế nào và người khác nghĩ gì về mình. Ở phía bên ngoài thì nó luôn khao khát, mong muốn tìm cầu bởi những cái sự yêu thương, cái sự quan tâm từ phía bên ngoài cho nó cái sự ấm áp, ngọt dịu.
Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái, Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. Ở đây con hiểu rằng là mình còn phải thực tập theo con đường Bát Chánh Đạo của Đức Phật đã chỉ dạy, và thực tập trên con đường Tứ Niệm Xứ thì dần dần mình mới tháo gỡ được cái sự vô minh và cái sự khát ái đối với cái sự chấp thủ vào cái ngũ uẩn này của mình. Và đó là những cái sự chiêm nghiệm, suy nghĩ ở trong con còn nhiều cạn cợt, con ngưỡng mong trên quý thầy, quý sư từ bi, thương xót chỉ dạy thêm cho con để con có được những bước tiến hơn trong tu học. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Tịnh Hòa:Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Dạ kính thưa sư phụ được sự dạy của sư phụ con pháp danh Tịnh Hòa xin được trùng tuyên bài kinh niệm oai nghi, kinh Niệm Xứ, Trung Bộ I.
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo đi, tuệ tri: 'Tôi đi', hay đứng, tuệ tri: 'Tôi đứng', hay ngồi, tuệ tri: 'Tôi ngồi', hay nằm, tuệ tri: 'Tôi nằm'. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. 'Có thân đây', vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)
Dạ kính thưa sư phụ với sự hiểu biết nông cạn của con, con xin trình bày về sự chiêm nghiệm của mình về bài kinh này. Đầu tiên Đức Thế Tôn chỉ dạy cho các vị Tỳ-kheo về bốn oai nghi và vị Tỳ-kheo phải giữ tâm chánh niệm khi đi rõ biết là đang đi, khi ngồi, khi đứng, khi nằm rõ biết tất cả cử chỉ, hành động, oai nghi ở trên thân. Vị Tỳ-kheo khi nói, khi nhìn, khi co tay, duỗi tay hay khi ăn, khi nhai, khi nếm, khi đắp y, khi mang bát, tất cả những cái hành động ở trên thân đều phải chánh niệm và rõ biết cái hành động của mình. Điều thứ hai là Đức Thế Tôn dạy về quán tánh sanh khởi trên thân, quán tánh diệt tận trên thân và quán tánh sanh diệt trên thân, ở đây con được hiểu là nhắc nhở vị Tỳ-kheo quán tưởng về ba mươi hai thể trược từ trên đỉnh đầu cho đến gót chân của mình đều được bao bọc bởi một lớp da trơn láng, ở bên trong chứa đựng đầy những thứ nhơ nhớp, bất tịnh và rỉ chảy mỗi ngày.
Vì vậy tỳ kheo không nên chấp trước vào những vật gì ở trên thân thể của mình và vị Tỳ-kheo rõ biết về sắc thân tứ đại của mình là do bốn đại cấu thành. Địa giới ví dụ như là tóc, răng, xương, da, thịt, thủy giới là máu, mủ, mỡ, nước xương khớp, nước tiểu, vân vân, hỏa giới là hơi ấm và sức nóng ở bên trong bụng để tiêu hóa, biến hoại thức ăn, phong giới là hơi thở ra vào rõ biết hơi thở ở những cái không gian gió ở trong bụng. Tiếp theo là quán tưởng về chín giai đoạn của một tử thi thì lúc này con nhớ tưởng đến cái video về cái một xác chết được các nhà khoa học bỏ vào rừng để theo dõi quá trình phân hủy của tử thi, lúc này những tử thi bắt đầu trương phòng lên và những cái vết thâm tím bắt đầu vỡ ra, cái cơ thể chuẩn bị tái xanh, xanh lại và mủ máu bắt đầu nổ tung ra, chảy dịch ra, các côn trùng từ bên trong lẫn bên ngoài đục khoét rất là nhiều. Cuối cùng chỉ còn trơ lại bộ xương và theo năm tháng sẽ thành tro tàn.
Quá trình đọc bài kinh cũng như chiêm nghiệm thì con hiểu được như vậy, con cũng có một vài lời nhắn nhủ và tác ý tự thân mình.
Tâm mê ơi tâm mê
Nhìn đi sắc thân tứ đại rã rời
Ngươi cho ngươi tốt ngươi bền
Ngờ đâu tắt thở bốc mùi hôi tanh
Giòi bọ lúc nhúc sanh ra
Còn đâu sắc đẹp ngắm nhìn trong gương
Còn đâu giọng nói tiếng cười
Còn đâu cái ngã, cái này của ta
Ngươi xem ngươi còn lại gì
bộ xương gãy vụn không ai thèm nhìn
Ngươi xem ngươi có được chi
Một thân nuôi dưỡng giờ đi không về
Dạ con kính trình lên sư phụ, xin sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng chỉ dạy và hướng dẫn thêm cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Cô Ấn Hạnh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin phép được trùng tuyên bài kinh Nước Mắt, Tương Ưng Bộ kinh, tập II.
"-- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?
-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng, cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
-- Lành thay, lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay, này các Tỳ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
... các Ông chịu đựng con chết...
... các Ông chịu đựng con gái chết...
... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...
... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... bị tham ái trói buộc.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Khi con được tiếp xúc với những lời kinh trong Tương Ưng Vô Thỉ có lẽ bài kinh này làm con xúc động nhiều nhất bởi vì tựa đề của bài kinh là Nước Mắt. Con sâu chuỗi tất cả những gì mà con được sống trong cuộc sống này thì có lẽ là nước mắt, đó là sự quen thuộc đối với con, chính vì vậy khi con được tiếp xúc với bài kinh này thì cái tựa đề ngay khi con được tiếp nhận nó đã làm tâm tư con có một cái sự chấn động và khi mà con đọc từng lời, từng lời trong bài kinh thì nó cuốn hút con theo từng lời, từng lời mà Đức Thế Tôn chỉ dạy.
Khi con chưa được tiếp nhận bài kinh này thì con vẫn chưa hiểu được dòng luân hồi mà con phải đi nó lâu xa và nó nhiều. Lúc con chưa tiếp nhận dòng tạng kinh Nikāya thì thật sự đối với con thì con cảm nhận cuộc sống này là một đời một kiếp, thật sự những cái trí tuệ trong tạng kinh Nikāya và nhất là cái bài kinh Nước Mắt này thì nó khai mở cho con, gọi là nó khai mở cho con một cái chiều sâu trong cái dòng luân hồi sinh tử. Từ khi con được tiếp nhận dòng kinh Nikāya và được thực hành về nhận diện ngũ uẩn, con cứ lắng tâm mình theo từng lời dạy của Đức Thế Tôn thì quả thật con mới có thể hiểu sâu sắc cái dòng luân hồi con đã phải đi qua chứ không phải như trước đó khi con còn ở ngoài đời.
Chính vì vậy từng lời dạy trong kinh nó cứ cuốn hút con đi từ bài giảng này cho đến bài giảng khác, nó giống như là một cái lực hút mà con cứ mỗi ngày, mỗi ngày con đều muốn tìm hiểu và muốn được đọc thật nhiều, thật nhiều những bài kinh trong lời dạy của Đức Thế Tôn. Khi con cảm nhận được dòng luân hồi lâu xa này thì nó khai mở cảm thọ trong con kinh khủng khiếp, khi mà con hiểu được chữ vô thỉ là luân hồi này khởi điểm không thể nêu rõ thì con có được một cái cảm thọ rất là lạ trong con. Ngay giây phút đó con cảm nhận được là những gì con đi trong dòng luân hồi này, cái trí nhớ đó con bị lấy đi lấy cắp đi để mỗi một đời một kiếp con chỉ có thể nhớ được trong đời, trong một kiếp đó thôi chứ con không có được nhớ cái dòng luân hồi sinh tử này và những cái lời của Đức Thế Tôn giống như phá cái chấp về cái sự vô minh tăm tối trong con. Con giống như là một người trong bóng đen, khi mặt trời chân lý, mặt trời bình minh mọc thì cái quan cảnh con được nhìn thấy nó khác so với khi con còn ở trong bóng đen.
Những gì trong bài kinh thì con nhớ lại trong cái sự sống của con, những thứ mà con nhìn thấy chỉ có một đời một kiếp, những giọt nước mắt mà con phải rơi con cảm nhận là nó đã đầy tràn. Nhưng bước vào cái trí tuệ trong bài kinh Nước Mắt trong Tương Ưng Vô Thỉ này thì nó làm cho con sinh khởi được một cái cảm thọ ngao ngán và nhìn thấy được cái sự đau khổ mà con đã đi trong cái luân hồi này. Nó không đơn giản chỉ là một đời một kiếp mà nó là vô lượng vô biên kiếp mà ngay cả trí tuệ của Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà cũng không thể tìm được cái khởi đầu khi chúng con phải đi trong vòng luân hồi sinh tử này. Ngay giây phút đó một cái sự gọi là rung chấn toàn thân tâm của con và nó làm cho con sinh khởi được cái sự nhàm chán đối với sự sanh tử này, và chỉ một đời một kiếp mà con nhớ lại trong cái đời này thôi thì khi con nhìn thấy những cái bệnh từ người thân của mình, hay là những cái đau khổ từ người thân của mình thì những giọt nước mắt đó đã làm cho con mệt mỏi và đau khổ đến tột cùng như thế, huống là cái dòng luân hồi này mà chúng con phải đi trong cái dòng sanh tử này là nó vô thỉ.
Khi con cảm nhận được cái trí tuệ này thì thật sự trong con cái lòng biết ơn đối với Đức Thế Tôn là vô lượng vô biên không thể diễn đạt được. Con có một cái sự tri ân giáo pháp của ngài một cách sâu sắc, bởi vì nhờ con tiếp xúc được cái trí tuệ trong tạng kinh Nikāya do Đức Thế Tôn giảng dạy thì con mới có thể hiểu được cái bản chất thật. Khi con sống và hiện hữu trong cái cuộc đời này, trong dòng luân hội sinh tử này nó chỉ là sự đau khổ nhấn chìm trong những cái dòng cảm thọ mà chúng con không thể thoát ra được, chúng con cứ bị trôi lăn, bị nhấn chìm và bị cái dòng quay sanh tử này dẫn chúng con đi miên man mà chúng con không có nhận ra được là mình phải đi như vậy trong cái sự vô minh tăm tối nó được lặp đi lặp lại, không có điểm dừng. Ngay lúc đó con thật sự phát khởi được một cái tâm chỉ muốn dừng lại trong luân hồi sinh tử này.
Chính vì vậy khi con đến với những lời dạy của Đức Thế Tôn thì con rất là cảm ơn và chỉ muốn nỗ lực tận sức mình để có thể dừng lại được cái dòng luân hồi sống chết đau khổ nhấn chìm chúng con. Con cũng mới tu học nên cái sự cảm nhận pháp của con nó còn rất là cạn cợt, con hiểu đến như vậy và con xin được kính trình lên sư phụ cũng như chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả các bậc hiền trí. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Cung tỉnh đại chúng ta đứng lên đọc theo con. Bạch Thế Tôn con thọ Trì khổ là thánh đế thứ nhất do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn con thọ trì khổ tập là thánh đế thứ hai do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn con thọ trì khổ diệt là thánh đế thứ ba do Thế Tôn thuyết giảng. Bạch Thế Tôn con thọ trì con đường đưa đến khổ diệt là thánh đế thứ tư do Thế Tôn thuyết giảng.
Lúc nãy con ngồi nhớ lại mấy chữ trong kinh Nikāya Đức Thế Tôn nói pháp tín thọ, nghĩa tín thọ cho nên có thầy Pháp Nghĩa ngồi đây. Giờ này con thỉnh thầy trùng tuyên thánh điển.
Thầy Pháp Nghĩa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và các bậc hiền trí. Được sự chỉ dạy và cho phép của sư phụ hôm nay được trùng truyền thánh điển và con xin được phép trùng tuyên thánh điển bài kinh mà con cũng rất là thích, đó là bài kinh Sanh Nhân, kinh Tương Ưng Bộ, tập I.
"-- Cái gì sanh thành người?
Cái gì luôn dong ruỗi?
Cái gì chịu luân hồi?
Vì đâu, không giải thoát?
-- Ái dục sanh thành người,
Chính tâm luôn dong ruỗi,
Chúng sanh chịu luân hồi,
Vì khổ, không giải thoát" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, VI. Phẩm Già, VI. Sanh Nhân)
"-- Cái gì sanh thành người?
Cái gì luôn dong ruỗi?
Cái gì chịu luân hồi?
Cái gì người nương tựa?
-- Ái dục sanh thành người,
Chính tâm luôn dong ruỗi,
Chúng sanh chịu luân hồi,
Chính nghiệp, người nương tựa" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, VI. Phẩm Già, VII. Sanh Nhân)
Chỉ với những dòng kệ được vị thiên hỏi Thế Tôn và khi đọc những lời đầu bài kinh con có đặt câu hỏi trí tuệ của Thế Tôn thật là siêu việt, ngay cả đến cái lợi tựa của bài kinh cũng đã nói lên được sanh nhân, nguyên nhân chúng ta bị sanh. Ở đây là bị sanh chứ không phải là được sanh, tức là được sanh là những vị hướng vào Dự Lưu trở lên hay là Dự Lưu chỉ trở lại đời này trong tối đa là bảy lần còn chúng ta bị sanh cho nên vị thiên mới hỏi cái gì sanh thành người rồi Thế Tôn trả lời ái dục sanh thành người.
Khi nghe đến câu trả lời của Thế Tôn con thấy thật là sâu sắc, ở đây không chỉ là ái dục nam nữ mà nó còn cả những pháp trong đó rất là thâm sâu và vi diệu. Trong bài kinh Tịnh Tướng của Thế Tôn cũng đã chỉ dạy:
"- Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỳ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
Ta không thấy một tiếng nào khác, này các Tỳ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như tiếng người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
Ta không thấy một hương... một vị... một xúc nào khác, này các Tỳ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương... vị... xúc người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, xúc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, I. Phẩm Sắc, 1-10 Nữ Sắc v.v...)
Đối với người đời thì chúng ta hiểu rất là dễ ái dục sanh thành người, người đời ưa thích nhà cửa, ruộng vườn, tiền tài, danh vọng, đối với người tu Thế Tôn thật là đầy tình thương và đầy lòng từ mẫn ngài đã chỉ ra muốn thoát khỏi ái dục thì phải để tâm đến sắc; thanh; hương; vị; xúc cho nên Thế Tôn mới nói không thấy một pháp nào khác xâm chiếm và ngự trị trong người đàn ông như sắc; thanh; hương; vị của người đàn bà và ngược lại cũng như vậy, đó là sắc; thanh; hương; vị của người đàn ông xâm chiếm và ngự trị trong người đàn bà. Về sắc chắc mọi người cũng đã hiểu rồi, âm thanh chỉ vô tình thôi chúng ta có thể lướt qua nghe một giọng của một người nam, hay một người nữ thật là đầm ấm, trìu mến và dễ chịu rồi chúng ta bị dính mắc ở trong đó. Khi dính mắc rồi thì rất là khó để cởi bỏ, cởi trói sự kiết sử, sự trói buộc, lúc đó nó xâm chiếm và ngự trì tâm mình nếu không có sự tác ý, sự để tâm tu học thì đó là một điều rất là khó để mình tách ra khỏi sự xâm chiếm của những âm thanh như vậy.
Không chỉ là những lời nói êm tai, ngọt dịu rồi những lời nói khó nghe cũng làm cho mình khởi lên những cái tâm không hài lòng. Từ đó mình khởi lên những tâm bất thiện khiến cho mình phải khổ sở, phải hứng chịu những lời không có hay ho, đưa đến cho mình phải buồn tủi, khóc than. Vừa rồi là âm thanh đến mùi hương thì thật là khủng khiếp, cũng như âm thanh thì mùi hương khi chúng ta lướt qua cũng bị chịu sự chi phối của mùi hương dễ chịu, thoang thoảng rồi bị nắm giữ, bị sự xâm chiếm ngự trị trong mình. Khi trở về thì mình luôn luôn có những thương tưởng những hình bóng thật là vi tế của mùi hương, nó đem đến sự ngự trị, nó làm cho mình phải luôn luôn sự thôi thúc tìm cầu ở trong đó.
Vị và xúc cũng thật là khủng khiếp, sự xúc chạm, đụng chạm nhẹ giữa đôi bàn tay đối với đôi bàn tay, hay là đối với thể xác cũng đưa đến sự tham ái, sự đắm nhiễm ở trong đó. Khi đã đưa đến sự khổ sở như vậy thì thật là bất hạnh đối với chính người tu của mình, khi đọc lời Thế Tôn trả lời vị thiên ái dục sanh thành người con rất là kinh sợ bởi vì mình đã trôi lăn trong dòng sanh tử này thật là nhiều rồi. Mình cứ hướng tâm ra bên ngoài đi tìm những cảnh sắc bên ngoài rồi sắc bên trong, sắc người nữ, sắc người nam mà không chịu nhìn nhận lại chính ái dục này sẽ làm cho mình phải tái sanh trong những cảnh khổ.
Sắc là ví như đống bọt giống như trong bài kinh Bọt Nước, mình cũng là đống bọt, người kia cũng là đống bọt. Khi là đống bọt rồi thì nó là trống không, nó đâu có cái gì ở trong đó, chúng ta cứ mãi đắm chìm, nắm giữ, chấp thủ. Nó đã trống không, trống rỗng, thân trống rỗng, không ai trong đó, chỉ có tanh hôi với hôi tanh, máu mủ bầy nhầy phân, nước tiểu, nhìn kỹ bên trong chẳng có ai. Nó là cái gì mà chúng ta phải nắm giữ, chấp thủ mà không biết rằng chỉ có tanh hôi với hôi tanh trong một cái thân xác sáu mươi kí lô này, nó được bao bọc bởi lớp da. Chúng ta cứ nhìn vào vẻ bề ngoài mà không nhìn sự thật ở bên trong bao bọc và lúc da thôi, khi mà lớp da nó được rạch ra, được vạch trần ra thì chúng ta không chịu sự chấp nhận sự thật nó phũ phàng.
Máu mủ bầy nhầy phân, nước tiểu, nhìn kỹ bên trong lúc này chẳng có ai, chẳng có một Pháp Nghĩa nào ở trong đây mà chỉ toàn là máu, mủ, gan, phèo, phổi mà thôi mà sao con cứ mãi nắm giữ, kiếm tìm. Thật là đáng thương cho chính mình! Tiếp theo đó là vì đâu không giải thoát, vì khổ không giải thoát, trong bài kinh phân biệt sự thật Đức Phật cũng đã chỉ dạy cái gì khổ, sanh, già, bệnh, chết là khổ, cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tấn hội khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức tạo nên mọi vai tuồng, sắc; thọ; tưởng; hành; thức dựng vở tuồng tái sanh, sắc; thọ; tưởng; hành; thức làm sanh tử không dừng, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là nguồn của khổ đau, tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
Vì sao năm thủ uẩn là khổ? Bởi vì mình cứ nhìn vào những vị ngọt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà không biết rằng nó phải chịu sự biến đổi của cảnh trần bên ngoài, bị thay đổi nên gọi là sắc, bị thay đổi cái gì, bị thay đổi bởi nóng, lạnh, đói, khát. Mình không biết được cái thân sắc sáu mươi kí lô này nay mặt người mai mặt thú, có thể lúc này ngồi đây là một thân sắc đầy đủ sáu căn nhưng một lúc nữa nó sẽ không còn được như vậy. Mình cứ luôn luôn nắm giữ tìm cầu vị ngọt của sắc, vị ngọt của thọ, vị ngọt của tưởng, hành và thức mà không thấy được sự nguy hại của ngũ uẩn, sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại đối với ngũ uẩn đó là sự nguy hại.
Nguy hại ở đây là gì? Như đối với thọ mình luôn luôn đi tìm những cảm giác dễ chịu, những cảm giác đưa đến cho mình sự khoan khoái, vui thích mà không biết được rằng ai thấy lạc là khổ, vì đi tìm cầu sự lạc ở trong đó đến khi mất đi sự vô thường, khổ thì lúc đó mình mới không chịu nhận ra đó là sự biến hoại, sự hoại tan, sự hoại diệt. Cho nên chúng ta mới khổ, rồi những cảm giác không vui, không khổ, không lạc giống như những người bị trầm cảm luôn luôn đắm chìm trong cảm giác đó, không biết cách thoát ra, đi tìm cầu cái gì ở trong đó những cảm giác không khổ không lạc. Thật là đáng thương cho chính mình và đáng thương tất cả chúng sanh đã và đang bị hứng chịu, rồi những hình bóng, bóng dáng, chúng sanh luôn luôn hướng đến tìm cầu những điều của quá khứ, không quay lại nhìn giây phút hiện tại để rồi chịu sự khổ đau, đau đớn khi phải luôn luôn đi tìm những hình bóng, bóng dáng của ngày xưa để khỏa lắp, để che lắp đi những đau khổ mà phải hứng chịu.
Thật là khổ! Rồi những suy nghĩ, chúng ta luôn luôn đi tìm những suy nghĩ xa vời, mông lung, đi tìm những cái gì thật là vĩ đại ở tương lai mà không quay lại nhìn lại những suy nghĩ bây giờ và ở đây mình đang bị nó, hay đang trú ở trong những suy nghĩ thiện lành. Rồi sự nhận thức, sự rõ biết, mình cứ nắm giữ, chấp thủ trong cái biết của mình mà không biết rằng nó cũng là vô thường, nó cũng sẽ đi đến hoại diệt. Cứ như vậy, vì khổ, vì nắm giữ vào năm thủ uẩn cho nên sẽ không được giải thoát, vì thế tâm mới rong ruổi, chính tâm luôn rong ruổi, chúng sanh chịu luân hồi. Tâm ở đây là thọ; tưởng; hành và thước rồi chúng sanh phải chịu luân hồi vì không thấy được khổ, khổ tập, khổ diệt và không thấy được con đường để thoát ra khỏi cảnh khổ cho nên trong căn bản trí một bài kinh đầu tiên, niệm nguyên nhân luân hồi một được bậc đạo sư cho chúng ta tụng đọc mỗi ngày.
"Thế Tôn nói với các vị Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
Ta và các Ngươi. Này các Tỳ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm:
- Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa" (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Khi đọc câu này con liên tưởng đến những lời trong bài kệ của bậc đạo sư:
Lủi thủi trong sanh tử
Đến đi chỉ một mình
Ngoái lại nhìn sau trước
Nghiệp bạn đường của ta
Lủi thủi trong sanh tử, đến đi chỉ một mình, có gì đâu là cha, là mẹ, là ông, là bà, là con, là cháu ở đây, là huynh, là đệ. Đến khi trút hơi thở thì chúng ta lủi thủi một mình đi trong sanh tử rồi lúc đó mình hứng chịu những cái gì, là nghiệp bạn đường của ta.
"Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy" (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)
Chính nghiệp người nương tựa, chính những thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp này trong đời sống hằng ngày đó là những điều mà chúng ta phải hứng chịu. Thân, khẩu, ý là nghiệp mà chúng ta phải để ý, để tâm vì mỗi nghiệp bất thiện về thân, về khẩu, về ý là chúng ta phải hứng chịu khi trút hơi thở cuối cùng này đi về đâu thì chính nghiệp, ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa từ của nghiệp, là thai tạng của nghiệp. Thân nghiệp là những cái gì? Đó là từ bỏ sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục. Khẩu nghiệp là gì? Tức là nói láo, nói lời hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm. Ý nghiệp là gì? Đó là những tâm tham sân và những người có sự hiểu biết về chánh kiến, đưa đến thành tựu chánh kiến giống như lời trong bài kinh Thanh Tịnh:
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là ý thanh tịnh?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người không có tham lam, với tâm không sân không hận, có chánh tri kiến. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là ý thanh tịnh" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, XII. Phẩm Ðọa Xứ, Thanh Tịnh (1))
Đây là lời của Phật để nói lên, để hướng dẫn chúng ta làm sao đưa đến cái nghiệp về ý được thanh tịnh, để khi rút hơi thở cuối cùng nghiệp bạn đường của ta đó là những nghiệp thiện, nghiệp lành đưa đến tái sanh những cõi hiền thiện. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính thưa đại chúng vì thời gian không cho phép với lại sự chiêm nghiệm của con cũng chưa được sâu sắc, cũng còn những điều thiếu sót, trong khi chia sẻ rất mong trên quý thầy, quý ni sư, sư cô và các bậc hiền trí hoan hỉ chỉ dạy thêm cho con và bỏ qua những lỗi lầm trong lúc chia sẻ có điều sai sót. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí, con xin tri ân sư phụ đó có buổi trùng tuyên thánh điển, con xin trùng tuyên bài Lưỡi Câu trong Tương Ưng Bộ, tập II.
"... Tại Sàvatthi.
-- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Người câu cá, này các Tỳ-kheo, chỉ cho ma, lưỡi câu, này các Tỳ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.
Như vậy, khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông phải học tập như sau: 'Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Và đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú'.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập" (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Lưỡi Câu)
Con xin chia sẻ sự hiểu biết của con qua bài kinh Lưỡi Câu, lợi đắc cung kính danh vọng, đó là một chướng ngại đối với sự tu tập trên con đường giải thoát vì những thứ đó tăng trưởng lòng tham, lòng dục, tăng trưởng cái tham, sân, si, tăng trưởng cái bản ngã, tăng trưởng vào sự chấp thủ năm uẩn này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, chấp thủ vào những vật chất làm tăng trưởng thêm cái tâm vô minh luân hồi khổ đau. Đối với lợi đắc cung kính danh vọng của người thế gian thì họ thích thú, hân hoan là ước muốn, ước mong, đối với người thế gian, còn người xuất gia theo con đường giải thoát theo giáo pháp Đức Phật chỉ dạy là lìa dục, lìa tham, độc cư thiền định để đoạn diệt những tham, sân, si những lợi đắc cung kính danh vọng.
Chính Đức Phật cũng là người sống trong lợi đắc cung kính danh vọng nhưng ngài đã từ bỏ lúc ngài còn làm thái tử, tất cả những thứ ngài có mọi người đều ước muốn nhưng ngài không thích thú và ngài đã từ bỏ để tìm con đường thoát khỏi sanh tử khổ đau, thoát khỏi năm uẩn và ngài đã đạt được, đã thành bậc Chánh Đẳng Giác và chỉ dạy cho hàng đệ tử có con đường giải thoát. Đó là phải lìa dục, lìa tham, viễn ly, độc cư thiền định và an trú trong chánh pháp, sống chánh niệm tỉnh thức trên Tứ Niệm Xứ thân – thọ – tâm – pháp và sống một đời sống theo tám đúng: Thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, hành động đúng, tinh tấn đúng, niệm đúng và định đúng để đoạn từ những tham, sân, si để thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Với lợi đắc cung kính thì với một cái tâm vô mê thì thích thú, hân hoan và vui thích trong đó, say đắm, tự hào nhưng không biết đó là cạm bẫy của ác ma, là mồi nhử của ác ma để đưa chúng ta vào con đường sanh tử, vào ba con đường ác, vào khổ đau, mà ác ma nó thích thú, hân hoan, ác ma nó giăng bẫy ở khắp nơi, bên trong thì có sắc; thọ; tưởng; hành; thức, ở ngoài thì có năm dục trưởng dưỡng sắc; thanh; hương; vị; xúc, ở giữa thì có mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý . Ở đâu cũng có cả cạm bẫy của ác ma, nếu chúng ta sống không tỉnh thức, không dùng chánh pháp để làm kim chỉ nam để làm đời sống thì chúng ta nhìn ở đâu, nghe ở đâu cũng đều bị ác ma dẫn dắt rồi tìm cầu, thích thú, hân hoan ở trong đó và cuối cùng là khổ đau sanh tử luân hồi.
Ví dụ như người câu cá quăng lưỡi câu xuống hồ nước, nếu con cá nó biết trong cái mồi kia có lưỡi câu thì nó đã không ăn, tại vì tâm nó vô minh, nó thích thú, hân hoan khi thấy có miếng mùi ngon, theo bản năng của tâm vô minh nó đã nuốt mồi và nuốt luôn cái lưỡi câu, bị người câu cá bắt đem về muốn làm gì thì làm. Cũng vậy, lợi đắc cung kính là cạm bẫy của ác ma để chúng ta đi vào ba con đường ác để khổ đau sanh tử luân hồi kéo dài, vì vậy đối với người xuất gia đi theo con đường giải thoát mà Đức Phật đã chỉ dạy thì những thứ đó chúng ta phải từ bỏ, phải sợ hãi, phải tránh xa nó, không cho nó đến gần vì những thứ đó nó làm thỏa mãn cái tâm vô minh, tâm dục, lòng khát ái của chúng ta. Nếu chúng ta không tỉnh giác sẽ bị nó dẫn dắt đi trong khổ đau sanh tử luân hồi vì vậy mà vì vậy mà chúng ta phải luôn luôn an trú trong pháp, phải luôn luôn tỉnh thức được những thứ cạm bẫy được những lợi đắc cung kính, danh vọng.
Phải luôn luôn tỉnh thức, soi rọi lại tâm của mình có còn tham dục, còn thích hướng ngoại tìm cầu hay không, có được an trú trong pháp chưa, có sợ hãi với những lợi đắc cung kính, có nhàm chán đối với năm uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức chưa. Khi đó chúng ta sẽ được an lạc và không bị rơi vào cạm bẫy của ác ma, sống đúng với chánh pháp, sống đúng với giá pháp mà Đức Phật đã chỉ dạy. Lợi đắc, cung kính, danh vọng, ba thứ đó là một người bình thường, một người tâm vô minh thì họ rất chi là thích thú, rất chi là muốn có tại vì cái tâm vô minh, khát ái nhiều đời nhiều kiếp chỉ muốn chạy tìm kiếm những cái đó, để rồi cuối cùng bị sanh tự luân hồi tiếp tục không thoát khỏi. Nó thật là đắng cây, ác độc, là một chướng ngại để tu tập con đường giải thoát. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin hết.
Thầy Thiện Huệ: Các hiền giả chiều nay thấy có hoan hỉ không ạ? Khi Con ngồi lắng nghe các chư hiền trùng tuyên cảm thọ con rất là hoan hỉ, hỷ lạc vì mình nghĩ rằng giờ phút này thật là phước báo, thật là may mắn, cách Phật gần ba ngàn năm mà giờ này tất cả các chư hiền được ngồi đây để trùng tuyên, tuyên đọc lại những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Đây là một điều phúc lành cho chúng ta và giờ phút này chúng ta thấy rất là thiêng liêng và thần thánh với những lời pháp ngữ của Thế Tôn vang động cả núi rừng, chư thiên hoan hỉ, kẻ còn người mất đều được lợi lạc thấm nhuần ở trong giáo pháp. Do đó chúng ta phải trân quý, trân trọng những giờ phút hiện tại, mình tu học như thế này bởi vì tất cả các chư hiền ngồi đây hiện giờ là chúng ta tu tập tích tụ bao nhiêu công đức, phước báo, giữ giới chúng ta mới được ngồi đây lắng nghe những lời chánh pháp như vậy.
Chúng ta đang có một chút ít đất dính trên đầu móng tay của Thế Tôn thôi, hiện giờ đây chúng ta là một chút ít đất dính trên đầu móng tay của Thế Tôn được sanh ra làm người, được khoác lên mình những chiếc y giải thoát đầu tròn áo vuông. Chúng ta thấy hạnh phúc không? Do đó thường xuyên nhắc nhở mình tại sao mình đi tu, mình đi tu với mục đích gì, đó là những câu hỏi mình thường xuyên tự đặt câu hỏi cho mình và tự mình phải trả lời. Đó là những câu hỏi để nhắc nhở, sách tấn cái tâm của mình luôn nhớ lại những gì mình đã từ bỏ để mình từ bỏ xóm làng, ông bà, cha mẹ theo thầy xuống tóc để xuất gia tu học. Mình vào tu học mình đã làm được những điều gì, phải tự nhắc nhở, sách tấn cái tâm mình, đừng để cho nó xao lãng cái việc đó, nhắc nhở mục đích của mình tu là gì, tại sao mình bỏ nhà, bỏ cha, bỏ mẹ đi xuất gia, luôn luôn tự đặt câu hỏi nhắc nhở mình.
Tại vì cái đời sống của người xuất gia là không có giai cấp, mất hết giai cấp rồi và đời sống của chúng ta phải tùy thuộc vào những người khác, tùy thuộc vào những sự cúng dường của Đàn-na tín thí, trong đó có cả ông bà, cha mẹ chúng ta. Mình xác định được cái điều đó để mình tu như thế nào, mỗi ngày tự nhìn lại nhắc nhở mình cái sự tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học của mình tu học đến đâu rồi, ngày hôm nay mình đã làm được những điều phước lành gì, mình tu tập được những cái trí tuệ gì, mình học được những cái pháp gì. Mỗi ngày mình nhìn lại, tự kiểm điểm lại bản thân mình, mình tu làm sao cho xứng đáng với sự thọ lãnh cúng dường của Đàn-na tín thí để mình biết trân quý, trân trọng những giờ phút tu học như thế này, quý báo lắm. Thế Tôn nói những danh vọng, lợi đắc, cung kính là đắng cay, là ác độc, mình phải nhàm chán, xa lìa đối với những cái đó, mình tham đắm, mình dính mắc ở trong đó là chướng ngại để cho mình tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.
Do đó người tu mình phải xác định rằng phải văn, tư, tu, giới, định, tuệ, tu tập từ, bi, hỷ, xả, nhiếp phục và đoạn tận dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã để hoàn thành công việc của một người tu, cứu cánh của một đời sống phạm hạnh để làm sao mình xứng đáng chúng Tăng là đệ tử của Thế Tôn là đáng được chấp tay, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được tôn trọng, là ruộng phước vô thượng ở trên đời bằng cách chúng ta cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, trao dồi giới hạnh, giới đức, thiền định, tu tập trí tuệ, siêng năng học pháp, nghe pháp, thiền quán, thiền định, tránh những cái xúc ở bên ngoài để mình tập trung vào để mình sống theo pháp, mình sống đời sống viễn ly, an tịnh, thiền định, triển khai những cái pháp thiền quán để mình phá tung, phá vỡ những cái tham, sân, si, những cái lậu hoặc để mình hoàn thành được một đời sống cứu cánh phạm hạnh của một người tu. Con rất mong đại chúng cố gắng nhớ lại ý chí cao đẹp của mình lúc ban đầu, tinh tấn, nỗ lực tu hành.
Nhớ mãi không quên
Biết ơn biết nghĩa
Nhớ mãi không quên
Hiền thiện từ bi
Nhớ mãi không quên
Sáu pháp hòa kính
Nhớ mãi không quên
Diệt tham, sân, si.
Biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.