Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đại Kinh Giáo Giới La Hầu La 1 - Chánh Quán Như Thật Ngũ Uẩn & Ngũ Đại

2026-03-18 06:54:30
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

ĐẠI KINH GIÁO GIỚI LA HẦU LA 1

CHÁNH QUÁN NHƯ THẬT NGŨ UẨN & NGŨ ĐẠI

–Thích Minh Thành–

Sư Phụ: Kính bạch chư tôn và chư hiền, chiều nay chúng ta học một cái bài kinh rất là quan trọng, bài kinh này có thể gọi là truyền gia bảo tức là trao cái gia tài quý báu, truyền lại cái tài sản của bậc thánh, đem của báu trong nhà để giao lại cho con, gọi là truyền gia bảo. Khi Đức Thế Tôn trở về thành Ca-tỳ-la-vệ để độ hoàng thất thì ngài đi đầu cùng với thánh chúng Tỳ-kheo thì Da-du-đà-la mới bảo La-hầu-la "con hãy chạy ra với vị đứng hàng đầu oai nghi rạng rỡ, tướng hảo quang minh đó là cha của con, con hãy xin cha giao cho con gia tài, truyền lại cho con gia tài". Ngài La-hầu-la nghe theo lời mẹ chạy ra đeo theo Đức Phật xin trao lại cho gia tài, sau đó là được Thế Tôn giao cho ngài Xá-lợi-phất hướng dẫn, dạy dỗ và sau này xuất gia rồi được Đức Phật giáo huấn và ngài tu tập và thành tựu thánh quả tối cao A-la-hán quả. Một trong những cái bài mà Đức Phật giảng dạy cho ngài La-hầu-la bài kinh này, đại kinh giáo giới La-hầu-la, bài kinh số 62 trong Trung Bộ Kinh.

Chúng ta thấy hôm nay chúng ta được truyền gia bảo có hạnh phúc không? Chúng ta được trao cái gia tài, trao cái kho báu, đưa cho mình của báu, bài kinh này Đức Phật dạy đầy đủ các cái pháp để tu tập.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá Anathapindika (Cấp Cô độc).

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để khất thực. Tôn giả Rahula vào buổi sáng cũng đắp y, cầm y bát, đi sau lưng Thế Tôn" (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)

Chúng ta thấy có hạnh phúc không? Ngài có người cha vừa từ bỏ ngôi quốc vương và trở thành bậc pháp vương mà có người con bỏ ngôi thái tử và trở thành Phật tử. Phật tử cả hai nghĩa luôn phải không ạ? Vừa là con của Phật mà vừa là đệ tử của Phật, bây giờ Đức Thế Tôn đi trước và ngài đi phía sau vào thành khất thực.

"Rồi Thế Tôn, sau khi đưa mắt ngó xung quanh, bảo Tôn giả Rahula:

-- Này Rahula, bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta'." (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)

Ở đây Đức Phật nói luôn tất cả về thời gian quá khứ, vị lai hay là hiện tại, tất cả sắc pháp nào quá khứ, vị lai, hiện tại, trong hay ngoài, thô hay tế, liệt hay thắng, thắng là cao cấp, liệt là thấp kém, xa hay gần, tất cả sắc pháp phải được quán như thật với chánh trí tuệ. Câu này Đức Phật nhấn mạnh, thường thường ngài nói chữ "quán" thôi, bây giờ ngài nói "quán sát như thật với chánh trí tuệ", chúng ta thấy cái câu này mang một ý nghĩa rất là sâu sắc. Quán sát như thật với chánh trí tuệ như thế nào? Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta, câu này là thánh pháp ấn phải học thuộc lòng và phải luôn luôn niệm giống như niệm Phật vậy.

Tất cả các sắc quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta. Câu này là thánh pháp ấn, là thánh trí, là thánh pháp, là thánh đạo và thánh quả cũng nằm ở trong đây luôn, đây là những cái định lý giác ngộ, định lý chứng ngộ, định lý ngộ đạo, định lý đắc đạo, định lý giải thoát. Một cái câu đó mà mình chiêm nghiệm, mình thực hành là đủ để cho mình Nhập Lưu, thành tựu chánh kiến, phá thân kiến.

"-- Bạch Thế Tôn, có phải chỉ sắc mà thôi? Bạch Thiện Thệ, có phải chỉ sắc mà thôi?

-- Cả sắc, này Rahula; cả thọ, này Rahula; cả tưởng, này Rahula; cả hành, này Rahula; và cả thức, này Rahula" (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)

Tất cả các cảm giác quá khứ, vị lai, hiện tại, trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần, tất cả các cảm giác đó phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ cảm giác này không phải là của tôi, cảm giác này không phải là tôi, cảm giác này không phải là tự ngã của tôi. Tất cả các cảm giác phải nhìn nó như vậy, không phải là mình, không phải là của mình, không phải là chính mình ở trong đó. Tất cả những bóng dáng, những hình bóng ở trong tâm thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần, tất cả những hình bóng đó phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ cái này không phải là tôi, cái này không phải của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Bất cứ suy nghĩ nào trong quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài, thô tế, thắng liệt xa gần, tất cả những suy nghĩ đó phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ cái này không phải là tôi, cái này không phải của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. Bất cứ sự rõ biết nào trong quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài, thô tế, thắng liệt xa gần, tất cả những sự rõ biết đó phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ cái này không phải là tôi, cái này không phải của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Con hỏi chư tôn, chư hiền nếu một người mà từ sáng tới chiều nhớ cái này không, mỗi tuần đều nhớ, mỗi tháng, mỗi năm nhớ như vậy thì người này như thế nào ạ? Nhập lưu thánh quả Tu-đà-hoàn, là thể nhập vào dòng thánh trí tuệ, đây là định lý chứng ngộ, định lý đắc đạo, định lý giải thoát, đây là phương pháp, cách thức, con đường phá thân kiến, phá vỡ cái kiến chấp về thân đó. Thân tâm mình chỉ có sắc; thọ; tưởng; hành; thức thôi mà bây giờ lúc nào cũng nhớ, lúc nào cũng niệm, lúc nào cũng nghĩ, lúc nào cũng tác ý, lúc nào cũng quán chiếu vậy hết thì vô minh và tham ái được phá vỡ, được tháo gỡ, được cắt đứt. Tuyệt diệu không?

Đây là gia bảo đó, truyền gia bảo đó, trao của báu đó, là thừa kế tài sản của bậc thánh. Một đoạn đó thôi là học và thực hành suốt cuộc đời, chỉ cần thấy được như vậy thôi là thể nhập tri kiến của bậc thánh, đây là cái thấy biết của bậc thánh, là thượng nhân pháp. Bất cứ lúc nào mình nhớ được cái này là lúc đó mình có an lạc, có nhẹ nhàng, có tâm tỉnh sáng, có tâm thoát ra đối với ngũ uẩn, này lúc nào mình không thấy cái đó là mình nhập cuộc, sầu, bi, khổ, ưu, não, tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã cho nên quý vị ngồi thiền quý vị chỉ cần niệm vậy thôi, niệm năm cái câu nãy giờ đó, cứ ngồi niệm vậy đó, bất cứ ngồi ở chỗ nào, ngồi dưới gốc cây, ngồi trên xe, ngồi trong công ty xí nghiệp đang đi ngoài đường bất cứ chỗ nào cứ niệm "thân này không phải là của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Những cảm giác này không phải là ta, không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta. Những hình bóng trong tâm này không phải của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Những suy nghĩ này không phải là ta, không phải là của ta, không phải tự ngã của ta. Những cái rõ biết này, cứ thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết này không phải là của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta".

Như vậy có ai đụng chạm tới, nói gì chút là sao? Có nhẹ nhàng không? Đâu phải mình, đâu phải của mình đâu, đây là tứ đại, đây là ngũ uẩn, đây là pháp duyên sanh, đây là thứ vô thường, vô ngã, trống rỗng, tạm bợ. Tất cả các vị A-la-hán thời Đức Phật đều học cái pháp này mà đoạn tận các lậu hoặc, dứt hết tham, sân, si, bẻ gãy ngọn cờ kiêu mạn và thể nhập thánh trí tuệ, thành tựu bậc thầy của chư thiên và loài người. Quý vị thực hành đi rồi quý vị sẽ thấy, thực hành đi rồi quý vị sẽ thấy.

"Rồi Tôn giả Rahula tự nghĩ: 'Ai có thể hôm nay được Thế Tôn trực tiếp giảng dạy với bài giáo giới, còn có thể đi vào làng để khất thực?' Rồi Tôn giả từ chỗ ấy đi trở lui về, ngồi xuống một gốc cây, kiết già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt"(Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)

Ngài La-hầu-la nghĩ có ai hạnh phúc được như mình trong ngày hôm nay được trực tiếp Thế Tôn giáo giới và có thể cùng chung đi khất thực với Thế Tôn. Ngài hạnh phúc quá, vui sướng quá, hoan hỉ quá nên ngài không đi khất thực nữa mà trở về tìm gốc cây ngồi thiền, hạnh phúc quá, tuyệt diệu quá khi được đấng pháp vương, được bậc cha lành từ phụ, được bậc đại đạo sư, vừa là cha vừa là thầy như hai chữ "sư phụ" trao cho mình kho báu, trao cho mình của báu, trao cho mình định lý chứng ngộ nên không đi khất thực nữa, hôm nay không cần ăn, đi về tìm gốc cây ngồi thiền.

Hôm nào con hướng dẫn mà quý vị nói "hôm nay không cần ăn, hôm nay tu luôn đi sư phụ" là gần giống ngài La-hầu-la rồi đó, hạnh phúc quá không cần ăn, cái tâm hoan hỉ, vui nên không đói. Mình nhớ lúc mình có chuyện buồn hoặc có chuyện vui là mình quên ăn, mình không còn quan trọng cái ăn nữa. Ở đây là cái tâm hân hoan, hỉ lạc, vui sướng cho nên ngài về tìm gốc cây ngồi thiền.

"Tôn giả Sariputta thấy Tôn giả Rahula đang ngồi dưới một gốc cây, kiết già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt. Sau khi thấy vậy, Ngài nói với Tôn giả Rahula:

-- Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập nhập tức xuất tức niệm (niệm hơi thở vô, hơi thở ra). Này Rahula, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn" (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)

Lần này chúng ta học kết hợp rất nhiều bản kinh bản kinh, hôm trước là chúng ta học kinh Kimbila rồi chúng ta kết hợp với bài kinh Đại Kinh Giáo Giới La-hầu-la và chúng ta sẽ kết hợp với bài kinh Xuất Tức Nhập Tức Niệm lần này chúng ta được học nhiều cái bản kinh rất là đặc biệt sâu sắc.

"Rồi Tôn giả Rahula, vào buổi chiều, sau khi từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Rahula bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như thế nào? Làm cho sung mãn, (pháp môn này) như thế nào là để được quả lớn, được lợi ích lớn?

-- Này Rahula, cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ; như vậy, này Rahula, được gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Ðịa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự là ngã của ta'. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới" (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)

Sáng nay chúng ta được ngồi thiền để quán về thân chính là cái đoạn này, hồi sáng các vị trình pháp đúng với cái đạo lộ này phải không ạ? Hồi sáng chúng ta trình pháp là khi mình quán bao tử, lá lách, dạ dày rồi phèo, phổi, gan, ruột rồi phân, nước tiểu, cứt đái, máu mủ tanh hôi, nhơ nhớp, bẩn thỉu, bất tịnh như vậy thì mình có một cái sự gớm ghiếc, nhàm chán, mình muốn xa lìa, đó là vị ấy sanh yểm ly, chán lìa đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới. Bất cứ lúc nào mình rảnh mình phải ngồi lại và mình phẫu thuật cái cơ thể của mình, đừng có đợi bác sĩ phẫu thuật, tự mình phẫu thuật, giải phẫu, mổ xẻ nó ra từng cái bộ phận để mình nhìn cho kỹ những cái thứ ở trong này. Chỉ có một cái lớp da nó bao bọc thôi.

Thân trống rỗng không ai trong đó, chỉ có cái lớp da bao phủ bao bọc ở ngoài thôi, máu mủ bày nhầy, phân, nước tiểu, nhìn kỹ bên trong chẳng có ai. Bây giờ mình móc ra mình hỏi cái lá gan này là tôi phải không? Hay là cái chùm ruột này là tôi? Hay cái quả thận này là tôi? Hay cái trái tim này là tôi? Hay cái bộ não là tôi? Tóc, lông, móng, răng, da, thịt, cái nào là tôi? Bao tử là tôi hay lá lách là tôi? Cái nào là tôi ở trong những cái thứ lắp ráp, cái thứ kết hợp, cái thứ duyên sanh, cái thứ tạm bợ này chỉ cần đi vấp cái chân đập cái đầu xuống thì tai biến mạch máu não. Tìm không thấy có cái tôi ở trong cái nội địa giới này, nội địa giới là đất ở trong, đất ở bên trong thì gọi là nội địa giới, còn ngoại địa giới là địa đất ở bên ngoài.

Chúng ta vì vô minh, vì si mê, vì hôn ám, vì mù lòa, vì không có trí tuệ cho nên chúng ta nắm chặt, đất trong đất ngoài gì vô tới mình là tôi à, là của tôi à. Chúng ta thấy không, vì mấy tất đất giết bốn năm mạng người, máu mủ ruột rà huyết thống, đó là đất ở bên ngoài thì huống hồi gì đất ở bên trong, đất bên trong là cơ thể này. Vì vô minh, vì si mê, vì không hiểu biết, vì không có trí tuệ, vì không gặp bậc chân nhân, không nghe pháp bậc chân nhân, không thuần thục pháp bậc chân nhân, không tu tập pháp bậc chân nhân cho nên kẻ vô văn phàm phu nắm chặt, cho rằng sắc này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, những đồ đạt đó là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi.

Vì cái nhìn sai lầm, cái nhìn lệch lạc, cái ngộ nhận cho nên người này sầu, bi, khổ, ưu, não, người này cả một cuộc đời thèm khát, thèm thuồng, thèm muốn, thiếu thốn, đói khát, khao khát, là khát ái, là bị sự thúc giục ở trong các cảm thọ mà truy tầm, đuổi tìm. Những chuyện không có là cái gì hết, chỉ một miếng ăn một chút thôi, hay là mấy đồng bạc, một cái tờ năm trăm ngàn mà hai vợ chồng đâm nhau chết. Chúng ta có nhìn thấy cái hiện trạng của xã hội ngày nay không ạ? Chúng ta có thấy sợ không? Có lo không? Có cái suy tư không? Có trăn trở, có ưu tư, có chiêm nghiệm sâu sắc về cái sắc pháp vô thường này, cái sắc pháp giả dối này, cái sắc pháp tạm bợ này không? Cái vật chất mong manh này không có là gì hết mà người ta bất kể tình thân, bất kể mẹ con, cha con, anh em đổ xăng lên người để đốt cha, đốt mẹ, tạo ra bao nhiêu những cái ác nghiệp để rồi cuối cùng cuối cùng là một nắm tro tàn.

Dầu cho mình có trăm căn nhà, ngàn căn nhà mình đem theo căn nhà nào đi? Mình đem cái căn nhà ngoài hàng mã đó, phải chiêm nghiệm sâu sắc cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi. Mình học được cái này mình tuyệt vời lắm, mình mất đồ của mình nhẹ tênh, đâu phải của mình, mất thì thôi, còn xài mà hết thì thôi, còn không mua cái khác. Mình học được cái này mà có ai muốn lợi dụng này kia mà mình có điều kiện thì cho luôn, mình tu hạnh bố thí mà, đây là cơ hội để mình giúp người ta mà. Họ tính toán, họ hơn thua, mình biết nhưng mình chẳng có quan tâm gì hết, những cái thứ này không có quan trọng, quan trọng là cái trí tuệ để thấy được những cái thứ này đó là đồ dỏm, đồ giả, đồ xài tạm, đồ mượn.

Có cái nào không phải đồ mượn con thưa các ngài? Các ngài chỉ giùm con coi có cái nào mà không phải đồ mượn, cả cái tấm thần này là mình mượn của cha, của mẹ, mình mượn của đất, nước, gió, lửa.

"Và này Rahula, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Và này Rahula, thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, niêm dịch, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ; như vậy, này Rahula, được gọi là thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới đều thuộc về thủy giới. Thủy giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta'. Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới" (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)

Quý vị có thích mủ không? Quý vị có thích máu không? Quý vị có thích nước mắt không? Có thích mồ hôi không? Có thích nước tiểu không? Nói ra là mình đã thấy ớn rồi, chính ở trong cái cơ thể mình bài tiết ra thôi mà rủi nó văng ra một chút vô mình là mình không chịu được "tôi dính đồ dơ rồi", nhưng mà cái đồ dơ đó là nó ở đâu? Nó ở trong này, khi nó bài ra ngoài thì mình biết nó dơ, còn nó ở trong này thì mình lại tưởng nó là sạch, đó là vô minh, đó là mù lòa, đó là không có trí tuệ. Nó dơ thì nó ở trong nó cũng dơ, ở ngoài nó cũng dơ chứ tại sao nó ra ngoài thì mới là dơ, còn ở trong thân này là sạch, là đẹp? Tại sao cục phân đó, mình nói thẳng ra luôn cái cục cứt đó khi mình ỉa nó ra, mình bài tiết nó ra rồi mình thấy nó hôi, nó thúi, nó dơ là mình phải bấm lẹ lẹ, rồi nó ở trong bụng mình thì sao? Nó ở trong con người mình thì sao? Tại sao không thấy nó dơ mà mình vênh váo, mình ta đây, mình cống cao, mình ngã mạn với ai, mình kiêu mạn với ai trong một cái thân đầy phân, nước tiểu, cứt đái, máu mủ.

Chúng ta nhìn thấy cái sự vô minh, nhìn thấy cái sự xót xa và đau lòng hay không? Một ánh nhìn, một lời nói, một hành động có thể chia rẽ, rạn nứt, tan nát, đổ vỡ, tan hoang, tan tành, hủy diệt với nhau, sát phạt, sát hại với nhau là vì cái gì? Vì cái ngạo mạn, kiêu mạn, ngã mạn, vì không thấy được bên trong này là những cái thứ nhơ nhớp, bất tịnh, đáng nhòm, đáng gớm, đáng chán, đáng ghê. Mình chỉ cần bị cái lớp da nó phủ một cái là mình hôn mê hết trơn.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tim gan, máu, thịt, xương

Phủ ngoài một lớp da trơn láng

Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.

Chỉ một lớp da đó thôi là nó che hết tất cả những thứ hôi thúi, tanh tưởi, bẩn thỉu mà lúc nào cũng ta ta, tôi tôi, tao tao, mi mi, vỗ ngực xưng tên, cống cao, hống hách, ngã mạn, kiêu căng, tự đại, tự thị, tự phụ, tự cao, tự đắc, tự ngã để rồi tạo ra bao nhiêu những thứ ác nghiệp. Chúng ta thấy rằng mình có đáng thương hay không? Hữu Tình có đáng thương hay không? Chúng sanh có đáng thương hay không? Đó là lý do mà Đức Phật và các bậc thánh có một tâm đại từ, đại bi vô lượng, thương những tâm hôn ám, thương những tâm si mê, thương những tâm vô minh, mù lòa, không phải một đời này, không phải một kiếp này, không phải mười đời, không phải trăm đời, không phải ngàn đời, không phải mười ngàn đời, không phải triệu đời, ức đời, tỷ đời mà vô lượng, vô biên, vô thỉ kiếp như vậy.

Chụp vào cái thân của con chuột, thân con chó thì cái bản ngã vẫn to cao chứ đừng nói chi là cái thân con người. Chúng ta nhìn thấy những con gà buột cái cựa vô đá với nhau không? Nhìn thấy những con chuột cắn lộn với nhau, những con chó táp với nhau, những con thú nó ăn, nó nuốt, nó xé xát với nhau rồi những con người hành hạ, hành tội, hành xác, hành hình với nhau và sáng nay chúng ta lạy sám hối oan gia trái chủ "vì vô minh, vì ngu si, vì không hiểu biết con đã làm khổ cho quý vị oan ức tức tưởi mạng chung". Tất cả chúng sanh ở trong lục đạo, ngũ thú này, tam giới này đều sống ở trong bóng đêm cho nên bậc đạo sư nói "thương đời quờ quạng giữa trời đêm", không nhìn thấy được cái sự thật mà cái sự thật không phải ở đâu xa, ở trên trời, dưới biển, ở cái hành tinh nào, mà là cái sự thật ngay đây tại chỗ này, trong cái tấm thân này. Thế Tôn nói này trong cái tấm thân một thước tám này Như Lai tuyên bố sự thật về khổ và con đường diệt khổ.

"Tại chỗ nào, bạch Thế Tôn, không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), chúng con có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?

- Này Hiền giả, Ta tuyên bố rằng: 'Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới'. Nhưng này Hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt" (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (V). Rohitassa (1))

Cho nên biển khổ không phải là một cái biển Thái Bình Dương, Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, biển khổ mà chúng ta cần vượt qua đó chính là cái thân này, là cái đống sắc pháp, sắc uẩn, sắc tướng này, là cái tâm hôn mê, chấp thủ trong này. Đức Phật nói cái chữ "chấp thủ", bị chấp thủ tức là một cái tâm nó nắm chặt vô trong đó, nó giữ chắc trong đó, nó không chịu buông ra. Thử ai động tới một cọng tóc là sân si lên, một cọng tóc thôi, thà đi ra tiệm cho người ta cắt thì không sao mà ai mà thử động vô một cọng tóc thôi, thậm chi cái bóng mà bị đạp lên cũng xảy ra chuyện lớn nữa. Chúng ta thấy không? Chúng ta thấy chưa? Chúng ta thấy rõ hay không? Cái sự vô minh của chúng sanh là nó dày đặc, là dày sâu, là thâm hậu là khủng khiếp, khủng khiếp, khủng khiếp mà chúng ta sống nhởn nhơ qua ngày đoạn tháng, sống lờ mờ, lơ mơ, ngu ngơ, trơ trơ rồi chờ ngày vô hòm là kết thúc một cuộc đời hoang phí, phung phí, lãng phí và bỏ phí một cái cuộc đời quý báu.

Nếu chúng ta không gặp được thánh pháp tối thượng này giờ này chúng ta đang làm cái gì? Đang tham, sân, si, chạy đuổi, giành giật theo những cái thú vui tạm bợ, vô thường, mong manh, hư ảo. Chúng ta thấy cái giờ này mình ngồi đây nó có tối thượng hay là không? Nó vi diệu hay là không? Nó cao quý, nó hy hữu hay không? Đó là sự quý báu của tu học, đó mới gọi là pháp bảo, nó còn hơn cả vàng rồng, kim cương, hột soàn, nó vô giá vì vàng, kim cương, tiền làm cho người ta chết ở trong đó, tham đắm trong đó, còn cái pháp bảo là đưa cho người ta đến ly tham, thấy được sự thật, hiểu được sự thật, thấu được sự thật, thể nhập được sự thật và sống với sự thật. Chịu hay là không?

Mình sống như cái sự giả, mình sống như sự dối trá, dối gạt, gian dối, dối từ bên trong tâm mình cho đến người bên ngoài rồi mình có tự dối mình không? Chính mình cũng dối mình mà mình bắt người ở ngoài tất cả phải thật với mình thì cái chuyện này là không thể xảy ra, cho nên chỉ có học với Phật thì mới chỉ ra đến cái chỗ tận cùng của sự thật. Tuyệt diệu không? Hạnh phúc không? Đức phật không có chừa một cái gì hết.

"-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay: Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo', hay 'Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Như Lai là vị thầy không có nắm tay tức là có cái gì ngài đưa hết, không có giữ lại bất cứ một cái gì hết, đưa hết, trao hết, gửi hết. Vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người những gì một bậc đạo sư đã làm ta đã làm cho các vị. Hãy nỗ lực, hãy tinh tấn, phải cố gắng một việc cần phải làm, cần phải cố gắng để thấy được đây là khổ, một cái điều mà các vị cần phải cố gắng nỗ lực để làm, để thấy được những cái nguyên nhân này nó đưa đến khổ đau và một cái điều mà các ông cần phải cố gắng, các bà cần phải cố gắng, các cô cần phải nỗ lực cố gắng để thấy được sự diệt khổ và cái con đường đưa đến chấm dứt khổ đau.

"Và này Rahula, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Và này Rahula, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ; như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy, cái gì khiến cho những vật được ăn, uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ; này Rahula, như vậy được gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới, và những gì thuộc ngoại hỏa giới đều thuộc về hỏa giới. Hỏa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta'. Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới." (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)

Sự sống của mình nó còn duy trì là vì còn có nhiệt độ hơi ấm, khi nó lạnh ngắt rồi thì nó trở thành một khúc cây, mà còn tệ hơn. Khúc cây, khúc củi còn chụm củi nấu cơm mà cái thân này không ai dám chụm hết, chỉ có cái chỗ đặc biệt mới đốt nó thôi còn những chỗ khác không ai dám hết. Chúng ta thấy thuộc về cá nhân, thuộc về lửa, thuộc về chất nóng, bị chấp thủ là nó làm cho tiêu hóa, nó làm cho đốt cháy những vật ăn uống, nhai, nếm, khéo tiêu hóa. Cái chữ quan trọng ở đây là cái chữ "bị chấp thủ", thí dụ như cái đống lửa mình đốt ra ngoài mình đâu có thèm quan tâm gì đâu, ai đốt gì kệ, cháy nhà, cháy rừng là chuyện người ta nhưng nhiệt độ ở trong cơ thể mình như trời lạnh mà mình xin vô cái nhà đó có lò sưởi ấm mà không cho vô thì lúc đó mình có oán hận không? Có thù hận, có tức giận, có sân hận không? Tại sao vậy? Mình chấp thủ cái sự ấm áp trong thân này, cái ấm này là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi, gọi là nội hỏa giới, mình đã cho cái đó là mình.

"Và này Rahula, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Và này Rahula, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các đốt, các khớp, hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ; này Rahula, như vậy được gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Phong giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta'. Sau khi như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới" (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)

Âm thanh của mình nói chuyện là cái gì? Là nội phong giới, nếu bên trong mình không đủ gió thì mình sẽ không nói chuyện được cho nên có những người bệnh muốn nói dữ lắm, người ta ngước lên mà nói không được do gió không đủ, cái phong giới ở bên trong có vấn đề, nó bị suy kiệt, suy hao, suy giảm, không đủ nhân, không đủ duyên để cho nó biểu hiện ra, nó phát khởi ra thì lúc đó trở thành câm, liệt, người thực vật. Nhưng mà mình đâu có thấy đâu, mình nói tôi nói, cái giống gì mình cũng gắn chữ "tôi" vô hết. Khổ thiệt là khổ, bất cứ cái gì rồi mình cũng gắn chữ tôi vô, "cái chậu hoa này của tôi chưng", "cái đôi dép này của tôi", "cái ly này của tôi", "cái nhà này của tôi", "cái chiếc xe này của tôi", "cái mắt kính này của tôi".

Bây giờ thêm một chữ vô thôi, "không", được không? "Cái mắt kính này không phải của tôi", "cái chậu hoa này không phải của tôi", "ly nước này không phải của tôi", "đôi dép này không phải của tôi, nó là của đất, nước, gió, lửa, nó là của tứ đại". Trước khi mình mua mắt kính thì nó nằm ở đâu ở đâu? Nó ở ngoài tiệm, trước khi nó ở tiệm thì nó ở đâu? Trước khi nó được chế tác làm thành những đồ đó thì nó nằm ở đâu? Nó là đất, nước, gió, lửa, nó là sắc pháp chứ nó đâu phải của ai. Mọi người có nhất trí không?

Sắc là tứ đại, không có của ai hết, bất cứ cái gì mình nghĩ có chữ "của tôi" mình gỡ ra liền "không phải của tôi", thêm chữ "không" vô. Ở trong cái suy nghĩ, ở trong lời nói, ở trong cảm giác mình thêm cái chữ "không phải" vô là nó ra được cái đáp án của trí tuệ. Hai chữ thôi, "không phải", thí dụ mình bước ra dép mất tiêu, mấy bữa nay con bị mất dép hoài, dép ở đây cũng không phải dép của riêng ai tạm đi thôi nhưng mà một lát mình bước ra mất tiêu, mình nói "đâu phải dép của mình đâu" rồi đi chân không khỏe re, có được không? Nếu mình nói "Ủa cái đôi dép của tôi ai lấy rồi?" là có chuyện, nếu không có đi dép này thì kiếm dép khác mang. Tất cả là xài tạm, là đồ mượn, là đồ dỏm. Chúng ta cần nhớ mấy chữ này: Không, xài tạm, đồ mượn, đồ dỏm, đồ giả.

Thầy Thiện Huệ:

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật, ngài là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chánh pháp, pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng, diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời.

Đệ tử chúng con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với thánh giới, giới được các bậc thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định.

Sư Phụ: Cái đồ dỏm này địa chỉ ở đâu ạ?

Phật tử 1: Kính bạch Đức Thế Tôn ạ, kính bạch bậc giáo thọ tôn kính, qua bài giảng của giáo Thọ thì con thấy là cả một cái gia tài của Đức Phật giao lại cho ngài La-hần-la có bốn chữ không. Bốn chữ không này mà tất cả các hàng đệ tử phải học, phải thực hành, đâu có phải là dễ, khó lắm ạ vì ở đây nếu như của mình mà lại bảo là không phải thì chúng con chưa giác ngộ được đâu ạ. Vì đúng là từ đất, nước và gió, lửa để tạo thành tất cả từ con người cho đến mọi vật tạo thành trên thế gian này nhưng mà Đức Như Lai đã tu trong nhiều kiếp, ngài đã giác ngộ nhưng với con thì con nghĩ…

Sư Phụ: Con hỏi là cái đồ dỏm này địa chỉ ở đâu?

Phật tử 1: Dạ cái đồ dỏm này là ở trong tất cả cơ và già này rồi cũng sẽ chết thôi ạ.

Sư Phụ: Con hỏi cái đồ dỏm này địa chỉ ở đâu?

Phật tử 1: Dạ địa chỉ ở tất cả mọi nơi ạ.

Sư Phụ: Con hỏi cái đồ dỏm này địa chỉ ở đâu ạ?

Phật tử 1: Con bạch sư phụ con ở phố Võ Chí Công.

Sư Phụ: Đó là bài thực tập, đó là pháp hành, đó là học hành ngay tại chỗ đó. Mình có thừa nhận mình là đồ dỏm không? Nếu thừa nhận thì nói rõ ràng địa chỉ con là… rồi xong, cái chỗ này là chỗ sâu sắc mà Đức Phật dạy mình chấp nhận học pháp, bốn chữ thôi. Đây là con không có chỉ riêng, bà cụ tu rất tinh tấn, con chỉ cho tất cả các ngũ uẩn ở đây không có ai hết, đây toàn là ngũ uẩn không à, đồng ý không? Nhất trí không? Không có cái tự ngã nào ở đây hết nhưng mà thường thường tại sao mình khó thể nhập cái pháp là vì cái tâm của mình không chấp nhận học pháp, mình nói cái đó khó lắm. Khi mình nói cái đó khó thì giống mình đóng cửa lại thì ánh mặt trời sẽ không chiếu vào được, bây giờ bất cứ một người nào lại hỏi:

Cái đồ dỏm này ở đâu?

Dạ, Hoàng Mai, Hà Nội.

Tức là mình thấy được chữ đồ dỏm đó phá sắc uẩn, phá sắc thủ uẩn, phá cái chấp ngã, chịu không? Vì hồi nãy con kêu đồ dỏm đứng lên thì con thấy cụ là ngơ ngác, giống như trên trời mới lọt xuống không biết cái này là cái gì, đó là bài tập, bài tập này là tất cả chư Tăng và Phật tử tại gia, xuất gia đều phải cố gắng thực hành hết. Khi mình thọ pháp là ngay lập tức pháp đi vào trong mình liền ngay lập tức "dạ, có đồ dỏm đây", được không? Bây giờ có nhiều pháp quán, nếu quý vị đã từng lên Linh Quy và đã từng nghe thì quán cái nùi giẻ rách, ví dụ gặp nhau hỏi:

Cái nùi giẻ này đi đâu vậy?

Dạ, nùi giẻ này đi chùa để học dẹp cái bản ngã.

Nếu không học như vậy thì lỡ có người nói cái nùi giẻ là sân si lên "tôi vầy mà dám gọi tôi là cái nùi giẻ hả?". Đây là vừa lý thuyết, vừa thực hành, vừa thực nghiệm luôn, trải nghiệm luôn, thực tế luôn, thiết thực, hiện tại, đến đây mà thấy mà, tuyệt vời không? Đó là mình tu chấp nhận cái trí tuệ của Đức Phật, đương nhiên là phải khó rồi, dễ thì mình đâu có ngồi đây, dễ thì mình đi theo các ngài rồi, khó nhưng mà ta chịu khó. Nhất trí không? Ta phải chịu khó, trong cái khó thì nó ló cái khôn, thành ra đó mình học cái này là mình đem một cái tâm trống rỗng giống như đứa con nít trẻ thơ không biết gì hết, cứ để cái thánh trí huệ soi vô, rót tới đâu là nhận tới đó, rót tới đâu là tuyệt vời tới đó, rót tới đâu là cứ việc như vậy thì mình sẽ học mau, học nhanh, học được tốt. Nhớ kỹ cái đó là cái quan trọng.

Mình thấy mình ợ được là do cái gì? Mình ngáp được là do cái gì? Mình nói chuyện được là do cái gì? Mình đi qua đi lại được là do cái gì? Mình làm cái này tay chân mình cử động là do cái gì? Quét nhà, lái xe, tất cả là gió hết nhưng mà mình có thấy gió không hay là mình thấy "tôi lái xe"? Bây giờ bắt đầu thực tập, nhắc từ từ, cứ làm từ từ thôi, khi đi mình không thấy có một cái "tôi đang đi" mà mình quán "cái này là sức gió, cái sức của gió nó chuyển động", như vậy là mình đang nhận diện tứ đại, đang quán chiếu tứ đại trong kinh Tứ Niệm xứ đó. Mình không thấy có cái "tôi đi" mà thấy cục thịt, ở đây khoảng chừng trăm cục, phải gỡ hết tất cả những sự chấp để mình thấy được cái bản chất của sự thật là mình đang quán tứ đại đó. Mình thấy người ở chung trong nhà mình gió thổi quá xá, cái miệng nói liên tục thì thôi mình im lặng, mình để cho gió dừng sóng lặng "hải yến hà thanh", biển yên sóng lặng thì mình phải dừng lại. Bên đây thổi mà bên kia gió thổi qua nữa, hai bên cùng thổi thì cái nhà bay mất. Chúng ta thấy được không? Quán chiếu cái này lợi lạc không?

Cái miệng nói liên tục từ sáng tới trưa, chiều thì cái này gió mạnh, cái này đang bão rồi mình thấy lu bu, lăng xăng thì giống như đang động đất, tô chén để nghe ầm ầm thì động đất tới nơi, cái này địa chấn, không có ai hết, mình thấy đống đất đang động và luồng gió đang thổi. Mình thấy phừng phừng lên, mặt mày đỏ lên hết, gân cổ nổi lên, hai mắt đỏ, lỗ tai lùng bùng thì cái này lửa đang bốc hỏa, bà hỏa tới rồi, mình không có thấy có một người đang giận mà thấy rằng lửa đang hoạt động. Đây là quán chiếu về tứ đại rất thâm sâu, rất thực tế, rất cụ thể, rất rõ ràng, mình phải tạp tách cái mình ra, nhìn thấy đất, nước, gió, lửa.

Thấy cái mặt phừng phừng, hầm hầm, đỏ bừng lên hết trơn, lỗ tai và mặt đỏ như Quan Công, mắt liếc trợn lên thì quán chiếu giống như một đống đất tới, gió thổi tới, bão rồi giờ lửa bắt đầu chuẩn bị cháy nhà tới nơi rồi. Chúng ta phải nhận diện cho được tứ đại, quán chiếu được đất, nước, gió, lửa, từng hơi thở vô, hơi thở ra là mình phải nhìn thấy, trong này không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi, trong này chỉ là sự vận hành của phong đại. Có bao giờ mà mình ngưng thở không? Một ngày mình nhớ được mình thở mấy tiếng? Hai mươi bốn giờ mình nhớ được mấy giờ? Đó là mình sống trong lãng quên, mình không có tỉnh giác, không có chánh niệm, không có thiền quán, không có quán chiếu, không có quán sát như thật với chánh trí tuệ. Nếu mình không có quán sát như thật với chánh trí tuệ thì mình quáng gà, mình lờ mờ, nhìn cái này ra cái kia rồi mù quáng, nhìn sai, nhìn trật, nhìn lầm, nhìn lạc, nhìn lộn, nhìn theo kiểu mê thì như thế mình đau khổ hoài thôi.

Nhìn cái là sân si, nhìn cái là tham lam, nhìn là cái hơn thua, nghe cái là đúng sai, đọc tin nhắn là nổi đóa lên, phẫn nộ lên. Nhãn xúc, nhĩ xúc tức là con mắt tiếp xúc vô cái tin nhắn, lỗ tai nghe cuộc điện thoại hay là nhìn gặp một con người nào đó là tự nhiên ở trong này là nó vận hành, đất, nước, gió, lửa sôi ù ục lên trào ra ngoài. Cảm thọ ở dưới nung lên, cái cảm thọ xúc chạm với vô minh, ở bên trong là cái nội xúc, sự tiếp xúc bên trong là của vô minh và khát ái, chấp thủ ở bên trong, khi nó tiếp xúc với nhau thì nó nung lên cái nồi cảm thọ và ở trên này nó trào lên rồi rớt cái nắp ra, thì đó là cái ngôn ngữ và cái hành động sân hận đó. Sâu thẳm ở dưới là các cái cảm thọ vô minh, khát ái, chấp thủ, bản ngã là củi, là nhiên liệu, là bình ga, là chất cháy, từ cái đó nó nung lên ngọn lửa của cảm thọ rồi nó đốt nước sôi ùng ục lên, sau đó là rớt cái nắp luôn là nó biểu hiện ra cái gương mặt, ánh mắt, lời nói, hành động và tay chân, cuối cùng nó tạo nghiệp.

Giống như cái bếp lửa tràn ra rồi thì nó cháy lan hết trơn nhà cửa, xóm làng thì đó là hậu quả của nghiệp, còn cái đầu tiên sâu thẳm bên trong là các cảm thọ nó nung đốt, nó thiêu đốt, nó đốt cháy và người nhận diện ngũ uẩn là nhìn thấy sâu thẳm được ở phía dưới nhiên liệu đó, cái bình ga đó, những cái thanh củi đó, những cái bếp lò đó. Còn người không có nhận diện ngũ uẩn, không có thấy được đúng thì cái người này dùng cây quạt, dùng cái miệng thổi ở trên cái nồi nước sôi ùng ục đó thì tới chừng nào nó hết nó nguội được? Chừng nào nó hết sôi? Ở dưới thì cứ để củi vô, cứ vặn thêm số mạnh lên cho lửa lớn lên mà ở trên này cái miệng thổi thì tới chừng nào nó nguội? Tới chừng nào nó hết sôi?

Cái tu không chánh kiến giống vậy đó, tu mà không thấy đúng cũng giống vậy đó, tu ở trên ngọn ngành. Mình không thấy biết được cái căn nguyên của phiền não, gốc rễ của khổ đau, cái nguồn cội của các lậu hoặc mình không nhìn thấy cho nên mình tu hoài mà tham, sân, si, bản ngã không hết, có khi nó trá hình, nó biến thể, những cái virus đó nó biến thể rồi mình tưởng đâu là mình tu tốt nhưng không có, nó biến thể, nó làm được một chút là nó bản ngã, nó đóng góp được này kia là nó danh lợi. Cái virus Corona bây giờ nó biết thể nhiều không ạ? Cái tham, sân, si, bản ngã này biến thể còn hơn gấp vạn tỷ lần nữa, phải nhìn thấy được những cái biến thể của tâm thức, của cái cảm thọ, của cái suy tư đó, của các cái tưởng đó.

Cái đơn giản dễ thấy nhất là hơi thở, tập cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, các thầy quản chúng nhớ mỗi thời tu cho thực hành ba pháp, cái này rất quan trọng. Quay trở về định tâm ở trên thân, cảm nhận toàn thân để phát giác, phát hiện ra những cái nguyên nhân, những cái ngấm ngầm đang hoạt động ở bên trong, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng của mình, nội tâm của mình. Khi thấy được những cái điều này rồi mình biết được cái căn nguyên, cái nguồn cội, cái gốc rễ, cái động cơ làm cho mình khổ đau thì nhiếp phục, chế ngự ngay chỗ đó, lần lần mình sẽ đi đến chỗ bình an.

"Và này Rahula, thế nào là hư không giới? Có nội hư không giới, có ngoại hư không giới. Và này Rahula, thế nào là nội hư không giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ, như lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, do cái gì người ta nuốt, những gì được nhai, được uống, được ăn và được nếm, và tại chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn và được uống được giữ lại, và ngang qua chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn và được tống xuất xuống phần dưới để ra ngoài, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ; này Rahula, như vậy được gọi là nội hư không giới. Những gì thuộc nội hư không giới và những gì thuộc ngoại hư không giới đều thuộc về hư không giới. Hư không giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: 'Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta,' Sau khi như thật quán sát hư không giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hư không giới, tâm từ bỏ hư không giới" (Trung Bộ Kinh, 62. Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la)

Hư không giới là cái khoảng trống ở trong con người của mình, nếu mình không có mấy cái này sao mình sống ạ? Lỗ mũi này nếu bít luôn có thở được không? Lỗ tai mà bít chặt luôn rồi có nghe được không? Cái miệng nếu mà bít luôn có nói được không? Rồi cái đường ruột, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, lỗ chân lông, tất cả đều có khoảng trống gọi là nội hư không giới. Cái khoảng trống bên ngoài này là ngoại hư không giới, khoảng trống ở trong rồi khoảng trống ở ngoài, có cái đó mình mới sống, mình cứ thích cái có mà mình không biết là phải cần có cái không. Bây giờ đường đại tiểu tiện bít luôn rồi sống được không? Đó là nội hư không giới đó, khoảng trống ở trong cơ thể của mình, trong người mình có khoảng trống là có hư không nhưng mà những cái đó mình cũng chấp thủ luôn, mình cũng nói là tôi, của tôi, tự ngã của tôi luôn. Khổ vậy đó, cái nào vô là mình cũng nắm, mình cũng chấp thủ hết, mình cũng chấp ngã hết, khoảng không ở trong nhà mình là khác à, khoảng không ngoài đường là khác, khoảng không trên trời là khác, cái khoảng không ở trong người mình là khác, là bị chấp thủ.

Cái chấp thủ nó làm cho mình đau khổ, nó chỉ là khoảng không thôi à. Quý vị thấy các vị đệ tử Đức Phật, các bậc thánh đệ tử, các bậc A-la-hán tại sao thân các ngài khi bị thương hay là khi sắp chết mà tâm được bất động, cái ngài đâu có coi đất, nước, gió, lửa, hư không này, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là các ngài đâu, đâu phải là tôi, đâu phải của tôi, đâu phải tự ngã của tôi cho nên nó rã là chuyện của nó, nó là thứ duyên sanh, nó hợp mà nó tan, nó tụ mà nó tán thì bây giờ nó tan là cái duyên sanh của nó thì các ngài không có dính dáng gì tới thì mới đạt được cái thánh trí ngũ uẩn. Còn mình chỉ có ngũ uẩn là tôi thôi, còn các ngài là thánh trí về ngũ uẩn, ngũ uẩn trở thành đối tượng, cái ngày tách cái tâm mình ra sống với thánh trí mà Đức Phật truyền trao, còn mình là nhập cuộc chung với ngũ uẩn.

Chúng ta để ý cái này, thánh trí là một cái trí tuệ từ ở bên ngoài này nhìn vào ngũ uẩn. Khi mình nhận diện được cái đó là sắc, cái đó là thọ, cái đó là tưởng, đó là hành, đó là thức thì mình phải có một cái trí tuệ mình mới thấy được chứ, cái trí tuệ đó là Đức Phật trao cho mình. Mình được cái trí tuệ đó thì gọi là từ pháp mà hóa sanh, mình được sanh ra ở trong pháp, đó là pháp thân, đó là thánh trí. Bài kinh này nó hay quá, tuyệt diệu quá, đầy đủ tất cả những cái pháp để mình thực hành, để mình quán chiếu, mình tập chánh quán như thật, đối lại với chánh quán là tà kiến. Chánh quán là xét đúng, tà kiến là thấy sai, xét đúng với cái sự thật của nó như vậy đó, là thấy đúng như vậy gọi là như thật, chữ "như" là đúng như vậy, thấy đúng như sự thật về sắc này, về thân này, về đồ vật, về cảnh vật và tứ đại này.

Chẳng hạn như giờ mình đi lại cái bàn này mình ngồi thì có người hỏi, mình nói "cái kệ này là kệ của tôi" mà trước đó không có ai, mình đến ngồi là cho rằng "đây là chỗ của tôi, sao bà lại giành?". Chúng ta thấy cái tâm chấp thủ ghê gớm không? Rất là ghê gớm, từ cái chấp thủ đó là khổ đau, bây giờ mình nói "cái này là đồ xài tạm" thì có thấy dễ tu không, hai chữ thôi là đồ mượn, đồ dỏm, đồ giả, đồ xài tạm. Mấy câu này dùng để tác ý đó, để quán chiếu, cái này là bí kiếp đó, cái này lá bùa hộ mệnh, cái này là truyền gia bảo, là bảo bối đó, ngoài ra còn từ "hàng dễ vỡ" nữa.

Sáng ngủ thức dậy cái mượn cái gì? Điểm tâm phải không? Trong đó có thức ăn và nước uống phải không? Đó là mình mượn vô, mượn đất, mượn nước vô, trong đó nó có lửa. Sáng thức dậy mượn, trưa có đi kiếm mượn không? Chiều tối có mượn không? Bây giờ đang ngồi đây có mượn không? Mượn gió là hơi thở, như vậy lúc nào không mượn? Có lúc nào không mượn không mà tại sao nói đồ mượn là ngồi im re nói không nổi là sao? Có nhất trí đồ mượn một trăm phần trăm không? Ngừng mượn là chết ngay lập tức, thở ra mà không mượn gió vô lại là xong rồi, đôi dép cũng đồ mượn, chiếc xe cũng đồ mượn, cái mắt kính cũng đồ mượn, tiền trong túi cũng đồ mượn, đâu có tự nhiên có đâu. Cái nhà ở có đồ mượn không? Cái thân này có đồ mượn không? Đồ ăn cũng mượn, nước cũng mượn, hơi thở có mượn không? Mượn rồi có trả không? Mình mượn thức ăn vô rồi mình đi vô cái chỗ đó mình trả ra, khi mình mượn là mình đòi đủ thứ món hết, đủ thứ hương, vị, sắc hết tới chừng mình trả ra đó là cái mùi khủng khiếp.

Mình đòi nước này nước kia, cà phê mới chịu chứ nước suối không chịu, nước cam vắt mới chịu, nước ngọt không chịu, nước trà không chịu, đòi đủ thứ nước hết tới chừng trả ra cái nước gì? Cái nước khủng khiếp phải không? Cái nước tanh thôi, cái nước nhơ nhớp, mình uống vô như vậy tới chừng cái thân thể mình có bài tiết ra không? Nó có trả ra không? Tại sao mình phải đi tắm? Tại sao phải xúc miệng? Cái mũi mình chảy ra cái gì? Cứt mũi. Lỗ tai mình chảy ra cái gì? Cứt ráy, ghê không? Nói ra rồi nghe cũng ớn, chảy mồ hôi còn gặp người có cái mùi đặc biệt nữa thì ôi thôi. Bất cứ lúc nào mình cũng mượn từng hơi thở mình trả hoài như vậy đó, chỉ cần trả ra mượn lại không được là lập tức ngã ra chết liền mà mình không có nhớ mình là đồ mượn.

Khổ vậy chứ, mình cứ nói "đồ của tôi", chỉ cần nhớ hai chữ "đồ mượn" thôi là cũng giác ngộ nữa, tu dễ không? Không có bắt tu gì nhiều đâu, chỉ nhớ hai chữ đồ mượn thôi, "hít vô thở ra mượn nha, mượn vô trả ra, mượn vô trả ra, mượn vô trả ra, mượn lại không được lên nóc tủ ngồi". Như vậy cả cái sự sống của mình là một cái chuỗi vay mượn liên tục, liên tục, liên tục và liên tục không gián đoạn, không có giây phút nào không mượn hết. Nếu thấy được như vậy là trí tuệ, thấy được như vậy là tỉnh giác, thấy được như vậy là chánh niệm, thấy được như vậy là có sự thấy biết chân chánh và mình thấy một cái tự ngã, một cái tôi, một cái ta, một cái nguyên khối tưởng, một cái ngã tưởng, một cái tôi to lớn ai đụng vô một cái là sân si, là hơn thua, là tranh giành, là cao thấp, là ganh đua, là cao, là ngang, là bằng, là hơn thì như vậy sầu, bi, khổ, ưu, não tập khởi, sanh khởi.

Tu đơn giản không? Dễ dàng không? Ai nói tu khó đâu, tại mình không chịu tu, không có khó, mình ở ngoài còn làm bà chủ, ông chủ, mình còn điều hành biết bao nhiêu mà nói, cái tu này có gì đâu khó, dễ hơn làm ăn nhiều, đem cái tâm đi làm ăn kiếm tiền này để đi kiếm trí tuệ thì mau đắc đạo lắm, mau thành tựu lắm. Đồ mượn xong rồi đồ giả, đồ dỏm, đồ xài tạm, tại sao là đồ giả? Con thưa với quý vị ở trên Linh Quy chuối nhiều khi không có trồng tự nó mọc, khi con đi vào trong thất nhiều khi để quên để mấy trái chuối năm ngày, bảy ngày, thậm chí mười ngày mà mình vẫn còn ăn được, ở ngoài đổi màu nhưng bên trong còn nguyên, nó thơm, nó ngọt, còn những trái cây ở dưới Sài Gòn thì mình để mới có một, hai, ba bữa là nhìn hư hết. Tại sao vậy? Là do thuốc, nó không phải là cái trái cây thiệt sự, nó có chất độc, hóa chất ở trong đó, nhìn cũng giống nhau nhưng mà nó là đồ giả, nó là đồ độc.

Mình mua hàng đồ nhái cũng giống như cái đồ thiệt, y chang vậy nhưng mà tới chừng mình xài thì cái kia để hoài năm năm, mười năm, ví dụ áo cái hàng hiệu mặc năm năm, bảy năm, mười năm cũ chút xíu thôi nhưng vẫn tốt, xài hoài, còn cái đồ dỏm mới về có hai, ba tháng là đổi màu, sứt chỉ, nó hư hết trơn. Như vậy mình thấy giữa cái đồ thật với cái đồ giả nó khác nhau, cái đồ giả đổi thay rất là mau, nó biến đổi rất mau, nó biến hoại rất là mau. Cái thân này nó biến mau không? Nó đổi mau không? Nó là đồ thiệt hay đồ giả?

Sư Phụ: Năm nay bao nhiêu cái xuân sanh rồi con thưa cụ?

Phật tử 2: Con 78 ạ.

Sư Phụ: Khi 18 thì lúc đó ra sao?

Phật tử 2: Lúc 18 tuổi thì chúng con thì cũng đi làm, đi kiếm ăn để lấy tiền để nuôi thân.

Sư Phụ: Lúc mà 18 tuổi so với bây giờ cái gương mặt có giống giờ không?

Phật tử 2: Không ạ, lúc 19 tuổi tất nhiên cái tuổi ý là không thể nào giống được bây giờ. Bây giờ là già rồi, mắt nhăn rồi lưng còng, nói chung là già rồi nó phải khác hơn là lúc trẻ.

Sư Phụ: Vậy là đồ thiệt hay đồ dỏm?

Phật tử 2: Đồ dỏm ạ.

Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn, cái đồ dỏm này địa chỉ ở đâu?

Phật tử 3: Địa chỉ con ở phố Đại Đồng ạ, ngay đây ạ, số 3 phố Đại Đồng.

Sư Phụ: Chịu đồ dởm không?

Phật tử 3: Bây giờ là con mới biết là đồ dỏm và đồ mượn ạ.

Sư Phụ: 100% không?

Phật tử 2: 100% ạ.

Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay đi. Như vậy là chúng ta nhớ buổi chiều hôm nay mình học tổng quát về thánh trí ngũ uẩn và quán ngũ đại, có những chỗ Đức Phật nói thêm thức đại nữa là lục đại, tức là địa, thủy, hỏa, phong, không và thức. Ở đây Đức Phật nói ngũ đại là địa, thủy, hỏa, phong và không để thấy được cái tính vô thường, vô ngã, trống rỗng, duyên sanh, không có một tự thể tôi, của tôi, tự ngã của tôi trong đó để mình tháo gỡ cái chấp ngã, cái tôi, cái ta, cái thân kiến. Như vậy tâm mình sẽ được nhẹ nhàng, bình an, ít có phiền não, ít có sân si, ít có hơn thua và mình có được cái đời sống thảnh thơi, ung dung, tự tại ở giữa cõi đời này. Quý vị nhớ đây là những cái phần thực tập, thực hành rất quan trọng, quý vị ghi chú cho đầy đủ, ghi chép lại để mình về rồi mình nhớ rồi mình học và mình đọc cái bài kinh này thì con sẽ gửi cho thầy quản chúng, thầy gửi lên trên nhóm cho chúng ta về đọc tụng cái bài kinh này rất là lợi ích, rất là thiết thực.

Tâm vui này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm vui này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la

Chúng ta quán chiếu cái tâm vui của mình lan tỏa xuyên thủng qua tất cả chướng ngại vật, tường vách, xuyên thủng nóc nhà ra cùng khắp hư không trời đất, vùng đất này. Lan tỏa trải cái tâm hoan hỉ ra cùng khắp hư không giới phía trước, bên phải, bên trái, phía sau, phía trên, phía dưới, bề dọc, bề ngang, cùng khắp các phương hướng. Tâm hân hoan, tâm hỷ lạc, tâm sung sướng, tâm hạnh phúc khi được truyền gia bảo, được thừa hưởng, thừa kế tài sản của bậc thánh, được tiếp nhận của báu ở trong nhà. Mọi người có hạnh phúc không?

./.