Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đức Phật & Ác Ma

2026-03-18 06:54:30
TINH HOA THÁNH ĐIỂN NIKĀYA 7

ĐỨC PHẬT & ÁC MA

–Thích Minh Thành–

Trong Tương Ưng Ác Ma chúng ta sẽ hiểu thêm một khía cạnh khác của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn không những giáo hóa cho vua của loài người, vua của loài trời mà còn phải chịu đựng vua của loài ma, vua có loài rắn, rất là nhiều. Tâm thức mình thì có chút xíu à, mình đọc kỹ ở trong tạng Nikāya mình sẽ thấy Đức Phật đối diện rất là nhiều thế giới, nhiều chúng sanh, nhiều lãnh vực, nhiều giới vức, nhiều phạm trù, mình sẽ thấy Tây Du Kí là dựa theo Nikāya để làm ra nhưng ma ba tuần ác ma chui vô bao tử của ngài Mục-kiền-liên quậy trong đó, ngài Mục-kiền-liên là thần thông đệ nhất nên mình cứ nghĩ rằng thần thông đệ nhất thì chắc ai tới chắc là ngài chưởng một cái nhưng ngược lại ngài từ bi lắm kêu "Thôi đi ra đi, ta là chú ngươi đó, mẹ ngươi hồi xưa đó là chị ruột của ta, những đời kiếp trước mới có ma cháu thôi, ma chú đây nè".

Thành ra mình học Nikāya mình sẽ thấy nhiều cái phương diện trí tuệ lắm, tâm mình sẽ rộng lớn, rộng mở ra, rộng rãi ra rồi mình không có còn sợ ma nữa tại vì ma cũng là ngũ uẩn, cũng vô minh, tham ái, khổ sầu, người ta khổ hơn mình rất là nhiều nên mình tu cái tâm từ.

Kính bạch chư tôn thiền đức, kính thưa chư vị nam nữ Phật tử hiền trí, hôm nay chúng ta sẽ trích những bài kinh trong Tương Ưng Ác Ma, sự liên hệ của Đức Phật và thiên ma để chúng ta có thêm một cái nhìn, thêm một khía cạnh để thấy được sự chứng ngộ tối thượng rộng lớn, phổ quát của Đức Phật mà chúng ta thường hay nghe trong kinh nói Thế Tôn ở giữa chư thiên, ma, phạm, Sa-môn, Bà-la-môn tuyên bố ta là bậc chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Hôm nay chúng ta sẽ thấy thêm một khía cạnh khác là Đức Thế Tôn cư xử như thế nào đối với thiên ma, đối với một cái lãnh vực mà các vị này có thần lực rất là lớn, là vua của cõi trời Tha Hóa Tự Tại, một ngày trên đó bằng 1600 năm của thế gian, thần thông rất là quảng đại. Chỉ có điều là vì ngài thống lãnh cả sáu cõi trời, dục giới cho đến cõi người, A-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, ngài không muốn có ai đi ra khỏi dục giới của ngài vì đi ra ngài mất dân cho nên ngài mong muốn dân chúng của mình được đông.

Thành ra những người tu hành mà tu thường thường thì không sao nhưng mà tu tới mức độ cao thì sẽ gặp được các ngài. Mình tu mà mình vẫn còn ham mê dục lạc thì ma bình thường mới vừa gặp là chạy mất dép rồi, sợ rồi, huống hồ ngài là vua, gọi là thiên ma, trong kinh dùng từ là ác ma. ó rất là nhiều bản kinh, cả một cái Tương Ưng Ác Ma, ở đây chúng ta chỉ trích một vài bài kinh ấn tượng để chúng ta thấy được cái cách Thế Tôn thanh tịnh, giải thoát, siêu thoát và ứng xử với ác ma.

" Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Con Voi)

Một cái cảnh này thôi là chúng ta cũng thấy kính mến Đức Phật, ngài ngồi ở ngoài trời trong bóng đêm tối và lúc đó là trời đang mưa từng hạt. Ngài vẫn ngồi đó, vẫn điềm nhiên, vẫn điềm tĩnh, vẫn trầm mặc ở giữa bóng đêm, giữa trời tối, giữa những cơn mưa cho nên những hình ảnh này chúng ta phải khắc sâu vào tâm khảm của mình. Những lúc mà mình ngồi thiền những lúc mà có cúp điện hay những lúc có vài giọt mưa chúng ta phải nhớ cái này, đừng có động tâm.

"Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, bèn biến thành con đại xà vương và đi đến Thế Tôn.

Thân của nó to lớn ví như một chiếc thuyền đẽo ra từ một thân cây. Cái mang của nó ví như cái khay đan của người nấu rượu. Mắt của nó ví như cái đĩa bằng đồng của nước Kosala; lưỡi của nó le ra từ miệng ví như mũi tên chớp sáng lòe khi trời mưa gió sấm sét; tiếng hơi thở vô, hơi thở ra của nó ví như bệ thổi của người thợ rèn" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Con Voi)

Chúng thấy cái hình ảnh thân hình của nó là như một cái cây cổ thụ mấy người ôm, hai con mắt thì giống như là hai cái dĩa bằng đồng, cái mang của nó là giống như là cái khay, cái lưỡi nó lè ra thì nó chớp lên những cái tia sáng lập lòe giống như là những cái tia chớp nhoáng trong lúc trời mưa gió sấm sét và cái tiếng thở vô thở ra của nó như là cái bệ thổi của người thợ rèn.

"Rồi Thế Tôn biết: 'Ðây là Ác ma', liền nói lên bài kệ này với Ác ma:

Quý thay bậc Mâu-ni,

Sống trong nhà không tịch,

Biết chế ngự tự ngã,

Tại đấy vị ấy trú.

Sống từ bỏ tất cả,

Với hạnh tu tương xứng,

Nhiều loại thú bộ hành,

Nhiều sự vật khủng khiếp,

Nhiều ruồi muỗi độc xà,

Không mảy may rung động

Sợi lông bậc Mâu-ni

Sống trong nhà không tịch.

Dầu trời nứt, đất động,

Dầu muôn loài khủng bố,

Dầu bị giáo, đao, tên,

Quẳng ném vào ngực Ngài,

Chư Phật không tạo nên,

Những căn cứ sanh y.

Rồi Ác ma biết được: ' Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta, liền biến mất tại chỗ." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Con Voi)

Trong cái bài kệ này là chữ Thích-ca Mâu-ni là "năng nhân tịch mặc", năng là năng lực, nhân là nhân từ, tịch mặt là vắng lặng. Một cái tâm đại từ đại bi mà bình lặng vì thấu rõ tất cả là không tướng, ở trong đây dùng cái từ "căn nhà không tịch" mà còn dịch ra là căn nhà trống rỗng, rỗng không vì nói không tịch thì chúng ta không biết cái gì. Tâm Đức Phật trú ở trong cái tự tánh trống rỗng của các pháp với một cái tâm đại từ, đại bi cho nên thương tất cả nhưng mà không có tham ái, không có tự ngã, không có dính mắt. Tình thương như ánh sáng của mặt trời soi rọi nhưng nếu cái chậu úp thì không chiếu vô được, cái nhà đóng cái cửa bít lại thì ánh nắng không soi vô được. Hãy mở ra là có ánh trong mặt trời soi mà ánh sáng mặt trời không có ý là chiếu cái chỗ này rồi không chiếu cái chỗ kia, hay là chiếu cho chỗ này nhiều chiếu cho chỗ kia ít, không có, là cái ánh sáng đó phổ quát, phổ chiếu bình đẳng, soi chiếu hết tất cả chúng sanh nếu người nào tiếp nhận nhưng tâm vẫn là rộng lặng bất động.

Cho nên quý thay bậc Mâu-ni sống trong nhà rỗng lặng, tức là tự ngài xưng tán cái đức hạnh của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Biết chế ngự tự ngã là nhiếp phục được chính mình, chiến thắng được chính mình, vượt qua được chính mình, phá vỡ được bản ngã đó gọi là biết chế ngự tự ngã, tất cả chúng sanh là bị cái bản ngã đánh cho gục ngã, còn Thế Tôn là bậc chế ngự tự ngã, vượt qua tự ngã, đập tan tự ngã, phá vỡ tự ngã. Tại đấy vị ấy trú, sống từ bỏ tất cả, từ bỏ sắc thân này, đồ vật này, cảnh vật này, thế giới này, tâm Thế Tôn hoàn toàn từ bỏ. Mọi người rõ chưa? Giải mã được chưa? Hồi xưa mình chưa có học thánh trí ngũ uẩn mình không biết tại sao Đức phật không sợ, bây giờ mình biết chưa? Sáng chưa? Rõ chưa? Giải mã chưa? Tại vì sắc không phải là ta, thọ; tưởng; hành; thức không phải là ta, thánh trí ngũ uẩn giải mã hết tất cả, giải mã ma rồi trời, rồi vật, rồi người, rồi địa ngục, ngạ quỷ, cô hồn, thú vật, giải mã hết tất cả trên thế giới này.

Cho nên chúng ta có loạt bài mật mã thế giới, giải mã kiếp nhân sinh, nghe kỹ mấy bài đó để rồi không còn nghi ngờ bất cứ cái gì trên cuộc đời này nữa hết. Tại vì Thế Tôn đâu có coi sắc này là tôi, là của tôi, đâu có coi thọ này là tôi, là của tôi đâu, đâu có coi tưởng; hành; thức này của tôi, là của tôi, tự ngã của tôi đâu. Chính vì vậy sống từ bỏ đối với ngũ uẩn, trong mười sáu hơi thở hơi thở có quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt, quán từ bỏ, thấy rõ ngũ uẩn là biến đổi, tan hoại rồi không ham muốn nó nữa. Tại vì nó là cái thứ bại hoại, mà thứ bại hoại, cái thứ dơ, thứ bẩn, thứ tàn tạ thì quăng nó, liệng hay là hay là ôm vô? Tất nhiên là từ bỏ cho nên bậc đạo sư nói chuẩn bị xách va ly đi về nước, ngài nằm trên giường bệnh sắp sửa chết, ngài bị cơn bệnh hoành hành khủng khiếp mà ngài nói xách va ly đi du lịch chơi. Mọi người có thấy tối thượng không? Đó là sống từ bỏ tất cả.

Mỗi một câu, mỗi một chữ ở trong Nikāya là pháp hành tối thượng, nếu mình biết, mình đọc mà mình chiêm nghiệm, mình quán chiếu trong đó mỗi một chữ ở trong đây còn hơn kim cương, hơn vàng ròng, hơn tất cả những cái gì ở trên đời này. Nhiều loại thú bộ hành tức là con này con kia đó, con cọp, con beo, con sư tử, bộ hành là đi bộ đó, trong kinh Thế Tôn kể có những con trăn khổng lồ, những con mãnh thú rồi những cái tiếng động kinh hãi ở trong rừng rú, giữa đêm giữa hôm nó hú lên, nó gầm lên, nó gào thét lên, những cơn gió thổi lên. Bây giờ vô nhập thất có chút cũng sợ ma nữa rồi sao vô rừng ở?

Tất cả chúng ta ở đây đều có thể trở thành Mâu-ni ẩn sĩ hết chứ không phải chữ Mâu-ni dành riêng cho Đức Phật. Nhân từ và tịch tịnh, những vị ẩn tu với một cái tâm hiền từ và an tịnh thì gọi là mâu-Ni, gọi là ẩn sĩ sống ở trong nhà rỗng lặng, không tịch tức là rỗng lặng, dù cho trời long đất lở, đất nứt trời nứt, đất động, đất trời có đổ sập xuống, dù cho muôn loài khủng bố, dù bị giáo, đao, tên quẳng nếm vào ngực ngài, chư Phật không tạo nên những căn cứ sanh y. Có nghĩa là không có sợ và không có sân hận, căn cứ sanh y ở đây trọng yếu nhất là vô minh chấp thành tự ngã, tham ái cho nên có sợ hãi và sân hận. Vì thế kinh Pháp Cứu nói do yêu thích mà sanh sợ hãi.

"Do ái sinh sầu ưu,

Do ái sinh sợ hãi,

Ai thoát khỏi tham ái,

Không sầu, đâu sợ hãi?"

(Kinh Pháp Cú 16 – Phẩm Hỷ Ái, kệ 212)

Vì yêu thích cho nên mới có sợ, vì yêu nên mới có lo. Mình thích cái gì đó, mình thương con người nào đó hay là mình thương chính bản thân mình thì mình có lo cho thân mình không? Mình có sợ cho thân mình không? Mình thương một người nào đó mình có lo cho người đó, mình có sợ cho người đó không? Nhân ái sanh ưu, nhân ái sanh bố, do cái yêu thương mà có lo, mà do cái yêu thương mà có sợ, nếu không còn yêu thương nữa thì nào lo đâu sợ. Chịu không? Tức là ái tận là giải thoát, tâm bất động giải thoát cho nên mình lo cho cái gì nhiều là chứng tỏ mình yêu thích cái đó nhiều.

Cái món đồ nào mà mình để ý và mình nhớ món đồ thì mình lo món đồ đó nhiều, chính là mình ái cái món đồ đó nhiều. Con người nào mình cứ hỏi thăm hoài chính là người đó mình ái. Chẳng hạn đi tu nhớ má, hay nhớ anh chị, vợ chồng hay nhớ con thì nhớ nhiều cái đó tức là ái cái đó, tức là lo cái đó, tức là sợ. Hoặc là nhớ tiền của, nhớ nhà, nhớ đất, nhớ tài sản thì cái nào mình nhớ thường, mình lo thường, mình sợ mất thì cái đó tự nó tố giác mình là mình còn ái với cái đó, không ai tố mình bằng tự ta. Rõ chưa? Sáng chưa? Đó là thánh trí Nikāya.

Cứ để ý cái món đồ đó, cứ để ý con người đó, cứ để ý cái chỗ đó tức là cái tâm đang dính mắc với cái đó, mà cái đó là sanh y, là y cứ của tái sanh. Hễ còn thích cái món đồ đó, thích con người đó, thích cái tấm thân đó thì còn sanh ra để đi tìm những cái đó, đó là sanh y, là chỗ dựa của tái sanh. Còn nếu như ở trên nói sống từ bỏ tất cả, không thích cái gì hết thì đâu còn đi tìm cái gì, vô dục cô cầu thì không còn đi tìm chỗ tái sanh nữa. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.

"Trú ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỳ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ. Và các Tỳ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp. (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Bình Bát)

Năm thủ uẩn là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn và tâm mê nắm giữ vào sắc, cái tâm mê nắm giữ vào cảm thọ, cái tâm mê nắm giữ vào hình bóng trong tâm, cái tâm mê nắm giữ vào những suy nghĩ cho là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, cái tâm mê nắm giữ vào sự rõ biết, cho đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Đó là năm thủ uẩn, Thế Tôn đang nói về năm khía cạnh của tâm, mê năm cái sự vô minh của tâm mê, năm sự nắm chặt của tâm mê, năm sự chấp thủ của tâm mê và từ đó có ra đời sống đau khổ này, từ đó có ra sầu, bi, khổ, ưu, não, lo lắng, sợ hãi, bất an, tai họa, sanh, già, bệnh, chết, buồn phiền, sầu khổ.

Thế tôn đang thuyết về năm thủ uẩn cũng là đang thuyết về bản chất của đời sống này, cũng là đang thuyết về sự thật của thế gian, cũng là đang thuyết về bản chất của thế giới. Phải hiểu chữ năm thủ uẩn rộng lớn như vậy chứ không phải năm thủ uẩn đơn giản là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Thế Tôn đang nói về một cái tâm hôn mê nắm chặt vào trong cái thân sắc, vật chất, cảnh vật này, nắm chặt vào trong những cái cảm giác này, nắm chặt vào trong những cái hình bóng, những suy tư, nhận thức này và từ đó nó tạo thành một cái đời sống của khát ái, của thèm khát, của khao khát, của đói khát, của khát vọng, của khát tình, của khát dục, của nước mắt, của sự bất mãn, của sự bất bình, của sự bất trắc, bất thường, bất định, bất ổn trên cuộc đời này, bất an trên cuộc đời này. Từ cái tâm hôn mê nắm chặt vào trong năm cái thứ này, năm cái nhóm này, năm cái tên sát nhân này, đó là Thế Tôn trình bày về sự thật của đời sống này, bản chất của thế gian này, bản tánh của thế giới này, sự vận hành của nhân sinh vũ trụ này. Thế Tôn khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho chúng hội hoan hỉ và sao các Tỳ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư lắng tai nghe pháp.

Đây là pháp hành trong khi đang nghe, chính vì các vị Tỳ-kheo nghe như vậy đó mới gọi là Đa văn Thánh đệ tử và nghe như vậy mới thành tựu văn huệ là trí huệ về nghe pháp, nghe như vậy mới thành tựu tư huệ là trí huệ về chiêm nghiệm, nghe như vậy mới thành tựu được trí tuệ và sự quán chiếu, sự nghiền ngẫm, sự suy tư, sự quán xét, sự như lý giác sát về thân tâm của mình. Và nghe như vậy mới ngấm vô trong cái cảm thọ, nó mới thẩm thấu vào trong những cái tầng sâu thẳm nhất của cái tâm hôn mê và đánh phá cái vô minh, cái chấp thủ, các tham ái, các sự dại khờ ở bên trong cảm thọ của chúng ta. Đó gọi là hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp.

Đạo tràng Nikāya chúng ta có được giống chút chút nào không ạ? Mỗi một câu, mỗi một chữ trong kinh này bất cứ lúc nào chúng ta đều có thể thực hành thiền quản cho nên trong cái quyển nghi thức Nikāya bậc đạo sư để là tất cả bài kinh trong Nikāya thực hành thiền quán. Nghe cái câu đó một cái là con mở ra một cái chân trời mới vậy đó, mà đúng cái ý của mình, từng câu, từng chữ trong đây là thiền quán hết. Chúng ta chịu khó tập trung tâm ý, hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp thì lúc đó chúng ta xuyên không 26 thế kỷ y như thời Đức Phật, chỉ cần chúng ta thật sự bằng tất cả tâm lòng chí thành, chí kính, khát ngưỡng, cung kính, tôn trọng hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp thì chúng ta có thể ngay lúc đó vắng mặt năm triền cái, đi vào năm thiền chi, thể nhập vào trong sơ thiền, ly sanh hỷ lạc ngay tại cái thời điểm đang nghe pháp.

Mấy hôm nay trong những cái buổi thiền quán chúng ta có được thưởng thức cái hương vị này chút nào không ạ? Những vị trào dâng nước mắt, những vị nghẹn ngào nức nở, những cái vị tuôn trào cảm xúc là những vị đó phải tập trung tâm ý, hết sức chú tâm, hết sức chú ý, lắng tai nghe pháp thì mới có được cái cảm thọ đó, vắng mặt năm triền cái, vắng mặt sự tham muốn, sự nóng giận, vắng mặt sự hôn trầm, buồn ngủ, vắng mặt sự nghi ngờ, vắng mặt sự giao động của thân tâm thì lúc đó dòng thánh thủy, thánh nhũ quán đảnh rót từ trên đỉnh đầu mình thẳng xuống thấm vào trong tận cùng thâm sâu của cảm thọ. Nó bung ra, nó bật ra hết, phá vỡ hết gọi là đả thông kinh mạch, khai không tâm pháp bừng sáng lên gọi là hoát nhiên đại ngộ, cảm xúc trào dâng, nước mắt đầy mặt, chấn động thân tâm, lông tóc dựng đứng.

Phải có được những cảm thọ như vậy, rung động hết trơn, thậm chí mình thấy trong lồng ngực mình giống như nó bung, nó mở ra giống như đào trúng cái mạch nước nên nó bung ra tung tóe lên hết trơn mà cái đó phải tập trung tâm ý cao độ, phải biết cái cách thì những cái đó sẽ đưa cho mình đến cái chỗ thấy được chân lý, thể nhập chân lý và chứng nhập chân lý ngay trong khi nghe pháp, thiền quán. Còn nghe mà vật vờ, nghe mà buồn ngủ, nghe mà cái tâm lo ra, cái tâm phân vân, lưỡng lự thì nó nằm trong năm triền cái thì không có không có bắt gặp được.

"Rồi Ác ma suy nghĩ: 'Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các Tỳ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉỷ, và các Tỳ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt các Tỳ-kheo ấy'.

Lúc bấy giờ có nhiều bình bát được đặt ra ngoài trời để phơi cho khô.

Rồi Ác ma biến hình thành con bò đực và đi đến các bình bát ấy.

Rồi một Tỳ-kheo nói với một Tỳ-kheo khác:

-- Này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo, con bò đực này sẽ làm bể các bình bát.

Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy:

-- Này Tỳ-kheo, nó không phải con bò đực. Nó chính là Ác ma muốn đến làm mờ mắt các ông.

Và Thế Tôn biết được: 'Ðây là Ác ma', liền nói lên bài kệ cho Ác ma:

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức,

Cái ấy không phải tôi,

Cái ấy không của tôi,

Như vậy đây ly tham,

Ly tham vậy, tâm an,

Mọi kiết sử siêu thoát,

Dầu tìm mọi xứ sở,

Ma quân không gặp được.

Ác ma biết được: 'Thế Tôn đã biết ta...', liền biến mất tại chỗ ấy" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Bình Bát)

Chúng ta nghe sắc; thọ; tưởng; hành; thức có quen không? Nó đang ở đâu? Nó đang chình đình một đống đó, cái ấy không phải tôi, cái ấy không của tôi, phải nhớ cái câu phía sau, như vậy đây Ly tham, ly tham vậy tâm an. Nhớ bốn chữ thôi "ly tham tâm an", chịu không? Cứ ghi cầu an hoài từ mùng một tết mà ghi tới ba mươi tháng chạp mà nó cứ bất an là tại vì tham, rõ chưa? Canh giao thừa đem cây nhang to lớn chùa nào cũng chạy lại cắm nhang trơn an mà về tham quá xá tham thành ra bất an, còn giờ bất cứ ở chỗ nào, ngồi tại ở đâu quán chiếu từng hơi thở ly tham trong mười sáu hơi thở. Chúng ta đã được hướng dẫn, quý Phật tử có thể mở lên để thực hành theo cái bài mười sáu hơi thở, hiện tại có bốn bài, bài ngắn, bài vừa, bài đầy đủ và một cái bản mười sáu hơi thở kết hợp với Tứ Niệm Xứ là có bốn bả. Chúng ta chỉ cần mở cái bài đó lên rồi ngồi thực hành theo thôi, con nó làm ra Tiếng Việt và rất là dễ dàng cho chúng ta thực tập, mở lên nghe tới đâu hiểu tới đó và thực tập.

Có bài kinh ghi lại ác ma đi theo Thế Tôn bảy năm trời, chúng ta mới thấy khủng khiếp lắm, mình học cái này rồi mình mới thấy thương kính Đức Thế Tôn lắm, không phải với loài người hành hạ, dằn vặt ngài rồi hãm hại ngài, loài người chưa đủ tới loài ma.

"Ta như voi giữa trận,

Hứng chịu cung tên rơi,

Chịu đựng mọi phỉ báng.

Ác giới rất nhiều người"

(Kinh Pháp Cú 23 – Phẩm Voi, kệ 320)

Bảy năm trời ác ma đi theo hoài, đi theo tìm mà không thấy Đức Phật có một cái ý niệm bất thiện pháp, một cái ý tham nào để ác ma nhảy chụp được cái cơ hội, tìm không ra suốt bảy năm trời luôn nên chán nản quá thôi bỏ đi. Giống như con quạ mà nó nhìn xa xa tưởng đâu là cục thịt, ai ngờ chúi cái mỏ xuống trúng cục đá gãy cái mỏ luôn, đó là nói bảy năm đi theo Đức Thế Tôn để tìm chỗ sơ hở mà tìm không được.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Barànasi (Ba-la-nại), Isipatana (chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Bẫy Sập)

Chúng ta nghe vườn Lộc Uyển có thấy quen không ạ? Đó là vườn Nai chỗ thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như.

"Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: -- 'Này các Tỳ-kheo.' – 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn '. Các vị Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỳ-kheo, chính nhờ chánh tác ý, chính nhờ chánh tinh cần. Ta chứng đạt Vô thượng giải thoát. Ta chứng ngộ Vô thượng giải thoát. Vậy này các Tỳ-kheo, các Ông cũng phải với chánh tác ý, chánh tinh cần, chứng đạt Vô thượng giải thoát, chứng ngộ Vô thượng giải thoát" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Bẫy Sập)

Chánh tác ý chính là sự như lý tác ý một cách chân chánh, thường xuyên và liên tục như lý tác ý để đánh phá cái tâm hôn mê, vô minh và khát ái, chấp thủ. Chín miệng Đức Thế Tôn nói đó, tin chắc chưa? Xác quyết chưa để không thôi nói tu là để nó tự sanh tự diệt khỏi cần tác ý gì hết. Bây giờ có rất nhiều người dạy như vậy, ngồi để nó khởi lên là tự nó diệt, khỏi cần tác ý, khỏi cần gì hết, còn đây là chính Đức Thế Tôn nói để xác quyết cho chúng ta có cái lòng tin "các Ông cũng phải với chánh tác ý" tức là như lý tác ý một cách chân chánh mà chúng ta đã được học rất nhiều rồi. Chính nhờ chánh tinh cần là siêng năng một cách chân chánh, nỗ lực mà ta chứng đạt vô thượng giải thoát, ta chứng ngộ vô thượng giải thoát, ta đã chứng đạt được một cái cảnh giới thoát ra hoàn toàn tất cả, sự thoát ra tột cùng không còn dính mắc đối với bất cứ cái gì ở trong ngũ uẩn, ở trong thế gian, ở trong thế giới này nữa nhờ sự siêng năng tác ý, chân chánh, nhờ sự siêng năng, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực một cách chân chánh đúng pháp, liên hệ đến sự viễn ly, liên hệ đến sự ly tham, liên hệ đến sự đoạn diệt, liên hệ đến sự từ bỏ đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức này.

Nhờ ta tác ý như vậy, ta tinh tấn, nỗ lực trong sự tu tập như vậy ta đạt được sự thoát ra tột cùng, không còn cái sự thoát ra nào cao hơn cái này nữa gọi là vô thượng giải thoát, là chứng ngộ vô thượng giải thoát. Vậy này các Tỳ-kheo các ông cũng phải giống như ta, chánh tác ý, chánh tinh cần, chứng đạt vô thượng giải thoát, chứng ngộ vô thượng giải thoát, ta như vậy thì các ông cũng vậy. Chúng ta có chịu vậy không? Đó là tâm ấn tâm đó, ta đã như vậy mà chứng ngộ thì các ông, các cô cũng phải như vậy mà chứng ngộ, làm sao khác hơn được nên cần siêng năng như lý tác ý "sắc này là bốn con rắn độc, là vô thường, là hố than hừng, là kẻ giết người, là người lạ, là mũi tên độc, là ung nhọt chín lỗ, là thứ bất tịnh rỉ chảy ngày đêm".

Phải lo lắng, phải sợ hãi, phải bất an, đầy rẫy tật bệnh, khổ sầu, không biết chết lúc nào, tâm hướng đến sự viễn ly, hướng đến sự xả ly, hướng đến sự ly tham, hướng đến sự từ bỏ, hướng đến sự thoát ra đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức này. Thường xuyên tác ý, thường xuyên nhớ nghĩ, thường xuyên suy tư, thường xuyên quán niệm, thường xuyên nhắc nhở, thường xuyên dạy dỗ cái tâm phải đi theo con đường đó. Đó gọi là chánh tác ý, chánh tinh cần, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ gặp trường hợp nào cũng đều dùng cái vô thường, khổ, vô ngã, dùng cái sự quán ly tham, quán đoạn diệt, quán từ bỏ thì tâm mình sẽ thoát ra và thoát ra một cách ngoạn mục, tối thượng gọi là vô thượng giải thoát. Nhờ có tác ý vậy nên mới cạo đầu ngồi đây đúng không? Nhờ tác ý như vậy cho nên gần cả trăm cái đầu không có tóc ngồi đây, nhờ tác ý như vậy cho nên mới từ bỏ được nhà cửa, từ bỏ được tiền bạc, công việc, gia đình, phải siêng năng tác ý, bất cứ lúc nào phải tác ý "cái thứ này là cái thứ khổ nè, cái thứ này là cái thứ bệnh nè, cái thứ này là cái thứ thấp kém, cái thứ nhiều lo lắng, nhiều sợ hãi, nhiều bất an, nhiều tai họa, nhiều khổ sầu. Đừng ham, đừng thích, cái thứ đầy rẫy những tham dục, khát ái này, đầy rẫy sân si, bản ngã, hơn thua, giành giật này".

Chúng ta phải thường xuyên tác ý bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, thường tác ý như vậy "cái đồ con nít, đồ chơi con nít thì gây lộn làm gì, hơn thua gì. Còn học mẫu giáo hả, còn con nít hay sao mà tối ngày cứ gây lộn, hơn thua hoài vậy?". Thấy tội nghiệp, thương và thương, cả một cái tâm thương rộng lớn nhìn cả cái địa cầu, thương sao là thương. Thương đời quờ quạng giữa trời đêm, đó là thánh trí tuệ của bậc đạo sư đó, đừng có quên.

"Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Ngài còn bị trói buộc,

Trong bẫy sập của ma,

Bởi những dây dục lạc,

Cả Thiên giới, Nhân giới.

Ngài đang bị cột chặt,

Trong triền phược của ma.

Này vị Sa-môn kia,

Ngài chưa thoát khỏi ta." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Bẫy Sập)

Chúng ta thấy dễ sợ không? Đó là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác A-la-hán mà cũng vẫn lại kiếm chuyện.

"(Thế Tôn):

Ta đã được giải thoát,

Khỏi bẫy sập của ma,

Thoát khỏi dây dục lạc,

Cả Thiên giới, Nhân giới.

Ta đã được giải thoát,

Khỏi triền phược của ma,

Này kẻ Tử ma kia,

Ông đã bị bại trận.

Rồi Ác ma... biến mất tại chỗ." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Bẫy Sập)

Thế Tôn bình thản lắm, nhiều khi mình chưa có học Nikāya chắc nghĩ rằng Thế Tôn dùng Như Lai Thần Chưởng quá. Ngài bình thản, ngài thương, ngài nói bình thản mà ác ma biến mất tiêu, nhiều khi mình tìm đủ mọi cách để mình thắng người ta mà không thắng, càng thể hiện sự thua nữa, còn người mạnh người ta điềm nhiên vậy nè nhưng không ai dám đụng vô hết. Mọi người có biết mấy võ sư cao thủ võ lâm không? Không cần nhúc nhích, động đậy gì hết, đó là sức mạnh của bất động, vô chiêu thắng hữu chiêu, một cái tâm lực, quy luật, một cái đại hùng, đại lực, một cái tâm đại định, có gì đâu sợ, bậc trí là không sợ hãi.

Người ngu đầy lo lắng, đầy sợ hãi, đầy bất an, đầy tai họa, người trí không có tại vì đâu có cái bản ngã đâu mà lo, đâu có bản ngã đâu mà sợ, đâu có bản ngã đâu mà ai với ai tai họa, dù có tai họa đi nữa cái đó cũng là nghiệp quả mà nghiệp quả thì chịu, bình thường, mượn thì giờ trả. Mượn ba đồng trả ba đồng, mượn mười đồng trả mười đồng, mượn trăm trả trăm, mượn triệu trả triệu, mượn tỷ trả tỷ, nếu lấy tiền lời chịu luôn, được không? Đó là bình thường, mượn thì giờ người ta đến đòi thôi, mình trả thôi, làm gì để rắc rối, khó chịu làm gì, cứ nhẹ nhàng thôi.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo' – 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn'. Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỳ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị tử vong. Này các Tỳ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, I. Phẩm Thứ Nhất, IX. Tuổi Thọ)

Đó là câu thiền quán mà hôm trước chúng ta có thiền quán trong bài kinh đời sống như giọt sương, hãy nhớ kỹ cái câu này.

"Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Loài Người thọ mạng dài,

Người lành chớ âu lo,

Bú sữa no, hãy sống

Tử vong đâu có đến.

(Thế Tôn):

Loài Người thọ mạng ngắn,

Người lành phải âu lo,

Như cháy đầu, hãy sống,

Tử vong rồi phải đến.

Rồi Ác ma, biết được 'Thế Tôn đã biết ta...', liền biến mất tại chỗ" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, I. Phẩm Thứ Nhất, IX. Tuổi Thọ)

Lâu lâu có ai lại gặp mình nói "sao cô còn trẻ cô đi tu uổng quá vậy", "thầy còn trẻ thầy đi tu uổng quá, sao không ở nhà hưởng?", coi chừng đó là ác ma, nhớ kỹ nha. Cái câu đó là câu của ác ma cho nên ở đây nói loài người thọ mạng dài, sống lâu lắm, biết chừng nào mình chết, hưởng đi còn trẻ mà, sống lâu, đó là lời nói của ác ma, mình lành mà, mình đâu có lo gì đâu, mình sống thiện sống lành không cần lo gì hết. Bú sữa no hãy sống tức là ăn uống phủ phê đi, cứ ăn uống phủ phê, hưởng thụ đi, biết chừ nào mà chết, tử vong đâu có đến. Con diễn ra tiếng việt như vậy chúng ta thấy quen không? Nếu thấy quen là coi chừng mấy ác ma lại nhiều lắm, mấy cái câu đó là câu của ác ma xúi mình chạy theo những cái dục lạc của thế gian chứ không có khuyến khích mình viễn ly, từ bỏ, ly tham, thoát ra.

Thế Tôn nói ngược lại, chính cái người thiện mới là người lo âu, người hiền trí mới lo âu. Mình nói hai phương diện đều được hết, nói không lo cũng đúng mà nói lo cũng đúng hết. Tại sao không lo? Vì thành tựu chánh tri kiến biết nó là giả, không có cái toi cho nên không lo nhưng mà lo là vì thành tựu chánh tri kiến, còn thấy dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã quá nhiều cho nên lo cả hai đều trúng hết. Tuyệt diệu không? Nếu không hiểu sẽ thắc mắc sao nãy thầy nói không lo giờ tự nhiên nói lo, thành ra cái chỗ thiện xảo của trí tuệ đó thì Đức Phật nói với mình không có cái nào nên và không có cái nào không nên, mà cái nào là thiện đều là nên hết, cái nào là bất thiện đều là không nên hết, lấy cái đó làm chuẩn mực.

Mình lo, mình hối hận để mình sám hối để mình giữ giới, cái đó là thiện pháp. Mình lo cái già nó tới, cái bệnh nó tới, cái tai nạn nó tới để mình tu lẹ lẹ lên để không kịp. Mình lo cái vô thường bất thình lình nó tới mà mình chưa kịp làm tất cả các thiện pháp, chưa thành tựu chánh tri kiến, cần lo không? Cái này rất cần, mình không lo những cái hưởng thụ dục lạc của thế gian, những cái đó không cần lo, mình không có lo cái chuyện ta nói mình đúng sai, hay dở, tốt xấu, phải quấy, kệ nó, không cần lo. Mình chỉ lo cái tâm mình được sạch tham, sân, si, được không?

Thế Tôn nói kiếp người rất ngắn ngủi, bậc hiền trí lo âu, sống như lửa cháy đầu, tử vong chắc chắn đến. Cuộc đời thật là ngắn ngủi, bậc hiền trí lo âu trước sự vô thường, cái sự đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử này, sống như lửa cháy trên đầu, cháy trên khăn quấn cổ của mình, cháy trên cái khăn đội trên đầu của mình, cháy trên cái nón lá của mình, cháy trên cái mái tóc của mình. Nếu không có tóc thì nó cháy còn sát hơn nữa, cháy cái tới da đầu, còn có tóc thì nó cháy ngoài mấy cọng tóc trước, có cái nón thì nó cháy cái nón trước, cái khăn trước, còn cái này không có nón, không có khăn, không có tóc nó cháy cái vô tới da đầu liền.

Sống như lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động, sống như lửa cháy đầu, siêng năng làm các việc công đức cho nên thật sự chúng ta mỗi một ngày qua, mỗi một giờ qua, mỗi một khắc (15 phút), mỗi một phút, mỗi một giây, mỗi một suy nghĩ, mỗi một cảm giác, mỗi một hình bóng, mỗi một nhận thức chúng ta đều cố gắng thực hành thiện pháp, đều cố gắng chế ngự mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình. Phải chịu khó, phải kham nhẫn, phải chịu khó để mà tu, tu không phải dễ, phải chịu khó giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, nhiếp phục và chế ngự sáu căn, phải cố gắng nỗ lực để dẹp những cái ham muốn, cái nóng giận, cái hơn thua, bản ngã, những thứ tầm thường, thị phi, nhân ngã bỉ thử của thế gian này. Mình thấy nó là cái rác rưởi, là cái đồ bỏ, là cái thứ vô tích sự, vô giá trị, không có quan tâm tới những thứ đó mà mình quan tâm thật sự tới sự làm sạch cái nội tâm cấu nhiễm của mình, bẻ gãy được cái ngọn cờ kiêu mạn, đánh gục ngã được cái bản ngã, làm cho mình càng ngày càng hiền thiện, càng khiêm cung, khiêm hạ.

Cái đó mới là cái mình đáng lo mà mình muốn được như vậy mình phải tu tập Tứ Niệm Xứ, mà Tứ Niệm Xứ tức là quay trở về kiểm soát thân tâm, cảm thọ của mình, từng lời nói, từng hành động, cử chỉ, từng cảm xúc, từng ý nghĩ, từng hình bóng, từng nhận thức đều phải được nhìn ngó, giám sát, quản lý, quản giáo, dạy dỗ, hướng dẫn, dẫn dắt tâm của mình. Đó là tu tập Tứ Niệm Xứ và làm cho thân tâm này an tịnh, lắng dịu, đi vào trong oai nghi, ở trong luật nghi, từ trong cái trí tuệ đó mà nó dẫn ra cái oai nghi, cái đức hạnh của một người tu được thiết lập ở trên chánh kiến. Do nhìn thấy khổ nên không muốn đi theo con đường khổ nữa và nó có cái thắng lại, nó có sự nhiếp phục, chế ngự, có sự chặn đứng lại rồi mình cố gắng giữ gìn và tu tập các thiện pháp dầu cho cái đó là nhỏ nhất.

Mình đi trên đường mà có cục đá nằm ngay chính giữa, mình nhặt cục đá đó để qua một bên. Mình nhìn thấy miếng rác thì mình nhặt lên bỏ vô thùng rác hoặc bỏ vô túi hồi mình đi tới cái chỗ rác mình để vô. Mình nói ra một lời nói có thể an ủi được người kia bớt khổ đau mình sẵn sàng, dù cho một lời nói mình cũng có thể nhịn lại và cũng có thể nói ra nếu mà cái đó là thiện, có thể mình im lặng mà người ta tốt thì mình im lặng, có thể mình nói ra để người ta được lợi ích thì mình nói ra, không nhất thiết là phải im lặng mà cũng không nhất thiết là phải nói. Nếu mà mình quán sát nói ra được lợi ích, được giúp đỡ, được có lợi lạc cho mình cho người mình sẽ làm, sâu thẳm bên trong mình phá cái thân kiến, chấp thủ, luôn luôn tác ý vô thường, khổ, không, vô ngã trong năm thủ uẩn này thì lần lần mình rời xa cái giới vức của ác ma, lần lần mình thoát ra cái bẫy sập của ác ma, lần lần mình xuất ly khỏi cái khổ uẩn to lớn đầy bất an và sợ hãi, đạt đến cái đời sống an lạc hạnh phúc tối thượng của Niết-bàn.

./.