Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhân Tối Thượng Quả Tối Thượng 1 2

2026-03-03 00:52:36
Tinh Hoa Nikāya

NHÂN TỐI THƯỢNG QUẢ TỐI THƯỢNG 1 - 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Con Gái Vua” PAGEREF _Toc82700802 \h 1

II.Bậc tối thượng PAGEREF _Toc82700803 \h 3

III.Ly tham pháp tối thượng PAGEREF _Toc82700804 \h 4

1.Nhiếp phục kiêu mạn PAGEREF _Toc82700805 \h 4

2.Nhiếp phục khao khát, dục ái PAGEREF _Toc82700806 \h 6

a.Quán chiếu nghiệp quả PAGEREF _Toc82700807 \h 8

b.Tu tập tâm hiền PAGEREF _Toc82700808 \h 12

IV.Hội chúng tối thượng PAGEREF _Toc82700809 \h 13

V.Giới tối thượng PAGEREF _Toc82700810 \h 17

VI.Khai mở cảm thọ PAGEREF _Toc82700811 \h 22

Bài kinh “Con Gái Vua”

"Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Rồi Cundì, con gái vua, với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên năm trăm cỗ xe đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Cundì, con gái vua bạch Thế Tôn:

- Anh của chúng con, bạch Thế Tôn, hoàng tử Cunda nói như sau: 'Nếu có người đàn bà hay người đàn ông quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, nhất định sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ'. Nhưng bạch Thế Tôn, con xin hỏi Thế Tôn: Với lòng tin bậc Ðạo Sư như thế nào, bạch Thế Tôn sau khi thân hoại mạng chung: nhất định được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ? Với lòng tin Pháp như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, nhất định được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ? Với lòng tin chúng Tăng như thế nào, sau khi thân hoại mạng chung, nhất định được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ? Làm cho đầy đủ các giới như thế nào, sau khi thân loại mạng chung, nhất định được sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ?

- Dầu cho các loại hữu tình nào, này Cundì, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.

Dầu cho loại pháp nào, này Cundì, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, (tức là) sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khao khát, sự nhổ lên dục ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này Cundì, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.

Dầu cho loại chúng Tăng hay Hội chúng nào, này Cundì, chúng Tăng đệ tử của Như Lai, được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử của Như Lai đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này Cundì, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.

Dầu cho loại giới nào, này Cundì, các giới được bậc Thánh ái kính được gọi là tối thượng trong các giới ấy, tức là giới không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến chánh định. Với những ai làm cho đầy đủ trong các giới luật được các bậc Thánh ái kính, họ làm cho đầy đủ những gì tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.

Tin tưởng vào tối thượng,

Biết được pháp tối thượng,

Tin tưởng Phật tối thượng,

Ðáng tôn trọng, vô thượng.

Tin tưởng Pháp tối thượng,

Ly tham, an tịnh lạc,

Tin tưởng Tăng tối thượng,

Là ruộng phước vô thượng,

Bố thí bậc tối thượng,

Phước tối thượng tăng trưởng,

Tối thượng về thọ mạng,

Dung sắc và danh văn,

Tối thượng về an lạc,

Tối thượng về sức mạnh.

Bậc trí thí tối thượng,

Pháp tối thượng chánh định,

Chư Thiên hay loài Người

Ðạt được hỷ tối thượng.

(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, II. Cundì, Con Gái Vua)

Bài kinh này có nội dung là "nhân tối thượng quả tối thượng", tựa bài kinh này là tên của công chúa Cundì, con của nhà vua. Lúc đó Thế Tôn ở tại một vườn trúc thì cô công chúa này cùng năm trăm cung nữ hộ tống đi trên năm trăm cỗ xe đến thăm viếng Đức Thế Tôn, cô đảnh lễ và thưa hỏi với Đức Phật. Công chúa kể rằng hoàng tử – anh của công chúa nói nếu có người nam hoặc nữ quy y Phật – Pháp – Tăng, giữ năm giới, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ ngoại tình, từ bỏ nói dối, từ bỏ say đắm trong rượu (nói theo bây giờ là những chất làm mình nghiện ngập) thì sau khi chết người đó nhất định sanh vào cõi lành chứ không rơi vào cõi dữ. Công chúa hỏi Thế Tôn với lòng tin bậc Đạo sư như thế nào mà sau khi chết được sanh cõi lành chứ không sanh cõi dữ, với lòng tin Pháp và tin Tăng như thế nào mà sau khi thân hoại mạng chung không đọa vào cảnh khổ và được sanh cõi lành, giữ giới như thế nào để được sanh vào cõi lành, nghĩa là công chúa đang hỏi để được Đức Phật giải thích rõ ràng hơn.

Bậc tối thượng

Đầu tiên, Đức Phật giải thích dù cho bất kì loài hữu tình nào có chân, không chân (các loài bò sát) hai ba chân hoặc nhiều chân; các loài có sắc hoặc không sắc (ngạ quỷ, ma); có tưởng hoặc không tưởng (không có hình sắc, hình dáng); hay không phải có tưởng hoặc không phải không có tưởng… thì "Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng".

Trí tuệ của Đức Phật khi nói ra bất kì điều gì đều bao trùm hết tất cả các dạng thức muôn loài chúng sanh, bao trùm cả dục giới, sắc giới và vô sắc giới cho nên một câu nói của Đức Phật không phải dễ hiểu. Câu nói của Đức Phật nghĩa là trong muôn loài chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới thì "Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng". Ý nghĩa nằm trong câu nói này là từ côn trùng, rắn rết, muỗi mòng, những loài ngạ quỷ, ma mà mình không thể nhìn thấy được, cho đến Phạm thiên, thiên chủ… tất cả các loài chúng sanh, ngay cả tứ thiền thì "Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng".

Như vậy ai đặt lòng tin vào Thế Tôn thì họ đặt lòng tin vào tối thượng, ai đặt lòng tin vào chỗ tối thượng, tối cao, tối tôn đó thì họ được kết quả tối thượng, nếu chúng ta đặt lòng tin tuyệt đối thì sẽ Nhập Lưu. Vì thế tịnh tín bất động nghĩa là lòng tin không còn lay chuyển nữa. Chúng ta đang gieo nhân tối thượng để gặt quả tối thượng, cho nên, phải đặt lòng tin vào bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tối thượng giữa nhân thiên chúng sanh.

Ly tham pháp tối thượng

"Dầu cho loại pháp nào, này Cundì, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, (tức là) sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khao khát, sự nhổ lên dục ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này Cundì, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, II. Cundì, Con Gái Vua)

Dù cho có pháp môn nào, vô lượng pháp môn, vô lượng cách tu, vô lượng phương pháp hành trì, pháp hữu vi hay vô vi nhưng ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp môn. Ly tham được xem là pháp cao tột nhất, không còn pháp nào cao hơn nữa, tức là rời xa tham muốn, lìa xa tham muốn, không còn tham muốn nữa, "(tức là) sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khao khát, sự nhổ lên dục ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham này thì họ đặt lòng tin vào tối thượng, với ai đặt lòng tin vào tối thượng sẽ có kết quả chín muồi tối thượng. Vì thế chúng ta cần đặt lòng tin vào pháp ly tham tối thượng này vì sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khao khát, nhổ lên dục ái, chặt đứt tái sanh, đoạn diệt tham ái, lìa tham để đạt Niết-bàn là pháp tối thượng trong tất cả pháp tu.

Nhiếp phục kiêu mạn

Tại sao nói pháp ly tham là pháp tối thượng trong tất cả các pháp? Trong kinh giải thích ly tham là nhiếp phục sự kiêu mạn, qua đây chúng ta sẽ thấy sự liên quan của các pháp. Kiêu mạn có liên hệ gì với tham ái? Tại sao mình có bản ngã, có cái tôi lớn?

Thứ nhất, chúng ta nhận lầm năm uẩn là mình, là của mình, cái này gọi là vô minh. Như vậy, chúng ta không biết ngũ uẩn là chúng ta sống trong vô minh, đây cũng là lý do tất cả mọi người tham gia khóa tu đều được thực tập nhận diện ngũ uẩn, vì nếu không biết ngũ uẩn là mình sống trong vô minh. Nếu chúng ta không nhìn ra được ngũ uẩn thì chúng ta sẽ thấy có một cái tôi, còn khi nhìn ra năm thứ đó sẽ không thấy có một cái tôi, đó là lý do tại sao phải nhận diện năm uẩn. Và chính từ chỗ không biết, không thấy năm uẩn thì mình sẽ yêu thích cái tôi, đó cũng là lý do trong kinh nói ly tham là nhiếp phục kiêu mạn. Cái tham này rất sâu sắc, cái tham này là ham thích cái tôi, nắm giữ cái tôi, kiêu căng, tự phụ, ngã mạn trong cái tôi nên đó là nguồn gốc của đau khổ. Cho nên, trong kinh giải thích cho chúng ta ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp môn của Đức Phật, nhưng đầu tiên giải thích ly tham là nhiếp phục kiêu mạn, không ham thích vô minh, thân kiến và ảo tưởng về một cái tôi nữa. Đây là pháp tu căn bản cốt lõi quan trọng mà tất cả người học Phật phải hành trì, nếu chúng ta không nhiếp phục kiêu mạn là không tu được.

Chính vì vậy, điều quan trọng đầu tiên trong sự tu học là nhiếp phục ngã mạn, kiêu căng. Chính chấp ngã, ngã mạn, kiêu căng này làm cho con người khổ đau, chính bản ngã này làm gục ngã thế giới. Vì thế, mỗi ngày chúng ta đều phải lạy sám hối diệt ngã. Đừng nói người ngoài mà ngay trong gia đình, vợ chồng cũng vì bản ngã mà đau khổ, chia lìa, bực bội sân hận; cha con bản ngã với nhau, anh chị em ruột vì cái tôi lớn là tương tàn; bạn bè, bà con, cộng sự cũng vì cái tôi, cái ta, kiêu mạn làm cho đau khổ và sự tu tập này là nhằm nhiếp phục kiêu mạn.

Chúng ta nhiếp phục kiêu mạn bằng cách thực tập tâm hiền, thực tập tâm từ, thực tập sám hối diệt ngã, thực tập đức hạnh tôn giả Xá-lợi-phất, đó là mình đang đi theo con đường pháp tối thượng. Chúng ta biết rằng cái tôi, ta, kiêu mạn, bản ngã này làm cho ta khổ đau và những người xung quanh ta đau khổ. Ta không muốn tiếp tục phải đau khổ vì một ảo tưởng của tự ngã. Ta không muốn tiếp tục làm cho ta và người thân thương của ta đau khổ vì một cái tôi trống rỗng này nữa. Ta không muốn tiếp tục phải chảy nước mắt, đổ những giọt máu hồng, huynh đệ tương tàn, mẹ con đau khổ vì chấp ngã, vì cái tôi, cái ta này nữa. Cho nên, chúng ta thực hành nhiếp phục kiêu mạn, thực hành quỳ sám hối, lạy xuống bằng những giọt nước mắt chân thành nhận lỗi, sửa lỗi để từ từ đi đến chỗ hoàn thiện không còn lỗi lầm nữa.

Trong đạo tràng Nikāya vừa có hình ảnh mẹ quỳ lạy con và làm cho đứa con chấn động, đứa con cũng quỳ lạy mẹ, hai mẹ con ôm nhau khóc òa lên. "Mẹ xin lỗi con vì cái tôi của mẹ, vì bản ngã của một người mẹ mà mẹ với con phải hành hạ làm nhau đau khổ. Bây giờ mẹ học được Chánh Pháp nhiếp phục bản ngã, kiêu mạn này nên mẹ quỳ xuống đây trước mặt con để xin lỗi con, tạ lỗi với con, sám hối với con". Đứa con cảm động, cảm xúc bị chấn động và con cũng quỳ lạy mẹ, mẹ con cùng quỳ lạy nhau trong dòng nước mắt của sự nhận ra, của sự hiểu thấu ra, của sự sáng tỏ ra, của sự giác ngộ ra. Giác ngộ bản ngã là nguyên nhân làm mẹ con đau khổ, bản ngã là nguyên nhân làm mẹ con không hiểu nhau, xa cách nhau, không cảm thông, không tha thứ cho nhau. Dù là mẹ con nhưng vì cái tôi, cái ta, vì bản ngã mà xa cách nhau do không học Chánh Pháp, không thấy không biết nguyên nhân làm mình khổ.

Các vị đi vào gần thất của Minh Thành, thường gọi là nhà mát để nghe pháp, trước thất là một cây tre lớn ngã xuống chặn lối đi, mọi người muốn chặt cây tre đó nhưng Minh Thành nói đừng chặt mà lấy cây tre già khác đỡ cây tre ngã đó lên, người nào muốn đi qua phải cúi đầu rồi mới vào nhà mát được. Thời gian sau mọi người đã đoán đúng được ý pháp chứ không phải ý của Minh Thành. Đó chính là việc đầu tiên của người học Phật là diệt ngã, khiêm hạ, nếu điều này làm không được thì không tu được. Thành ra cây tre ngã xuống để cúi đầu trước khi bước vào nhằm nhắc nhở chính Minh Thành và mọi người học Phật phải cúi đầu xuống mới đi vào pháp được. Khi trải tâm xả mọi người đã thấy bản ngã, sân hận, si mê làm cho mình rất nặng nề, một chiếc xe cứ chất hàng lên cho đến quá tải cho đến khi được bỏ gánh nặng, dỡ bỏ hàng xuống mới nhẹ bớt.

Nhiếp phục khao khát, dục ái

Sự tu học của chúng ta được Đức Phật giảng giải ly tham là "sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khao khát, sự nhổ lên dục ái", những điều này rất sâu sắc. Nếu chúng ta không tu học đúng theo Chánh Pháp Đức Phật, không nhận diện năm uẩn thì không bao giờ biết nhiếp phục sự khao khát vì trong cảm thọ, cảm xúc chúng ta là một sự khao khát.

Chúng ta đã ăn mấy chục năm nay nhưng vẫn còn thèm, muốn ăn thêm món mới, nghe chỗ nào có món ngon là tìm đến. Chúng ta đã đi rất nhiều nơi nhưng vẫn muốn đi nữa, đó là sự khao khát. Chúng ta đã nói rất nhiều nhưng vẫn cứ muốn nói nữa, vẫn ham nói, giành nói, thích nói. Chúng ta đã mặc biết bao nhiêu bộ đồ nhưng vẫn mong có thêm nhiều đồ mới. Chúng ta đã có nhà rồi nhưng vẫn ước có thêm nhà mới lớn hơn, đẹp hơn nhà bây giờ. Chính sự khao khát đó đã thúc giục làm cho mình chạy đi tìm kiếm, truy tầm và làm cho thân xác mình rất mệt mỏi, nhọc nhằn, làm nô lệ phục dịch cho thèm muốn, cho sự rượt đuổi, truy bắt, tìm kiếm đó. Và Chánh Pháp của Đức Phật là nhiếp phục sự khao khát đó. Chúng ta cứ nhớ rằng, pháp nào giúp cho mình thâu nhiếp, chế phục sự mong muốn, thèm thuồng, khao khát, chạy đuổi, tìm kiếm, truy tầm thì đó là Chánh Pháp, pháp của Đức Phật sâu sắc như vậy đó, đạo Phật thật sự là như vậy đó.

Đức Thế Tôn chỉ có một tấm vải trên người, đầu trần chân đất, ở dưới gốc cây nhưng Ngài tuyên bố Ngài bình an hơn tất cả vua chúa và điều Ngài tuyên bố được các vị vua chúa quỳ dưới chân Ngài công nhận đúng là như vậy. Đó là "sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khao khát, sự nhổ lên dục ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Còn chúng ta tại sao lại khổ? Vì trong nội tâm là những cảm giác thúc giục, đòi hỏi, mong muốn, thèm thuồng, khao khát, những hình ảnh, lời nói lầm thầm thúc giục đi chơi, tìm kiếm thêm. Khi nhận diện được những thứ này là chúng ta bắt đầu nhìn rõ được thân tâm của mình. Thế nên, phải nhận diện ngũ uẩn để thấy biết chính mình và để thấy cái gì là thủ phạm, là nguyên nhân, là căn nguyên làm mình khổ đau, đó chính là Tứ Thánh Đế. Biết được trong thân tâm là gì, biết được tại sao mình khổ chính là Khổ Tập Thánh Đế. Pháp này rất thực tế, thiết thực, hiện tại, tức thời chứ không đợi thời gian nào cả, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

Sự khao khát, dục ái trong thân tâm, sự yêu thích, ham muốn làm chúng ta khổ rất nhiều, nó sai khiến, dẫn dắt chúng ta và chúng ta sẽ làm nô lệ, đầy tớ cho nó nếu không thấy được ngũ uẩn. Chánh Pháp có công năng nhiếp phục, chế ngự những điều đó, làm cho nó giảm bớt và dừng lại những cấu uế đó. Khi chúng ta lạy Vô Thượng Phật Đạo, lạy Đức Hạnh Ngài Xá-lợi-phất thì tâm mình được dừng lại, đó là công năng tác dụng của Chánh Pháp.

Cái sâu xa hơn nữa là nhổ lên dục ái, sự khao khát dục ái, tham ái rất sâu dày, thật sự chúng ta yêu thích và tham đắm thân xác này. Cái ăn, mặc, đi đứng, những thứ tiện nghi vật chất là những thứ bên ngoài nhưng còn cái sâu sắc hơn nữa là thân xác này. Chúng ta yêu thích cái thân này rất nhiều, thương cái thân này lắm nhưng lại thương không đúng, vì vô minh, vì không thấy rõ nên mình thương sai cách và càng thương lại càng làm mình khổ. Cũng như thương một người nào đó mà mình không hiểu họ thì tình thương của mình có khi làm cho họ rất khó chịu, bức xức. Cũng vậy, mình thương cái thân này nhưng không hiểu về nó, không biết tại sao nó có mặt ở đây, tại sao nó sanh khởi, tại sao nó chấm dứt đều, cho nên, chúng ta cần học bảy trí về sắc.

Quán chiếu nghiệp quả

Chúng ta cứ nắm chặt vào thân xác này, nắm chặt vào cảm giác, nghĩ tưởng này, vì nắm chặt như vậy nên sự tái sanh tiếp diễn. Quý vị rất thích quần áo đẹp, nếu đồ cũ, rách thì muốn đi mua cái mới, cũng vậy, thân này là bộ quần áo, khi sắp tan rã thì bộ quần áo đã cũ nát, khi đó, bên trong thân tâm những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng, sức mạnh của nghiệp lực thúc đẩy mình đi. Tuy nhiên, chúng ta không có quyền lựa chọn như lựa chọn bộ đồ, mà chính do nghiệp lực, sức mạnh của những cảm giác, nghĩ tưởng tạo thành động lực đẩy mình đi, nghiệp quả và tâm mê đẩy vào đâu thì mình phải chịu vào đó. Nếu nghiệp lực đẩy vào cái thân sủa gâu gâu thì chúng ta phải vào thân đầy lông lá; hoặc đẩy vào trúng cái thân kêu chít chít thì chúng ta phải chấp nhận sống trong hang hốc; hoặc bị nghiệp quả đẩy vào thân bò sát, rắn rết thì chúng ta phải chấp nhập; hoặc bên trong là những tâm thức luyến tiếc tài sản mà chưa được trăn trối thì sẽ làm cô hồn không đi đầu thai được, vì số tiền, số vàng chôn ở đó nhưng chưa kịp nói với ai nên không đi siêu thoát được. Cho nên nghiệp quả và tâm mê đẩy mình đi vào mặc áo của ma, của thú vật hoặc mặc áo của người cùi què, câm ngọng. Nếu ai có chút thiện lành phước đức thì được mặc cái áo của người lành lặn nhưng trong đó đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Nếu may mắn biết làm phước, làm thiện thì sanh ra có cái áo đàng hoàng, sạch sẽ, ngược lại sẽ sanh vào ba đường ác.

Hai chữ "nhân quả" này rất đáng sợ, chúng ta được ngồi đây bình an trong khi ở Ấn Độ người chết đầy rẫy, bệnh viện quá tải không nhận bệnh nhân, xác chết xếp hàng dài chờ hỏa táng. Những người con có cha mẹ nhiễm dịch bệnh chở đến bệnh viện nhưng không có gường nằm, trong lúc chờ đợi thì người thân qua đời nên người nhà tức giận xông vào hành hung bác sĩ, điều dưỡng. Đó gọi là "bần khổ đa oán, hoạnh kết ác duyên", sống trong cảnh nghèo khổ bần cùng thì hay sinh tâm oán hận, than trời trách đất và dễ vi phạm pháp luật. Một ngày ở Ấn Độ số người nhiễm lên đến hơn ba trăm ngàn người, đó là con số được báo cáo nhưng con số thật sự còn cao hơn như thế rất nhiều, có khả năng sáu triệu người đã chết ở Ấn Độ nhưng báo cáo chỉ có mấy trăn ngàn người vì người nào chết trong bệnh viện mới được thống kê, còn chết ở nhà, ngoài đường sẽ không được thống kê. Tất cả cũng là nghiệp quả của chúng sanh cho nên ở đây Đức Phật nói "sự nhổ lên dục ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái", đó là pháp thâm sâu của Đức Phật chính là pháp bất tử.

Pháp của Đức Phật chia làm hai pháp: nhân thiên pháp và bất tử pháp. Đối với những người tu học mong muốn đời sau được hưởng quả báo tốt lành thì Đức Phật dạy họ pháp nhân thiên, làm phước, bố thí, cúng dường và cẩn thận với nhân quả, nghiệp quả. Đối với những vị muốn giải thoát rốt ráo thì Đức Phật dạy bất tử pháp, tức là chặt đứt sự tái sanh, nhìn thấy nỗi khổ thâm sâu rộng lớn trong ngũ uẩn để các Ngài từ bỏ, chấm dứt, không muốn luân hồi sanh tử nữa, không muốn lặp tới lặp lui sự sống chết này nữa. Chữ "đoạn diệt" tức là chấm dứt sắc; thọ; tưởng; hành; thức không cho tiếp tục tái diễn nữa, chấm dứt tâm mê, tham muốn, sân si, vô minh trong ngũ uẩn, thoát ra khỏi nó để chứng nhập tâm trí tuệ, tâm giải thoát, tuệ giải thoát bất động của các bậc hiền Thánh. "Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này Cundì, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng".

Người đặt lòng tin vào pháp tối thượng chấm dứt luân hồi sanh tử thì người này sẽ nỗ lực tu học theo pháp đó và thành tựu theo pháp đó, như vậy gọi là nhân tối thượng quả tối thượng. Người đặt lòng tin vào phước báo của đời sau để hưởng thì họ sẽ tu tập những phước báo để có phúc lạc của đời sau nhưng đời sau không bảo đảm, khi họ hưởng hết phúc lạc thì sau đó không biết được ra sao. Nếu sanh ra lúc nào cũng được làm người khỏe khoắn, lành lặn, có mắt; tai; mũi; lưỡi đầy đủ, thông minh, minh mẫn, có nhận thức hiểu biết thì có người đâu cần phải tu, tuy nhiên, điều đó lại không chắc chắn. Hơn nữa, dù tất cả chúng ta ở đây đều được lành lặn có ngũ căn đầy đủ mà còn khổ đau nên phải tu học. Nếu không may rơi vào hoàn cảnh những người bị tâm thần phải xích lại hoặc bị nhốt trong củi trong mấy chục năm, phải trộn thuốc an thần hoặc thuốc ngủ vào cơm rồi cho ăn để người đó không quậy phá… như vậy còn khốn khổ đến như thế nào.

Có vô số nghiệp quả của chúng sanh được biểu hiện qua ý nghĩ ác, lời nói ác, hành động ác cho nên Đức Phật dạy chúng sanh cần cẩn thận với nhân quả nghiệp báo. Thỉnh thoảng chúng ta lại thấy một người già lớn tuổi, tóc tai bù xù, quần áo rách rưới vừa đi lang thang ngoài đường vừa chửi rủa, họ phải sống như vậy suốt cuộc đời. Có những trường hợp mẹ con, cha con thất lạc nhau bốn mươi năm hoặc có những vụ án oan phải ngồi tù mấy chục năm, những cô gái bị lừa bán sang nước ngoài làm nô lệ tình dục… Tất cả những cái đó đều từ ác nghiệp, từ những suy nghĩ, lời nói, hành động mà chiêu cảm ra ác nghiệp cho nên mình phải biết lo lắng, sợ hãi, run sợ đối với ác nghiệp, phải biết sợ đối với quả báo của ác nghiệp.

Có lần Minh Thành đi giảng pháp ở một nơi có mấy trăm người mù, họ ca bài ca "mẹ cho em đôi mắt màu xanh", những người đó mong muốn dù chỉ một phút thôi cũng được để thấy được gương mặt cha mẹ mà vẫn không thể, trong khi những người sáng mắt lại bất hiếu với cha mẹ. Thời đại bây giờ quá khủng khiếp, kinh hoàng, vài ngày lại có vụ án con giết cha mẹ, anh em giết nhau, vợ chồng phân xác nhau. Vì vậy, chúng ta phải thấy lo lắng để tu học, cẩn thận đối với ác nghiệp, lo sợ với nhân quả. Đối với tất cả những gì chúng ta nói, chúng ta làm thì phải biết nghĩ tới hậu quả của nó, dù chỉ là một việc rất nhỏ nhưng đừng nghĩ không ai biết, dù có thể qua mặt mọi người nhưng nhân quả rất khắc khe, công bằng và rất khắc nghiệt.

Đức Phật có dạy về quả dị thục, “dị” là biến dị, là thay đổi và “thục” là chín muồi. Có những kẻ gian biết những người đi nuôi người thân trong bệnh viện đều mang rất nhiều tiền nên luôn tìm cách lấy trộm tiền, chúng ta cứ nghĩ trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu nên bây giờ lấy bao nhiêu thì mai đây trả lại bấy nhiêu, lấy mười triệu thì mai này trả lại mười triệu nhưng sai hết, mười triệu chỉ là ngay lúc đó thôi nhưng biến dị nhân quả lại khác. Tại sao lại vậy? Vì lỡ như bị mất mười triệu người thân họ sẽ chết vì không có tiền mổ hoặc đứa cháu ở nhà không được đi học sẽ dốt suốt đời, như vậy nhân quả làm sao chỉ dừng lại ở mười triệu? Hậu quả đánh đổi là một mạng người và một cuộc đời thất học, đó là chưa nói đến việc thất học sẽ làm nguy hại cho tự thân người đó và cho cả xã hội, người ăn cắp mười triệu phải lãnh tất cả những nhân quả này. Đó gọi là quả dị thục của nghiệp tức là biến đổi và đưa đến chín muồi.

Chẳng hạn, mình đi vay tiền một trăm triệu thì năm sau mình trả đâu còn là con số một trăm triệu nữa, hơn thế, mình còn vay nhiều năm nữa mới trả thì con số lên bao nhiêu? Nhân quả dị thục cũng giống như vậy, nó không đơn giản như mình nghĩ là tát người ta một cái rồi sau này người ta tát lại mình là xong, mà hận thù trong cái tát đó được nuôi dưỡng trong thời gian dài, cảm xúc, cảm giác bị tát, bị hủy nhục trước đông người được cất vào trong tâm, mỗi khi hình ảnh đó hiện về, cảm giác đau khổ được gợi lên, những suy nghĩ theo đó khởi lên. Cứ như vậy trong từng ngày từng tháng cho đến vài chục năm sau thì hậu quả của cái tát đó lớn cỡ nào. Đó là minh chứng cho sự khủng khiếp của quả dị thục của nghiệp tức là biến đổi và chín muồi của nhân quả ác nghiệp.

Chính vì vậy người học Phật phải biết sợ nghiệp quả, đừng bao giờ xem thường nghiệp quả. Nói một câu cũng phải xét nét câu này lợi mình lợi người hay hại mình hại người, phải xét kĩ trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói. Vì có những câu nói làm đối phương đau khổ suốt đời, có những câu nói làm nhà tan cửa nát, vợ chồng phân ly, có những hành động để lại hối hận suốt đời vì suốt kiếp phải bị tù chung thân. Tất cả những hoàn cảnh đó đều vì những lời nói trên miệng (khẩu hành), những hành động của thân thể (thân hành) và những suy nghĩ trong tâm (ý hành). Đức Phật gọi đó là ba ác hành và ba thiện hành: nghĩ ác, nói ác, làm ác và nghĩ thiện, nói thiện và làm thiện.

Chúng ta đừng nghĩ rằng mình không có nhân quả với những người thân thương trong gia đình mà chỉ có nhân quả với người ngoài. Chính chỗ này chúng ta càng phải thận trọng với những người mà mình gần gũi nhất, thương yêu nhất vì chính chỗ gần gũi, thân thương là chỗ khiến mình buông thả những thói quen, tập khí, tập nghiệp, tánh tình nhiều nhất. Có những chuyện rất đau lòng được báo chí đăng tải như em ruột giết chị ruột để lấy tiền vàng để chơi game, bao bạn gái, thậm chí con giết cha mẹ vì những lời quở trách la mắng. Hai mươi năm trước khi nghe những vụ án giết người như vầy là rúng động cả xã hội vậy mà bây giờ chuyện này lại rất bình thường và xảy ra thường xuyên.

Tu tập tâm hiền

Thật sự rất đáng lo lắng cho xã hội hiện giờ vì pháp đen (hắc pháp) đã che phủ thế gian, ác nghiệp đã bao trùm thế giới này, những tội lỗi bất thiện xâm chiếm và áp đảo hành tinh này, con người càng ngày càng tham dục mãnh liệt, sân hận thiêu đốt, càng bản ngã cao ngạo thì càng sớm đẩy thế giới đi vào diệt vong, vì vậy tu tập thiện pháp tuyệt đối quan trọng. Chúng ta lạy đức hạnh Ngài Xá-lợi-phất để tập tâm hiền.

Nay con xin tập hạnh tâm hiền,

Hiền lành, lắng dịu, chẳng phiền ai,

Dễ chịu, dễ thương và dễ mến,

Dễ bảo, dễ nghe pháp Thánh hiền.

(Nghi thức tu học Nikāya – Đảnh lễ đức hạnh Ngài Xá-lợi-phất)

Đó là để cứu vãn hành tinh này, cứu vãn tự thân chúng ta, cứu vãn xã hội, cứu vãn thế giới. Đó là con đường của Đức Phật và các bậc Thánh, cứu khổ là cứu như vậy đó chứ không phải chỉ cầu nguyện suông mà cần phải thực hiện, cầu nguyện để nhắc nhở và thực hành. Những lời tụng đọc đó là những lời tác động tâm ý để mình ghi nhớ và thực hành vì thế tâm hiền là tuyệt đối quan trọng, nếu không tu tâm hiền thì tâm của mình rất dữ, thấy ít nói chứ chạm vào rồi biết vì trong tâm toàn lửa, khi phừng lên là không còn anh em, cha con, mẹ con gì nữa. Một khi sân hận bừng cháy lên, một khi bản ngã trương phình lên, cái tham lam che mời mắt sẽ đẩy chúng ta xuống vực sâu của ác nghiệp cho nên mỗi ngày cần tác ý thực tập tâm hiền. Chúng ta để tay lên ngực và nói "An tịnh nè, lắng dịu nè, dễ chịu nè, hiền lành nè, hiền hòa nè, hiền hậu nè, hiền đức nè. Luôn luôn là người hiền nè".

Người tu tâm thật là hiền,

Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên

Người tu tâm thật là yên,

Thọ hiền toả sáng, yên vui rạng ngời.

(Nghi thức tu học Nikāya – Niệm tâm hiền)

Chúng ta cần nhắc nhở tâm thường xuyên như vậy, nhất là mỗi khi bức xúc, nhiệt não, cau có, cộc cằn, gay gắt là cần tác ý ngay "hiền nha, lắng dịu đi nha, đừng quậy nha. Tu đi nha", đó là lá bùa hộ mạng, là phép bình an, là phước lành, là phước đức của chúng ta tu học theo Phật. Đừng nghĩ rằng tu là làm cái gì cao siêu, tụng niệm cho nhiều nhưng có ai đụng vào là bung xả ra. Chúng ta phải nhớ tu là hiền như con rùa chứ đừng làm con cua bung càng ra sẵn sàng kẹp bất kì ai. Vì thế, mọi người cần nhớ giáo pháp Đức Phật dạy để hành trì.

Hội chúng tối thượng

"Dầu cho loại chúng Tăng hay Hội chúng nào, này Cundì, chúng Tăng đệ tử của Như Lai, được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử của Như Lai đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, này Cundì, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, II. Cundì, Con Gái Vua)

Trong kinh dùng từ "chúng Tăng" nhưng chúng ta phải hiểu là đoàn thể, chữ Tăng là một đoàn thể. Dù cho bất cứ đoàn thể, hội chúng nào thì chúng Tăng đệ tử Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng. Vì những vị này đi theo con đường ly tham, những vị này được bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hướng dẫn, những vị này có xuất ly đạo lộ của hiền Thánh.

Ngoài bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra không ai có thể dạy được phương pháp bất tử giải thoát này, duy nhất chỉ có một chúng sanh như vậy xuất hiện ở đời, không có người thứ hai ngang bằng, ngang tầm. Chỉ có duy nhất một bậc Đạo sư của chư Thiên và loài người, "phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc". Chúng ta cần nhờ Thế Tôn phơi bày Thánh trí ngũ uẩn, phơi bày tấm thân là năm thứ lắp ráp, năm thứ hội tụ với nhau, đem đèn sáng vào cho chúng ta thấy điều này. Trước đây chúng ta cứ nhân ngã bỉ thử, còn giờ chúng ta được ánh sáng rọi vào phơi bày ra những gì bị che khuất trong vô lượng vô biên kiếp, chúng ta đã bắt đầu thấy năm uẩn quậy phá mình, xúi giục, lầm thầm bên tai. Sau khi thấy ngũ uẩn sẽ thấy lậu hoặc, thấy tâm mê hoặc, những sự ngấm ngầm dẫn dắt mình đi vào đau khổ.

Do học như vậy, do tu như vậy nên đoàn thể đệ tử của Đức Phật là tối thượng trong tất cả đoàn thể. Đoàn thể này bao gồm tứ chúng: nam cư sĩ, nữ cư sĩ, Tỳ-kheo và Tỳ-kheo Ni. Chúng ta đừng nghĩ Tăng chúng là chỉ có mấy vị xuất gia mà Tăng chúng là đoàn thể hội chúng đệ tử Đức Phật, bao gồm xuất gia và tại gia, những vị cư sĩ vẫn có khả năng chứng đắc đến Bất Lai là Thánh quả thứ ba. Các vị cư sĩ tu tập đúng theo bốn Thánh trí ngũ uẩn, bốn Thánh trí lậu hoặc, nhiếp phục tham, sân, si thì những vị đó vẫn "đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời". Vì những vị này nhìn thấy được ngũ uẩn, những vị này thấy được tham, sân, si, lậu hoặc. Họ là những người ra công phu bắt tay vào việc nỗ lực, tinh cần, tinh tấn nhiếp phục những cảm giác sân hận, vô minh, bản ngã và đoạn tận những thứ đó. Cho nên, chúng ta cần hiểu cho kĩ từ ngữ trong kinh Nikāya, còn mình tu, mình học theo Phật mà không thấy biết thân tâm là gì, tham, sân, si không biết nó ở đâu, nó xâm chiếm, áp đảo mà không hề biết thì không được gọi là bốn đôi tám chúng của Đức Phật. Bốn đôi tám chúng là tứ Thánh quả và tứ Thánh đạo.

Bốn đôi tám vị:

Tu-đà-hoàn đạo => Tu-đà-hoàn quả (Nhập lưu)

Tư-đà-hàm đạo => Tư-đà-hàm quả (Nhất lai)

A-na-hàm đạo => A-na-hàm quả (Bất lai)

A-la-hán đạo => A-la-hán quả (Ứng cúng)

Bốn vị đang hướng đến Thánh quả thứ nhất gọi là Tu-đà-hoàn đạo, “đạo” là đang đi trên con đường, còn “quả” là đã đi đến. Cho nên quả Tu-đà-hoàn là người này đã thành tựu Thánh quả thứ nhất, còn người đang hướng đến Thánh quả thứ nhất gọi là Tu-đà-hoàn đạo. Giữa một người đã ngồi trên Linh Quy Pháp Ấn và người đang đi đến Linh Quy Pháp Ấn rất khác nhau nhưng người đang đi vẫn sẽ đến nơi, đó gọi là bốn Thánh quả và bốn Thánh đạo. Nghĩa là Thánh quả thứ nhất và người đang hướng đến Thánh quả thứ nhất, Thánh quả thứ hai và người đang hướng đến Thánh quả thứ hai, Thánh quả thứ ba và người đang hướng đến Thánh quả thứ ba, Thánh quả tối cao và người đang hướng đến Thánh quả tối cao.

Điều quan trọng cần nhớ đạo chính là con đường ly tham đối với ngũ uẩn, đó gọi là pháp tối thượng trong tất cả các pháp. Thế nhưng, nếu không biết ngũ uẩn là gì thì làm sao mình ly tham đối với ngũ uẩn? Khi chưa nhận diện được ngũ uẩn, chưa thấy được tính chất vô thường, khổ, vô ngã, chưa thấy được tham, sân, si, vô minh và bản ngã trong đó, chưa thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó thì mình rất yêu thích nó. Chúng ta yêu thích suy nghĩ, cảm giác, những hình bóng trong tâm và nhận nó làm mình. Đến khi đã thấy rõ hình bóng thuộc về tưởng uẩn, cảm giác là thọ uẩn thì mình đã bắt đầu tách mình ra khỏi ngũ uẩn từ từ. Mặc dù chưa làm được hoàn toàn nhưng ít nhất mình thấy biết và có đôi phần nhiếp phục nó, còn lúc trước hoàn toàn không biết gì hết nên nhập cuộc làm một trong cơn mê. Đó là lợi ích của việc học pháp. Và đoàn thể tu học thấy rõ thân tâm của mình và nhiếp phục thân tâm đối với tham, sân, si trong ngũ uẩn thì đoàn thể đó gọi là "chúng Tăng đệ tử của Như Lai, được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng".

Vì thế học đúng, thực hành đúng thì mình mới cảm nhận được Chánh Pháp là gì, Đức Phật và các bậc Thánh Tăng tu như thế nào, bây giờ mình có tu theo đúng con đường đó không thì tự mình sẽ biết. Cho nên trong kinh mới có câu "Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực, hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu", giác hiểu là hiểu biết, thấy biết, rõ biết, người trí là thấy được năm uẩn, tức là thấy được những cảm giác tham, sân, si, vô minh, bản ngã đang hành hạ mình và cố gắng để nhiếp phục, diệt tận những thứ đó. Còn ngược lại cứ quay ra nhìn người khác, học được một chút thì tự cao cho mình đúng chứ người kia học không đúng, sân si nổi lên thì cái học đó không khéo lại làm tăng trưởng cái tôi thì cái đó không đúng.

Chúng ta tu học để thấy và quay lại lo bổn phận của chính mình, suốt ngày phải luôn lo nhìn mình để nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã, cảm thấy xấu hổ nhục nhã khi những thứ này còn tồn tại trong tâm. Dù biết cái giận không tốt nhưng đến khi nổi giận lên nó cũng đốt cháy mọi thứ nên phải cảm thấy tàm quý. Cái tham khởi lên mình cũng biết nhưng vẫn đi theo nó nên phải cảm thấy nhục nhã. Biết bản ngã làm khổ mình khổ người nên khi nó phình lên thì phải thấy nhục nhã. Tại sao đã tu học, thấy biết rồi mà vẫn cứ đi theo tham, sân, si, bản ngã? Khi đó phải xấu hổ, rồi từ từ nhục nhã sẽ sanh Thánh quả. Mỗi lần mình bị những thứ xấu ác lôi khéo phải cảm thấy nhục nhã, xấu hổ, vì mình học tu lâu như vậy rồi mà tại sao lại sanh bản ngã với huynh đệ tỉ muội, mình bỏ nhà bỏ cửa đi tu học thức khuya dậy sớm vậy mà về nhà vẫn bản ngã với chồng con. Từ cái nhục nhã này sẽ làm cho mình trong sạch vì mỗi khi nhục thì lạy sám hối xin lỗi, xấu hổ với bản thân, xấu hổ với Phật, xấu hổ với chư Thiên, xấu hổ với những bạn đồng tu.

"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tăng Chi Bộ Kinh I, 3. Chương Ba Pháp.VIII. Phẩm Ànanda,bài kinh Cần Phải Khích Lệ) 

Những lời kinh này không phải chỉ dành riêng cho người xuất gia mà dành cho cả bốn chúng của Đức Phật đã nói ở trên. Tất cả phải có bốn đức hạnh vi diệu, hiền lành, hiền thiện, hiền lương, phải có những đức hạnh ngay thẳng chánh trực, có lỗi phải dám nhận lỗi, dở phải chịu mình còn dở, sai trật phải chịu mình làm sai trật. Cho nên bước quan trọng nhất của người tu là phải dám nhận lỗi, điều này rất quan trọng, dám nhận lỗi là sức mạnh của người tu, có sân biết mình đang có sân, có tham biết mình đang có tham và phải nhận lỗi "đây là một lỗi lầm, đây là một chướng ngại pháp", có si phải biết mình đang có si, đang bị si mê xâm chiếm, có bản ngã phải biết mình đang có cái tôi, cái ta và cố gắng nhận lỗi, sửa lỗi thì từ từ mới hết lỗi, còn nếu không nhận lỗi thì làm sao đi đến chỗ hết lỗi? Biết có lỗi nhưng bên ngoài không nhận lỗi, cho qua thì cái lỗi đó càng ngày càng chồng chất. Cho nên, phải thực hành phương pháp lạy đức hạnh Ngài Xá-lợi-phất để tập tâm hiền, lạy sám hối để diệt ngã. Chúng ta lạy sám hối trong những khóa tu tại Linh Quy là khi có phiền não, sân hận gì với mọi người là chúng ta quỳ lạy xin lỗi, đó là những đức hạnh của người tu.

“Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn”, “ứng” nghĩa là tương xứng, thích ứng, “lý” là chân lý, phù hợp với lời dạy của Đức Phật, như vậy được gọi là Ứng Lý Hạnh. Đức Phật dạy người Phật tử phải thực tập tâm từ, mình chưa làm được nhiều nhưng cũng được chút ít, chứ còn chưa được gì hết là không được. Đức Phật dạy mình phải tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, chúng ta cố gắng thực tập cho phù hợp với những lời dạy của Đức Phật gọi là Ứng Lý Hạnh. Chúng ta phải đi theo con đường Tám Chánh: thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng, khi biết cái nào chưa đúng thì phải điều chỉnh bản thân từ từ chứ không phải vào tu là chánh được ngay. Chúng ta cần chuyển hướng từ từ, mỗi ngày một chút để đi vào chánh đạo, còn chuyển được nhanh hay chậm là do sức tinh tấn của bản thân nhiều hay ít. Những lời dạy này của Đức Phật trong thời đại này ít được nghe, ít được học và ít được thực hành nhưng chúng ta lại được học, được nghe và được thực hành thì phải biết trân trọng, cung kính.

Giới tối thượng

"Dầu cho loại giới nào, này Cundì, các giới được bậc Thánh ái kính được gọi là tối thượng trong các giới ấy, tức là giới không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến chánh định. Với những ai làm cho đầy đủ trong các giới luật được các bậc Thánh ái kính, họ làm cho đầy đủ những gì tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, II. Cundì, Con Gái Vua)

Các giới được bậc Thánh yêu quý, kính trọng được gọi là tối thượng trong tất cả các giới. Người cư sĩ có năm giới, tám giới, người xuất gia có mười giới và các giới lớn hơn của Tỳ-kheo và những giới đó là những đức hạnh tối cao trong tất cả các đức hạnh, vì ngoài bậc Chánh Đẳng Giác ra không một ai đưa ra được đạo lộ tiến tới đức hạnh thánh thiện cùng tột như vậy. Đức Phật đưa ra như vậy để chúng ta đạt được tâm yên định, ví dụ nếu mình lấy cắp món đồ nào thì làm sao yên tịnh ngồi thiền được, cho nên trong kinh ghi "không bị chấp thủ, đưa đến chánh định". Nếu phạm vào giới tà dâm, ngoại tình thì tâm không an tịnh, lòng bất an, nói dối, lừa gạt người ta sẽ làm mình ray rứt, khó chịu thì đó chính là trạo cử. Các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật tu dễ vào thiền định, dễ chứng quả vì các Ngài giữ giới trong sạch nên tâm yên tịnh khi ngồi thiền, còn mình không giữ giới trong sạch nên ngồi lại là thấy tội lỗi, ray rứt và tâm bị dao động, bất an.

Cho nên vị nào tu học giữ giới nghiêm chỉnh rất dễ ngồi thiền, người cư sĩ cố gắng giữ giới hết mức, nếu giữ được tám giới bát quan trai thì càng tốt. Trong những ngày thứ bảy, chủ nhật hoặc những vị đã về hưu hãy cố gắng phát nguyện giữ tám giới một tuần lễ, thậm chí giữ một tháng bát quan trai giới. Minh Thành chia sẻ thêm về bài "Kinh Trai Giới", ai giữ được tám giới này sẽ có phước báo rất lớn. Tu một ngày bát quan trai giới sẽ được lên các tầng trời, một ngày đêm của các tầng trời đó bằng năm mươi năm dưới nhân gian, có những tầng trời một ngày đêm bằng một trăm năm dưới nhân gian.

"Này các Tỳ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Như thế nào, này các Tỳ-kheo, là ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn?

Năm mươi năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên Bốn thiên vương. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Năm mươi năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên Bốn thiên vương.

Một trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Một ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba.

Hai trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Yàma. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Hai ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Yàma.

Bốn trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tusità (Ðâu-Xuất). Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tusità.

Mười sáu trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ-kheo: Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Do vậy, Ta nói: 'Nhỏ nhoi thay, này các Tỳ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên'". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II). Ngày Trai Giới)

Từ thời Đức Phật còn tại thế đến nay là 2600 năm. Những vị như Cấp-cô-độc, bà Visakha và những vị đại hộ pháp của Đức Phật đi vào Thánh quả, nếu các vị ở trên các tầng trời một ngày đêm là một trăm năm thì 2600 năm qua chỉ mới có 26 ngày của các vị ấy. Có những tầng trời một ngàn sáu trăm năm ở đây mới bằng một ngày trên đó, vậy mà có các vị sống năm trăm tuổi, một ngàn tuổi và thậm chí là sống đến một kiếp thành hoại của Trái Đất. Trong kinh Đức Phật giải thích một kiếp bằng hình ảnh một núi đá dài 18 cây số vuông, cứ một trăm nay có người cầm cái khăn vải mỏng phủi một lần, phủi cho đến khi nào ngọn núi đá 18 cây số đó thành cát bụi vẫn chưa được một kiếp, người tu bát quan trai giới sẽ được sanh lên các tầng trời đầy phước báo đó.

"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?

-- Thật dài, này Tỳ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm hay một vài trăm ngàn năm.

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?

-- Có thể được, này Tỳ-kheo. Thế Tôn nói như vậy. Ví như, này Tỳ-kheo, có một hòn núi đá lớn, một do tuần bề dài, một do tuần bề rộng, một do tuần bề cao, không có khe hở, không có lỗ hổng, một tảng đá thuần đặc. Rồi một người đến, cứ sau một trăm năm lại lau hòn đá ấy một lần với tấm vải kàsi. Này Tỳ-kheo, hòn núi đá lớn ấy được làm như vậy có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.

Như vậy dài, này các Tỳ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, này Tỳ-kheo, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, V. Núi)

Chỉ tu bát quan trai giới một ngày một đêm là phước báo vô lượng, cho nên bậc đại Đạo sư Đức Thế Tôn của chúng ta mở ra các cánh cửa. Cái nào là đen cái nào trắng, cái nào khổ cái nào vui, cái nào sa đọa cái nào hướng thượng được Ngài trình bày bằng đầy đủ tất cả các phương diện, khía cạnh của nhân sinh vũ trụ tam giới. Thế nào là cõi dục, tu như thế nào đưa đến cõi sắc và tâm như thế nào đưa đến cảnh giới vô sắc, phương pháp diệt tận các tham, sân, si, lậu hoặc đưa đến Niết-bàn tịnh diệt được Ngài nói rất rõ, đó là mười lực của Đức Phật – bậc tối tôn, tối thượng mà chúng lạy mỗi ngày. Khi niệm Phật, lạy Phật là quý vị nhớ nghĩ công đức, giới hạnh, đạo hạnh, từ bi, trí tuệ, công lao Đức Phật dạy dỗ cho mình và cố gắng học để làm theo, đó gọi là niệm ân đức của Phật – Pháp – Tăng.

Vì thế chúng ta là cư sĩ cố gắng giữ đúng năm giới, tám giới. Người nào có giới đức thì dễ sanh lên cảnh trời vì có sự liên hệ với nhau. Muốn giữ được giới thì tâm phải nhiếp phục cái tham: sát sanh để ăn hoặc bán lấy tiền là tham, trộm cắp cũng là tham, tà dâm là tham dục, nói dối là có mục đích để được lợi ích thì đó là tham, uống rượu say sưa nghiện ngập là tham những cảm giác. Giữ giới là sự nhiếp phục dục tham ở những phần thô nặng, pháp là phần tẩy sạch dục tham ở vi tế cộng với thiền định. Giữ giới nhằm ngăn chặn những cái thô, nặng nề ở phía bên ngoài, chặn lại những thứ ác nghiệp mình tạo ra để không rơi vào các đường ác. Thiền định nhằm làm cho tâm lắng dịu, yên tịnh cộng với trí tuệ là bứng luôn gốc rễ của những thứ vi tế của dục tham. Cho nên ly tham là pháp tối thượng trong tất cả các pháp chính là như vậy.

Những người có trí huệ luôn khen ngợi giới, tôn trọng giới, cung kính giới, cho nên Đức Phật nói giới "Được bậc trí tán thán". "Không bị chấp thủ, đưa đến chánh định" nghĩa là giữ được giới nhưng không khen mình chê người, ví dụ mình giữ được giới đó mà người ta không giữ được là mình khinh thường sẽ trở thành chấp thủ, cái đó không đưa đến chánh định, vì thế giữ được giới sẽ hướng thượng đến chánh định. Chúng ta giữ giới cho bản thân chứ không phải giữ được rồi là mình so đo, hơn thua với người khác. Cho nên, khi có tâm hiền thiện, không so sánh, không khen mình chê người thì những việc chúng ta làm sẽ đưa chúng ta đến tâm an định. Từ đó chúng ta tu tập thiền quán thì tuệ quán mới phát sanh ra công dụng bứng hết gốc rễ của tham ái, bản ngã.

Tin tưởng vào tối thượng,

Biết được pháp tối thượng,

Tin tưởng Phật tối thượng,

Ðáng tôn trọng, vô thượng.

Tin tưởng Pháp tối thượng,

Ly tham, an tịnh lạc,

Tin tưởng Tăng tối thượng,

Là ruộng phước vô thượng,

Bố thí bậc tối thượng,

Phước tối thượng tăng trưởng,

Tối thượng về thọ mạng,

Dung sắc và danh văn,

Tối thượng về an lạc,

Tối thượng về sức mạnh.

Bậc trí thí tối thượng,

Pháp tối thượng chánh định,

Chư Thiên hay loài Người

Ðạt được hỷ tối thượng.

(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, IV. Phẩm Sumanà, II. Cundì, Con Gái Vua)

Với câu hỏi của công chúa – con nhà vua về lòng tin Phật – Pháp – Tăng như thế nào thì được sanh cõi lành đã được Đức Phật giải thích rõ ràng, khi làm đúng theo lời Đức Phật sẽ được sanh cõi lành cho đến Niết-bàn. Ai tu theo con đường và đặt niềm tin vào Đức Phật; đặt niềm tin vào giáo pháp ly tham; đặt niềm tin vào chúng Tăng đúng với ý nghĩa chúng Tăng của Đức Phật dạy; đặt niềm tin vào giới, lo làm cho đầy đủ các giới thì vị đó được sanh cõi lành, tránh cõi dữ và hướng đến Niết-bàn cao thượng.

Ý nghĩa của bài kinh Đức Phật nói ở đây là “nhân tối thượng, quả tối thượng”. Nhờ đặt lòng tin đúng chỗ vào Phật – Pháp – Tăng và Giới (còn gọi là bốn dự lưu phần) mà bốn pháp này sẽ đưa chúng ta tham dự vào dòng chảy trí tuệ của bậc Thánh. Chúng ta cần phải ngày đêm hoan hỷ trong thiện pháp, đặt hết lòng tin vào Đức Phật, đặt hết lòng tin vào kinh tạng Nikāya, đặt hết lòng tin vào những vị tu học đúng Chánh Pháp này, đặt hết lòng tin và làm cho đầy đủ các giới đã thọ… được như vậy thì đến ngày ra đi chúng ta sẽ được viên mãn và cười chào mọi người

Khai mở cảm thọ

Phật tử: Thưa thầy, khi nghe pháp mà mình có cảm thọ xúc động mạnh dâng trào thì mình phải tác ý như thế nào ạ?

Cảm thọ của cô bắt đầu được khai mở, điều này rất tốt cho nên đừng kiềm chế mà cứ để cho tuôn ra.

Tu học dòng pháp này chính là đi vào trong thọ uẩn mà thọ uẩn là nơi chứa tất cả các pháp cho nên khi mình khơi mở được dòng cảm thọ của thiện pháp thì tâm của mình sẽ nghẹn ngào, tức tưởi vì cái vô minh, tham, sân, si hại mình mà trước nay mình không biết và giờ mình bắt đầu biết được nó. Cho nên trong cái tức tưởi đó có hân hoan hạnh phúc, tuy khóc nhiều, ràng rụa nước mắt nhưng lại có được hỷ lạc. Nhiều người cứ thắc mắc tại sao đạo tràng Nikāya khóc nhiều vậy? Chúng ta phải biết rằng, đó là những giọt nước mắt của sự chạm đến sự thật, đó là những giọt nước mắt giác ngộ, giọt nước mắt của việc phát hiện ra sự thật ngàn năm bị che lấp, bị bao phủ, che lấp. Bây giờ, chúng ta được ánh sáng của Chánh Pháp soi sáng, mọi thứ được phơi bày ra và lúc đó mình tức tưởi, nghẹn ngào. Tức tưởi tại sao mình lại vô minh, bản ngã, si mê như vậy cho nên cứ để cảm xúc tự nhiên tuôn ra, không cần kiềm hãm gì cả. Đây là những dòng nước mắt của trí tuệ để gội rửa những sự vô minh, tham ái, chấp thủ, sân si, ngã mạn, những thứ này sẽ được dòng nước của trí tuệ gội rửa, thanh lọc và tẩy sạch.

Cho nên có cảm xúc khi nghe pháp là điều rất tốt, đó là điềm lành, là sự báo hiệu mình xúc chạm được với Chánh Pháp. Mọi người cần nắm vững những pháp căn bản: thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn và quán chiếu ba cảm thọ. Ngoài ra còn những phương pháp đối trị tham dục, sân hận, si mê và bản ngã cũng cần được học hiểu để khi nghe pháp, thực hành thiền quán thì chúng ta sẽ có những bước đi vững chắc. Khi bản ngã gục ngã, nằm xuống, quỳ lạy xuống thì đó là tín hiệu đáng mừng để chúng ta tu học trong Chánh Pháp này.

Trong sự tu này có hai dòng cảm thọ hỷ và ưu, người nào tu nhiệt tình thì hai dòng cảm thọ này mới được lộ rõ. Ưu là cảm xúc đau buồn trào dâng, hỷ là hỷ lạc, hoan hỉ trong Thánh pháp cho nên người nào tinh cần, tinh tấn nghe nhiều, thực hành nhiều sẽ được lộ rõ.

./.