Sợ Hãi Trong Tương Lai
Sợ Hãi Trong Tương Lai
(Văn bản.Diệu Quang)
Tất cả chúng ta thực hành ba pháp, chúng ta nhìn về phía trước, tuyệt đối không nhắm mắt, mở mắt nhìn xuống về phía trước khoảng một phía trước khoảng một mét, mở rộng tầm nhìn của mình ra hai bên hết mức đây gọi là đặc niệm trước mặt, trong kinh Tứ niệm cứ, tiếp theo trở về với hơi thở, hơi thở vào là biết hơi thở vào, hơi thở vào ra mình biết hơi thở ra, hơi thở vào hơi thở ra mình nhận biết rõ, cảm nhận sự chuyển động của hơi thở, hơi thở sẽ động chuyển ngay nơi lồng ngực ngay chóp mũi và bụng, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở, mũi, lồng ngục và bụng, sau đó mở bung cảm giác của hơi thở ra từ cảm giác mình mở bung ra lên tới đỉnh đầu, cảm giác mặt, cảm giác hai vai, hai tay, mông, chân, bàn chân, mở bung cảm giác từ hơi thở ra toàn thân, thở vào thở ra cảm giác toàn thân, cảm giác đỉnh đầu mặt, hai vai, hai tay, mông, chân bàn chân, thở vào thở ra cảm giác toàn thân.
Tâm của mình tỉnh giác chánh niệm đặc niệm trước mắt tức là rõ biết trước mắt kế đó là cảm giác toàn thân thấy được hơi thở.
Nội tâm tỉnh giác, rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân.Thực tập ba cảm giác này, ba pháp này đỉnh ba chân khi mình thực tập quen nó sẽ là cái nền tảng để chúng ta đi vào nhận diện năm uẫn, ba pháp này khi mình thực tập quen đi, đứng, nằm, ngồi mình đều thực tập được chứ không phải đến giờ ngồi thiền, lúc nào nhận biết của mình cũng sáng rõ, tầm nhìn mình mở rộng, lúc nào mình cũng để ý cảm giác toàn thân và nội tâm tĩnh giác tức là mình sẽ phát hiện ta tâm mình lúc đó có cái gì xuất hiện, ba pháp này sẽ quyết định tất cả những pháp tu tập về sau nếu mình không làm được ba pháp này những pháp sau không nhận diện được các uẫn, nhận diện được phiền não vận hành như thế nào nếu mình không thực tập ba pháp này. Cái này nó bao bọc mình hết tức là ở ngoài mình rõ biết trước mặt nên mình không mình trú tâm vào điểm nào nếu mình trú tâm một hồi là mình bị tưởng, khi ngồi thiền cũng vậy cũng mở mắt không nhìn một vật nhất định nào. Mình không bao giờ ngồi thiền hay niệm trú mà nhắm mắt, mình nhắm mắt một chút xíu là lờ mờ sẽ đi vào trạng thái lờ mờ. Tiếp theo nó sẽ đưa mình vào tưởng uẫn, lập tức cái tưởng xuất hiện và cái tưởng đó đưa mình vào vô minh là mình không còn thấy rõ gì cho nên tuyệt đối không nhắm mắt, trừ khi nào mình quán tưởng lúc đó mình mới nhắm nên lúc nào cũng nhớ ba pháp
Rõ biết trước mặt (Đặt niệm trước mặt)
Cảm giác toàn thân
Nột tâm tĩnh giác
Tất cả những gì mà nó tích lũy nó chất chứa nó đều được cất giữ trong cảm giác, ở trong cảm thọ nên cảm thọ thật ra nó là một cái kho để nó chứa dựng những tập khí thói quen, ở trong quá khứ của mình nó sẽ được tích tụ trọng cảm giác cảm thọ nên nếu mình thường nhìn cảm giác toàn thân để nhớ tất cả cái này đều trong tâm kịnh tang Bali Nykaya, trong đó có hơi thở cảm giác toàn thân, khi mình trở về luôn luôn coi lại cảm giác toàn thân, phiền não trú ẩn trong cảm giác trong cảm thọ nên khi xuất hiện lên cảm thọ rúng động, lúc đó mình phát giác nó xuất hiện ví dụ như lúc mình nổi nóng lên lúc đó cảm giác không bình thường đầu tiên nó sẽ ấm ở lồng ngực nếu nhiều nó sẽ nóng lên, quả đại nóng lên có thể tỏa ra trên mặt tỏa ra lỗ tai, mình thường nhìn lên cảm giác toàn thân lúc vừa sanh khởi lên một cách khác lạ lúc đó mình phát hiện ra liền chỗ này rất quan trọng thực tập sẽ thấy, bây giờ cảm thọ nó đổi khác, bây giờ trong thân mình nó có một cảm thọ cảm giác khó chịu nóng bức đây là một cảm giác sân, ví dụ như mình nhìn thấy một đối tượng hay miếng mồi nào đó, lúc đó phát sanh ra tâm ưa thích, ham muốn, khoan khoái thậm chí mãnh liệt khao khát, lúc đó cảm thọ của mình sẽ động chuyển mà thường thường hiện rõ ở lồng ngực, lúc đó tim nó sẽ đập mạnh và sẽ nó sẽ có sự thay đổi ở lồng ngực của mình, cảm giác của mình thay đổi thậm chí mình run lên, có cảm giác bất thiện xuất hiện lúc đó cảm giác tham dục xuất hiện phát hiện liền, như vậy cảm giác toàn thân này giúp cho mình luôn luôn nhìn trở lại để phát hiện ra tự thân và tự tâm của mình nếu mình không chứa trong cảm giác toàn thân không có rõ biết trước mắt không chánh niệm tĩnh giác lúc đó mình sống trong cảm giác của vô minh tức là mình không rõ gì về tự thân tự tâm của mình, luôn luôn cảm giác phóng vật xuất hiện, cảm giác phóng vật là cảm giác buông lung không có hộ trì căn, không có ngừng trở lại năm uẫn thành ra phiền não có chỗ trú ẩn trong cảm giác cảm thọ của mình, khi mình tu tập nếu mình thường nhìn lại nếu mình thấy thường thường nó sanh khởi lên cảm giác sân nóng bức lúc đó mình dùng như lý tác ý, trước phiền não nó sanh ra nội tâm mình nó cũng là một pháp cho nên mình sẽ đối thoại nói chuyện, nói chuyện với nó giống như một người bên ngoài, mình phải dùng mạnh đối với nó, có khi mình dùng nhu cương để sử dụng, mình nói bộ giận sướng lắm hã, ham giận, yêu thích giận lắm phải không, giận mấy chục năm chưa đủ hã, mình nói chuyện với nó tự nhiên nó bị phát giác bắt đầu nó hơi e dè, đầu tiên mình nhìn được cái cảm thọ mình phát hiện ra được cái bộ mặt của nó lúc đó là nó e dè, cũng như một người đang đi không ai nhìn nhưng có người để ý tự nhiên mình đi khựng lại, phiền nãocũng giống y như vậy, cho nên vấn đề mình nhìn lại cảm giác nó quan trọng chỗ đó là mình phát hiện ra phiền não, phát hiện được nó rồi bắt đầu nó sẽ e dè rụt rè sau đó mình dừng Như lý tác ý, mình dùng như lý tác ý để giải quyết từng vấn đề, sân mãnh liệt mình nhẹ để đối đãi, nếu tham dục nó mạnh mình sẽ dùng búa tạ đập cho vỡ đầu nó ra mình mới nói chuyện với nó, mình nói là dục là mũi tên, dục là rắn độc, chính mi là kẽ giết người chính người là ác ma chính người đưa ta vào dòng luân hồi sanh tử khổ đau ràng buộc mà kiếm mấy chục năm nay chưa đủ hay sao, mình dùng những từ mạnh tất cả từ đó trong kinh, mấy từ đó là pháp lệnh của đức Phật trong kinh tạng Nikaya, dục là hố than hừng, dục là rắn độc, dục là mũi tên, dục là kẽ sát nhan, dục làm cho tan nhà nát cửa mất mạng, kẽ giết người ác ma, mình dùng từ mạnh như vậy lúc đó nó dục lắng dịu xuống, tiếp tục mình dùng những từ mạnh nữa ta sẽ không chấp nhận mi, ta bào bỏ mi ta sẽ diệt tân mi, ta sẽ chặt mi giống như cây sa la cây dừa không còn tái sanh nữa, không thể còn sanh khởi được nữa, lúc đó nó sẽ lắng dịu từ từ nếu mình để ý thì thọ trong cơ thể mình ngay chỗ nào nó động chuyển, mình lắng tâm lúc đó nó tan, chẳng hạn nó đang nóng dưới lồng ngực mình hướng tâm tới vào chỗ đó mình nói chuyện, mình dùng Như lý tác ý cái cảm thọ nó sẽ dịu từ từ tan ra nếu nó sanh dục mạnh, nó có sanh dục tưởng mà dục thọ, thọ tức là cảm giác dục sanh khởi lên thân của mình, lúc đó mình hướng tâm ngay dục đó mình dùng như lý tác ý mình nói ta không chấp nhận người ta diệt tận ngươi chính ngươi là thủ phạm đem ta tới dòng tối tăm mờ mịt khổ đau nếu như vậy mình thấy bắt đầu nó lắng dịu và tan ngay chỗ đó, nếu mình thường thực tập cảm giác toàn thân bất cứ chỗ nào mình cũng phát hiện ra.
Si là cảm giác không khổ không vui làm cho mình lờ đờ, ví dụ mình đang học nó xuất hiện cảm thái không lười biếng, không nghỉ học lờ mờ đơ đơ lúc đó cảm giác của si mình phải Như lý tác ý ngủ mấy chục năm rồi chưa đã hay sao còn muốn ngủ cả ngàn năm hay sao đồ ngu si, lúc đó mình nói cho mạnh tự nhiên nó thức dậy tự nhiên cái lờ đờ nó tan mình đặt niệm trước mắt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, lúc đó con ma si tan đây là phương pháp rất đặc biệt trong chánh tạng đức Phật dạy.
Tại sao mình thực tập cảm giác toàn thân?.
Tại vì mình mới phát hiện được phiền não, muốn thấy rõ bộ mặt của phiền não thấy rõ được tham dục vận hành như thế nào, cái sân hận nó vận hành như thế nào cái si mê nó ra làm sao, cái ngã mạng nó tiềm ẩn nó hoạt động như thế nào? mình nhìn nhận lại cảm thọ mình thấy hết, thấy được bộ mặt của nó tên tuổi của nó, tính tình của nó và mình có cách để trị nó.
Chúng ta nhìn lại sự tu học, tu chung chung, hành chung chung, đọc nghe chung chung. Mình thấy mấy vấn đề quan trọng của mình, mình kiểm toán lại thứ nhất tham ái trong lòng mình nó như thế nào có khi không giảm mà càng ngày càng tăng đó là điều hổ thẹn của người xuất gia, tự bản thân mình thấy bao nhiêu năm mình xuất gia mình đã nhiếp được tham dục chưa, sân hận thậm chí bản ngã của mình nếu mình không khéo mình nhìn kỹ chính bản thân Minh Thành, mình thấy rất nhục nhã, rất xấu hổ, khi mình yên một chỗ mình nhìn lại mới thấy cái ngã của mình trá hình mà mình không thấy, trá hình ở Thầy, Sư phụ là bổn phận là trách nhiệm là người lớn, mình không khéo đường tu của mình không tới đâu, thậm chí bị thoái đọa mà mình không hay càng ngày càng lún sâu vào mà mình không biết nếu mình không có phản tỉnh đời tu của mình là một tai họa lớn chứ không bình thường. Minh Thành nhớ hồi mới xuất gia là một chú tiểu hiền lành rất dễ dạy rất dễ thương rụt rè, trong Tăng chi bộ đức Phật nói người Tỳ-kheo mới xuất gia khi mình mới thọ giới giống như cô dầu về nhà chồng è de dụt dè sợ mẹ chồng để ý xấu hổ, sợ cha chồng, sợ anh chị em bà con chồng thậm chí người ở cũng e dè, từng lời nói từng hành động, từng cử chỉ nhưng Tỳ-khoe vào trong giáo pháp ở một thời gian rồi trở thành vô tàm vô quý, không biết xấu hổ, không biết nhục nhã, không có cung kính, không có tôn trọng, Thầy không tôn trọng đồng học, không cẩn thận đối với các bậc đồng phạm hạnh giống như con dâu ở lâu năm xúc phạm ba mẹ chồng, thậm chí xem thường cha mẹ chồng cũng giống như vậy đức Phật nói đó là một điều rất cay đắng rất đau đớn cho nên pháp đức Phật dạy các Tỳ-kheo rất quan trọng là sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận các học pháp và biết hổ thẹn tàm quý, biết sợ, cuối cùng mình tu thời gian mình không còn xấu hổ, không còn sợ, không còn sợ tội lỗi chỗ này rất nguy hiểm.
Trong thời gian nhập thất Minh Thành dùng phương pháp phá ngã là mình có tâm niệm nghĩ về người nào nghĩ xa lìa hay tiêu cực là mình tới lạy người đó, mình ngồi quán tưởng đắp y hậu đàng hoàng lạy, lạy một, lạy hai lạy, lạy mười lạy đó là phương pháp quán chiếu để dập tắt từ từ bản ngã, tại vì khi mình nói chiều này tôi sẽ đi ra ngoài Việt Nam Quốc Tự, mình nói như vậy là có higng bóng của mình trong tâm, có hình bóng mình leo lên xe đi và có hình bóng Việt Nam Quốc Tự, hình bóng đó là sắc tưởng, cái hình bóng mình nói tôi sẽ làm cái gì đó khi mình nói như vậy trong tâm mình hiện ra cái hình bóng lờ mờ, hình bóng đó là hình bóng của mình, cái đó là sắc tưởng còn gọi là ảo tưởng về tự ngã. Ảo tưởng tự ngã và cái tôi, cái hình bóng và mình thực tập phá bỏ, khi hình bóng trong tâm mình hiện ra mình bắt nó phải cuối đầu, không cho nó ngẩng đầu, nó đang quỳ lạy, quỳ lạy hết tất cả mọi người không cho nó ngẩng đầu lên, không cho nó hách dịch bắt nó lạy người ta, sắc tưởng hiện ra mình phải quán tưởng như vậy nếu mình không có đủ phương tiện mình không thể nào cực cựa tới nó, nó giống như cây cổ thụ ngàn năm mình cầm cây cuốc quẹt quẹt cái rễ không thấm thía gì, đây chỉ nói bên ngoài, mình phải quán chiếu như vậy.
Mình làm cho tâm mình trở nên nhu nhuyến mềm mại dễ sử dụng, làm cho mình một người dễ dạy, dễ nghe, dễ nói, dễ bảo Đức Thế Tôn nói Ngài Ca-Diếp nói Pháp cho các Tỳ-kheo, ông hãy khai thị với các Tỳ-kheo, ông hãy giảng dạy cho các Tỳ-kheo mới, Ngài Ca-Diếp bạch đức Thế Tôn các Tỳ-kheo này khó nghe khó bảo kho nghe, khó nói, cứng đầu ngay thời đức Phật khi nghe lúc đó Minh Thành có cảm giác rã rời.
Tại sao mình càng tu lại trở thành một người khó nghe, người khó bảo, tâm hổ thẹn cung kính lại mất, mình nhìn lại mình đang đi về đâu? Có phải mình đang thoái đọa Minh Thành muốn huynh đệ nhìn thẳng thật pháp thực tế vấn đề,
“Này các Tỳ-kheo có năm truyền phược này, có năm sự trói buộc này ở đây từ khi tâm không có ly tham không có ky dục, không ly ái, không ly khao khát không có ly ái nhiễm đối với các dục
Này các Tỳ-kheo tâm nỗ lực hăng hái kiên trì tinh tấn như vậy tâm truyền phượt
sợ hãi trong tương lai”
Lúc đầu đức Phật nói tâm mình không khéo léo sự ngờ vực, không mãnh liệt tinh tấn siêng năng nỗ lực để quyết định xa vời tất cả những cái vô minh phiền não tham ái người đó đang ở trong sự trói buộc chứ không phải trong sự giải thoát và Điều sợ hãi trong tương lai là gì?
“Này các Tỳ-khoe sợ hãi trong tương lai này là vừa đủ để cho Tỳ-kheo sống ở rừng không có phóng vật, nhiệt tâm tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, ở đây Tỳ-kheo sống trong trong rừng hãy quán xét như thế nào.
Này các Tỳ-kheo hãy có những Tỳ-kheo trong tương lai thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập và những vị này nếu họ thọ đại giới cho các người khác, họ sẽ không có dung lượng trong tăng thượng giới tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ, các người ấy sẽ trở thành người không có tu tập, giới không có tu tập, thân không tu tập, tâm không tu tập tuệ. Như vậy này các Tỳ-kheo do đó mà pháp bị ô nhiễm nên luật bị ô nhiễm nhiều lực ô nhiễm nên pháp bị ô nhiễm. Này các Tỳ-khoe đây là sợ hãi thứ nhất về tương lai nên chưa sanh khởi nhưng sanh khởi trong tương lai, các ông phải hoàn toàn gỡ bức chúng sau khi hoàn toàn gỡ bức các ông phải tinh tấn đoạn trừ chúng”.
Hai ngàn sáu trăm năm trước đức Phật đã nói sợ hãi trong tương lai
Này các Tỳ-kheo về sau này sẽ có những người xuất gia thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, những người này sẽ làm thầy truyền giới cho đệ tử và những đệ tử đó thân không tu tập, giới không tu tập tâm không tu tập tuệ không tu tập cũng, họ không thể uốn lượn trong sự tăng thượng giới định huệ, họ không tu tập làm sao họ không uốn lượn giới định huệ, người đó đã trở thành và pháp bị ô nhiễm nên luật bị ô nhiễm, đây là điều sợ hãi thứ nhất trong tương lai
Đức Thế Tôn nói bây giờ nó chưa sanh khởi nhưng nó sẽ sanh khởi các ông phải rõ biết điều này, sau khi sanh khởi rõ biết điều này các ông hãy tinh tấn đoạn trừ.
“Này các Tỳ-kheo nếu như không tu tập như vậy mà họ làm y chỉ sư cho người khác họ không thể uốn lượn cho những người học trò tăng thượng giới... sẽ đi đến pháp ô nhiễm luận ô nhiễm
Này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo ở trong tương lai khi họ phát giảng về thấy pháp hay giảng thuyết tức là luận giải thuộc về luận tạng họ sẽ rơi vào ác pháp, không thuyết lại rõ ràng”
Họ rơi vào ác pháp không giống những lời dạy của Phật chỗ này y cứ vào kinh tạng, mình không y cứ vào luận tạng được trừ những bậc A-la-hán mới giảm đúng con đường của Phật, ít nhất là bậc tu đà hoàng còn chưa dự vào dòng thánh, mình y cứ vào người này thì mình không thành tự,
Các vị Tỳ-kheo này họ sẽ thuyết pháp hay giảng thuyết họ rơi vào hác pháp không thể ngộ rõ ràng
Này các Tỳ-kheo do nhiễm pháp nên sanh ra ô nhiễm luật, ô nhiễm luật nên sanh ra ô nhiễm pháp.
Họ rơi vào trong hác pháp họ giảng không đúng vì họ không tu chứng, thân không tu tập giới không tu tập tuệ không tu tập làm sao họ thấy được, họ không thấy thạm sân si làm soa nhiếp phục được tham sân si, làm sao đạt được thắng trí chánh trí, họ giảng trong sắc thọ tưởng hành thức của họ chính chỗ đó mình học là học theo sắc thọ tưởng hành thức học trong ngũ uẫn.
Minh Thành mong muốn huynh đệ trở về gốc của đức Phật để mình thấy nên hắc pháp đưa mình vào pháp đen tối vào trong một rừng rậm đức Phật gọi là kiến trù lâm, gọi là tâm hoang du kiến trù lâm là tóc như rừng rậm.
“Lại nữa này các Tỳ-kheo những vị Tỳ-kheo không tu tập như vậy, có những kinh tạng do Như Lai cương quyết thâm sâu siêu kín khi ấy họ không có nắm tay họ..
Những lời kinh thâm sâu liên hệ đến không, khi ấy...họ không muốn nghe họ, họ không có lắng tai, họ không trú tâm không có thuộc lòng, những lời kinh thâm sâu liên hệ đến không những giáo lý đức Phật dạy mình giảng thuyết họ không có nghe, họ không muốn nghe muốn hiểu những điều đó, họ không muốn cố gắng trú tâm vào luận giải, họ không có nghĩ rằng những lẽ này cần học thuộc lòng, những kinh điển do các cư sĩ làm những bài thơ,...để thuyết giảng họ sẽ lắng nghe họ sẽ trú tâm họ nghĩ rằng cần phải học tập, cần học thuộc lòng này các Tỳ-kheo đây là pháp ô nhiễm nên luật ô nhiễm”.
Những lời chánh tạng trong kinh Phật nói không ai nghe không ai đọc và bây giờ đức Phật nói những kinh do cư sĩ làm mình thuộc, những bài thơ những câu văn do các đệ tử thuyết họ sẽ lắng nghe họ sẽ lắng tai họ sẽ an trú tâm để hiểu những cái đó họ hiểu những cái đó họ cần học thuộc lòng, trong khi pháp sâu kín nhiệm màu giải thoát liên hệ đến không của đức Phật để qua một bên đây là sự sợ hãi trong tương lai
“Này các Tỳ-kheo có những Tỳ-kheo trong tương lai thân không tu tập giới không tu tập tâm không tu tập tuệ không tu tập cho nên các trưởng lão Tỳ-kheo ấy sẽ sống đầy đủ biếng nhác, ngẩng đầu trong thói đọa, từ bỏ gánh nặng nhiễm ly không có hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ và quần chúng đi theo tà kiến của họ, họ sẽ trở thành người sống đầy đủ biếng nhác dẫn đời trong thói đọa, từ bỏ gánh nặng đó là pháp ô nhiễm nên luật ô nhiễm
Này các Tỳ-kheo năm sự sợ hãi trong tương lai này chưa có sanh khởi nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các ông hãy gỡ bỏ bớt chúng sau các ông hãy cần tinh tấn để đoạn tận những sợ hãi ấy”.
Sống đầy đủ biếng nhác dẫn đầu trong thói đọa, từ bỏ gánh nặng hiểm ly, sống đầy đủ trong biếng nhác, không tu tập, không chịu quán chiếu, không học giáo luật không như lý tác ý, không ngồi thiền cuối cùng chạy ra ngoài đi tìm danh tìm lợi, tìm tài tìm sắc và đứng đầu trong sự thói đọa lùi lại và rơi xuống, đây là thọ đầu để cho mình nghiền ngẫm, thói lui vỡ ra tan tác.
Từ bỏ gáng nặng viễn ly, mình chim nghiệm gáng nặng thiện pháp và gánh nặng viện ly. Tại sao thiện pháp là một gánh nặng?
Ở đời người ta gáng nặng tình tài tiền, mình tu thì gắng nặng thiện pháp, mình muốn được thành thiện pháp, mình muốn thực hành thiện pháp mình phải kham nhẫn, mình phải nỗ lực gắng sức, gánh nặng trên vai mình không được từ bỏ gánh nặng đó, mình phải vững tâm quyết cầu đó là gánh nặng thiện pháp, bát chánh đạo là thiện pháp, tứ chánh đế là thiện pháp, mình không có từ bỏ gánh nặng đó, sâu xa là gánh nặng viễn ly.
Đức Phật nói nặng về dục tham mãnh liệt là không ở trong rừng được, người thích giao du là không ở trong rừng một mình được, người thích dân danh lợi dưỡng không thể ở một mình trong rừng độc cô thiền định được, không phải chuyện dễ, đúng là muốn thành tựu thánh đạo thánh quả muốn thăng tiến trong tâm linh không thể không ở một mình để thực tập, tại mình ở một mình mới đối diện mình mới nhìn biết được sắc thọ tưởng hành thức như thế nào, tối ngày mình dương trần dương cảnh mình phóng túng mình phóng vật, mình không có thấy bản ngã nó như thế nào, tham dục sân hận như thế nào, mình không có ngã mạng nên xấu hổ thập cư thiền định là nhục nhã khi thấy được nội tâm của mình thấy được nhục nhã nên viễn ly là mình bỏ hết, ở một mình sẽ thấy, tại mình thấy được thực pháp thấy được thực tại của tâm mình như thế nào không có hăng hái những gì chưa chứng đạt chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ không thể tinh tấn biết để làm lơ, biết là giãi đãi mình không chịu tinh tấn và đi theo tà kiến của họ, những người đệ tử xuất gia, những người đệ tử cư sĩ đem người này hướng dẫn đi theo họ, đi theo tà kiến, đi theo hiểu biết sai lầm đây là sự sợ hãi trong tương lai mà các Thầy phải hoàn toàn rõ biết, phải tinh tấn để đoạn trừ đoạn tận.
+.
Đặt niệm trước mặt
Cảm giác toàn thân
Nội tâm tỉnh giác
Nhận diện năm uẫn. Cảm giác toàn thân để phát hiện ra chỗ ở tham dục, sân hận, si mê, ngã mạng ta tôi cấn cao tự đắc cho mình là số một, phát hiện ra phải như lý tác ý dẹp nó diện tận nó.
(Văn bản.Diệu Quang)
Tất cả chúng ta thực hành ba pháp, chúng ta nhìn về phía trước, tuyệt đối không nhắm mắt, mở mắt nhìn xuống về phía trước khoảng một phía trước khoảng một mét, mở rộng tầm nhìn của mình ra hai bên hết mức đây gọi là đặc niệm trước mặt, trong kinh Tứ niệm cứ, tiếp theo trở về với hơi thở, hơi thở vào là biết hơi thở vào, hơi thở vào ra mình biết hơi thở ra, hơi thở vào hơi thở ra mình nhận biết rõ, cảm nhận sự chuyển động của hơi thở, hơi thở sẽ động chuyển ngay nơi lồng ngực ngay chóp mũi và bụng, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở, mũi, lồng ngục và bụng, sau đó mở bung cảm giác của hơi thở ra từ cảm giác mình mở bung ra lên tới đỉnh đầu, cảm giác mặt, cảm giác hai vai, hai tay, mông, chân, bàn chân, mở bung cảm giác từ hơi thở ra toàn thân, thở vào thở ra cảm giác toàn thân, cảm giác đỉnh đầu mặt, hai vai, hai tay, mông, chân bàn chân, thở vào thở ra cảm giác toàn thân.
Tâm của mình tỉnh giác chánh niệm đặc niệm trước mắt tức là rõ biết trước mắt kế đó là cảm giác toàn thân thấy được hơi thở.
Nội tâm tỉnh giác, rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân.Thực tập ba cảm giác này, ba pháp này đỉnh ba chân khi mình thực tập quen nó sẽ là cái nền tảng để chúng ta đi vào nhận diện năm uẫn, ba pháp này khi mình thực tập quen đi, đứng, nằm, ngồi mình đều thực tập được chứ không phải đến giờ ngồi thiền, lúc nào nhận biết của mình cũng sáng rõ, tầm nhìn mình mở rộng, lúc nào mình cũng để ý cảm giác toàn thân và nội tâm tĩnh giác tức là mình sẽ phát hiện ta tâm mình lúc đó có cái gì xuất hiện, ba pháp này sẽ quyết định tất cả những pháp tu tập về sau nếu mình không làm được ba pháp này những pháp sau không nhận diện được các uẫn, nhận diện được phiền não vận hành như thế nào nếu mình không thực tập ba pháp này. Cái này nó bao bọc mình hết tức là ở ngoài mình rõ biết trước mặt nên mình không mình trú tâm vào điểm nào nếu mình trú tâm một hồi là mình bị tưởng, khi ngồi thiền cũng vậy cũng mở mắt không nhìn một vật nhất định nào. Mình không bao giờ ngồi thiền hay niệm trú mà nhắm mắt, mình nhắm mắt một chút xíu là lờ mờ sẽ đi vào trạng thái lờ mờ. Tiếp theo nó sẽ đưa mình vào tưởng uẫn, lập tức cái tưởng xuất hiện và cái tưởng đó đưa mình vào vô minh là mình không còn thấy rõ gì cho nên tuyệt đối không nhắm mắt, trừ khi nào mình quán tưởng lúc đó mình mới nhắm nên lúc nào cũng nhớ ba pháp
Rõ biết trước mặt (Đặt niệm trước mặt)
Cảm giác toàn thân
Nột tâm tĩnh giác
Tất cả những gì mà nó tích lũy nó chất chứa nó đều được cất giữ trong cảm giác, ở trong cảm thọ nên cảm thọ thật ra nó là một cái kho để nó chứa dựng những tập khí thói quen, ở trong quá khứ của mình nó sẽ được tích tụ trọng cảm giác cảm thọ nên nếu mình thường nhìn cảm giác toàn thân để nhớ tất cả cái này đều trong tâm kịnh tang Bali Nykaya, trong đó có hơi thở cảm giác toàn thân, khi mình trở về luôn luôn coi lại cảm giác toàn thân, phiền não trú ẩn trong cảm giác trong cảm thọ nên khi xuất hiện lên cảm thọ rúng động, lúc đó mình phát giác nó xuất hiện ví dụ như lúc mình nổi nóng lên lúc đó cảm giác không bình thường đầu tiên nó sẽ ấm ở lồng ngực nếu nhiều nó sẽ nóng lên, quả đại nóng lên có thể tỏa ra trên mặt tỏa ra lỗ tai, mình thường nhìn lên cảm giác toàn thân lúc vừa sanh khởi lên một cách khác lạ lúc đó mình phát hiện ra liền chỗ này rất quan trọng thực tập sẽ thấy, bây giờ cảm thọ nó đổi khác, bây giờ trong thân mình nó có một cảm thọ cảm giác khó chịu nóng bức đây là một cảm giác sân, ví dụ như mình nhìn thấy một đối tượng hay miếng mồi nào đó, lúc đó phát sanh ra tâm ưa thích, ham muốn, khoan khoái thậm chí mãnh liệt khao khát, lúc đó cảm thọ của mình sẽ động chuyển mà thường thường hiện rõ ở lồng ngực, lúc đó tim nó sẽ đập mạnh và sẽ nó sẽ có sự thay đổi ở lồng ngực của mình, cảm giác của mình thay đổi thậm chí mình run lên, có cảm giác bất thiện xuất hiện lúc đó cảm giác tham dục xuất hiện phát hiện liền, như vậy cảm giác toàn thân này giúp cho mình luôn luôn nhìn trở lại để phát hiện ra tự thân và tự tâm của mình nếu mình không chứa trong cảm giác toàn thân không có rõ biết trước mắt không chánh niệm tĩnh giác lúc đó mình sống trong cảm giác của vô minh tức là mình không rõ gì về tự thân tự tâm của mình, luôn luôn cảm giác phóng vật xuất hiện, cảm giác phóng vật là cảm giác buông lung không có hộ trì căn, không có ngừng trở lại năm uẫn thành ra phiền não có chỗ trú ẩn trong cảm giác cảm thọ của mình, khi mình tu tập nếu mình thường nhìn lại nếu mình thấy thường thường nó sanh khởi lên cảm giác sân nóng bức lúc đó mình dùng như lý tác ý, trước phiền não nó sanh ra nội tâm mình nó cũng là một pháp cho nên mình sẽ đối thoại nói chuyện, nói chuyện với nó giống như một người bên ngoài, mình phải dùng mạnh đối với nó, có khi mình dùng nhu cương để sử dụng, mình nói bộ giận sướng lắm hã, ham giận, yêu thích giận lắm phải không, giận mấy chục năm chưa đủ hã, mình nói chuyện với nó tự nhiên nó bị phát giác bắt đầu nó hơi e dè, đầu tiên mình nhìn được cái cảm thọ mình phát hiện ra được cái bộ mặt của nó lúc đó là nó e dè, cũng như một người đang đi không ai nhìn nhưng có người để ý tự nhiên mình đi khựng lại, phiền nãocũng giống y như vậy, cho nên vấn đề mình nhìn lại cảm giác nó quan trọng chỗ đó là mình phát hiện ra phiền não, phát hiện được nó rồi bắt đầu nó sẽ e dè rụt rè sau đó mình dừng Như lý tác ý, mình dùng như lý tác ý để giải quyết từng vấn đề, sân mãnh liệt mình nhẹ để đối đãi, nếu tham dục nó mạnh mình sẽ dùng búa tạ đập cho vỡ đầu nó ra mình mới nói chuyện với nó, mình nói là dục là mũi tên, dục là rắn độc, chính mi là kẽ giết người chính người là ác ma chính người đưa ta vào dòng luân hồi sanh tử khổ đau ràng buộc mà kiếm mấy chục năm nay chưa đủ hay sao, mình dùng những từ mạnh tất cả từ đó trong kinh, mấy từ đó là pháp lệnh của đức Phật trong kinh tạng Nikaya, dục là hố than hừng, dục là rắn độc, dục là mũi tên, dục là kẽ sát nhan, dục làm cho tan nhà nát cửa mất mạng, kẽ giết người ác ma, mình dùng từ mạnh như vậy lúc đó nó dục lắng dịu xuống, tiếp tục mình dùng những từ mạnh nữa ta sẽ không chấp nhận mi, ta bào bỏ mi ta sẽ diệt tân mi, ta sẽ chặt mi giống như cây sa la cây dừa không còn tái sanh nữa, không thể còn sanh khởi được nữa, lúc đó nó sẽ lắng dịu từ từ nếu mình để ý thì thọ trong cơ thể mình ngay chỗ nào nó động chuyển, mình lắng tâm lúc đó nó tan, chẳng hạn nó đang nóng dưới lồng ngực mình hướng tâm tới vào chỗ đó mình nói chuyện, mình dùng Như lý tác ý cái cảm thọ nó sẽ dịu từ từ tan ra nếu nó sanh dục mạnh, nó có sanh dục tưởng mà dục thọ, thọ tức là cảm giác dục sanh khởi lên thân của mình, lúc đó mình hướng tâm ngay dục đó mình dùng như lý tác ý mình nói ta không chấp nhận người ta diệt tận ngươi chính ngươi là thủ phạm đem ta tới dòng tối tăm mờ mịt khổ đau nếu như vậy mình thấy bắt đầu nó lắng dịu và tan ngay chỗ đó, nếu mình thường thực tập cảm giác toàn thân bất cứ chỗ nào mình cũng phát hiện ra.
Si là cảm giác không khổ không vui làm cho mình lờ đờ, ví dụ mình đang học nó xuất hiện cảm thái không lười biếng, không nghỉ học lờ mờ đơ đơ lúc đó cảm giác của si mình phải Như lý tác ý ngủ mấy chục năm rồi chưa đã hay sao còn muốn ngủ cả ngàn năm hay sao đồ ngu si, lúc đó mình nói cho mạnh tự nhiên nó thức dậy tự nhiên cái lờ đờ nó tan mình đặt niệm trước mắt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, lúc đó con ma si tan đây là phương pháp rất đặc biệt trong chánh tạng đức Phật dạy.
Tại sao mình thực tập cảm giác toàn thân?.
Tại vì mình mới phát hiện được phiền não, muốn thấy rõ bộ mặt của phiền não thấy rõ được tham dục vận hành như thế nào, cái sân hận nó vận hành như thế nào cái si mê nó ra làm sao, cái ngã mạng nó tiềm ẩn nó hoạt động như thế nào? mình nhìn nhận lại cảm thọ mình thấy hết, thấy được bộ mặt của nó tên tuổi của nó, tính tình của nó và mình có cách để trị nó.
Chúng ta nhìn lại sự tu học, tu chung chung, hành chung chung, đọc nghe chung chung. Mình thấy mấy vấn đề quan trọng của mình, mình kiểm toán lại thứ nhất tham ái trong lòng mình nó như thế nào có khi không giảm mà càng ngày càng tăng đó là điều hổ thẹn của người xuất gia, tự bản thân mình thấy bao nhiêu năm mình xuất gia mình đã nhiếp được tham dục chưa, sân hận thậm chí bản ngã của mình nếu mình không khéo mình nhìn kỹ chính bản thân Minh Thành, mình thấy rất nhục nhã, rất xấu hổ, khi mình yên một chỗ mình nhìn lại mới thấy cái ngã của mình trá hình mà mình không thấy, trá hình ở Thầy, Sư phụ là bổn phận là trách nhiệm là người lớn, mình không khéo đường tu của mình không tới đâu, thậm chí bị thoái đọa mà mình không hay càng ngày càng lún sâu vào mà mình không biết nếu mình không có phản tỉnh đời tu của mình là một tai họa lớn chứ không bình thường. Minh Thành nhớ hồi mới xuất gia là một chú tiểu hiền lành rất dễ dạy rất dễ thương rụt rè, trong Tăng chi bộ đức Phật nói người Tỳ-kheo mới xuất gia khi mình mới thọ giới giống như cô dầu về nhà chồng è de dụt dè sợ mẹ chồng để ý xấu hổ, sợ cha chồng, sợ anh chị em bà con chồng thậm chí người ở cũng e dè, từng lời nói từng hành động, từng cử chỉ nhưng Tỳ-khoe vào trong giáo pháp ở một thời gian rồi trở thành vô tàm vô quý, không biết xấu hổ, không biết nhục nhã, không có cung kính, không có tôn trọng, Thầy không tôn trọng đồng học, không cẩn thận đối với các bậc đồng phạm hạnh giống như con dâu ở lâu năm xúc phạm ba mẹ chồng, thậm chí xem thường cha mẹ chồng cũng giống như vậy đức Phật nói đó là một điều rất cay đắng rất đau đớn cho nên pháp đức Phật dạy các Tỳ-kheo rất quan trọng là sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận các học pháp và biết hổ thẹn tàm quý, biết sợ, cuối cùng mình tu thời gian mình không còn xấu hổ, không còn sợ, không còn sợ tội lỗi chỗ này rất nguy hiểm.
Trong thời gian nhập thất Minh Thành dùng phương pháp phá ngã là mình có tâm niệm nghĩ về người nào nghĩ xa lìa hay tiêu cực là mình tới lạy người đó, mình ngồi quán tưởng đắp y hậu đàng hoàng lạy, lạy một, lạy hai lạy, lạy mười lạy đó là phương pháp quán chiếu để dập tắt từ từ bản ngã, tại vì khi mình nói chiều này tôi sẽ đi ra ngoài Việt Nam Quốc Tự, mình nói như vậy là có higng bóng của mình trong tâm, có hình bóng mình leo lên xe đi và có hình bóng Việt Nam Quốc Tự, hình bóng đó là sắc tưởng, cái hình bóng mình nói tôi sẽ làm cái gì đó khi mình nói như vậy trong tâm mình hiện ra cái hình bóng lờ mờ, hình bóng đó là hình bóng của mình, cái đó là sắc tưởng còn gọi là ảo tưởng về tự ngã. Ảo tưởng tự ngã và cái tôi, cái hình bóng và mình thực tập phá bỏ, khi hình bóng trong tâm mình hiện ra mình bắt nó phải cuối đầu, không cho nó ngẩng đầu, nó đang quỳ lạy, quỳ lạy hết tất cả mọi người không cho nó ngẩng đầu lên, không cho nó hách dịch bắt nó lạy người ta, sắc tưởng hiện ra mình phải quán tưởng như vậy nếu mình không có đủ phương tiện mình không thể nào cực cựa tới nó, nó giống như cây cổ thụ ngàn năm mình cầm cây cuốc quẹt quẹt cái rễ không thấm thía gì, đây chỉ nói bên ngoài, mình phải quán chiếu như vậy.
Mình làm cho tâm mình trở nên nhu nhuyến mềm mại dễ sử dụng, làm cho mình một người dễ dạy, dễ nghe, dễ nói, dễ bảo Đức Thế Tôn nói Ngài Ca-Diếp nói Pháp cho các Tỳ-kheo, ông hãy khai thị với các Tỳ-kheo, ông hãy giảng dạy cho các Tỳ-kheo mới, Ngài Ca-Diếp bạch đức Thế Tôn các Tỳ-kheo này khó nghe khó bảo kho nghe, khó nói, cứng đầu ngay thời đức Phật khi nghe lúc đó Minh Thành có cảm giác rã rời.
Tại sao mình càng tu lại trở thành một người khó nghe, người khó bảo, tâm hổ thẹn cung kính lại mất, mình nhìn lại mình đang đi về đâu? Có phải mình đang thoái đọa Minh Thành muốn huynh đệ nhìn thẳng thật pháp thực tế vấn đề,
“Này các Tỳ-kheo có năm truyền phược này, có năm sự trói buộc này ở đây từ khi tâm không có ly tham không có ky dục, không ly ái, không ly khao khát không có ly ái nhiễm đối với các dục
Này các Tỳ-kheo tâm nỗ lực hăng hái kiên trì tinh tấn như vậy tâm truyền phượt
sợ hãi trong tương lai”
Lúc đầu đức Phật nói tâm mình không khéo léo sự ngờ vực, không mãnh liệt tinh tấn siêng năng nỗ lực để quyết định xa vời tất cả những cái vô minh phiền não tham ái người đó đang ở trong sự trói buộc chứ không phải trong sự giải thoát và Điều sợ hãi trong tương lai là gì?
“Này các Tỳ-khoe sợ hãi trong tương lai này là vừa đủ để cho Tỳ-kheo sống ở rừng không có phóng vật, nhiệt tâm tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, ở đây Tỳ-kheo sống trong trong rừng hãy quán xét như thế nào.
Này các Tỳ-kheo hãy có những Tỳ-kheo trong tương lai thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập và những vị này nếu họ thọ đại giới cho các người khác, họ sẽ không có dung lượng trong tăng thượng giới tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ, các người ấy sẽ trở thành người không có tu tập, giới không có tu tập, thân không tu tập, tâm không tu tập tuệ. Như vậy này các Tỳ-kheo do đó mà pháp bị ô nhiễm nên luật bị ô nhiễm nhiều lực ô nhiễm nên pháp bị ô nhiễm. Này các Tỳ-khoe đây là sợ hãi thứ nhất về tương lai nên chưa sanh khởi nhưng sanh khởi trong tương lai, các ông phải hoàn toàn gỡ bức chúng sau khi hoàn toàn gỡ bức các ông phải tinh tấn đoạn trừ chúng”.
Hai ngàn sáu trăm năm trước đức Phật đã nói sợ hãi trong tương lai
Này các Tỳ-kheo về sau này sẽ có những người xuất gia thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, những người này sẽ làm thầy truyền giới cho đệ tử và những đệ tử đó thân không tu tập, giới không tu tập tâm không tu tập tuệ không tu tập cũng, họ không thể uốn lượn trong sự tăng thượng giới định huệ, họ không tu tập làm sao họ không uốn lượn giới định huệ, người đó đã trở thành và pháp bị ô nhiễm nên luật bị ô nhiễm, đây là điều sợ hãi thứ nhất trong tương lai
Đức Thế Tôn nói bây giờ nó chưa sanh khởi nhưng nó sẽ sanh khởi các ông phải rõ biết điều này, sau khi sanh khởi rõ biết điều này các ông hãy tinh tấn đoạn trừ.
“Này các Tỳ-kheo nếu như không tu tập như vậy mà họ làm y chỉ sư cho người khác họ không thể uốn lượn cho những người học trò tăng thượng giới... sẽ đi đến pháp ô nhiễm luận ô nhiễm
Này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo ở trong tương lai khi họ phát giảng về thấy pháp hay giảng thuyết tức là luận giải thuộc về luận tạng họ sẽ rơi vào ác pháp, không thuyết lại rõ ràng”
Họ rơi vào ác pháp không giống những lời dạy của Phật chỗ này y cứ vào kinh tạng, mình không y cứ vào luận tạng được trừ những bậc A-la-hán mới giảm đúng con đường của Phật, ít nhất là bậc tu đà hoàng còn chưa dự vào dòng thánh, mình y cứ vào người này thì mình không thành tự,
Các vị Tỳ-kheo này họ sẽ thuyết pháp hay giảng thuyết họ rơi vào hác pháp không thể ngộ rõ ràng
Này các Tỳ-kheo do nhiễm pháp nên sanh ra ô nhiễm luật, ô nhiễm luật nên sanh ra ô nhiễm pháp.
Họ rơi vào trong hác pháp họ giảng không đúng vì họ không tu chứng, thân không tu tập giới không tu tập tuệ không tu tập làm sao họ thấy được, họ không thấy thạm sân si làm soa nhiếp phục được tham sân si, làm sao đạt được thắng trí chánh trí, họ giảng trong sắc thọ tưởng hành thức của họ chính chỗ đó mình học là học theo sắc thọ tưởng hành thức học trong ngũ uẫn.
Minh Thành mong muốn huynh đệ trở về gốc của đức Phật để mình thấy nên hắc pháp đưa mình vào pháp đen tối vào trong một rừng rậm đức Phật gọi là kiến trù lâm, gọi là tâm hoang du kiến trù lâm là tóc như rừng rậm.
“Lại nữa này các Tỳ-kheo những vị Tỳ-kheo không tu tập như vậy, có những kinh tạng do Như Lai cương quyết thâm sâu siêu kín khi ấy họ không có nắm tay họ..
Những lời kinh thâm sâu liên hệ đến không, khi ấy...họ không muốn nghe họ, họ không có lắng tai, họ không trú tâm không có thuộc lòng, những lời kinh thâm sâu liên hệ đến không những giáo lý đức Phật dạy mình giảng thuyết họ không có nghe, họ không muốn nghe muốn hiểu những điều đó, họ không muốn cố gắng trú tâm vào luận giải, họ không có nghĩ rằng những lẽ này cần học thuộc lòng, những kinh điển do các cư sĩ làm những bài thơ,...để thuyết giảng họ sẽ lắng nghe họ sẽ trú tâm họ nghĩ rằng cần phải học tập, cần học thuộc lòng này các Tỳ-kheo đây là pháp ô nhiễm nên luật ô nhiễm”.
Những lời chánh tạng trong kinh Phật nói không ai nghe không ai đọc và bây giờ đức Phật nói những kinh do cư sĩ làm mình thuộc, những bài thơ những câu văn do các đệ tử thuyết họ sẽ lắng nghe họ sẽ lắng tai họ sẽ an trú tâm để hiểu những cái đó họ hiểu những cái đó họ cần học thuộc lòng, trong khi pháp sâu kín nhiệm màu giải thoát liên hệ đến không của đức Phật để qua một bên đây là sự sợ hãi trong tương lai
“Này các Tỳ-kheo có những Tỳ-kheo trong tương lai thân không tu tập giới không tu tập tâm không tu tập tuệ không tu tập cho nên các trưởng lão Tỳ-kheo ấy sẽ sống đầy đủ biếng nhác, ngẩng đầu trong thói đọa, từ bỏ gánh nặng nhiễm ly không có hăng hái tinh tấn để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ và quần chúng đi theo tà kiến của họ, họ sẽ trở thành người sống đầy đủ biếng nhác dẫn đời trong thói đọa, từ bỏ gánh nặng đó là pháp ô nhiễm nên luật ô nhiễm
Này các Tỳ-kheo năm sự sợ hãi trong tương lai này chưa có sanh khởi nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các ông hãy gỡ bỏ bớt chúng sau các ông hãy cần tinh tấn để đoạn tận những sợ hãi ấy”.
Sống đầy đủ biếng nhác dẫn đầu trong thói đọa, từ bỏ gánh nặng hiểm ly, sống đầy đủ trong biếng nhác, không tu tập, không chịu quán chiếu, không học giáo luật không như lý tác ý, không ngồi thiền cuối cùng chạy ra ngoài đi tìm danh tìm lợi, tìm tài tìm sắc và đứng đầu trong sự thói đọa lùi lại và rơi xuống, đây là thọ đầu để cho mình nghiền ngẫm, thói lui vỡ ra tan tác.
Từ bỏ gáng nặng viễn ly, mình chim nghiệm gáng nặng thiện pháp và gánh nặng viện ly. Tại sao thiện pháp là một gánh nặng?
Ở đời người ta gáng nặng tình tài tiền, mình tu thì gắng nặng thiện pháp, mình muốn được thành thiện pháp, mình muốn thực hành thiện pháp mình phải kham nhẫn, mình phải nỗ lực gắng sức, gánh nặng trên vai mình không được từ bỏ gánh nặng đó, mình phải vững tâm quyết cầu đó là gánh nặng thiện pháp, bát chánh đạo là thiện pháp, tứ chánh đế là thiện pháp, mình không có từ bỏ gánh nặng đó, sâu xa là gánh nặng viễn ly.
Đức Phật nói nặng về dục tham mãnh liệt là không ở trong rừng được, người thích giao du là không ở trong rừng một mình được, người thích dân danh lợi dưỡng không thể ở một mình trong rừng độc cô thiền định được, không phải chuyện dễ, đúng là muốn thành tựu thánh đạo thánh quả muốn thăng tiến trong tâm linh không thể không ở một mình để thực tập, tại mình ở một mình mới đối diện mình mới nhìn biết được sắc thọ tưởng hành thức như thế nào, tối ngày mình dương trần dương cảnh mình phóng túng mình phóng vật, mình không có thấy bản ngã nó như thế nào, tham dục sân hận như thế nào, mình không có ngã mạng nên xấu hổ thập cư thiền định là nhục nhã khi thấy được nội tâm của mình thấy được nhục nhã nên viễn ly là mình bỏ hết, ở một mình sẽ thấy, tại mình thấy được thực pháp thấy được thực tại của tâm mình như thế nào không có hăng hái những gì chưa chứng đạt chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ không thể tinh tấn biết để làm lơ, biết là giãi đãi mình không chịu tinh tấn và đi theo tà kiến của họ, những người đệ tử xuất gia, những người đệ tử cư sĩ đem người này hướng dẫn đi theo họ, đi theo tà kiến, đi theo hiểu biết sai lầm đây là sự sợ hãi trong tương lai mà các Thầy phải hoàn toàn rõ biết, phải tinh tấn để đoạn trừ đoạn tận.
+.
Đặt niệm trước mặt
Cảm giác toàn thân
Nội tâm tỉnh giác
Nhận diện năm uẫn. Cảm giác toàn thân để phát hiện ra chỗ ở tham dục, sân hận, si mê, ngã mạng ta tôi cấn cao tự đắc cho mình là số một, phát hiện ra phải như lý tác ý dẹp nó diện tận nó.