Chánh Niệm Tỉnh Giác 2
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI –
CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC 2
THÍCH MINH THÀNH
Con muốn nói pháp thứ 3 là chánh niệm tỉnh giác ở trong 3 pháp, có biết bao nhiêu người hiểu chánh niệm tỉnh giác không đúng, ngay cả con học mấy chục năm nhưng chánh niệm tỉnh giác cũng hiểu không đúng. Người ta cứ hiểu chánh niệm tỉnh giác là “đi biết đi, ăn biết ăn, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm” đây mới là phần đầu. Còn chánh niệm tỉnh giác mà Đức Phật nói là “Chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác”, chữ tỉnh giác Đức Phật định nghĩa là đây. Cho nên mà mình giải thích theo người này, người kia, là mình đi theo người này người kia, chứ không phải theo Phật. Chánh niệm tỉnh giác là “Tỳ kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú và rõ biết khi các thọ chấm dứt”. Cho nên khi mình học nhận diện 5 uẩn, mình phải biết có cảm thọ, cảm giác khó chịu, sợ hãi, hay ham muốn, tức giận khởi lên. Mình đang có 1 cảm thọ dục, đang có 1 cảm thọ sân, cảm thọ này mới vừa sanh, cảm thọ này đang kéo dài, còn đang lưu trú ở đây, hay cảm thọ này đã chấm dứt mình cũng phải biết, biết như vậy mới gọi là tỉnh giác. Điều này này rất thâm sâu, đây là thánh tuệ của Đức Phật, cho nên chữ tỉnh giác của Đức Phật là vậy, rất khủng khiếp. Có 1 cảm giác dục, tham sanh khởi lên mình biết nó sanh khởi, đây là Tứ Niệm Xứ, niệm tâm, niệm pháp. Trong nội tâm dục khởi lên thì mình biết trong nội tâm có dục, có tham, nó đang an trú ở trong tâm mình, nó còn đang ở đây thì mình biết nó lưu trú ở đây, nó đang tồn tại. Khi đó mình cần tác ý để cho nó diệt, chứ không phải để yên, khi diệt hết thì mình biết là các cảm thọ chấm dứt, đó gọi là chánh niệm tỉnh giác, chỗ này rất tuyệt diệu, vi diệu.
Có 1 cảm giác giận khởi lên, mình biết mình đang có cảm thọ sân sanh khởi, hiện tại đang có trong thân tâm của mình, gọi là an trú, lưu trú. Nhưng cảm thọ này chỉ lưu trú, không phải thường trú, rồi mình tác ý đánh đuổi, đánh dẹp, giải phá cảm giác sân đó. Làm cho nó an tịnh lắng dịu bằng sự trải tâm từ, quán chiếu nghiệp quả, giải phá cảm giác sân không còn, hoàn toàn lắng dịu trở lại trạng thái bình thường, đó là cảm thọ chấm dứt, mình biết là cảm thọ chấm dứt gọi là chánh niệm tỉnh giác. Cái này rất hay, là tâm lý học tối thượng đỉnh cao của Tam giới, đây là tâm lý học. Kẻ vô văn phàm phu, làm sao biết thọ là gì, họ không biết, họ nhận cảm giác là mình, làm sao họ biết thọ, làm sao họ biết duyên sanh pháp từ đâu mà có cái thọ. Bài duyên sanh pháp:
Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi nhãn thức, rõ biết các sắc, sự hội tụ của 3 pháp này là nhãn xúc, do duyên có nhãn xúc, nên sanh khởi thọ do nhãn xuất sanh, sắc tưởng, sắc tư. Do duyên có tai và có tiếng sanh khởi nhĩ thức, nghe rõ, rõ biết các âm thanh. Sự hội tụ của 3 pháp này là nhĩ xúc, do duyên có nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.
Bây giờ mình mới thấy được hồi đó đến giờ mình học cái chung chung, không rõ ràng, bây giờ tới kinh Nikāya, thì mới thấy rành rõ từng căn nguyên nguồn cội, từ đâu mà sanh ra cảm thọ? Thậm chí sau khi sanh ra cảm thọ, trong đó có cái gì, Đức phật nói rành rẽ hết. Định lý, quy trình của tâm phá vận hành, không thể có người thứ hai, đây là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chứng ngộ về sự vận hành của tâm thức.
Mình có con mắt thấy người đó liếc, háy, trợn, lúc đó mình có sự rõ biết, người đó đang liếc, háy, trừng trợn mình. 3 pháp này hội tụ nơi con mắt, đối tượng đó, sự rõ biết sanh cảm giác sân khó chịu, sau khi thọ thì tưởng, hành. Tưởng là sắc tưởng, sắc tư, tức là hình bóng của người đó, hình bóng khó chịu đó lưu giữ trong tâm, hay nó lôi những hình bóng lúc trước ra. Sắc tưởng, sắc tư là suy nghĩ về những hình bóng đó, tái hiện những hình bóng đó ngay trong hiện tại và những hình bóng quá khứ nhập chung vào. Bắt đầu cảm giác sanh, tưởng sanh, suy nghĩ sanh, thức xung quanh cái sân, bực bội, dòng tâm thức đó. Khi mình thấy hết tâm thức như vậy là chánh niệm tỉnh giác, có chánh niệm tỉnh giác, tác ý, trừ diệt, đoạn diệt, buông xả, thì mình mới thoát ra được, không có chánh niệm tỉnh giác thì không thoát ra được.
Thí vụ ngay lúc đó, mình niệm 1 câu, uống 1 ly nước lạnh, và nghĩ thôi bỏ đi, bỏ đi, vô thường, thì chỉ nói trên ý hành thôi, nhưng trong lòng thì vẫn nóng. Trong miệng thì nói vậy, ý hành suy nghĩ vậy, nhưng thọ chưa giải tỏa, mà nó tích tụ vào, chính vì vậy, mình niệm niệm cái miệng nói vậy, nhưng sâu bên trong cảm thọ không giải tỏa được, cho nên tích tụ lâu ngày thành cái khối, và tới lúc bùng ra. Sân cũng vậy, tham, dục cũng vậy, ái, bản ngã cũng vậy.
Còn chánh niệm tỉnh giác biết rõ ngọn ngành, biết cái nguy hại, cái này ác độc, để trong đấy cháy nhà, lấy nước dập liền, diệt liền, diệt tận, không cho sanh khởi lại trong tương lai, như vậy thì không còn cái gì mà lưu trú nổi. Đối với 1 chánh kiến, sức mạnh tinh tấn, chánh tư duy, chánh niệm, chánh quán như vậy, thì làm sao những thứ này có thể ăn sâu bám rễ, phát triển quảng đại, lớn mạnh, bành trướng, xâm chiếm thân tâm của 1 người đang thực tập trên con đường này. Đó mới gọi là pháp đưa về phía trước, tại vị này nhìn thấy được ngọn ngành căn nguyên, gốc rễ của tất cả những thứ trong ngoài các pháp vận hành trong tâm thức của người này, không có cái gì qua được con mắt trí huệ của người này hết, cho nên gọi là bậc Minh nhãn, Minh kiến, là muốn được như vậy phải học những cái này “Duyên sanh pháp, ngũ uẩn, các cảm thọ”.
Tại sao phải học bài? Tại sao phải ngồi thiền? Tại sao phải Như lý tác ý? Đó là để cho mình thành tựu, thấy đầy đủ được ngọn ngành, căn nguyên, thấy được trọn vẹn. Thấy chính mình, thấy trọn vẹn các cảm thọ, thấy sự vận hành của các tưởng. “Rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt”, bài này đã giải tới giải lui lần thứ 3, 4 rồi. Rõ biết khi các tưởng khởi lên, hình bóng khởi lên, những hình bóng về tham dục, hay là ái, khởi lên trong tâm. “Rõ biết khi các tưởng an trú”, khởi lên còn trong tâm chứ không đi qua. Thí dụ mình nghĩ về chuyện bình thường, xong nó đi qua, nhưng những cái đặc biệt, nghĩ xong nó không qua liền mà rồi nó ở lại, lưu trú, thì mình phải biết có 1 hình bóng đang ám ảnh, lưu trú bên trong, đó là chánh niệm tỉnh giác. Mà hình bóng này khi nó chấm dứt mình phải biết, mình phải dùng mọi cách để làm cho nó chấm dứt, giải phá, giải tỏa, giải thoát hình bóng này, không cho hình bóng này ám ảnh mình, nó ám ảnh trong khi ngồi thiền, ám ảnh trong giấc ngủ, ám ảnh trong suy nghĩ, mình phải dùng tất cả mọi cách, giải phá.
Thí dụ khi hiện hình bóng của người đẹp trong tâm mình, thì dùng cái đầu lâu, cái đầu sọ, dòi để phá, đó là dùng tưởng diệt tưởng. Dùng hình bóng này diệt hình bóng kia, đó mới có các pháp quán. Nếu không dùng tưởng làm sao hình bóng đó tan được. Hiện ra cái đầu lâu, cái đầu sọ, giống như hình mà mình quán chiếu mỗi buổi tối, vạch lấy hàm răng vạch ra, ngay lập tức mình phải giải phẩu liền, trong trí huệ mình giải phẩu liền hình ảnh đó ra, hay dòi đổ trong 2 khóe mắt, ăn đầy miệng, bò đầy mặt hết. Như vậy, mình mới đi tới chổ bứng luôn gốc rễ hình bóng đó, cảm giác đó, nếu không thì mình không thể làm nổi. Nếu không có trí huệ Chánh Đẳng Chánh Giác, thì hình bóng này giống như ma đi theo mình trăm đời, ngàn kiếp. Hình bóng dục, ái, sân, hận, thù oán này ám ảnh mình, dù mình có đi vào hang động, xuống biển, lên hư không, trời tây, những hình bóng này sẽ đi theo mình. Người ta mới nói “Làm sao giết được người trong mộng” đó là tưởng. Phải phá cái tưởng đó bằng 9 giai đoạn 1 tử thi, bằng mặt dòi, bằng đầu lâu, đầu sọ, bằng cái đóng bầy nhầy gan ruột. Cho nên những pháp quán đó là báu vật, bửu bối, bùa phép, gia tài của người tu, mình cất giữ những hình bóng đó 1 cách đầy đủ, sâu sắc, trọn vẹn, móc hình bóng, đánh nó đi, những cái pháp mình đáng thực hành là bảo bối.
Nếu bây giờ không có gì trong tâm thì lấy gì chống, sao chống lại với dục, ái, tham, sao chống nổi với sân hận, bản ngã, làm sao chống nổi với vô mình, thường tình trong suy nghĩ phàm phu của mình, nó quật mình. Mình phải sử dụng thánh vũ khí, pháp khí, chính là những pháp quán, Như lý tác ý, quán thâm sâu, đó là “như lai thần chưởng”, đem ra, quăng ra. Nếu không những hình ảnh này đi theo mình suốt đời, không ra khỏi, cứ ngồi thiền là thấy, nằm chiêm bao cũng thấy, lâu lâu suy tưởng và nhớ mà đi ra không được, Đức Phật gọi là bị sắc ám ảnh, tưởng ám ảnh, phàm phu bị hành ám ảnh, bị thức ám ảnh. Đó là những hình bóng trong, có nhiều hình ảnh lướt qua, lướt qua, có những hình ảnh không qua được, vẫn ở đó, đau khổ ở đó, yêu thích, ái luyến ở đó, ràng buộc trói trăn ở đó, đó là những tù ngục vô hình, phải giải phá, quăng 1 trái lựu đạn cho nổ banh, bằng những pháp quán. Cho nên Như lý tác ý học trong bài kinh Đức Phật nói các Tỳ kheo phải Như lý tác ý như thế này, Như lý tác ý hay lắm, tuyệt lắm, phải Như lý tác ý liên tục. Cho nên rõ biết các tưởng khởi lên những hình bóng trong tâm, nó đang sanh khởi, mới sanh khởi, vừa sanh khởi, đó gọi là chánh niệm tỉnh giác. Khi nó an trú hình bóng ở trong tâm không chịu rời đi, mình dùng Như lý tác ý, dùng pháp quán, mắng, chửi, đánh đập đủ hết.
“Rõ biết khi các tưởng chấm dứt” đó gọi là chánh niệm tỉnh giác. Người tu tinh tấn, không lúc nào rảnh, nếu sanh khởi thì đánh nó, ví dụ như trong hồ nước, có lá rớt vào, thì mình lượm ra, lượm liền quăng ra, thì mới sạch. Còn nếu rớt xuống mà mặc kệ, kệ, thì lâu ngày sẽ thối lên, giống như tâm của mình. Các loại hoặc, các thứ sanh khởi lưu trú, đâu phải là cái cũ, mà còn những cái mới nữa. Nếu mình ngồi lại, mà hàng tồn kho mình xử lý đã mệt, bây giờ mình không xử lý hàng tồn kho, hoặc xử lý hàng tồn kho mà tiếp thu hàng mới nhập nữa, giống như chạy lên coi cái này, cái kia, ngó cái này, dòm cái kia, khi ngồi thiền, lại nhớ nữa. Dẹp cái cũ chưa xong, đem cái mới vào, sáng ra gặp cái này, trưa gặp cái nọ, chiều gặp, gặp thường xuyên những thứ như vậy, rồi nhắn tin, điện thoại, nói chuyện, xem hình, tiếp xúc đủ hết, thì làm sao chúng ta dọn cái kho mình cho trống. Trong khi bùa phép, vũ khí, pháp khí mình không có đủ, yếu ớt, sức khỏe không có, bệnh hoạn, đối với Chánh pháp mình là kẻ bệnh hoạn, yếu xìu, đi chưa vững, mà mình tiếp xúc những thứ xấu, làm cho lòng dục, lòng tham, lòng ái bản ngã sanh khởi, những thứ khả lạc, khả ý, khả ái liên quan đến dục hấp dẫn thì làm sao, mình tu đến triệu A-tăng-kỳ kiếp cũng vậy.
Khi mình học mình thấy Đức Phật tối diệu lắm, chặn hết 4 phương 8 hướng, 10 phương chặn hết bên ngoài, còn bên trong dùng gươm, dao, mác xỉa, bằm bát mặt Bát Chánh đánh thẳng vào vô minh và tham ái, những pháp quán đều như vậy. Chánh niệm tỉnh giác là phá vô minh, nhìn được sắc, thọ, tưởng, hành, thức ra sao, mình quán pháp đã nói là phá tham ái. Phá được vô minh, thì minh sanh, trí huệ không còn bị trói buộc che đậy đó là tuệ giải thoát. Giống như trí huệ mình từ trước đến giờ bị trùm lên, 100 lớp trùm lên, đen thui, không thấy mặt trời, bây giờ mình phá vô minh, gỡ hết 100 lớp này ra, thì ánh sáng mới chiếu vào được. Lúc đó tuệ mới được giải thoát hết cái vô minh bao phủ, gọi là tuệ giải thoát. Tâm cũng giống như vậy, tâm bị tham dục, tham ái, những ham muốn quấn chặt, xiết chặt, cột chặt từ trước đến giờ, bây giờ mình tu những pháp này, để cắt hết những sợi dây này ra, gọi là tâm giải thoát. Tâm không bị dục trói nữa, không còn bị tham buộc, không còn bị ái xiềng xích nữa, bây giờ nó bung ra gọi là tâm giải thoát bậc A-la-hán. Lúc đó thật sự tâm là tâm, tuệ thật sự là trí tuệ, hiện tại bây giờ tâm, tuệ bị tham ái trói cột, vô minh che đậy hết, trong bài kinh Dây Thằn Đức Phật đã nói như vậy. Mình không ý thức được mình đang bị che đậy, trói cột. Mà ta ngồi nhìn chim hót, mây bay, trúc lay, trăng sáng, nhưng tuyệt vời là Niết-bàn, cực lạc ở đây, những cái đó chỉ là ái. Đó là những thứ vô thường, trăng tròn rồi lại khuyết, chim hót rồi không hót nữa, mây không muốn bay nữa, hôm nay săn mây mà không thấy mây. Vì vậy, sự hạnh phúc đó là tìm cầu bên hướng ngoại, bên ngoài, thứ vô thường không thấy được bản chất của sắc uẩn, cho nên sự tu hết sức là thâm sâu.
“Rõ biết khi các tầm khởi lên, rỗ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt”, tầm là sự hướng tâm, tâm mình đang ngồi đây, mà nó hướng về cái gường ngủ, mình nghĩ trưa nay ngủ không được, sau khi nghe pháp xong, mình vào nằm cho thẳng lưng, cho khỏe, đó là tầm, là tâm suy tầm, hướng về cái đó. Như vậy “rõ biết khi các tầm khởi lên”, mình phải rõ biết tâm mình hướng về phía nào, rõ biết tâm hướng về dục, tham, ái, sân, si, hay tâm hướng về tu tập, hướng về xuất ly, thoát ly, viễn ly, đang hướng về cái gì, mình phải thấy rõ được chiều hướng của tâm, lúc đó gọi là tầm. Sanh khởi lên mình phải biết, an trú trong chiều hướng đó mình phải biết, và khi chấm dứt mình phải biết, vậy gọi là chánh niệm tỉnh giác. Khi đang ngồi thiền, phải thấy được các tầm khởi lên. Thí dụ buồn ngủ, hôn trầm xuất hiện, nếu như mình không có tầm, thì không thể quật ngã buồn ngủ được, mình đi theo nó, không thể chống lại được. Chú Sĩ nói “Khi buồn ngủ, hôn trầm, con chửi buồn ngủ suốt trong khi thiền” thì hôn trầm không còn nữa, tác ý liên tục. Còn nếu khởi lên buồn ngủ quá, mình nghĩ thôi kệ nó, là đi luôn, mình không có chiến đấu. Dục khởi lên cũng như vậy, nếu mình đi theo.
Tại sao người đó lại sanh khởi nhiều về sân và bản ngã? Do chiều hướng tâm người đó, nghiêng về những thứ đó nhiều, người này không thấy, không bẻ lái. Chỗ này rất quan trọng, người tài xế lái xe, quyết định sẽ quẹo phải hay quẹo trái, thì sự hướng tâm giống như mình quẹo theo hướng nào, mình phải thấy tâm đang qua chiều hướng nào, điều chỉnh chiều hướng tâm vào thiện, pháp, mà không đi theo chiều hướng bất thiện, pháp. Vì vậy cái tầm này rất sâu sắc. Nhưng nói đơn giản, dễ hiểu suy nghĩ, hành cũng vẫn được, chiều hướng suy tầm tìm kiếm, hướng tâm, giống như “tầm cầu xuất ly” là tâm cứ hướng vào con đường để thoát ra, tâm vẫn giữ theo hướng thoát ra, đó là thiện pháp. Còn tâm tầm cầu dục, thì tâm cứ suy nghĩ theo chiều hướng dục và đi theo hoài hoài.
Thí dụ mới đây tại Sài Gòn vừa xảy ra 1 vụ án hết sức là đau lòng, 1 cậu có mặt mày đẹp, mới hơn 20 tuổi, ngoài đời gọi là “hot boy”, vậy mà nửa đêm đi xàm sở và có hành vi chuẩn bị hãm hiếp 1 cô bị thần kinh, khùng, đã hơn 40 tuổi, lớn tuổi hơn gấp đôi cậu này, có 1 anh quay phim được và la lên, thì cậu này mới bỏ đi, bây giờ công an đang xử cậu ấy. Người cô này dơ dáy, bẩn thỉu do điên khùng, thần kinh nằm ngoài đường, mà cậu thanh niên là người đẹp đẽ, trắng trẻo, mà nhỏ tuổi hơn cô. Đó là dục tầm, suy tầm, đi kiếm tìm theo chiều hướng đó, cho nên nửa đêm dục dẫn đi kiếm. Mình thấy sự nguy hại của dục rất khủng khiếp, tàn phá hết cuộc đời, tương lai cũng như hết, còn gì nữa đâu.
Biết bao nhiêu chuyện trên thế gian này hết sức đau lòng, mà dục tàn phá. Tất cả đều là nạn nhân của dục, sân, si, vô minh, bản ngã, khi quán chiếu những thứ này, mình thấy sợ lắm, thật sự run sợ. Hàng ngày những tin tức, báo chí đưa tin đâm người, chém người, giết người, hãm hại, hiếp dâm, chôn sống, phân xác, thật sự rùng rợn, khủng khiếp, kinh hãi. Cho nên 10 ác nghiệp mà Đức Phật nói là từ đâu? Duyên sanh là từ đâu? Tham, sân và si sanh ra 10 ác nghiệp, làm cho thế giới này đi vào trong bóng đêm, sụp đổ hết tất cả nền tảng của đạo đức, luân lý, lễ giáo, đổ nát hết tất cả những chuẩn mực, nền nếp. Những đứa con nít mới có 1 tuổi thôi, 2 – 3 tuổi bị xâm hại tình dục, mà không phải người nhỏ tuổi phạm tội mà là ông già 70 – 80 tuổi, đúng là khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi, tất cả những cái đó là dục tầm.
Chúng ta học qua phần ác nghiệp tiếp theo, cảm thấy sợ lắm, kinh hãi lắm, khủng khiếp lắm. Do đó thường ngày mình phải quán chiếu tai họa, nguy hiểm của dục, tham, ái, sân hận, bản ngã, ngày nào mình cũng phải quán để mình hoảng sợ, kinh sợ, mỗi khi ác nghiệp sanh khởi trong tâm, cái người bên ngoài sanh khởi lên, mình thấy sợ và mình thấy thương xót. Tất cả đều là nạn nhân của thứ đó, nó thống trị hết hành tinh này, tất cả các pháp lấy dục làm căn bản, lấy tác ý làm sanh khởi, phải tác ý để lìa xa dục, lấy thọ làm chổ hội tụ, lấy định làm thượng thủ, lấy tuệ làm tối thượng, giải thoát làm lõi cây, phải tập tác ý, tác ý thật nhiều. Giống như khi nói: “mình ngồi trong trạng thái không khổ, không lạc”, phải tác ý mạnh, “Mình bỏ cha, bỏ mẹ lên thiền đường làm cái gì? Cha mẹ mình ở nhà làm gì?” Mình phải tác ý đủ thứ phương diện hết, chứ không phải có 1 câu, tác ý về cái bi, tác ý về hùng lực, tác ý về sự khiếp sợ của địa ngục, ngạ quỷ súc sanh, tác ý nhiều khía cạnh, càng nhiều, càng sung mãn thì càng đi mau về chánh giác.
Trong Trung Bộ Kinh, khi còn là Bồ tát, Đức Phật đã nói, Ngài thấy được vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly, nhưng mà Ngài không có thành tựu chánh giác, Ngài mới tìm tới, tìm lui, Ngài thiền quán, tri nguyên tại sao vậy? Ngài quán quán quán từ từ, Ngài mới thấy phải quán nguy hại này cực kỳ sung mãn, khi quán nguy hại của dục đến cực kỳ sung mãn, khi ấy Ngài xuất ly, viên mãn thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên quán nguy hại của dục, tham, sân, bản ngã rất quan trọng, quán nguy hại xã hội bên ngoài, quán nguy hại bên trong tâm, quán nguy hại những đối tượng mà mình tiếp xúc trải tâm từ. Cứ chửi cái dục suốt ngày, không sao hết, chửi cái bản ngã, sân, làm biếng, “Mày hèn hạ, mày biết nhục không? Tồi bại” chửi càng mạnh, càng nhiệt tình, càng mạnh thì càng tăng lên hùng lực sức mạnh.
Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, không tác ý làm sao mà sanh khởi, mà cứ ngồi trơ trơ, đến hết giò chờ chuông gõ cái boong, thở cái khì, rồi khỏe, rồi ra là xong, phải tác ý. Khi vào ngồi mà buồn ngủ, là tác ý liền, mệt mỏi, uể oải là tác ý liền; vào đây ngồi mà cái sân khởi hay cái bản ngã khởi là phải tác ý liền, liên tục, tới tấp, tới tấp.
Cũng như con nhập thất trên rừng cũng vậy, lúc đó con quán bộ xương, để bộ xương trước mặt 2-3 giờ đêm. Con quán cả chục lần 1 ngày, trong 7-8 ngày, thì hôm đó nước mắt tràn ra, người rung lên, khóc tức tưởi giống như ai đánh, la hét lên luôn, lúc đó khoảng 3 giờ khuya và cũng may có 1 mình, nên không ai nghe. Có 1 đêm, khi con nhìn vào 2 cái tròng con ngươi tô đen, nhìn vào thấy lạnh rợn người hết, sau đó con không nhìn vào nơi đó nữa. Thành ra tác ý của mình rất quan trọng, nhưng mình phải biết cách làm như thế nào, nếu không thì do thọ, tưởng, hành vận hành mạnh quá, rất nguy hiểm. Người có tinh thần yếu, hoặc những người có bệnh, lên tăng xông, bệnh tim, giống như Sư cô lần trước tác ý mạnh quá, bị ngã vật ra luôn, những may mà không sao. Cho nên sức khỏe của mình rất quan trọng, người ta cũng sợ tu thiền điên lắm, nhưng thực sự Ngũ uẩn rõ ràng lắm, không thể nào bị điên hết, nhưng mình phải nắm vững thì rất hay. Cho nên Con mới nhắc 2 người ngồi thiền, các tác ý này tuyệt diệu lắm, nhưng phải nhớ khi tác ý, phải làm chủ, minh mẫn, sáng suốt, không chìm ngập trong cái tưởng, phải có sự mở mắt, nếu như khép mắt lại, thì phải tỉnh táo, sáng suốt, thì tác ý sẽ gội rửa, tẩy, giống như thuốc tẩy.
Con thưa đại chúng là có khi con ít ra ngoài, do con đang tẩy trong thất, cái “đô tẩy” của con rất mạnh, nên ít dám cho đại chúng nghe. Lần trước con đã cho nghe thử 1 lần về cái ngã, nhiều người sẽ không chịu nổi, do “đô tẩy” mạnh. Suốt 2 tháng trời của con, 1 ngày nghe chửi bình quân 8 tiếng, mà nghe chửi nhức nhói. Tác ý nghe chửi vào yếu huyệt, yếu điểm, giống như gãi đúng chổ ngứa hay chích thuốc đúng chổ, tác ý mãnh liệt vào những chổ đó, thì mình mới chặt được những gai góc, còn không thì không được, nó trơ trơ thôi, 10 năm, 20, 30 năm gặp lại cũng y nguyên, không khác gì hết.
Mình muốn 1 cuộc cách mạng vĩ đại, muốn đổi đời, muốn thay đổi vận mệnh, thì phải tu nhiệt quyết, quyết liệt, khổ luyện. Do con nghe chửi quen rồi, nên khi nghe chửi, Con đỡ hơn trước lắm, chửi dữ dằn lắm, mà từ thường của con rất nặng, những từ đó mới sanh cảm thọ được, phải sanh cảm thọ, mới làm cho mình cảm thấy xấu hổ, nhục nhã, hèn hạ. Trong khi mình là người tu, mình còn có những bản ngã, dục ái, sân hận như vậy, cho nên phải tác ý quyết liệt, tới tấp, tới tấp, dập nó, như vậy mới thay đổi, đổi đời được. Còn nếu tác ý sơ sơ, nhẹ nhẹ, gãi gãi, vuốt vuốt “Ngoan nhe, đừng quậy nhe con, cho cục kẹo nè” thì không được. Con bình quân tác ý 1 ngày cao điểm khoảng 8-10 tiếng, có khi giật mình nửa đêm thức dậy thì tiếp tục tác ý, cho nên con tu trong thất không có giờ giấc. Nên khi con thấy có người chỉ tác ý 1 ngày mà mệt rồi, lạnh quá trời, bệnh ho sổ mũi. Nhưng con thì vào pháp, tu thì quên, tuy vậy vẫn chưa được như ý mình muốn, cũng khả quan, nhưng theo ý mình muốn thì chưa tới, phải thêm thời gian nữa, cũng may thất có cửa kiếng bao bọc lại, còn nếu không mở máy nghe chửi ra là chạy hết. Một ngày bình quân Con phải nghe mấy tiếng, 1 ngày đi kinh hành khoảng 2-3 tiếng, đến khi đi không được nữa, do đau quá đi không được thì Con mới dừng lại. Chửi mình xối xả, tơi tả, tới tấp, tan tành, chửi vỡ đầu ra, cho vỡ cái vô minh, dục tham ái, xấu hổ nhục nhã, tồi bại không, “Tại sao tu còn có những tâm niệm, có những cảm giác như vậy”, lúc nào mình phải chú ý vào sự nhục nhã, lúc nào mình, khi nào mình cũng có những cảm giác hèn hạ, khi còn những thứ xấu này, chúng ta phải khổ luyện.
Cho nên con thấy đại chúng tu ở ngoài, thì con rất thích, tinh tấn, có khi con làm biếng, chạy ra tu chung với đại chúng cũng có, luật của đại chúng nương qua lại với nhau, Con vẫn nương đại chúng, nhưng có lúc vẫn có làm biếng, thành ra phải nương đại chúng, thù thắng lắm. Con hỏi thiệt Chú Dũng, khi tu ở nhà có tu được thời khóa giống như ở đây không? 1 ngày cũng hơi khó, nói chi đến 2-3 tháng, ngay cả mấy vị xuất gia ở dưới thất, cũng chưa chắc, có khi mình thích cái gì, mình cứ làm cái đó hoài, nhiều khi giờ ngồi thiền, mà mình nghe pháp, thành ra rất là thù thắng
./.
CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC 2
THÍCH MINH THÀNH
Con muốn nói pháp thứ 3 là chánh niệm tỉnh giác ở trong 3 pháp, có biết bao nhiêu người hiểu chánh niệm tỉnh giác không đúng, ngay cả con học mấy chục năm nhưng chánh niệm tỉnh giác cũng hiểu không đúng. Người ta cứ hiểu chánh niệm tỉnh giác là “đi biết đi, ăn biết ăn, ngồi biết ngồi, nằm biết nằm” đây mới là phần đầu. Còn chánh niệm tỉnh giác mà Đức Phật nói là “Chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác”, chữ tỉnh giác Đức Phật định nghĩa là đây. Cho nên mà mình giải thích theo người này, người kia, là mình đi theo người này người kia, chứ không phải theo Phật. Chánh niệm tỉnh giác là “Tỳ kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú và rõ biết khi các thọ chấm dứt”. Cho nên khi mình học nhận diện 5 uẩn, mình phải biết có cảm thọ, cảm giác khó chịu, sợ hãi, hay ham muốn, tức giận khởi lên. Mình đang có 1 cảm thọ dục, đang có 1 cảm thọ sân, cảm thọ này mới vừa sanh, cảm thọ này đang kéo dài, còn đang lưu trú ở đây, hay cảm thọ này đã chấm dứt mình cũng phải biết, biết như vậy mới gọi là tỉnh giác. Điều này này rất thâm sâu, đây là thánh tuệ của Đức Phật, cho nên chữ tỉnh giác của Đức Phật là vậy, rất khủng khiếp. Có 1 cảm giác dục, tham sanh khởi lên mình biết nó sanh khởi, đây là Tứ Niệm Xứ, niệm tâm, niệm pháp. Trong nội tâm dục khởi lên thì mình biết trong nội tâm có dục, có tham, nó đang an trú ở trong tâm mình, nó còn đang ở đây thì mình biết nó lưu trú ở đây, nó đang tồn tại. Khi đó mình cần tác ý để cho nó diệt, chứ không phải để yên, khi diệt hết thì mình biết là các cảm thọ chấm dứt, đó gọi là chánh niệm tỉnh giác, chỗ này rất tuyệt diệu, vi diệu.
Có 1 cảm giác giận khởi lên, mình biết mình đang có cảm thọ sân sanh khởi, hiện tại đang có trong thân tâm của mình, gọi là an trú, lưu trú. Nhưng cảm thọ này chỉ lưu trú, không phải thường trú, rồi mình tác ý đánh đuổi, đánh dẹp, giải phá cảm giác sân đó. Làm cho nó an tịnh lắng dịu bằng sự trải tâm từ, quán chiếu nghiệp quả, giải phá cảm giác sân không còn, hoàn toàn lắng dịu trở lại trạng thái bình thường, đó là cảm thọ chấm dứt, mình biết là cảm thọ chấm dứt gọi là chánh niệm tỉnh giác. Cái này rất hay, là tâm lý học tối thượng đỉnh cao của Tam giới, đây là tâm lý học. Kẻ vô văn phàm phu, làm sao biết thọ là gì, họ không biết, họ nhận cảm giác là mình, làm sao họ biết thọ, làm sao họ biết duyên sanh pháp từ đâu mà có cái thọ. Bài duyên sanh pháp:
Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi nhãn thức, rõ biết các sắc, sự hội tụ của 3 pháp này là nhãn xúc, do duyên có nhãn xúc, nên sanh khởi thọ do nhãn xuất sanh, sắc tưởng, sắc tư. Do duyên có tai và có tiếng sanh khởi nhĩ thức, nghe rõ, rõ biết các âm thanh. Sự hội tụ của 3 pháp này là nhĩ xúc, do duyên có nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.
Bây giờ mình mới thấy được hồi đó đến giờ mình học cái chung chung, không rõ ràng, bây giờ tới kinh Nikāya, thì mới thấy rành rõ từng căn nguyên nguồn cội, từ đâu mà sanh ra cảm thọ? Thậm chí sau khi sanh ra cảm thọ, trong đó có cái gì, Đức phật nói rành rẽ hết. Định lý, quy trình của tâm phá vận hành, không thể có người thứ hai, đây là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chứng ngộ về sự vận hành của tâm thức.
Mình có con mắt thấy người đó liếc, háy, trợn, lúc đó mình có sự rõ biết, người đó đang liếc, háy, trừng trợn mình. 3 pháp này hội tụ nơi con mắt, đối tượng đó, sự rõ biết sanh cảm giác sân khó chịu, sau khi thọ thì tưởng, hành. Tưởng là sắc tưởng, sắc tư, tức là hình bóng của người đó, hình bóng khó chịu đó lưu giữ trong tâm, hay nó lôi những hình bóng lúc trước ra. Sắc tưởng, sắc tư là suy nghĩ về những hình bóng đó, tái hiện những hình bóng đó ngay trong hiện tại và những hình bóng quá khứ nhập chung vào. Bắt đầu cảm giác sanh, tưởng sanh, suy nghĩ sanh, thức xung quanh cái sân, bực bội, dòng tâm thức đó. Khi mình thấy hết tâm thức như vậy là chánh niệm tỉnh giác, có chánh niệm tỉnh giác, tác ý, trừ diệt, đoạn diệt, buông xả, thì mình mới thoát ra được, không có chánh niệm tỉnh giác thì không thoát ra được.
Thí vụ ngay lúc đó, mình niệm 1 câu, uống 1 ly nước lạnh, và nghĩ thôi bỏ đi, bỏ đi, vô thường, thì chỉ nói trên ý hành thôi, nhưng trong lòng thì vẫn nóng. Trong miệng thì nói vậy, ý hành suy nghĩ vậy, nhưng thọ chưa giải tỏa, mà nó tích tụ vào, chính vì vậy, mình niệm niệm cái miệng nói vậy, nhưng sâu bên trong cảm thọ không giải tỏa được, cho nên tích tụ lâu ngày thành cái khối, và tới lúc bùng ra. Sân cũng vậy, tham, dục cũng vậy, ái, bản ngã cũng vậy.
Còn chánh niệm tỉnh giác biết rõ ngọn ngành, biết cái nguy hại, cái này ác độc, để trong đấy cháy nhà, lấy nước dập liền, diệt liền, diệt tận, không cho sanh khởi lại trong tương lai, như vậy thì không còn cái gì mà lưu trú nổi. Đối với 1 chánh kiến, sức mạnh tinh tấn, chánh tư duy, chánh niệm, chánh quán như vậy, thì làm sao những thứ này có thể ăn sâu bám rễ, phát triển quảng đại, lớn mạnh, bành trướng, xâm chiếm thân tâm của 1 người đang thực tập trên con đường này. Đó mới gọi là pháp đưa về phía trước, tại vị này nhìn thấy được ngọn ngành căn nguyên, gốc rễ của tất cả những thứ trong ngoài các pháp vận hành trong tâm thức của người này, không có cái gì qua được con mắt trí huệ của người này hết, cho nên gọi là bậc Minh nhãn, Minh kiến, là muốn được như vậy phải học những cái này “Duyên sanh pháp, ngũ uẩn, các cảm thọ”.
Tại sao phải học bài? Tại sao phải ngồi thiền? Tại sao phải Như lý tác ý? Đó là để cho mình thành tựu, thấy đầy đủ được ngọn ngành, căn nguyên, thấy được trọn vẹn. Thấy chính mình, thấy trọn vẹn các cảm thọ, thấy sự vận hành của các tưởng. “Rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt”, bài này đã giải tới giải lui lần thứ 3, 4 rồi. Rõ biết khi các tưởng khởi lên, hình bóng khởi lên, những hình bóng về tham dục, hay là ái, khởi lên trong tâm. “Rõ biết khi các tưởng an trú”, khởi lên còn trong tâm chứ không đi qua. Thí dụ mình nghĩ về chuyện bình thường, xong nó đi qua, nhưng những cái đặc biệt, nghĩ xong nó không qua liền mà rồi nó ở lại, lưu trú, thì mình phải biết có 1 hình bóng đang ám ảnh, lưu trú bên trong, đó là chánh niệm tỉnh giác. Mà hình bóng này khi nó chấm dứt mình phải biết, mình phải dùng mọi cách để làm cho nó chấm dứt, giải phá, giải tỏa, giải thoát hình bóng này, không cho hình bóng này ám ảnh mình, nó ám ảnh trong khi ngồi thiền, ám ảnh trong giấc ngủ, ám ảnh trong suy nghĩ, mình phải dùng tất cả mọi cách, giải phá.
Thí dụ khi hiện hình bóng của người đẹp trong tâm mình, thì dùng cái đầu lâu, cái đầu sọ, dòi để phá, đó là dùng tưởng diệt tưởng. Dùng hình bóng này diệt hình bóng kia, đó mới có các pháp quán. Nếu không dùng tưởng làm sao hình bóng đó tan được. Hiện ra cái đầu lâu, cái đầu sọ, giống như hình mà mình quán chiếu mỗi buổi tối, vạch lấy hàm răng vạch ra, ngay lập tức mình phải giải phẩu liền, trong trí huệ mình giải phẩu liền hình ảnh đó ra, hay dòi đổ trong 2 khóe mắt, ăn đầy miệng, bò đầy mặt hết. Như vậy, mình mới đi tới chổ bứng luôn gốc rễ hình bóng đó, cảm giác đó, nếu không thì mình không thể làm nổi. Nếu không có trí huệ Chánh Đẳng Chánh Giác, thì hình bóng này giống như ma đi theo mình trăm đời, ngàn kiếp. Hình bóng dục, ái, sân, hận, thù oán này ám ảnh mình, dù mình có đi vào hang động, xuống biển, lên hư không, trời tây, những hình bóng này sẽ đi theo mình. Người ta mới nói “Làm sao giết được người trong mộng” đó là tưởng. Phải phá cái tưởng đó bằng 9 giai đoạn 1 tử thi, bằng mặt dòi, bằng đầu lâu, đầu sọ, bằng cái đóng bầy nhầy gan ruột. Cho nên những pháp quán đó là báu vật, bửu bối, bùa phép, gia tài của người tu, mình cất giữ những hình bóng đó 1 cách đầy đủ, sâu sắc, trọn vẹn, móc hình bóng, đánh nó đi, những cái pháp mình đáng thực hành là bảo bối.
Nếu bây giờ không có gì trong tâm thì lấy gì chống, sao chống lại với dục, ái, tham, sao chống nổi với sân hận, bản ngã, làm sao chống nổi với vô mình, thường tình trong suy nghĩ phàm phu của mình, nó quật mình. Mình phải sử dụng thánh vũ khí, pháp khí, chính là những pháp quán, Như lý tác ý, quán thâm sâu, đó là “như lai thần chưởng”, đem ra, quăng ra. Nếu không những hình ảnh này đi theo mình suốt đời, không ra khỏi, cứ ngồi thiền là thấy, nằm chiêm bao cũng thấy, lâu lâu suy tưởng và nhớ mà đi ra không được, Đức Phật gọi là bị sắc ám ảnh, tưởng ám ảnh, phàm phu bị hành ám ảnh, bị thức ám ảnh. Đó là những hình bóng trong, có nhiều hình ảnh lướt qua, lướt qua, có những hình ảnh không qua được, vẫn ở đó, đau khổ ở đó, yêu thích, ái luyến ở đó, ràng buộc trói trăn ở đó, đó là những tù ngục vô hình, phải giải phá, quăng 1 trái lựu đạn cho nổ banh, bằng những pháp quán. Cho nên Như lý tác ý học trong bài kinh Đức Phật nói các Tỳ kheo phải Như lý tác ý như thế này, Như lý tác ý hay lắm, tuyệt lắm, phải Như lý tác ý liên tục. Cho nên rõ biết các tưởng khởi lên những hình bóng trong tâm, nó đang sanh khởi, mới sanh khởi, vừa sanh khởi, đó gọi là chánh niệm tỉnh giác. Khi nó an trú hình bóng ở trong tâm không chịu rời đi, mình dùng Như lý tác ý, dùng pháp quán, mắng, chửi, đánh đập đủ hết.
“Rõ biết khi các tưởng chấm dứt” đó gọi là chánh niệm tỉnh giác. Người tu tinh tấn, không lúc nào rảnh, nếu sanh khởi thì đánh nó, ví dụ như trong hồ nước, có lá rớt vào, thì mình lượm ra, lượm liền quăng ra, thì mới sạch. Còn nếu rớt xuống mà mặc kệ, kệ, thì lâu ngày sẽ thối lên, giống như tâm của mình. Các loại hoặc, các thứ sanh khởi lưu trú, đâu phải là cái cũ, mà còn những cái mới nữa. Nếu mình ngồi lại, mà hàng tồn kho mình xử lý đã mệt, bây giờ mình không xử lý hàng tồn kho, hoặc xử lý hàng tồn kho mà tiếp thu hàng mới nhập nữa, giống như chạy lên coi cái này, cái kia, ngó cái này, dòm cái kia, khi ngồi thiền, lại nhớ nữa. Dẹp cái cũ chưa xong, đem cái mới vào, sáng ra gặp cái này, trưa gặp cái nọ, chiều gặp, gặp thường xuyên những thứ như vậy, rồi nhắn tin, điện thoại, nói chuyện, xem hình, tiếp xúc đủ hết, thì làm sao chúng ta dọn cái kho mình cho trống. Trong khi bùa phép, vũ khí, pháp khí mình không có đủ, yếu ớt, sức khỏe không có, bệnh hoạn, đối với Chánh pháp mình là kẻ bệnh hoạn, yếu xìu, đi chưa vững, mà mình tiếp xúc những thứ xấu, làm cho lòng dục, lòng tham, lòng ái bản ngã sanh khởi, những thứ khả lạc, khả ý, khả ái liên quan đến dục hấp dẫn thì làm sao, mình tu đến triệu A-tăng-kỳ kiếp cũng vậy.
Khi mình học mình thấy Đức Phật tối diệu lắm, chặn hết 4 phương 8 hướng, 10 phương chặn hết bên ngoài, còn bên trong dùng gươm, dao, mác xỉa, bằm bát mặt Bát Chánh đánh thẳng vào vô minh và tham ái, những pháp quán đều như vậy. Chánh niệm tỉnh giác là phá vô minh, nhìn được sắc, thọ, tưởng, hành, thức ra sao, mình quán pháp đã nói là phá tham ái. Phá được vô minh, thì minh sanh, trí huệ không còn bị trói buộc che đậy đó là tuệ giải thoát. Giống như trí huệ mình từ trước đến giờ bị trùm lên, 100 lớp trùm lên, đen thui, không thấy mặt trời, bây giờ mình phá vô minh, gỡ hết 100 lớp này ra, thì ánh sáng mới chiếu vào được. Lúc đó tuệ mới được giải thoát hết cái vô minh bao phủ, gọi là tuệ giải thoát. Tâm cũng giống như vậy, tâm bị tham dục, tham ái, những ham muốn quấn chặt, xiết chặt, cột chặt từ trước đến giờ, bây giờ mình tu những pháp này, để cắt hết những sợi dây này ra, gọi là tâm giải thoát. Tâm không bị dục trói nữa, không còn bị tham buộc, không còn bị ái xiềng xích nữa, bây giờ nó bung ra gọi là tâm giải thoát bậc A-la-hán. Lúc đó thật sự tâm là tâm, tuệ thật sự là trí tuệ, hiện tại bây giờ tâm, tuệ bị tham ái trói cột, vô minh che đậy hết, trong bài kinh Dây Thằn Đức Phật đã nói như vậy. Mình không ý thức được mình đang bị che đậy, trói cột. Mà ta ngồi nhìn chim hót, mây bay, trúc lay, trăng sáng, nhưng tuyệt vời là Niết-bàn, cực lạc ở đây, những cái đó chỉ là ái. Đó là những thứ vô thường, trăng tròn rồi lại khuyết, chim hót rồi không hót nữa, mây không muốn bay nữa, hôm nay săn mây mà không thấy mây. Vì vậy, sự hạnh phúc đó là tìm cầu bên hướng ngoại, bên ngoài, thứ vô thường không thấy được bản chất của sắc uẩn, cho nên sự tu hết sức là thâm sâu.
“Rõ biết khi các tầm khởi lên, rỗ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt”, tầm là sự hướng tâm, tâm mình đang ngồi đây, mà nó hướng về cái gường ngủ, mình nghĩ trưa nay ngủ không được, sau khi nghe pháp xong, mình vào nằm cho thẳng lưng, cho khỏe, đó là tầm, là tâm suy tầm, hướng về cái đó. Như vậy “rõ biết khi các tầm khởi lên”, mình phải rõ biết tâm mình hướng về phía nào, rõ biết tâm hướng về dục, tham, ái, sân, si, hay tâm hướng về tu tập, hướng về xuất ly, thoát ly, viễn ly, đang hướng về cái gì, mình phải thấy rõ được chiều hướng của tâm, lúc đó gọi là tầm. Sanh khởi lên mình phải biết, an trú trong chiều hướng đó mình phải biết, và khi chấm dứt mình phải biết, vậy gọi là chánh niệm tỉnh giác. Khi đang ngồi thiền, phải thấy được các tầm khởi lên. Thí dụ buồn ngủ, hôn trầm xuất hiện, nếu như mình không có tầm, thì không thể quật ngã buồn ngủ được, mình đi theo nó, không thể chống lại được. Chú Sĩ nói “Khi buồn ngủ, hôn trầm, con chửi buồn ngủ suốt trong khi thiền” thì hôn trầm không còn nữa, tác ý liên tục. Còn nếu khởi lên buồn ngủ quá, mình nghĩ thôi kệ nó, là đi luôn, mình không có chiến đấu. Dục khởi lên cũng như vậy, nếu mình đi theo.
Tại sao người đó lại sanh khởi nhiều về sân và bản ngã? Do chiều hướng tâm người đó, nghiêng về những thứ đó nhiều, người này không thấy, không bẻ lái. Chỗ này rất quan trọng, người tài xế lái xe, quyết định sẽ quẹo phải hay quẹo trái, thì sự hướng tâm giống như mình quẹo theo hướng nào, mình phải thấy tâm đang qua chiều hướng nào, điều chỉnh chiều hướng tâm vào thiện, pháp, mà không đi theo chiều hướng bất thiện, pháp. Vì vậy cái tầm này rất sâu sắc. Nhưng nói đơn giản, dễ hiểu suy nghĩ, hành cũng vẫn được, chiều hướng suy tầm tìm kiếm, hướng tâm, giống như “tầm cầu xuất ly” là tâm cứ hướng vào con đường để thoát ra, tâm vẫn giữ theo hướng thoát ra, đó là thiện pháp. Còn tâm tầm cầu dục, thì tâm cứ suy nghĩ theo chiều hướng dục và đi theo hoài hoài.
Thí dụ mới đây tại Sài Gòn vừa xảy ra 1 vụ án hết sức là đau lòng, 1 cậu có mặt mày đẹp, mới hơn 20 tuổi, ngoài đời gọi là “hot boy”, vậy mà nửa đêm đi xàm sở và có hành vi chuẩn bị hãm hiếp 1 cô bị thần kinh, khùng, đã hơn 40 tuổi, lớn tuổi hơn gấp đôi cậu này, có 1 anh quay phim được và la lên, thì cậu này mới bỏ đi, bây giờ công an đang xử cậu ấy. Người cô này dơ dáy, bẩn thỉu do điên khùng, thần kinh nằm ngoài đường, mà cậu thanh niên là người đẹp đẽ, trắng trẻo, mà nhỏ tuổi hơn cô. Đó là dục tầm, suy tầm, đi kiếm tìm theo chiều hướng đó, cho nên nửa đêm dục dẫn đi kiếm. Mình thấy sự nguy hại của dục rất khủng khiếp, tàn phá hết cuộc đời, tương lai cũng như hết, còn gì nữa đâu.
Biết bao nhiêu chuyện trên thế gian này hết sức đau lòng, mà dục tàn phá. Tất cả đều là nạn nhân của dục, sân, si, vô minh, bản ngã, khi quán chiếu những thứ này, mình thấy sợ lắm, thật sự run sợ. Hàng ngày những tin tức, báo chí đưa tin đâm người, chém người, giết người, hãm hại, hiếp dâm, chôn sống, phân xác, thật sự rùng rợn, khủng khiếp, kinh hãi. Cho nên 10 ác nghiệp mà Đức Phật nói là từ đâu? Duyên sanh là từ đâu? Tham, sân và si sanh ra 10 ác nghiệp, làm cho thế giới này đi vào trong bóng đêm, sụp đổ hết tất cả nền tảng của đạo đức, luân lý, lễ giáo, đổ nát hết tất cả những chuẩn mực, nền nếp. Những đứa con nít mới có 1 tuổi thôi, 2 – 3 tuổi bị xâm hại tình dục, mà không phải người nhỏ tuổi phạm tội mà là ông già 70 – 80 tuổi, đúng là khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi, tất cả những cái đó là dục tầm.
Chúng ta học qua phần ác nghiệp tiếp theo, cảm thấy sợ lắm, kinh hãi lắm, khủng khiếp lắm. Do đó thường ngày mình phải quán chiếu tai họa, nguy hiểm của dục, tham, ái, sân hận, bản ngã, ngày nào mình cũng phải quán để mình hoảng sợ, kinh sợ, mỗi khi ác nghiệp sanh khởi trong tâm, cái người bên ngoài sanh khởi lên, mình thấy sợ và mình thấy thương xót. Tất cả đều là nạn nhân của thứ đó, nó thống trị hết hành tinh này, tất cả các pháp lấy dục làm căn bản, lấy tác ý làm sanh khởi, phải tác ý để lìa xa dục, lấy thọ làm chổ hội tụ, lấy định làm thượng thủ, lấy tuệ làm tối thượng, giải thoát làm lõi cây, phải tập tác ý, tác ý thật nhiều. Giống như khi nói: “mình ngồi trong trạng thái không khổ, không lạc”, phải tác ý mạnh, “Mình bỏ cha, bỏ mẹ lên thiền đường làm cái gì? Cha mẹ mình ở nhà làm gì?” Mình phải tác ý đủ thứ phương diện hết, chứ không phải có 1 câu, tác ý về cái bi, tác ý về hùng lực, tác ý về sự khiếp sợ của địa ngục, ngạ quỷ súc sanh, tác ý nhiều khía cạnh, càng nhiều, càng sung mãn thì càng đi mau về chánh giác.
Trong Trung Bộ Kinh, khi còn là Bồ tát, Đức Phật đã nói, Ngài thấy được vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly, nhưng mà Ngài không có thành tựu chánh giác, Ngài mới tìm tới, tìm lui, Ngài thiền quán, tri nguyên tại sao vậy? Ngài quán quán quán từ từ, Ngài mới thấy phải quán nguy hại này cực kỳ sung mãn, khi quán nguy hại của dục đến cực kỳ sung mãn, khi ấy Ngài xuất ly, viên mãn thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên quán nguy hại của dục, tham, sân, bản ngã rất quan trọng, quán nguy hại xã hội bên ngoài, quán nguy hại bên trong tâm, quán nguy hại những đối tượng mà mình tiếp xúc trải tâm từ. Cứ chửi cái dục suốt ngày, không sao hết, chửi cái bản ngã, sân, làm biếng, “Mày hèn hạ, mày biết nhục không? Tồi bại” chửi càng mạnh, càng nhiệt tình, càng mạnh thì càng tăng lên hùng lực sức mạnh.
Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, không tác ý làm sao mà sanh khởi, mà cứ ngồi trơ trơ, đến hết giò chờ chuông gõ cái boong, thở cái khì, rồi khỏe, rồi ra là xong, phải tác ý. Khi vào ngồi mà buồn ngủ, là tác ý liền, mệt mỏi, uể oải là tác ý liền; vào đây ngồi mà cái sân khởi hay cái bản ngã khởi là phải tác ý liền, liên tục, tới tấp, tới tấp.
Cũng như con nhập thất trên rừng cũng vậy, lúc đó con quán bộ xương, để bộ xương trước mặt 2-3 giờ đêm. Con quán cả chục lần 1 ngày, trong 7-8 ngày, thì hôm đó nước mắt tràn ra, người rung lên, khóc tức tưởi giống như ai đánh, la hét lên luôn, lúc đó khoảng 3 giờ khuya và cũng may có 1 mình, nên không ai nghe. Có 1 đêm, khi con nhìn vào 2 cái tròng con ngươi tô đen, nhìn vào thấy lạnh rợn người hết, sau đó con không nhìn vào nơi đó nữa. Thành ra tác ý của mình rất quan trọng, nhưng mình phải biết cách làm như thế nào, nếu không thì do thọ, tưởng, hành vận hành mạnh quá, rất nguy hiểm. Người có tinh thần yếu, hoặc những người có bệnh, lên tăng xông, bệnh tim, giống như Sư cô lần trước tác ý mạnh quá, bị ngã vật ra luôn, những may mà không sao. Cho nên sức khỏe của mình rất quan trọng, người ta cũng sợ tu thiền điên lắm, nhưng thực sự Ngũ uẩn rõ ràng lắm, không thể nào bị điên hết, nhưng mình phải nắm vững thì rất hay. Cho nên Con mới nhắc 2 người ngồi thiền, các tác ý này tuyệt diệu lắm, nhưng phải nhớ khi tác ý, phải làm chủ, minh mẫn, sáng suốt, không chìm ngập trong cái tưởng, phải có sự mở mắt, nếu như khép mắt lại, thì phải tỉnh táo, sáng suốt, thì tác ý sẽ gội rửa, tẩy, giống như thuốc tẩy.
Con thưa đại chúng là có khi con ít ra ngoài, do con đang tẩy trong thất, cái “đô tẩy” của con rất mạnh, nên ít dám cho đại chúng nghe. Lần trước con đã cho nghe thử 1 lần về cái ngã, nhiều người sẽ không chịu nổi, do “đô tẩy” mạnh. Suốt 2 tháng trời của con, 1 ngày nghe chửi bình quân 8 tiếng, mà nghe chửi nhức nhói. Tác ý nghe chửi vào yếu huyệt, yếu điểm, giống như gãi đúng chổ ngứa hay chích thuốc đúng chổ, tác ý mãnh liệt vào những chổ đó, thì mình mới chặt được những gai góc, còn không thì không được, nó trơ trơ thôi, 10 năm, 20, 30 năm gặp lại cũng y nguyên, không khác gì hết.
Mình muốn 1 cuộc cách mạng vĩ đại, muốn đổi đời, muốn thay đổi vận mệnh, thì phải tu nhiệt quyết, quyết liệt, khổ luyện. Do con nghe chửi quen rồi, nên khi nghe chửi, Con đỡ hơn trước lắm, chửi dữ dằn lắm, mà từ thường của con rất nặng, những từ đó mới sanh cảm thọ được, phải sanh cảm thọ, mới làm cho mình cảm thấy xấu hổ, nhục nhã, hèn hạ. Trong khi mình là người tu, mình còn có những bản ngã, dục ái, sân hận như vậy, cho nên phải tác ý quyết liệt, tới tấp, tới tấp, dập nó, như vậy mới thay đổi, đổi đời được. Còn nếu tác ý sơ sơ, nhẹ nhẹ, gãi gãi, vuốt vuốt “Ngoan nhe, đừng quậy nhe con, cho cục kẹo nè” thì không được. Con bình quân tác ý 1 ngày cao điểm khoảng 8-10 tiếng, có khi giật mình nửa đêm thức dậy thì tiếp tục tác ý, cho nên con tu trong thất không có giờ giấc. Nên khi con thấy có người chỉ tác ý 1 ngày mà mệt rồi, lạnh quá trời, bệnh ho sổ mũi. Nhưng con thì vào pháp, tu thì quên, tuy vậy vẫn chưa được như ý mình muốn, cũng khả quan, nhưng theo ý mình muốn thì chưa tới, phải thêm thời gian nữa, cũng may thất có cửa kiếng bao bọc lại, còn nếu không mở máy nghe chửi ra là chạy hết. Một ngày bình quân Con phải nghe mấy tiếng, 1 ngày đi kinh hành khoảng 2-3 tiếng, đến khi đi không được nữa, do đau quá đi không được thì Con mới dừng lại. Chửi mình xối xả, tơi tả, tới tấp, tan tành, chửi vỡ đầu ra, cho vỡ cái vô minh, dục tham ái, xấu hổ nhục nhã, tồi bại không, “Tại sao tu còn có những tâm niệm, có những cảm giác như vậy”, lúc nào mình phải chú ý vào sự nhục nhã, lúc nào mình, khi nào mình cũng có những cảm giác hèn hạ, khi còn những thứ xấu này, chúng ta phải khổ luyện.
Cho nên con thấy đại chúng tu ở ngoài, thì con rất thích, tinh tấn, có khi con làm biếng, chạy ra tu chung với đại chúng cũng có, luật của đại chúng nương qua lại với nhau, Con vẫn nương đại chúng, nhưng có lúc vẫn có làm biếng, thành ra phải nương đại chúng, thù thắng lắm. Con hỏi thiệt Chú Dũng, khi tu ở nhà có tu được thời khóa giống như ở đây không? 1 ngày cũng hơi khó, nói chi đến 2-3 tháng, ngay cả mấy vị xuất gia ở dưới thất, cũng chưa chắc, có khi mình thích cái gì, mình cứ làm cái đó hoài, nhiều khi giờ ngồi thiền, mà mình nghe pháp, thành ra rất là thù thắng
./.