Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TU CHUYỂN NHÂN QUẢ

2026-03-03 00:52:37
TU CHUYỂN NHÂN QUẢ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Hạt Muối” PAGEREF _Toc76201388 \h 1

1.Quả dị thục của nghiệp PAGEREF _Toc76201389 \h 1

2.Bốn sự tu tập PAGEREF _Toc76201390 \h 2

3.Đức Phật ví dụ về nghiệp quả PAGEREF _Toc76201391 \h 6

II.Bản chất cuộc đời PAGEREF _Toc76201392 \h 9

Bài kinh “Hạt Muối”

Quý Phật tử rất thường được nghe về từ “nghiệp”: nghiệp báo, nghiệp lực, nghiệp quả… nhưng để chúng ta hiểu thật là chính xác về nghĩa lý của nghiệp mà Đức Phật nói không phải là chuyện dễ, đa số chúng ta có khi chỉ hiểu một phần; hoặc hiểu chưa chính xác; hoặc là hiểu sai. Cho nên, Minh Thành sẽ chia sẻ với quý vị bài kinh “Hạt muối” trong Tăng Chi Bộ kinh tập I, bài kinh này sẽ cho chúng ta một cái nhìn hết sức mới mẻ, sáng tỏ và rõ ràng về nghiệp trong đạo Phật.

Quả dị thục của nghiệp

Lâu nay chúng ta cứ hiểu trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, trồng cam được cam, trồng mướp hay trồng khổ qua thì được mướp, được khổ qua… có nghĩa là trồng cái gì là ra cái nấy nhưng không phải như vậy, đó là quan niệm nhân quả của thế gian. Học bài kinh này quý vị sẽ rất là bất ngờ vì trong đạo Phật nói về nhân quả hết sức sâu sắc và có thể chuyển biến, chuyển đổi. Chính vì có thể làm cho thay đổi nên chúng ta mới tu học, mới tu sửa, còn nếu như nhân nào quả nấy thì không có chuyện tu sửa. Vậy, để biết nhân quả chuyển biến, chuyển đổi, thay đổi như thế nào thì chúng ta phải nghe thật kỹ bài kinh này. Đức Phật nói:

- Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ, được chơn chánh đoạn diệt.

- Và này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời có đời sống Phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ đau khổ, được chơn chánh đoạn diệt.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập I, 3. Chương Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, bài kinh Hạt Muối)

Đoạn kinh trên, Đức Phật nói: “người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào thì người ấy cảm thọ quả dị thục như thế đó”. Như vậy thì khác nhau ở chỗ “quả dị thục”, chứ không phải làm nghiệp như thế nào thì nhận lại y chang như thế đó. Quý vị phải nhớ rõ ba chữ ở đây là “quả dị thục”, trong đó “dị” là biến đổi, “thục” là chín mùi, “quả” là kết quả, là hoa trái. Chúng ta ban đầu làm như thế nào thì sau đó kết quả sẽ có sự thay đổi, chuyển biến, cuối cùng mình sẽ chịu đựng kết quả đó, chứ không phải là làm như thế nào là chịu như thế đó. Nghĩa là, đối với những nghiệp ta đã gây ra, sau đó nó sẽ biến đổi, rồi chín mùi, trổ ra quả thì quả đó mình phải nhận, tức là mình phải chấp nhận, tiếp nhận, phải gánh chịu. Như vậy, không phải nhân nào quả nấy, mà là chúng ta gây cái nhân, tạo cái nghiệp, theo thời gian dị thục và biến đổi thì nó chín mùi rồi sẽ trổ ra kết quả, quả có sự thay đổi cho nên gọi là dị thục quả. Tức là kết quả, hoa trái đó nó đã được biến đổi, thay đổi và chín mùi. Nó thay đổi chín mùi như thế nào thì Đức Phật dùng những hình ảnh để dạy:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập I, 3. Chương Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, bài kinh Hạt Muối)

Vậy là Đức Phật nêu ra cùng một trường hợp, có người này làm nghiệp ác nhỏ nhưng cái người đó bị rơi vào trong địa ngục. Rồi cũng có người làm nghiệp ác nhỏ giống vậy đó nhưng nghiệp ác đó họ sẽ nhận lấy cái kết quả ngay trong hiện tại, tức là ngay trong đời này và đời sau không có đi trong địa ngục, họ không phải chịu khổ. Điều này quý vị thấy lạ, vì trước giờ chưa được nghe, đây là trí huệ thâm sâu của bậc Chánh Đẳng Giác trong tạng kinh gốc Nikāya. Như vậy, vấn đề ở đây là đồng thời hai người cùng tạo nghiệp ác nhỏ y như nhau nhưng một người vào địa ngục. Một ngày một đêm ở địa ngục có khi dài 50 năm, cho đến 100 năm, cho đến 500 năm. Vậy tại sao có người lại đọa địa ngục; có người nhận kết quả ngay đời này, đời sau không còn quả báo xấu ác nữa?

Bốn sự tu tập

Đức Phật giải thích rất kỹ:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập I, 3. Chương Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, bài kinh Hạt Muối)

Phải nhớ kỹ, điều này quan trọng lắm. Người xuống địa ngục là do không có bốn sự tu tập: “Thân không tu tập” là không tu tập thân; “Giới không tu tập” là không giữ giới; “Tâm không tu tập” là không sửa đổi tâm; “Tuệ không tu tập” là không lo phát huy trí huệ. Chính vì không tu tập bốn thứ này, cho nên người này lãnh đủ quả của nghiệp ác nhỏ đó và có thể là từ bé xé thành to do không có tu tập.

Minh Thành có ví dụ rất nhỏ mới xảy ra một ngày hôm qua. Hai cô bé này làm việc trong nhà hàng người ta cho tiền boa, hai người chia với nhau không đều nên cô này đâm cô kia chết, mới có 19-20 tuổi thôi. Do cái nghiệp nhỏ mà nó đưa đến hậu quả rất lớn, thậm chí là bị đọa, ngay hiện tại đã mang án, hơn nữa, người mà chết trong sân hận, uất ức, đau khổ như vậy thì theo quý vị thấy có siêu thoát được không? Hỏi ra nguyên nhân thì chỉ vì mấy đồng tiền lẻ của người ta boa nhưng người này không biết tu, thân không tu tập, lời nói không tu tập, ý nghĩ không tu tập, tâm không tu tập. Không tu tập tức là không sửa đổi, không dòm ngó, không coi chừng, không sửa đổi, không điều chỉnh, người này từ một nghiệp ác nhỏ nhưng có thể đưa họ trong địa ngục, chịu một quả khổ khủng khiếp, kinh khiếp. Những chuyện đó bây giờ rất là nhiều, nhiều đến nỗi mà mình sợ, đọc tin tức mỗi ngày trên tivi mình sợ lắm. Đó là kết quả của thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập.

Thân tu tập là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục – tà dâm. Đó là ba giới của thân, đó là thân tu tập, cũng là giới tu tập. Tập ăn chay; tập bớt sát sanh; tập không phạm vào vấn đề lấy của không cho, dầu là món gì nhỏ nhất mà không được cho là mình không lấy; cuối cùng là tập chung thủy với gia đình của mình. Đó là chúng ta đang tu thân, tu giới. Bên cạnh đó, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời hung ác, lời thêu dệt, lời phù phiếm cũng là đang tu giới. Bốn lời nói này nếu không tu tập thì rất nguy hiểm. Có thể vì một lời nói nói qua nói lại mà xảy ra những chuyện không tưởng tượng được. Chuyện nhỏ có thể giận hờn nhau, chuyện lớn có thể gây gổ và chuyện lớn hơn có thể là tù tội, đó là vì không tu. Chúng ta đừng nghĩ tu là cái gì cao siêu, tu là ngay nơi thân, ngay nơi lời nói, ngay ý nghĩ của mình.

Tu tâm là mình luôn luôn nhìn lại cảm giác, xem trong cảm giác dễ chịu có thích thích, khoái khoái không? Có chết với cảm giác ngọt nào đó, có “mật ngọt chết ruồi” không? Hồi đó giờ có bị chết cảm giác ngọt ngào, dễ chịu, khoái khoái đó không? Có tham ở trong cảm giác đó không? Có tham dục, tham muốn, ưa thích trong cảm giác đó không? Chính vì cảm giác tham tham, khoai khoái, thích thích đó trói buộc nên mình khổ. Kế đến là cảm giác bực bội, khó chịu là có sân trong đó. Chúng ta nhìn lại mình thì mới thấy, chứ không nhìn lại là không thấy. Cho nên tu tập tâm là nhìn những điều đó, thường thường nhìn lại cái cảm giác thì mình mới phát hiện ra xào huyệt, hang ổ của tham, sân, si, phát hiện ra được thủ phạm đã làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não.

Trước giờ chúng ta không học pháp, không nhìn sâu vào nội tâm nên không có biết tại sao mình khổ. Cho nên có câu “tôi buồn chẳng biết vì sao tôi buồn”, “tôi khổ chẳng biết vì sao tôi khổ”, “lo hoài mà chẳng biết vì sao tôi lo”. Vì vậy, mình phải tu tập tâm, thường nhìn lại cảm giác, suy nghĩ, xem suy nghĩ này tốt hay không tốt, thiện hay là bất thiện, lợi mình lợi người hay hại mình hại người. Mình phải nhìn thấy, kiểm soát, xử lý được những suy nghĩ bất thiện thì đó được gọi là tu tâm. Mình cứ để nó nghĩ xấu về người ta hoài, như vậy là không có biết tu. Biết tu cái mặt không mà không biết tu cái bụng. Tu cái mặt là sáng nào thức dậy cũng soi gương, nặn mụn, trang sức, mỹ phẩm, còn cái tâm thì không có tu. Cái tâm bên trong bị bệnh tim, trúng ba loại độc rất nặng, đó là tham, sân, si mà không biết lo. Cho nên, phải tu tập tâm, phải tu tập trí huệ, đừng chỉ lo tu cái mặt, cái miệng, cái bụng rồi lựa đồ ngon cho nó ăn. Bây giờ phải tập tu tâm, tu cái tuệ, trước giờ “tiền, tình, tù” làm mình mệt mỏi rồi, chúng ta hãy đổi thành “tu, tiến, tuệ”.

Tu trí huệ là tu nhìn thấy được bản chất của thân thể này, thấy được sự thật của tấm thân này. Tấm thân này trước sau gì cũng tan rã, sớm muộn gì cũng rệu rã. Cho nên, chúng ta không được bám chấp nặng nề, chấp thủ vào sắc uẩn này; không tham đắm vào sắc thân này, vật chất này. Xem bộ xương chính là mình, quán chiếu để thức tỉnh tâm mê không nhìn thấy được sự thật này. Cái tâm say mê, ảo tưởng, tưởng mình khỏe hoài, mạnh hoài, tưởng mình còn như vầy hoài mà không biết rằng cái thân này là rất mỏng manh, rất giòn bỡ. Thân này Đức Phật ví vụ giống như một chùm bọt nước, người có mắt sáng nhìn kỹ, chuyên chú, quán sát thì thấy rõ rệt cái bọt nước này nó trống rỗng, trống không. Làm sao mà ở trong bọt nước mà có lõi chắc được, cho nên nó trống không, rỗng không, bể nát. Chúng ta hãy nhìn sâu sắc vào bản chất của cuộc đời này, thân thể này, tất cả mọi sự vât, sự việc này để mở tâm mê, mở sợi dây ràng buộc, trói chặt của sắc thủ uẩn. Đó chính là tu tập trí huệ. Tu tập trí huệ này đã đưa đến đoạn tận tất cả khổ đau. Còn nếu chỉ làm phước ngoài mà không tu tập tuệ thì mình không hết khổ, bao nhiêu đó chỉ được vật chất thôi, còn tâm linh, tinh thần không được bình an, vì cứ lo lắng, suy nghĩ, dính mắc hoài. Cho nên tu tập tuệ hết sức quan trọng.

Quý vị phải nhớ bốn sự tu tập này, gồm: “Tu tập thân, tu tập giới, tu tập tâm, tu tập tuệ”. Chúng ta thường thường tu tập để ý những suy nghĩ, đó chính là tâm được tu tập. Phải làm sao cho cảm giác, nghĩ tưởng của mình luôn nghĩ những điều lành, tưởng điều tốt, cảm giác hiền thiện, thanh tịnh, an tịnh, an lạc. Không cho chạy theo những cảm giác xấu ác, cảm giác đam mê, vui trên cái khổ của chúng sanh. Quý vị có thể thấy con heo, con gà, con vịt khi mình cắt cổ nó thì nó kêu la đau đớn, dẫy dụa. Chúng ta ngồi ăn mà chê thịt này còn non, thịt này già rồi, thịt này còn dai và thịt nào là mềm. Đó là sống theo cảm giác của mình, mình không thấy tội lỗi. Chính vì vậy, chúng ta tập thay đổi từ từ những ác pháp, không phải nói là mình cắt ngang được nhưng mình phải thấy, phải biết, phải hiểu để mà điều chỉnh lần lần. Điều chỉnh tức là tu, sửa lại tức là tu, làm cho tốt hơn chính là tu, phát huy những cảm giác, suy nghĩ, những tưởng hiền thiện đó là tu, là hành, là tập, là đạo, là pháp.

Còn người không tu tập sẽ nguy hiểm. Người không tu tập bốn điều trên mà còn hạn hẹp, tự ngã, tức là bản thân người đó nhỏ nhen, sống chịu khổ ít ỏi, tâm hẹp hòi, nhỏ nhen và không chịu khổ, không kham nhẫn, không chịu khó thì sẽ vào địa ngục khi làm ác nghiệp. Người này bị đọa là vì họ hạn hẹp, nhỏ nhen, ích kỉ sống không chịu khó cứ thích hưởng thụ, thích cho dễ, thích cho vui, rồi ăn chơi thích hưởng thụ thôi chứ cực khổ, khó khăn thì không chịu. Có người cực khổ khó khăn để ăn chơi thì chịu mà cực khổ khó khăn để tu, để làm phước, làm thiện thì không chịu. Chúng ta đi từ thiện có nhiều người cười mình, người ta nói “rảnh quá ha”, những hạng người đó nhỏ nhen, hạn hẹp, ích kỷ, sống không chịu kham nhẫn, không chịu khó. Người này khi vướng vào một nghiệp quả nhỏ thì họ sẽ đi đến cảnh khổ, không có đường quay lại.

Đức Phật ví dụ về nghiệp quả

Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào trong một chén nước nhỏ. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo, nước trong chén ấy có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không?

- Thưa đúng vậy, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Nước trong chén nhỏ này là ít, do nắm muối này, nước trở thành mặn, không uống được.

Ngược lại với hạng người trên:

Có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng.

Người này không hạn hẹp, tấm lòng rộng mở, sẵn sàng chia sẻ, cởi mở, tha thứ chứ không tính từng đồng từng cắc từng chút, không tính toán li ti để ý từng chút từng chút, không kiếm chuyện gây sự. Có người khi ghét ai rồi thì để ý từng chút từng chút, moi móc cho khổ, như vậy là hạn hẹp, đừng ham. Tâm mình phải rộng lớn, đời sống vô lượng, phải tập: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm, Xả vô lượng tâm. Đời sống vô lượng là bốn cái tâm vô lượng. Tha thứ được thì tha thứ, bao dung được thì bao dung, rộng mở được thì rộng mở, giờ lỡ rồi giận hoài, gây hoài, cự hoài, trách hoài, buồn hoài cũng vậy thôi. Nó buộc mình vào cái tâm nhỏ hẹp, nhỏ bé. Cho nên, bây giờ mình tập mở tâm rộng ra.

Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập I, 3. Chương Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, bài kinh Hạt Muối)

Đời sau người này không còn chút nào nữa hết, ngay trong hiện tại trả chút xíu là xong. Đức Phật ví dụ:

Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào sông Hằng. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo, sông Hằng ấy có vì nắm muối này trở thành mặn và không uống được, phải không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Lớn là cả khối nước sông Hằng. Khối nước ấy không vì nắm muối này trở thành mặn và không uống được. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập I, 3. Chương Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, bài kinh Hạt Muối)

Quý vị chịu làm dòng sông hay chịu làm cái chén chút xíu? Dòng sông là phải cuốn cho trôi tất cả, chứ không phải dòng sông mắc cạn. Tâm mình phải làm cho trôi chảy, lưu thông, rộng lớn, trong mát, bao la thì như vậy bỏ nắm muối vào nó mới không mặn. Ngoài đời người ta nói “đời cha ăn mặn, đời con uống nước”, nó có ảnh hưởng với nhau. Tuy rằng nghiệp ai nấy chịu nhưng có ảnh hưởng tại vì đó là những người thân của mình. Minh Thành ví dụ quý vị được niềm vui gì đó người thân quý vị có vui lây không? Quý vị gặp chuyện gì khổ quá người thân quý vị có buồn lây không? Vì vậy, nó có sức ảnh hưởng. Đức Phật giảng về nghiệp rất tuyệt vời không, chúng ta phải hiểu cái nghiệp như vậy.

Đức Phật cho ví dụ thứ hai:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập I, 3. Chương Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, bài kinh Hạt Muối)

Cũng số tiền đó mà người kia bị tù tội, mà cũng số tiền đó mà người nọ không bị tù tội. Như vậy, người bị tù tội vì nửa đồng, vì một đồng tiền, vì một trăm đồng tiền là người nghèo khổ ít sở hữu, ít tài sản. Còn người cũng vì số tiền đó mà không có bị tù tội là người đó giàu có có tiền của lớn, có tài sản lớn. Giàu quá giàu ai đi giành một, hai đồng chi. Đức Phật nói người nghèo là người không tốt, không chịu tu tập, không chịu làm các thiện pháp.

Đức Phật thí dụ thêm một hình ảnh nữa:

Ví dụ một người đồ tể hay người giết dê, này các Tỷ-kheo, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết hay trói, hay tịch thu tài sản, hay làm như ý muốn. Đối với một số người cũng đánh cắp dê, không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập I, 3. Chương Ba Pháp, X. Phẩm Hạt Muối, bài kinh Hạt Muối)

Nghĩa là đồng thời cũng có người làm đồ tể hoặc là người này mổ thịt dê bán, có người ăn cắp dê của người này. Nhưng mà một dạng ăn cắp thì người này có thể đánh có thể giết, trói, có thể tịch thu tài sản muốn làm gì làm. Nhưng có một hạng khác là không đụng đậy đến được. Họ cũng ăn cắp, họ cùng lấy nhưng mà người đồ tể này không dám đụng gì đến họ hết trơn. Người đồ tể này còn phải cầu xin họ: “Thưa ngài, hãy cho con lại con dê hay giá tiền con dê”.

Kẻ nghèo khổ ăn trộm ăn cắp thì mình đánh đập nó được, muốn làm gì thì làm theo ý mình, nhưng đối với người có quyền có thế, vua hay là đại thần, quan lớn thì sao? Người bị ăn cắp còn phải quỳ xuống “Thưa ngài ngài hãy cho con lại con dê hay cho con giá tiền con dê, con nghèo khổ, ngài đừng lấy của con tội nghiệp”. Đức Phật đưa hai hình ảnh đó để nói về người có tu và người không có tu. Người kia cũng là người ăn cắp, người nọ cũng là người ăn cắp nhưng tại sao người kia thì bị đánh đấm đá đủ thứ, giết này kia nọ; còn lại người này lại được năn nỉ xin được trả lại dê. Tại vì họ có thế lực, có phước đức, có uy quyền thì không ai dám nói gì hết. Người nghèo mà ăn cắp kia là người không có tu cho nên ăn thua chung đủ. Khi xem tin tức, chúng ta thấy có người ăn trộm chó rồi bị đánh chết luôn.

Như vậy, cùng một trường hợp nhưng Đức Phật đưa ra rất nhiều ví dụ để cho mình hiểu. Cho nên không có tu lỗ lắm, người mà không biết tu vừa khổ, vừa lỗ, vừa tội nghiệp, chúng ta ngồi ở đây nghe pháp là rất có phước. Có khi chỉ vì một chuyện nhỏ xíu thôi là có thể làm cho tan nhà nát cửa, mẹ con không nhìn mặt lẫn nhau, vợ chồng phải chia ly, anh em cốt nhục tương tàn. Có người chỉ vì tờ giấy năm trăm ngàn mà giết người chết. Cái khổ đó là từ không biết tu, không biết nhiếp phục tâm mình, cứ để tham, sân, si, bản ngã, cái tôi bung ra là khổ dài dài. Đức Phật kết luận lại bằng câu đầu tiên:

Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp ác như thế nào, như thế nào người ấy sẽ cảm thọ (quả) như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.

Nếu như làm cái nghiệp ác như thế nào thì chịu cảm thọ quả như vậy là không có đời sống tu tập, tu hành gì hết. Ngày xưa, hột khổ qua là thành khổ qua, hột sầu riêng là nó sầu riêng thôi không có sửa được. Còn bây giờ người ta ghép cây với nhau, cũng giống nghiệp vậy, có thể biến đổi, thay đổi được. Cũng như có nhiều loại cà phê, loại trà. Trà giống của mình ở đây chỉ có mười mấy ngàn một kí, nhưng cũng có loại trà giống quý, giống hiếm thì có giá mấy triệu đến mấy trăm triệu. Cho nên sự tu tập của mình là làm cho quả dị thục biến đổi theo chiều tốt chứ không phải biến đổi theo chiều xấu, chiều tiêu cực, chiều bất thiện, có như vậy mới “nêu rõ được cái đau khổ và chân chánh đoạn diệt khổ đau”.

Bản chất cuộc đời

Cho nên toàn bộ giáo pháp Đức Phật phải nắm thật là vững. Đức Phật nói rõ bản chất của thế gian này là khổ và phương pháp là diệt tận khổ đau. Hai điều đó là cái quan trọng nhất của Phật giáo, được Đức Thế Tôn truyền trao cho mình.

Mọi người đi chơi là sướng hết hay có khổ? Hay mọi người phải chịu khổ chút để tìm chút vui. Khi ăn uống là vui hết hay cũng có khổ trong đó? Ví dụ, món đó ngon quá mà bệnh, phải cử, ăn không được cũng khổ, mà bốc ăn cũng khổ. Cái khổ mà Đức Phật nói hết sức thâm sâu là vì: lậu hoặc, nghiệp và khổ. Từ chỗ lậu hoặc, tạo nghiệp rồi sau đó mình lãnh cái quả báo khổ. Lậu hoặc là tâm mê hoặc, không sáng suốt để thấy sự thật của thân tâm này là năm đống giống như bàn tay năm ngón.

Thân tâm mình có năm đống, năm nhóm, năm thứ: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đống chình ình ngồi trước mặt quý vị là đống sắc. Đống thứ hai là đống cảm giác. Đống thứ ba là tưởng, những hình bóng lờ mờ trong nội tâm. Đống thứ tư là đống hành, là suy nghĩ nói lầm thầm. Đống cuối cùng là đống thức, là sự rõ biết. Năm đống, năm nhóm, năm thứ này kết hợp lại, tạm gọi là cái mình, mà mình không biết rằng không có mình. Chỉ cần nghe cái “rầm” là xong, đống sắc này nó rã, có cái gì là mình đâu. Đầu tiên cái hơi thở phì ra, gió đi mất đầu tiên. Kế đó là lạnh ngắt , lửa cũng đi. Kế tiếp là nước rỉ chảy, tất cả các dịch trong cơ thể chảy ra, hôi tanh không ai chịu nổi. Con heo, con vịt, con gà khi chết người ta đi nhổ lông, khìa, nấu cháo, quay roti. Còn cái đống thịt này chết rồi là nó hôi thúi không chịu nổi, cuốn chiếu lẹ, bỏ vô hòm, bỏ vô lò thiêu cho nhanh. Vậy đó mà cứ mê, đây là khổ, khổ là đây! Đức Phật nói đó là Khổ Thánh Đế.

Chúng ta không thấy được sự thật, cứ đam mê, bám chấp vào trong này, tối ngày cứ trau chuốt. Rồi cuối cùng thành tích, chiến tích của 60-70 năm giành giựt, hơn thua, nhân ngã, thị phi, tranh giành, thủ đoạn, mưu mô, đủ thứ ác nghiệp là một đống tro tàn, bộ xương. Đó là Thánh trí của Đức Phật chỉ cho mình thấy. Ngồi ở trên núi thiêng này rồi mới nhìn thấy được sự thật, thương cho cái vô minh, cái mê của mình, thương cho cái tâm tham ái không thấy được sự thật của mình. Cho nên, từ cái lậu hoặc tạo ra cái nghiệp, rồi từ cái nghiệp sẽ chịu quả báo khổ. Nghĩ cái gì, làm cái gì, nói cái gì cũng tôi, cũng của tôi rồi tạo ra nghiệp tà dâm, trộm cắp, sát sanh, uống rượu, lừa gạt, gian xảo, trá nguỵ, lợi dụng, mưu mô,… Đầy dẫy các ác nghiệp chồng chất đến lúc nhắm mắt ra đi là vào trong bóng đêm. Một ngày ở địa ngục là 100 năm, 500 năm ở nhân gian. Cho nên, chúng ta phải làm cho mình phát sanh cảm giác sợ ác nghiệp đó.

Đức Thế Tôn nói rằng có bốn sự mà không có bất cứ Ma phạm, Sa môn, Bà-la-môn,Trời, Người tìm được sự an toàn ở trong đó. Kể cả trời rồng, quan quyền, chức tước, vua chúa Sát-đế-lợi đều cũng không an toàn ở trong bốn nơi. Thứ nhất là già, không có an toàn trong sự già. Thứ hai là bệnh, không có ai an toàn trong cái bệnh. Thứ ba là chết, chúng ta ngồi ở đây rồi sẽ chết hết, không ai còn sống hết, không ai an toàn trong sự chết. Cái thứ tư là ác nghiệp, quả dị thục của ác nghiệp, không có an toàn. Bốn chỗ mà hết sức là nguy, là sợ, là bất an mà không ai thèm lo hết, cứ ăn rồi chơi, rồi vui, mặc kệ chết khi nào thì chết, còn mấy thầy đi tu mấy thầy lo trước.

Đức Thế Tôn trẻ, đẹp, khỏe, tài năng, thông minh, trí huệ, vợ đẹp, con yêu, ngai vàng, quyền uy như vậy, Ngài nhìn thấy cái gì mà Ngài bỏ hết? Chính là nhìn vào chỗ: nhất định cái già sẽ đến, cái bệnh sẽ đến, cái chết sẽ đến, cái ác nghiệp sẽ đến. Quý vị không có lo, cứ trơ trơ mặc kệ, thấy người ta chết rồi tội nghiệp quá, tội nghiệp người ta vậy chứ không có tội nghiệp mình. Cứ nghĩ bà đó bệnh nên chết, tội nghiệp bà ấy, chứ mình không có bệnh nên mình không có chết. Rồi tới chừng cái bệnh, chết tới thì há họng kêu trời, hoảng loạn, sợ hãi.

Sự chuẩn bị tối thượng

Chính vì vậy, chỗ thâm sâu của đạo Phật là mình phải chuẩn bị. Minh Thành chuẩn bị từ lúc 17 tuổi, tới bây giờ đã 45 tuổi rồi mà còn chuẩn bị chưa xong. Nếu không chuẩn bị, bất thình lình cái chết đến mình chống đỡ không nổi là sẽ khổ. Cho nên, chúng ta thấy được bản chất thật sự của cuộc đời này thì hay lắm! Khi đó, tham, sân, si tự động sẽ bớt, không còn ganh tỵ, hơn thua nữa, bỏ hết qua một bên nên nhẹ lắm. Cho nên, người nào mà thường thường “niệm tử” thì người đó sẽ đạt đến cảnh giới “bất tử”:

Người luôn luôn chánh niệm,

Sự sanh diệt các uẩn,

Được hoan hỉ, hân hoan,

Chỉ bậc bất tử biết.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỷ Kheo)

Sự sanh diệt của sắc tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đức Phật nói người nào luôn luôn chánh niệm thì người đó được hoan hỷ, được vui, được hân hoan. Điều này chỉ có bậc bất tử là bậc A-la-hán và Đức Thế Tôn Chánh Đẳng Giác mới biết được. Tu pháp này vui lắm, miệng thì nói chết, trí thì thấy rõ sanh, lão, bệnh, tử nhưng tâm vui lắm tại vì mình lo xong rồi.

Xin tiết lộ bí mật với quý vị Minh Thành lo gần xong rồi, giờ nếu cái chết xảy đến thì được bình an. Đó là công lao tu hành từ hồi mười mấy tuổi đến bây giờ chuẩn bị. Còn quý vị lãng quên, lo ăn, lo làm, lo chơi rồi bất thình lình cái chết nó ập tới thì lúc đó quý vị trở tay không kịp. Phật thương mình lắm, nên Phật mới nhắc mà mình cứ mãi mê ham chơi. Đừng có nói trẻ mới ham chơi, già cũng mê chơi như thường. Bây giờ phương tiện đi chơi nhiều lắm cho nên cái miệng nói là tu mà toàn là đi chơi.

Trong Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh “Gậy Thúc Ngựa”, Đức Phật ví dụ về bốn loại ngựa. Loại thứ nhất là con ngựa tuyệt vời, là lương mã, tuấn mã, con ngựa này thấy cái bóng cây roi giơ lên thôi là nó chạy, không đợi cây roi chạm vô mình. Con ngựa thứ hai thì khi bị cây roi quất chạm vào da là nó chạy. Con ngựa thứ ba khi bị đánh mạnh vào thịt đau điếng thì mới chạy. Con ngựa thứ tư bị lấy móc sắt đánh chảy máu mà còn không chạy. Bốn ví dụ Đức Phật nói có ý nghĩa gì? Một người nghe người kia ở xa xăm bị già, bị bệnh, bị chết thì người này phát tâm tu hành liền, đó là thấy bóng roi là chạy. Còn dạng thứ hai là người này chứng kiến người thân, bà con, gia đình của mình bị bệnh ung thư, chịu khổ rồi người này mới chịu tu, gọi là chạm vô da thịt. Còn hạng thứ ba là chính bản thân người đó xảy ra, trên cơ thể bị già, bệnh, nguy hiểm, nguy cấp tới thì họ mới chịu tu. Còn hạng thứ tư là già chết rồi còn không tỉnh ngộ, hết thuốc chữa mà còn không chịu tu thì xong luôn.

Cho nên, Minh Thành có lời khuyên cho quý vị, đây là món quà tâm linh dành cho mọi người. Năm nay có những vị đã 40-50 tuổi, quý vị đã dành rất nhiều thời gian của tuổi trẻ để lo cho chồng, cho con, quỹ thời gian của mình càng ngày càng cạn kiệt, rút ngắn dần dần. Cho nên không được dễ vui, không được buông lung mà phải chuẩn bị lo cho mình. Chúng ta không biết được khi nhắm mắt rồi mình sẽ đi đâu. Vậy, tại sao mình không lo? Trước khi lên Linh Quy, quý vị phải chuẩn bị quần áo, tiền bạc, đồ ăn, thuốc thang, tuy đây chỉ là chuyến đi gần, vài ngày thôi mà đã chuẩn bị đủ thứ, như vậy tại sao một chuyến đi cực kỳ xa xôi, tăm tối, không biết gì hết về cuộc đời mình mà quý vị không lo chuẩn bị? Đó là sự thiếu sót lớn lao, vì vậy quý vị phải suy tư, lo lắng điều này.

Chúng ta phải có trí huệ, mới biết để mà sợ. Không cho mình dễ vui, không sống một cách an nhàn, thả lỏng vì quỹ thời gian của mình cạn kiệt. Việc cần làm nên làm, làm cùng tận khả năng của mình để khi nhắm mắt ra đi phước huệ của mình đầy đủ. Thiện nghiệp mình mang theo, chứ mình không mang đá, không mang những vật nặng làm đôi vai oằn xuống, đó là ác nghiệp, khổ lắm. Nếu chưa đoạn tận được luân hồi thì ít nhất mình cũng luân hồi ở trong cảnh thiện, cảnh lành, cảnh tốt. Chúng ta đừng ngồi ở đó mà mơ tưởng cõi này cõi kia, phải thực tế nhìn lại thân, miệng, ý, tu tập thân, tu tập giới, tu tập tâm và tu tập trí huệ của mình. Như vậy là quý vị biết thương, biết lo cho mình. Chúng ta phải biết nhìn tương lai xa, không nên tối ngày cứ lo ngày mai ăn cái gì, cái đó là gần. Chúng ta phải nhìn thấy được đời kế tiếp của mình, tiến thẳng vào trí huệ Chánh tri kiến, để từ từ đoạn giảm cho đến chấm dứt tất cả khổ đau.

Kính chúc cho quý vị luôn luôn tinh tấn, tu tập sớm thành tựu được trí huệ Chánh kiến của Đạo Phật để có được an lạc dài lâu.

./.