Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tu Có Chuyển Đổi Nghiệp Quả Không Nắm Muối & Dòng Sông

2026-03-03 00:52:37
Tu Có Chuyển Đổi Nghiệp Quả Không?

Nắm Muối & Dòng Sông

Thích Minh Thành

Ngày 07 tháng 05 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nắm muối và dòng sông PAGEREF _Toc139304146 \h 1

II. Quả và quả dị thục PAGEREF _Toc139304147 \h 3

III. Tầm quan trọng của thiện nghiệp PAGEREF _Toc139304148 \h 8

IV. Người nghèo khổ PAGEREF _Toc139304149 \h 13

I. Nắm muối và dòng sông

Kính thưa các bậc hiền trí,

Chiều nay chúng ta có buổi pháp đàm, quý vị có thể có những câu hỏi còn chưa hiểu trong pháp học, pháp hành thì quý vị nêu lên những khó khăn trong sự tu học.

Chúng ta nghe ví dụ này rất đặc biệt, những hình ảnh ví dụ liên hệ đến sự chi phối của nghiệp quả khác nhau tùy theo phước.

Chúng ta nghe những bài kinh sau về nghiệp quả sẽ thấy rất đặc biệt, không giống như mình hiểu. Mình nghĩ là hai cộng hai là bốn nhưng không phải vậy.

Bài kinh Hạt muối trong Tăng Chi Bộ Kinh tập một, khi nào vào bếp nấu đồ ăn nên nhớ.

1. - Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ, được chơn chánh đoạn diệt. Và này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời có đời sống Phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ đau khổ, được chơn chánh đoạn diệt.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.

2. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào trong một chén nước nhỏ. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo, nước trong chén ấy có vì nắm muối trở thành mặn và không uống được phải không?

- Thưa đúng vậy, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Nước trong chén nhỏ này là ít, do nắm muối này, nước trở thành mặn, không uống được.

- Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bỏ một nắm muối vào sông Hằng. Các Thầy nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo, sông Hằng ấy có vì nắm muối này trở thành mặn và không uống được, phải không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn. Vì cớ sao? Lớn là cả khối nước sông Hằng. Khối nước ấy không vì nắm muối này trở thành mặn và không uống được.

- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Hình ảnh mình lấy một nắm muối bỏ vào một chén nước thì chén nước này mặn, uống không được. Nhưng cũng là nắm muối giống vậy mà mình bỏ xuống sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Cửu Long thì lại không mặn.

Nước đó ví dụ cho phước đức của mình, nên cũng đồng một tội đó nhưng người kia làm thì rơi xuống địa ngục, vì người này không có phước hay phước có một chút, không đầy bàn tay, đều là tạo ác, tạo tội, sang tham, keo kiệt, bủn xẻn, rít rắm. Còn một người thì làm phước to lớn như dòng sông.

Nên chỗ này rất hay, mình cứ nghĩ tội phước sẽ giống như nhau hết nhưng thật sự không phải. Giờ mình ví dụ đời sống thực tế: Có một người trước giờ không có ân, nghĩa, không có quen biết gì mà tự nhiên kêu mình đưa năm trăm ngàn, mình chịu không? Còn nếu họ lấy năm trăm ngàn của mình thì mình có khó chịu, sân si không? Nhưng giờ người đó có ân, có nghĩa, có tình, giúp đỡ mình rất nhiều mà họ kêu mình đưa năm triệu thì mình đưa nhưng còn cười vì người ta giúp mình gấp chục lần nữa.

II. Quả và quả dị thục

Đức Phật nói:

Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp ác như thế nào, như thế nào người ấy sẽ cảm thọ (quả) như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời không có đời sống Phạm hạnh, không có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Vì sao như vậy? Vì ăn cướp là ăn cướp, người ác là người ác, vì họ làm cái ác đó thì nhất định họ vào địa ngục, như vậy thì còn gì để tu? Nhưng chúng ta nghe câu “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” tức là buông con dao mổ heo xuống thì ngay tại chỗ đó trở thành người giác ngộ. Vậy chúng ta có thấy những người như vậy không? Có những người rất dữ dằn, hung tợn nhưng khi họ giác ngộ thì họ tu rất nhanh.

Như vậy, nếu làm nghiệp nào thì phải chịu quả báo y như vậy thì Đức Phật nói là không có sự tu hành, không có cơ hội để cho người ta tu, để chấm dứt, đoạn tận tất cả khổ đau. Nếu mình nói là bây giờ mình hung dữ thì mãi mãi là hung dữ thì làm sao trở lại hiền lành? Vậy thì làm sao có tu? Tu là sửa dữ trở thành hiền, mà giờ mình nói dữ là dữ, không thành hiền được thì sao tu? Cũng như trước khi mình đi chùa thì mình cũng dữ lắm, nhìn thấy các mặt đó, nhiều khi giờ cũng còn dữ một ít chứ chưa hết dữ nhưng nhờ mình tu thì nó bớt dữ từ từ, giờ mặt mình đã đổi, ví dụ ngày xưa dữ là tám giờ thì còn sáu, năm thôi.

Giờ thì dữ giảm xuống, hiền tăng lên, chỉ còn hai, ba phần thôi thì đã trở thành hiền nhân, dần dần hết dữ thì trở thành hiền, thành bậc hiền trí, đại tuệ. Nên chúng ta thấy Đức Phật nói:

Và này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau: "Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào, người ấy sẽ cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy". Nếu sự kiện là vậy, này các Tỷ-kheo, thời có đời sống Phạm hạnh, có cơ hội để nêu rõ đau khổ được chơn chánh đoạn diệt.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Ý nói, người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào thì người ấy sẽ cảm thọ quả dị thục như vậy. Tức là, như câu chuyện chàng Vô Não 13:54, người đó đi chặt tay của người khác vì học với tà sư ngoại đạo nói rằng chặt hết trăm ngón như vậy thì được truyền pháp, điểm đạo để đắc đạo nhưng đi giết người mà được đắc đạo. Nhưng người này vì vô minh, vì không hiểu biết nên mới tin tưởng theo tà sư, theo ngoại đạo. Nên vị này sau khi được Đức Phật điểm hóa rồi thì người này chặt chỉ thiếu một người nữa là đủ số thì lúc đó người mẹ đem cơm tới.

Qua đó chúng ta thấy được tình thương của người mẹ, dù có trở thành điên khùng, đạo tặc, kẻ ác thủ như thế nào thì tình mẹ vẫn thương con, đem cơm cho con ăn. Vì cả nước, Nhà Vua ra lệnh cho quân lính truy lùng, truy sát, như truy nã hình sự toàn quốc, còn ông này thì trốn trong rừng, nên các quân lính không biết để tìm. Ông ấy núp trong lùm, trong rừng rú, kẹt, hốc mà lâu lâu mới xuất hiện bắt người ta chặt tay nhưng ông ấy rất hung dữ, sức mạnh phi thường nên lính cũng sợ.

Người mẹ đem cơm vào, đi tìm con nhưng ông này đúng ra phải thấy được mẹ mình thì xúc động, cảm động nhưng lại suy nghĩ theo kiểu ngu si, mê muội, điên đảo thì lại nghĩ là “Giờ chặt tay của mẹ là đủ số, để nộp, để được truyền pháp đắc đạo.” Là muốn giết cả mẹ mình.

Lúc đó Đức Phật đang ngồi thiền định, buổi sáng thì Đức Phật thường trú trong định đại bi, trải tâm từ khắp tất cả chúng sanh nên Ngài thấy có nhân duyên độ được cho chành Vô Não này nên Đức Thế Tôn đi đến thì chàng Vô Não này mừng quá nên nghĩ là “Có ông thầy tu này rồi, để xử ông ấy, không giết mẹ mình.” Nên ông ta cầm dao đuổi theo Đức Phật. Nhưng Đức Phật đi ung dung, đi thiền hành nhưng chạy hoài vẫn không tới. Lúc đó Đức Phật sử dụng thần thông.

Đức Phật đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức này thì Ngài xem nó giống như là bong bóng, bọt nước, trống rỗng, trống không, trống trơn, tâm Ngài không còn chấp thủ vào trong sắc này nữa. Nên Ngài tự tại với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đối với tứ đại. Giờ mình thấy hoa hồng này đẹp thì mình khoái, thích còn nếu là hoa khác xấu thì mình lại bực bội. Ví dụ như nhà, chùa đẹp thì mình thích, khoái còn không đúng ý mình thì mình bực, sân, khó chịu. Còn thân này mình cho là của mình nên ai khen thì phổng cả mũi, nhưng chê thì mặt sụ xuống.

Còn Đức Thế Tôn không cho sắc này là mình, là của mình, Ngài thấy sắc là sắc, là tứ đại, tâm Ngài không nắm giữ trong đó nên Ngài tự tại với các sắc, vì tâm mình không được thoải mái, không thảnh thơi, không tự tại là tại vì mình cho cái đó là của mình. Ví dụ có người khác để túi đồ rất quan trọng của người ta nhưng bị mất thì mình dửng dưng “Không dính dáng gì tới tui! Ai mất thì mất, kệ, miễn đồ của tui đừng mất thì thôi!” Nhưng tới khi mất túi đồ của mình thì ra sao? Sân si, bực bội, lo lắng... Vì túi đó là túi của tôi, còn túi của người ta thì kệ.

Đức Thế Tôn ngay cả thân này thì Ngài cũng không cho đó là mình nên Ngài tự tại đối với tất cả các sắc. Đó là sự thật mà mình lại không sống với sự thật, nên mình khổ đau, Đức Phật sống với sự thật nên Đức Phật không khổ. Ngài trú trong Diệt Thánh Đế là diệt những tham, sân, si, vô minh, dục ái, bản ngã đối với ngũ uẩn. Tâm Ngài không còn dính mắc gì nữa nên Ngài tự tại đối với đất nước gió lửa, sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chính vì vậy, ý của Ngài muốn như thế nào thì sắc đi theo ý của Ngài còn mình muốn trong tham, sân, si nên không được, Đức Phật muốn ở trong tâm đại bi, thanh tịnh, thuần nhất, bất động, Thánh trí nên ý Phật muốn gì thì tất cả các sắc theo ước muốn của Phật hết.

Đó gọi là ý sanh thân. Ví như Đức Phật đang ngồi thì Ngài muốn hình tướng của Ngài là chư thiên thì hình tướng của Ngài là một vị vua trời, ngồi ngang với một vị vua trời khác nói chuyện. Ngài không còn thân của một ông thầy tu nữa. Đó gọi là ý sanh thân, gọi là thần thông tối thượng của Đức Phật. Còn các thần thông tiểu xảo của ngoại đạo, của người ta luyện là khác, luyện vài ngày sau sẽ mất. Đức Phật không cần luyện gì vì tâm thông thì tất cả các pháp thông, tâm xuất ly nên tất cả các pháp tự tại.

Ví dụ như bây giờ Minh Thành ngồi đây nhưng Minh Thành không thấy có cái gì là của Minh Thành thì xui rủi một chiếc quạt rơi xuống trúng đầu thì sẽ ngã ra chết là bình thường. Như vô thường Đức Phật đã nói, tứ đại là tứ đại, không phải là tôi hay của tôi thì tâm mình vẫn trú trong định, tuệ. Vậy nên mình tu rốt ráo sẽ tới mức tâm bất động giải thoát, không còn gì là tôi, của tôi hết.

Ý của Ngài muốn là muốn cho chàng Vô Não đó không đuổi kịp Ngài dù Ngài đi bình thản, ung dung nhưng đuổi theo hoài không tới nên gọi: “Sa-môn, đứng lại!” Thế Tôn mới nói là “Ta đã đứng lại từ lâu, chỉ có ngươi là đang chạy ở trong tâm ác, tâm hung hăn, bạo ngược, hung tàn, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa.” Đức Phật giảng pháp cho tên Vô Não đó nghe, nghe tới đâu thấm tới đó, nghe tới đâu chấn động tới đó, rung chấn toàn thân tới đó. Tay chân bủn rủn, rơi dao ở đó, sụp xuống, quỳ xuống rồi sau đó lạy Đức Phật, nước mắt đầm đìa đầy mặt, biết mình sai lầm khi đi tin tà sư ngoại đạo, thức tỉnh, giác ngộ, đi xuất gia.

Sau đó tu thời gian ngắn, nghe Đức Phật giảng pháp thì ông đó chứng đắc Thánh quả tối cao A-la-hán quả, sạch hết tham, sân, si, vô minh, dục ái. Đó gọi là buông con dao xuống, lập tức giác ngộ.

Và này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau: "Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào, người ấy sẽ cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy".

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Tức là tuy là thành Thánh nhân rồi nhưng nghiệp ác lúc xưa chưa hết thì bây giờ mỗi lần đi khất thực là bị ăn đòn, bị ném cây, đá, bị chảy máu, u đầu, ôm đầu máu về. Nhưng Ngài không sân si, tức giận vì Ngài biết rằng đây là kết quả, quả dị thục, là những cái mình đã làm, giờ nó biến đổi, chính mùi, trổ quả rồi mình nhận thì chuyện đó là đương nhiên, còn không nhận mới là chuyện lạ, còn nhận quả đó thì đúng là nó phải như vậy mới đúng thì Ngài chấp nhận hết, Ngài không sân.

Vì Ngài biết đây là mình nhận lãnh những quả đã gây ra, đã làm. Nên Đức Phật nói:

Và này các Tỷ-kheo, có ai nói như sau: "Người này làm nghiệp được cảm thọ như thế nào, như thế nào, người ấy sẽ cảm thọ quả dị thục như vậy, như vậy".

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Không phải là đã thành Thánh thì sạch hết, quỵt nợ người ta mà phải trả quả đó, có điều là tâm của Ngài không bị đau khổ, vì Ngài biết đó là đương nhiên. Ví như quý vị mượn tiền người ta, đến lúc người ta tới đòi mà mình có tiền thì mình trả và mình thấy cái này là lẽ đương nhiên. Tâm được bình an, trở thành bậc Thánh tăng, gọi là Vô Não.

Sau này có câu chuyện một người phụ nữ đẻ khó, sanh không được, bị quằn quại, đau đớn thì mấy người này mới tới cầu xin Ngài nhưng Ngài không biết về những việc đó thì Ngài lập tức trở về, Đức Phật nói là “Ông đến nói là từ khi tôi sinh ra cho tới bây giờ tôi hoàn toàn không có ý niệm hại ai. Xin đem công đức này hồi hướng cho mẹ tròn con vuông. Ông nên nói như vậy!” Thì Ngài đó đi tới nói như vậy: “Từ khi tôi sinh ra trong giáo pháp này cho đến nay tôi không có một ý niệm ác nào đối với một chúng sanh nào hết. Xin công đức này để cho mẹ tròn con vuông.” Khi Ngài đó nói xong thì cô gái đó sanh được ngay.

Vì từ khi Ngài sanh ra trong giáo pháp, Ngài trở thành bậc Thánh tăng thì Ngài không hại ai, trước đó mới là một chúng sanh mê lầm, tà kiến, đi theo ngoại đạo thì mới có tâm hại. Nhưng khi Ngài gặp Đức Phật giảng pháp cho Ngài thì Ngài giác ngộ thì Ngài không hại ai nữa, thành Thánh tăng. Ngài hồi hướng thì lập tức được như ý ngay.

Nên chúng ta thấy được công đức của các bậc Thánh lớn như vậy. Nên mong cúng và gặp được các bậc Thánh tăng, các bậc hiền tăng, giới đức thì phước đức gấp hàng triệu lần hoặc là không tính được con số. Công đức đó gọi là vô lượng vô biên, không tính được con số.

III. Tầm quan trọng của thiện nghiệp

Qua câu chuyện đó để chúng ta thấy được ý nghĩa thứ hai là mình làm những nghiệp mà cảm thọ như thế nào thì người ấy phải cảm thọ quả dị thục như vậy. Tức là mình tu thì mình sẽ được giác ngộ, thay đổi nhưng những cái mình đã làm thiện hay ác thì mình phải chịu kết quả, cảm thọ đó.

Có những vị Tỳ-kheo thời Đức Phật như Ngài Sivali, các chùa Nam Tông có thờ, nhất là các chùa Nam Tông nguyên thủy, chúng ta thấy Ngài có cái bình bát, Ngài đang ăn cơm và Ngài ngồi thọ trai. Ngài đó rất đặc biệt, Ngài sinh ra thì tự nhiên phát đạt, sung mãn, kho đầy tràng, khi Ngài xuất gia rồi thì đi tới vùng nào cúng dường đầy ấp chúng tăng, bất cứ lúc nào có mặt Ngài là đầy ắp những lương thực, thực phẩm, vật chất cúng dường. Gọi là Ngài phước đức đệ nhất trong hành Thánh chúng. Ngài ấy đi tu không làm ra tiền nhưng phước của Ngài trước kia, nhiều đời nhiều kiếp Ngài bố thí cúng dường thì bây giờ phước đó có quả dị thục của nó, tức là nó chín mùi, trổ ra quả đó.

Nên như vậy là nghiệp thiện, nghiệp ác không mất, kết quả của nó không mất, chính vì vậy nên Đức Phật khuyên mình nên làm điều lành, điều thiện, làm những việc thiện, việc công đức để những cái đó đời đời mình đi đâu thì mình đem theo, mình thành Thánh nhân rồi, xuất gia rồi nhưng mình hưởng cũng không hết thì các Tỳ-kheo khác được hưởng phước chung với Ngài.

Nên thiện nghiệp rất quan trọng, phước rất quan trọng và công đức rất quan trọng. Đừng nên làm con người ích kỉ, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ nhít, nhỏ nhặt, nhỏ bé, biết mình không biết ai. Phải nghĩ đến mọi người, phải luôn luôn nghĩ tới mọi người, chia sẻ, xin hãy cứ cho, những điều nho nhỏ cứ đem cho. Người cho pháp, người thì cho tài vật, cái gì cho được cứ đem cho. Phước, thiện nghiệp của mình rất đẹp.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Ý nói một việc rất nhỏ nhưng xuống địa ngục.

4. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, nói gì là nhiều.

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người nghèo khổ, ít sở hữu, ít tài sản. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người giàu có, có tiền của lớn, có tài sản lớn. Người như vậy, này các Tỷ- kheo, không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Ví dụ ở đời sống thực tế, chỉ có năm trăm ngàn hay một triệu mà xảy ra án mạng hình sự. Như câu chuyện vợ chồng đòi lấy năm trăm ngàn rồi cự cãi, đánh nhau rồi giết chết chỉ vì năm trăm ngàn. Như vậy ở hiện đời là đã đi vào tù ngục, sau khi nhắm mắt thì ở trong địa ngục. Chúng ta thấy chỉ vì năm trăm ngàn, thậm chí có lúc còn ít hơn, chỉ vì mấy chục ngàn gửi xe làm cự cãi, đánh nhau, đâm chém nhau chết, chuyện rất nhỏ nhưng trở thành hậu quả rất lớn. Vì người này không có phước đức, người này có tâm hung dữ, hung bạo, hung tàn, ác độc, sân hận, bản ngã nên chỉ vì một chút như vậy là đã đi vào trong tù ngục.

Đối với mình, hai chục, năm chục ngàn thậm chí hơn mà mình chưa hẳn là giàu nhưng vì mình hiền. Mình tu hiền, tâm mình là tâm từ thì “Lỡ rồi thì thôi kệ! Cho rồi! Về mình làm kiếm cái khác.” Nên như vậy chúng ta có phước, năm trăm hay một triệu mà chúng ta không bị chuyện gì, thậm chí nhiều hơn hàng chục lần nhưng mình nghĩ “Tất cả có nghiệp quả hết. Thôi trải tâm từ để bố thí cho rồi. Giờ hơn thua, gây gổ đưa ra tòa kiện thì mệt lắm.” Có những việc không có gì nhưng hành hạ, thưa kiện mười tám năm. Chúng ta có thấy việc như vậy không?

Tâm hiền, tâm từ, tâm mình rộng rãi, độ lượng rồi lại thôi, như hốt nắm muối bỏ xuống sông. Vậy giờ muốn bỏ vào chén hay bỏ xuống sông? Tâm của mình giống như dòng sông, đại dương rộng lớn, bao la, vô lượng, vô biên. Còn tâm nhỏ xíu chỉ như nắm muối, tham, sân, si, suốt ngày hở chút là bực, quạo, cự cãi, ghim gút, móc câu, châm chít. Nhiều khi chỉ có một chút mà tan nhà nát cửa, chị em ruột nhưng không nhìn mặt nhau mấy chục năm. Chúng ta thấy rõ ràng ngay trong đời này, không cần tới đời sau.

Đối với người có tâm rộng rãi, tâm hiền từ thì không có là gì “Thôi kệ!”. Còn không là “Không được là nha. Đừng ai đụng tới tôi! Đụng tới tôi là có chuyện.” là xong, chỉ có nắm muối, tâm chỉ bằng cái chén, cái ly thì bỏ nắm muối vào bị mặn chát, cay, đắng, mặn. Còn tâm như một dòng sông, biển cả rộng lớn, bỏ nắm muối xuống dòng sông thì uống hay nấu thoải mái.

Lúc xưa có cuốn sách về câu chuyện dòng sông rất hay, tâm mình như dòng sông, rộng lớn, tuôn chảy, mát mẻ, ngọt ngào. Vậy nên mình tu tâm hiền có giá trị vô cùng quan trọng khi tu tâm hiền, tâm từ đó.

Nên phải tu tâm mình như dòng sông, phải độ lượng, rộng lớn, tươi mát, mát mẻ, trong lành, thấm nhuần, luân lưu. Dòng sông phải chảy còn hồ thì nước tù túng.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tợ, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được (trong đời sau), nói gì là nhiều.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Tức là, người này làm tội lỗi một chút thì người này chịu quả báo tương xứng chút đó ngay trong đời này là xong, hết. Còn người thiếu phước thì đưa thành nhiều kiếp, nhiều trăm năm, trăm ngàn năm ở trong địa ngục. Nên phước của mình giống như dòng sông. Thích, muốn, yêu, quý làm phước; sướng, hạnh phúc, hân hoan, hứng thú, thú vị, hoan hỷ, thích thú, yêu thích trong khi làm phước.

Quý vị xem giờ mình ngồi đây, khi mưa bão xuống thì mình thấy mình vẫn được an ổn, mình không bị gió táp, mưa sa, còn nếu mình không có phước thì giống như những người vô gia cư ở vỉa hè, công viên, đầu đường xó chợ thì khi mưa bão xuống thì họ phải chạy đi kiếm chỗ này chỗ nọ để núp vào, dù có lúc bị tạt ướt. Phước báo, công đức giống như căn nhà che chở mình.

Quý vị có nhà không? Có phước nhiều không? Nên cái nhà che mình, che khỏi nắng táp mưa sa, giông bão thì phước che mình khỏi những nguy hiểm, tai họa. Ví dụ như một số người đi chơi ở Vịnh Hạ Long, bay trên một chiếc trực thăng, đó là gia đình đi chơi bảy, tám người thì đúng ra là đi hết cả nhà nhưng lúc đó đứa con nhỏ bệnh, người mẹ ở nhà chăm sóc đứa con thì những người đi trên trực thăng mất. Phước đã khiến cho mình lúc đó không gặp tai họa, điều đó mình không thể nào biết được. Như ở ngoài đời thì nghĩ là “Tôi may quá!” hên, may mắn chính là phước đức khiến cho mình không gặp tai họa.

Hoặc chuyện về một chiếc máy bay rơi, có người đã tới lúc vé được mua xong trước mấy tháng thì tự nhiên tới ngày đi thì có chuyện gia đình đi không được thì những người đi bị rơi máy bay chết. Thậm chí là ra tới sân bay thì có cuộc điện thoại khẩn cấp nên về ngay, phải hủy chuyến bay nên được sống. Đó là phước báo, công đức thiện lành, che chở, bảo vệ, hộ mạng, bảo an, bảo hiểm, bảo toàn, bảo hộ cho mình.

Những người tu phước hạnh phúc, không giận ai, ngồi lại tâm mát dịu, ngọt lịm, khỏe, hiền từ, không giận ai hay ghét ai, không thù hằn đối với ai. Thương là thương vô cùng, mát mẻ, ngọt ngào, dễ chịu, hiền lành, tâm lúc nào cũng như quạt máy, mát hoài, dễ chịu.

Phải ham phước, muốn phước, phấn khởi, hứng thú, hạnh phúc, vui sướng, hân hoan với phước, phải thích, muốn, mong, yêu thích, say mê, thích thú, phấn khởi, hứng thú, thú vị đối với việc phước lành, phước thiện, công đức. Minh Thành rất thích làm phước, yêu việc làm phước, hoan hỷ với việc làm phước nên từ am tranh nhỏ nên nở ra thành cổng trời, giờ tới làng tu còn lớn hơn cổng trời, giờ đang trồng rừng làm thành một làng tu Nikaya, trồng tre làm Trúc lâm tinh xá như thời Đức Phật. Tâm mình chỉ muốn cho mọi người tu, tâm mình cứ hạnh phúc khi người ta tu, mình cứ như vậy, không nghĩ gì khác, người ta tu được thì Minh Thành rất vui, còn khi lên ngồi vài người thì buồn. Đi chơi, đi du lịch, đi xem đá banh thì đông như lễ hội, còn đi tu thì nhìn thấy buồn hiu, vắng hoe.

Vậy giờ muốn làm cái chén hay dòng sông?

IV. Người nghèo khổ

Ví dụ thứ hai là ví dụ người bị phạt tù:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Ý nói, có người bị tù tội chỉ vì nửa đồng tiền, như chuyện giữ xe vì mười ngàn, năm ngàn; lại có người bị tội vì năm trăm ngàn, có người bị tội cả triệu. Là bị tù tội vì năm ngàn, năm chục ngàn, năm trăm ngàn nhưng lại có người không bị tù tội.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người nghèo khổ, ít sở hữu, ít tài sản. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị tù tội vì nửa đồng tiền, bị tù tội vì một đồng tiền, bị tù tội vì một trăm đồng tiền.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người giàu có, có tiền của lớn, có tài sản lớn. Người như vậy, này các Tỷ- kheo, không bị tù tội vì nửa đồng tiền, không bị tù tội vì một đồng tiền, không bị tù tội vì một trăm đồng tiền.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có người làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Đó là ví dụ về giàu và nghèo. Người nghèo khổ không có gì, nhà có mấy tấm tôn, quần áo thì cũ kĩ, chỉ có hai ba bộ, ăn không no thì người này vì năm, ba đồng có thể bị người ta bắt, bị đánh, bị chửi, thậm chí vì bị bỏ tù, vì người này nghèo, không có tài sản. Nhưng còn người giàu có, tiền của lớn, đại gia, có vì năm ngàn hay năm chục ngàn, năm trăm ngàn mà bị người ta bắt tù tội không?

Người nghèo là ví dụ cho người không có phước, chỉ một chuyện nhỏ cũng đủ làm cho mình rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Ví dụ, một nhà là trại mộc, cưa tiếng ồn, trưa nắng nóng cùng tiếng ồn và mạt cưa bay qua thì bên này khó chịu, đi qua cự cãi, nói qua nói lại rồi lại xảy ra án mạng. Mạt cưa đó có lớn không mà lại xảy ra giết người? Đó là người không tu tập, tâm không hiền thiện, tâm hung dữ, hung hăn, hung bạo, hung tàn, hung tợn, hung hãn, chỉ có mạt cưa thôi nhưng giết người ta chết, đọa địa ngục, ngay ở hiện tại thì vào tù và chết thì xuống địa ngục. Vậy mạt cưa là lớn hay nhỏ? Chỉ có chút xíu như vậy.

Đối với mình, ví dụ như mình thì bất quá mình chỉ bực mình một chút rồi thôi, mở thiền quán lên nghe, mở những bài Minh Thành đã giảng lớn lên. Nên có nhiều Phật tử hỏi là “Giờ con bực mình tiếng karaoke quá mà giờ con không biết cách nào tu” thì Minh Thành kêu hãy mở bài thiền quán lớn lên, cho át tiếng karaoke kia. Hoặc nói ngồi thiền hoài không được thì Minh Thành chỉ mở pháp lớn lên, lớn hơn tiếng bên kia nữa, ngồi đó nghe, quay trở lại nhiếp phục cảm thọ bực bội, khó chịu này nên mở pháp lên nghe. Người ta mở nhạc mà mình không thích nghe nhạc thì mình mở pháp, còn mình ngồi đó bực hoài chi cho mệt. Vậy nên tu có trí huệ, tâm sáng rất hay, tâm mờ tối, khổ đau.

Nên quý vị thấy nghèo cùng không có phước huệ, Đức Phật nói người không biết tu thì tâm rất nghèo nàn, tâm cứ khó chịu, bực bội, một ánh mắt thôi là về ăn không được, ngủ không được, rồi một câu nói thôi cũng về hờn mát, tức giận. Hoặc một hành động để đồ hơi lớn chút là ghim gút, sân hận, đó là một tâm nghèo khổ, tâm kiếm chuyện, để ý thấy rác nhà ai thì lại nhặt đem vào nhà mình cho dơ, thối, dù quét ra không hết nhưng lại ra lấy rác của người ta đem vào nhà mình rồi lại làm dơ nhà mình thêm.

Vậy nên đừng làm người nghèo khổ trong đạo pháp, tâm của mình phải giàu có trong đạo pháp là “Tội nghiệp, thương, người ta không biết tu mà! Có gì đâu! Giống như lúc trước mình không biết tu vậy! Thôi kệ, tội nghiệp, thương. Người ta không hiểu, không biết mà. Người ta không tu mà mình tu.”

Người tu tâm thật là hiền,

Tâm hoài thanh tịnh nụ cười bình yên,

Người tu tâm thật là yên,

Thọ hiền tỏa sáng yên vui khắp nơi.

Đó là một nội tâm giàu có, mình giàu có thì ở trong này tràn ngập cảm giác hạnh phúc, hỷ lạc, thương yêu, trong này thân không chứa nổi hạnh phúc đó nên biểu lộ ra ánh mắt từ bi, môi lúc nào cũng tươi thắm, nở ra mặt lúc nào cũng như hoa, từng cảm giác của mình dễ chịu, ngọt ngào, hiền lành, ai chạm tới thì mát rượi như vậy, dễ chịu, vui. Người ta làm cho mình khó chịu thì mình cũng dễ chịu thì như vậy mới là dễ chịu thật.

Bây giờ mình dễ chịu với người dễ chịu thì là chuyện bình thường, ai làm cũng được, không cần tu, còn người khó chịu mà mình vẫn dễ chịu được thì cái này mới tuyệt diệu, đó mới là tu. Họ tới kiếm chuyện với mình, họ bực bội, sân hận mà mình vẫn dễ chịu, ngọt ngào “Tội nghiệp, họ đang khổ, tội nghiệp họ. Mình đang hạnh phúc, mình đang có tâm từ lớn, có cả một dòng sông, còn người này có cái chén một chút thì cho họ, cho nước để họ thêm vào.” Lấy nước trong dòng sông rót qua thêm cho họ thành ao, thành hồ, chứ họ chỉ như một cái chén nhỏ một chút.

Nên nhà họ cháy mà họ lấy chén nước đó thì không dập tắt được, nên mình đem dòng sông của mình tới. Tu là tỷ phú của nội tâm, tâm hồn, tâm từ, tâm hiền, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, tỷ phú của tứ vô lượng tâm, tâm mình lúc nào cũng ngọt ngào. Mình tu như vậy mà con, chồng theo mình tu luôn, hỏi là “Mẹ tu ở đâu mà từ ngày mẹ tu tới giờ thấy mẹ hiền. Nhìn thấy tâm của mẹ rất dễ chịu, mát dịu.” Cảm hóa người chồng và cả con, thậm chí lên núi xuất gia gieo duyên.

Còn tu mà mới đi về nhà mà mặt lạnh xuống là thất bại. Nên mình tu thì tâm mình giàu có, giàu tâm từ, tâm hiền, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả. Từ là tâm thương, tâm bi là tâm xót, tâm hỷ là tâm vui, tâm xả là tâm buông bỏ, tha thứ. Tâm thương xót, vui vẻ, tha thứ, buông bỏ. Như mình nghe từ bi hỷ xả thì có vẻ nghe dữ dội nhưng nghe theo tiếng Việt là tâm xót thương là tâm từ bi, tâm vui vẻ là tâm hỷ, tâm tha thứ, buông bỏ là tâm xả. Vậy có tha thứ không? Người ta có lỗi một chút thì mình có tha thứ được không? Mình nhớ lỗi đó hoài thì khi mình nhìn họ mình rất khó chịu, mình khổ. Ví dụ chồng mình có lỗi một chút thì thôi, tha thứ đi, nhưng bảy ngày sau lại nhắc lại, xong lại hai tuần sau nhắc lại nữa, ba tháng sau lại nhắc thì ông ấy nghe thấy rất bực bội, khó chịu “Nhắc hoài, nói hoài. Bỏ rồi nhưng nhắc riết thì tự ái.” Nên tập tâm tha thứ, buông xả, tâm xót thương rộng lớn.

Minh Thành thấy rất hạnh phúc, vui, giờ này cảm thọ trong con người từ đỉnh đầu tới gót chân tràn ngập cảm giác hỷ lạc, hân hoan, phấn khởi, sung sướng, an lạc. Vui quá đến nỗi không muốn nói nữa, chỉ muốn ngồi hưởng hạnh phúc đó.

Mình có niềm vui cao thượng, niềm vui của thế gian là niềm vui tầm thường, bình thường, tham, sân, si, còn niềm vui của pháp là thanh cao, cao thượng, thánh thiện, niềm vui đưa mình lên như vậy. Rất rộng lớn, cao thượng. Nhưng lại không chịu tu thì có uổng phí không?

Ví dụ một người đồ tể hay người giết dê, này các Tỷ-kheo, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết hay trói, hay tịch thu tài sản, hay làm như ý muốn. Đối với một số người cũng đánh cắp dê, không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý muốn.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, người đồ tể hay người giết dê, đối với một số người đánh cắp dê, có thể giết, có thể trói, có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người nghèo khổ, ít sở hữu, ít tài sản. Kẻ đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy có thể giết, hay trói, hay có thể tịch thu tài sản, hay có thể làm như ý người ấy muốn.

Như thế nào, này các Tỷ-kheo, người đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê, không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý người ấy muốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người giàu có, có sở hữu lớn, có tài sản lớn, hay nhà vua, hay đại thần của nhà vua. Người đồ tể hay người giết dê, đối với kẻ đánh cắp dê như vậy không có thể giết, không có thể trói, không có thể tịch thu tài sản, hay không có thể làm như ý người ấy muốn. Không có gì phải làm khác hơn là chắp tay và cầu xin như sau: "Thưa ngài, hãy cho con lại con dê hay giá tiền con dê".

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Ý nói, người nghèo khổ ăn cắp dê thì sẽ bị ông nuôi dê, đồ tể bắt và thậm chí bị bắt, trói, bị giết hay tịch thu tài sản. Còn người giàu có, có sở hữu lớn, hay nhà vua, đại thần của vua lấy dê của ông này thì ông này không dám giết, trói, không dám tịch thu tài sản, thậm chí phải chắp tay, cầu xin để xin lại con dê hay giá tiền của con dê. Tuy là bị lấy nhưng phải đi xin lại con dê hay xin lại tiền của con dê, nhưng là phải cầu xin.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, đối với một số người có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với một số người, có làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.

8. Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người có người thân không tu tập, giới không tu tập, tâm không tu tập, tuệ không tu tập, hạn hẹp, tự ngã nhỏ nhen, sống chịu khổ ít oi. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, làm nghiệp ác nhỏ mọn, và nghiệp ác ấy đưa người ấy vào địa ngục.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Ý nói, tại sao người này làm nghiệp ác nhỏ lại xuống địa ngục? Vì thân, giới, tuệ không tu tập, tức là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, là thân không tu tập. Tâm không tu tập là đầy rẫy tham, sân, si, hung dữ, hung hăn, đụng tới là bốc hỏa, sừng sộ, phẫn nộ, đó là tâm không tu tập. Giới không tu tập là không giữ giới nào hết, không quy y Tam Bảo, không thọ trì năm giới, giới không tu tập, trí tuệ không tu tập, là không tu tập về sự thật, vô thường, khổ, vô ngã, không nhận diện năm uẩn, không thấy vô thường, khổ của cuộc đời. Những người này làm nghiệp ác nhỏ thì nghiệp ác đó đủ sức đưa người đó vào địa ngục.

Chúng ta thấy những người hung dữ không? Chúng ta thấy những vị thành niên đua xe, cướp, giết… dù chỉ mười ba, mười bốn tuổi, vẫn chưa thành niên, chưa phải là thanh niên, chỉ mới là vị thôi. Như vậy là có lúc bị tuyên án mười mấy năm tù, hai mươi mấy năm tù, ba chục năm tù.

Nên quý vị có con cái rất quan trọng, phải hướng dẫn con mình thọ trì tam quy ngũ giới, thứ hai là từ nhỏ quý vị cần để ý, hướng dẫn con mình làm việc thiện. Ví dụ khi đang đi mà gặp bà cụ già bị mù hay người nghèo khổ, hay những đứa trẻ mồ côi thì quý vị nên hướng dẫn cho nó giúp người ta, kêu nó đưa, để tự tay cho nó đi làm. Quý vị dẫn nó tới viện dưỡng lão, trại trẻ mồ côi thì dạy “Con coi, bằng tuổi con mà những đứa trẻ không cha, không mẹ còn con có tất cả những cái quý báu thì con phải trân trọng.” Để cho nó biết, trân trọng những cái đang có, nếu không nó sẽ nghĩ đó là chuyện bình thường, chuyện đương nhiên, cha mẹ lo cho mình là chuyện đương nhiên thì giờ cho nó nhìn thấy, đó là trẻ mồ côi.

Đây là giáo dục rất quan trọng, quý vị đừng giao con mình, cháu của mình hết cho thầy cô. Đừng chỉ thương là lo cho ăn ngon, mặt đẹp, ở sang, suốt ngày cho đi chơi, đó là thương không tới nơi, thương đó rất cạn cợt. Phải thương là cho nó hiểu biết cuộc đời này còn nhiều góc độ, khía cạnh đau khổ, bất an, nhiều cái thiếu phước, không biết tu tập, rơi vào những nghiệp quả đau thương như vậy. Phải hướng dẫn, giáo dục, khích lệ, tạo điều kiện cho con cháu mình tiếp xúc những cảnh đó là rất quan trọng.

Cho nó nhìn thấy những cụ già neo đơn, độc thân, không ai nuôi. Như lâu lâu buổi tối mình đưa con, cháu mình ra những vỉa hè, gầm cầu, dạ cầu, cho nó cầm lấy những bánh mì hay gói mì để đem cho.

Thậm chí, mình hướng dẫn cha mẹ mình, mình đưa xe cho mẹ mình đi đến viện dưỡng lão. “Ngày sinh nhật của mẹ con tặng cho mẹ món quà, từ món quà vật chất đã có rồi thì con tặng thêm cho mẹ món quà tinh thần, để mẹ nhìn thấy. Nhiều khi mẹ hờn trách tụi con hoài, vô đây mẹ nhìn thấy, bớt hờn trách con.” Không phải là mình làm gì khác mà để cho mẹ mình có một tình thương với những người nghèo khổ, có khi có cơ hội nhìn lại cách sống của mình, cách cư xử của mình.

Đối với cha, anh em, con mình cũng vậy, mình tạo điều kiện cho họ, không phải là có tiền là bung ra đi chơi, đi ăn, xài, hưởng thụ thì đó là cũng cần nhưng phải để dành phần này, Đức Phật dạy mình là phải có phần bi điền. Kính điền, ân điền, bi điền, ba mảnh ruộng phước, mảnh ruộng cung kính là chỉ cho tam bảo, mảnh ruộng ân nghĩa là chỉ cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị em, bà con, những người thân có nghĩa tình với mình, mảnh ruộng thứ ba là mảnh ruộng xót thương, là bi điền, là những người nghèo khổ.

Ba mảnh ruộng đó là ba mảnh ruộng phước cho mình gieo, mình phải gieo vào ruộng phước đó là mình hướng dẫn cho chồng con, anh chị em, cha mẹ, cháu của mình cho nó đi những chỗ đó. Hoặc cho nó đi những trại tâm thần, cho nó thấy những người điên khùng khổ sở như vậy, để nhìn thấy những mảnh đời. Cho nó tiếp xúc những cái khổ của cuộc đời này, những hoàn cảnh đáng thương để cho nó có một sự nhìn nhận hoặc để cho cha mẹ mình cảm nhận.

Ngay lúc đó mình có lợi ích không? Mình có cảm nhận không? Đó là lợi mình lợi người, độ mình độ người, tự giác giác tha, tự độ độ tha, tự lợi lợi tha là chỗ đó. Không phải là suốt ngày chỉ dắt, kéo nhau đi chơi. Biết đi những chỗ đó, làm phước, gia tăng thêm trí tuệ, quán chiếu, thực tại của đời sống chung quanh mình là vậy.

Mình ở trong bốn bức tường mà mình chỉ nhìn thấy những cái gì mà mình khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ tới dục hấp dẫn, mình nhìn thấy người nào cũng đẹp, đồ nào cũng tốt, hoàn cảnh gia đình nào cũng như ý hết, mình không biết là còn rất nhiều những cái mà mình không thấy, không cảm nhận được. Như vậy để mình có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về cuộc sống này, để mình tu, để tâm của mình sâu sắc hơn, rộng lớn hơn, cảm thông hơn, từ bi hơn, rộng mở hơn. Để tâm của mình trở thành dòng sông mát mẻ, trôi chảy, thấm nhuần.

Hạng người như thế nào, này các Tỷ-kheo, có người làm nghiệp ác nhỏ mọn tương tự, và nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập, không có hạn hẹp, tự ngã to lớn, sống đời vô lượng.

Người như vậy, này các Tỷ-kheo, có làm nghiệp ác. nhỏ mọn tương tự, nghiệp ác ấy đưa người ấy đến cảm thọ ngay trong hiện tại, cho đến chút ít cũng không thấy được, còn nói gì là nhiều.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 – Chương Ba Pháp - Phẩm Hạt Muối - Bài kinh Hạt Muối)

Như vậy, người này thân được tu tập, giới được tu tập, tâm được tu tập, tuệ được tu tập. Tu thân, đừng để cho thân có nhiều lỗi lầm, ví dụ mình cầm cái tô là bể tô, cầm chén là bể chén, cầm cái nào cũng ầm ầm cái đó thì như vậy là chưa tu thân. Tu thân là mỗi cử chỉ, hành động của mình nhẹ nhàng, nhu nhuyến, êm dịu, thân của mình rất khéo léo, từ cách mình bước chân đi, cách mình để chén, xếp cái ghế, mỗi cái đều tu thân.

Mình tu như vậy quen rồi thì nếu có chút giận thì mình không dằn mâm, xắn chén đối với chồng con của mình, vì thân của mình đã được tu rồi, dù mình có khó chịu thì cũng để nhẹ xuống, mình kêu cảm thọ khó chịu này “Tan biến nha!” Còn mình không tu thân thì để nghe rầm, giận lên khi mang cái mâm ra. Khi mình tu thân thì không có những cái đó.

Mình phải tu, gì cũng phải tu, tu là tập, thực tập, là làm bài tập, tập tới lui để thuần thục thì gọi là tu thành công, tu thành chánh quả. Mình tập thân mình nhẹ nhàng, để cái ghế, bước chân cũng nhẹ nhàng, ngay ngắn, rồi từng đôi đũa, cái chén rồi từng cử chỉ, hành động của mình đều nhẹ nhàng.

Quý vị có dịp lên Linh Quy thì quý vị sẽ thấy một trăm người ăn cơm không nghe tiếng động, ho cũng không dám ho lớn, giảm âm thanh lại, tu là phải an tịnh, lắng dịu như vậy. Tu thân thanh tịnh, trang nghiêm.

Tu giới là ngày nào cũng phải nhớ niệm giới của mình, thọ đừng quên. Sáng mới ngủ thức dậy là “Con nguyện từ bỏ sát sanh. Con nguyện từ bỏ trộm cắp. Con nguyện từ bỏ tà dâm. Con nguyện từ bỏ nói dối, nói lời thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều, hung ác, phù phiếm. Con nguyện từ bỏ sử dụng những chất say sưa, nghiện ngập, ngu si, điên đảo. Con nguyện từ bỏ!”

Sáng thức dậy đọc một lần, giờ trưa rảnh đọc lần nữa, tối trước khi ngủ niệm giới lần nữa, nhắc giới, mình giữ. Ví dụ khi mình tới công viên thấy bông đẹp quá thì lại ngắt bông của người ta thì có phạm giới không? Đó là người ta không cho thì không được lấy. Và người nào cũng vậy thì công viên đã tan tành không còn gì nữa. Như vậy gọi là phá hoại tài sản của cộng đồng, một chút hành vi không ý thức đó trở thành không có văn minh.

Chúng ta đi nước ngoài thấy nước của người ta đẹp như thế nào, mình chỉ mới tới đã làm tan tành hết, đi đâu phá đó. Không có tu giới, tu thân nên như vậy, còn mình có tu thì nó đẹp. Nên quý vị thấy tu tâm là giảm bớt tham, sân, si, giảm hơn thua, tu tuệ là quán chiếu, thấy vô thường, khổ, vô ngã. Tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, cần nhớ thật kĩ.

Như vậy chiều nay chúng ta cần nhớ lại các hình ảnh: Thứ nhất là nắm muối để vào chén, để vào dòng sông và mình muốn làm dòng sông hay cái chén? Thứ hai là người bị phạt tù vì ăn cắp vì nửa đồng, một đồng, một trăm đồng. Người bị phạt tù ở đây là ví dụ cho người nghèo, người giàu, nghèo là nói về thiếu phước đức, nên dễ rơi vào đọa lạc trong ba đường ác. Còn giàu ở đây là giàu có công đức, phước báo. Vậy giờ chịu cái nào? Chịu giàu có công đức phước báo hay chịu nghèo nàn?

Tâm hở chút là giận, bực, ghim gút, khó chịu, thì tâm đó là nghèo hay giàu? Nghèo nàn, nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhắt, nhỏ nhoi, nhỏ nhít. Phải bỏ tâm đó, phải làm cho tâm mình rộng rãi, phước báo, giàu có. Chúng ta nhớ là Đức Phật dạy mình về ví dụ ăn cắp dê cũng vậy, nghèo thì dễ rơi vào trong khổ cảnh, nghèo ở đây là không biết làm phước, không biết tu tập thiện pháp, công đức. Còn người biết tu tập, tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, tu phước, tu huệ trang nghiêm, phước huệ song tu, bi trí đồng tu, là người giàu có, lỗi một chút nhưng phước che chở, bảo bọc, bảo vệ mình.

Giống như căn nhà, ngôi chùa, che để cho mình không để nắng táp, mưa sa, mình không bị cảm lạnh, trúng nắng, là mình nhờ phước báo che chở, bảo vệ, bao bọc, che chắn cho mình.

Lang thang trong sanh tử,

Lành dữ chẳng tỏ tường,

Mượn nghiệp hiền nghiệp thiện,

Làm chỗ để náo nương.

(Trích quyển Cửa vào bất tử)

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng sanh,

Đều trọn thành Phật đạo.