Ba Sự Thật Vĩ Đại
Ba Sự Thật Vĩ Đại 1
(Văn bản. Diệu Quang)
Khi năm vững ba sự thật này chúng ta mới đi vào Đạo trí đại luận, Minh Thành mong muốn rằng lớp ta học thấy rõ, nắm vững và thực tập được chứ không phải học cỡi ngựa xem hoa, học phớt sau này người người ta hỏi chỉ là kỷ niệm, Minh Thành muốn huynh đệ phải đi sâu, từ pháp học tới pháp hành mới có thể đạt tới pháp thành.
Minh Thành trích trong quyển Pháp hành thiền tuệ của Ngài Tôn giả Hộ Pháp, chữ Tôn giả là bậc tôn kính, Minh Thành đã đến Thiền viện Viên Không để thăm Ngài Hộ Pháp khoảng mười lần, Ngài là một bậc Cao tăng của Phật giáo Nguyên thủy được gọi là báu vật của Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam.
Ngày xưa mình học Vô thường-Khổ-Vô Ngã một cách rất lý thuyết, rất sơ lược bên ngoài, huynh đệ đi vào trong đây mới thấy rằng nghĩa lý Vô thường Khổ không Vô ngã là nguyên lý vĩ đại của vũ trụ vạn vật, ba sự thật vĩ đại tức là Tam tướng là Vô thường Khổ không Vô ngã, mình học cái này mình dùng sự chim nghiệm quán sát để mình thấy bản chất của thân tâm và vạn vật, tại vì mình bị che trong kinh đức Thế Tôn nói chúng ta là chúng sanh là giống như người mù và người điên, mình nghĩ một người mù không thấy đường lại còn điên thì không biết làm được cái gì, mù là vô minh không thấy được sự thật, điên là tà kiến còn gọi là điên đảo kiến là cái thấy biết đó lộn lạo lấy giả làm chân, lấy hư làm thật, lấy không làm có nên ví dụ này mình phải chim nghiệm, mình mới thấy mình còn dở không mình tưởng mình giỏi, thường thường mình phải chim nghiệm ví dụ này không thấy đường, mình học cái này là trị con mắt cho nó sáng lên, trị cho bình tỉnh trở lại, điên đảo kiến, tà kiến cái thấy của mình lộn ngược, ngược ngạo cái này rất quan trọng, quan trọng ở trong cái quan trọng, cốt tủy ở trong cốt tủy nếu mình nắm được cái này tất cả toàn bộ giáo pháp Tam tạng thánh giáo mở cửa bước vào, Pháp ấn là chỗ này, mình muốn học được cái này mình phải quang hết kiến chấp hiểu biết gọi là thân kiến, kiến chấp, thành kiến, kiến thủ, ngã kiến mình bỏ hết, một cái quạn trọng nhất của bậc vào dòng thánh nhập lưu, nhất là phá thân kiến cái này cực kỳ quan trọng nếu mình còn ở trong đau khổ mãi mãi không bao giờ dứt khổ, thân kiến là gì? kiến chấp về thân rất nhiều chữ đây là mình nói về kiến chấp Phật giáo Bali còn Phật giáo pháp triển còn nhiều danh từ khác như định kiến, tà kiến, vọng kiến, ngã kiến. Một cái sâu xa nhất mà đau đớn nhất về cái nhìn sai lầm về thân về tâm người ta gọi danh từ chuyên môn là danh và sắc pháp, chính cái nhìn sai lầm này là đầu dây mối nhợ của tất cả sự hỗn mang, hỗn loạn, hỗn độn hỗn hào trên cuộc đời này quan trọng, nếu ai phá được cái này là vào dòng thánh, người nào phá được thân kiến là nhập lưu, mình tu chỉ ngồi thiền hay tụng kinh ngồi được lâu lần chuỗi được dài hay làm gì ở ngoài đó là chưa dính dáng đến thánh pháp, tụng kinh, ngồi thiền, trì trú phục vụ cho cái này là đúng để phá thân kiến này là đúng nếu để cho cái này bồi đắp lên thêm thì trật sai. Năm nay là năm quyết định vào dòng thánh hay vào vòng dòng phàm, năm nay là năm cuối cùng có khi tháng này là tháng cuối cùng, tuần này là tuần cuối cùng hay ngày này là ngày cuối, cùng hay giờ này là giờ cuối cùng, giây phút này là giây phút cuối cùng đó chân nghĩa pháp vô tỉ pháp đó là chân lý đó là cái thấy vô thường, phải thường trực lúc nào cũng quán chiếu như vậy, tâm xả ly bớt chấp thủ mới thành tựu, mình tu ở vòng vòng ngoài, thân kiến này mà mình không phá được là mình bị mù lòa ở trong giáo pháp của Như lai nếu mình không thấy được một ngày suốt hai mươi bốn giờ mình toàn sống với cái này tức là cái nào cũng tôi, của tôi lúc nào mình suy nghĩ cái này tôi của tôi, cái này tôi ăn, tôi nói, tôi nghĩ, cái này tôi làm cái này của tôi, tất cả cái này là đang sống trong mù lòa và điên loạn. Cái này Minh Thành giới thiệu khái quát đại khái cho các huynh đệ nhắm được đại cương cương lĩnh từ đó nghiên cứu thêm và thực tập.
Đầu tiên trong mười sáu tầng trí huệ của thiền tuệ cái quan trọng nhất đầu tiên mình phải thành tựu được trí danh sắc, cái này mình tu rất hay rất tuyệt vời, cái trí huệ quan trọng đầu tiền của một hành giả để thực hành để thành tựu mình phải thành tựu được trí huệ về danh và sắc, trí huệ này phá thân kiến. Thế nào gọi là sắc pháp danh pháp? sắc pháp là tất cả mọi hình sắc, sắc uẫn nhưng danh pháp chỉ cho tâm có tên nhưng không có hình tướng, ngôn từ bây giờ là vật chất và tinh thần nên sắc pháp là tất cả mọi hình sắc trong vũ trụ này cái đó gọi là sắc pháp bao gồm thân mình.
Danh pháp là chỉ có cái tên mình nắm bắt nó không được đó là tâm, thọ, tưởng hành, thức nếu phân chia theo ngũ uẫn, cảm giác, tư tưởng, tâm hành và nhận thức gọi là danh pháp cho nên trí đầu tiên quyết định quan trọng của người tu hành giả tu tập là phải nhìn cho thấy được thân này là danh pháp, sắc pháp chứ không có mình trong đó, sắc pháp là phần kết hợp của tứ đại về đọc kinh Tứ niệm xứ, phải đọc phải tụng hành ngày nghiền ngẫm chứ mình thấy rõ rằng thân sáu chục ký lô mà mình gọi là thân của mình đó là sắc pháp, đó là sắc chất, là vật chất đây là sắc pháp, những cảm giác, cảm nhận, cảm nghĩ, những tư tưởng những tâm hành, nhận thức v.v..là danh pháp cái này là quyết định phải loại khỏi những tư tưởng của mình là tôi và của tôi đó chỉ là sắc pháp và danh pháp thì mới bước và trí tuệ thiền tuệ còn nghĩ đó là tôi là của tôi trí huệ này chưa có thành tựu, cái này phải thực tập liên tục cho tới loại bỏ hẳn cái ý nghĩ tôi và của tôi mà chỉ thấy rằng danh pháp và sắc pháp, tách ý nghĩ của tôi ra khỏi thân và tâm giống như nhà bác học một nhà nghiên cứu một đề tài hay đối tượng, đối tượng mình đang nghiên cứu là cái thân, là sắc pháp, đối tượng thứ hai có tên gọi mà không thấy được đó là những cảm giác, những tri giác, tâm hành, những nhận thức bên trong đó đó là đối tượng tứ hai để mình nghiên cứu. Người tu là công trình nghiên cứu vĩ đại chứ không phải nghiên cứu bên ngoài, nghiên cứu ngay nơi bản thân ngay nơi tâm, ngay nơi danh pháp sắc pháp, ngay nơi vật chất, ngay nơi tinh thần đối tượng nghiên cứu là thân tâm là danh là sắc pháp, quán chiếu, bước này quyết định nếu không qua khỏi bước này mình vĩnh viễn không đi vào trí tuệ Phật giáo đây là chân chánh trí tuệ Phật pháp, loại bỏ hẳn trong tư tưởng cái tôi cái của tôi không có cái nào là của tôi chỉ có danh pháp và sắc pháp mới tu được nếu mình đứng trên chỗ tôi tu, của tôi, tôi tu nhiều người kia tu ít, tôi thông minh người kia dốt, tôi hiểu người kia không hiểu, tôi lâu người kia mới đứng trên bản ngã vĩnh viễn trong hữu lậu hữu vi không phải trí huệ của Phật giáo nên lập cướp của trí huệ trong Phật giáo là từ chỗ vô ngã mà thực hành, chỗ sâu là chỗ này tất cả tôn giáo trên thế giới nó không có tôn giáo nào nói về trí huệ Vô ngã đây là nơi của đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng ngộ và thực thực hành pháp thiền tuệ này đi thẳng vào cội nguồn của Phật pháp, trí huệ đầu tiên thấy rõ trí huệ danh pháp và sắc pháp. Minh Thành đọc trong chánh tạng Bali Hòa thượng Minh Châu dịch này các Tỳ-kheo đây là sắc, sắc pháp, đức Phật ví dụ rất rõ một hôm đức Phật ở trong rừng đức Phật ngồi ở dưới gốc cây các Thầy Tỳ-kheo cũng ngồi xung quanh này các Tỳ-kheo nếu như có người nào đó mà họ đem lượm mấy cành cây gom lại họ đốt, lúc đó ông có nghĩ rằng họ đang lấy đồ của tôi, họ đang nắm tới tôi, họ đang lấy đồ của tôi, đốt của tôi không?
Dạ không
Đức Phật nói Thọ tưởng hành thức cũng vậy, cành cây lá đâu có dính tới mình khi người ta lấy mình thấy đâu có đồ của mình nên danh pháp sắc pháp cũng không phải là mình, thân này giống như mấy cành cây trong trí huệ đức Phật muốn truyền trao cho mình là như vậy. Cái khổ nhất thâm canh khố đế giang sơn dễ đổi bản tánh khó đời là sâu thẵm trong này là tôi nên quan trọng nhất là chuyển đổi nhận thức đây là chánh kiến của Phật giáo, công phu của Phật giáo quan trọng nhất là chuyển đổi nhận thức, nhận thức sai là thân kiến đây là cả một công trình rất vĩ đại có bài pháp đầu xuân nhắn nhủ là xuất gia là một công trình vĩ đại, nói sắc pháp thân pháp, mình nghe được pháp này gọi là chánh pháp khó nghe là chỗ này, có nhiều người nói giờ con thấy pháp kinh băng đĩa nhiều nhưng chỗ này là khó nghe là chỗ này khó chấp nhận, chấp nhận được thành thánh nhân, tại sao lại nói nó là danh là sắc là không phải tôi không phải của tôi?
Ba trạng thái chung là Vô thường Khổ trạng thái Vô ngã, tại sao tại? vì có sự sanh sự diệt liên tục không ngừng hai chữ sanh diệt này đây là pháp tu rất tuyệt vời tóm thâu thiền tuệ gọi là thành tựu sanh diệt trí hay mình nói cái quả còn nói cái nhân là sanh diệt quán.
“Này các Tỳ-kheo dù sống một trăm năm mà không thấy pháp sanh diệt chẳng bằng sống một ngày thấy được đạo lý sanh diệt Vô thường” cho nên nguời chân tu người tha thiết trong sự tu là luôn luôn nhìn thấy sanh diệt của danh pháp và sắc pháp nói đơn giản là thân tâm, tại vì mình quen mình nhìn theo biểu diện nhìn vào đẹp xấu mình nhìn vào hai phương diện mà mình không trú trọng vào bản chất sanh diệt, ví dụ nhìn đóa hoa này tươi đẹp ba bốn bữa nhìn sao xấu thôi quang bỏ đi chứ không thấy tính chất sanh diệt, hôm bữa thấy sanh nay thấy diệt, chẳng hẳn bưng ly nước trà lên khói hương nghi ngút đó là tướng sanh của ly trà nhưng uống từ từ hết đó là diệt, diệt hồi biến thể thành một loại nước khác, quán thêm bất tịnh sang một dạng khác màu nó cũng giống vậy nhưng ai cũng ghê nên tại mình cứ nhìn theo đẹp xấu không nhìn vào tính chất sanh diệt. Bây giờ hành giả phải nhìn thấy tướng sanh diệt ví dụ tiếng chuông nãy sanh giờ diệt nên người tu là để ý vào khía cạnh đó để người ta nhàm chán tất cả pháp sanh diệt, tại vì nó vô thường luôn luôn biến đổi, mình đi ăn đám cưới hay đi ăn đám đầy tháng hay tân gia thấy vui cười nói mình mới bước vào đây biết là tướng sanh khi về ai cũng mệt dọn dẹp đó là tướng diệt, mình không để ý mà cứ để ý vui buồn không thấy sanh diệt trong đó ở đó là nói cái thô, nói cái sâu hơn là mỗi hơi thở là sanh diệt, mỗi nhịp đập con tim mình là sanh diệt, mỗi bước chân của mình là sanh diệt nếu nói xấu không có cái mình mà sắc đi thân đi chứ không có cái mình đi bắt đầu chúng ta đi vào sự thực tập, ăn sắc nó ăn, thân nó ăn mà không có người ăn khống có mình ăn đó chỉ là pháp duyên khởi, không có cái mình ăn trong đó, loại được tư tưởng này ra từ từ khi nào loại hết là tu đà hoàng, bất cứ cái gì mình gắn cái mình vào chính cái này làm cho mình khổ, mình phải nhìn thấy khía cạnh sanh diệt của nó, muốn thành tựu được sanh diệt trí này mình quán chiếu hoài thường trực ví dụ mình thắp cây nhang lên là sanh chút xíu tàn hết là diệt, đốt viên trầm khói bay lên thơm uốn lượn khói rất đẹp hồi tàn diệt, mới mở pháp hội lên rần rần trang trí đẹp trưng bông dài đẹp từ cổng vào tới chánh điện, quay phim chụp hình tới chừng dọn xuống nét mặt khác quán chiếu việc đó, ngay chỗ bông mình thấy sanh diệt, mình chỉ cần đưa vô thì chỗ nào cũng là chỗ tu, lúc nào cũng nhìn bằng sanh diệt trí, sanh diệt quán, chính cái nhìn đó mới làm phá vỡ cái chấp thường, chấp lạc, chấp ngã, chấp luôn luôn vậy hoài, chấp vui ,chấp cái nào ra cái nấy rất cứng chắc, dùng sanh diệt trí để phá vỡ cái điên đảo kiến đây là trị bệnh thần kinh, mình nhìn lộn lạo sự vật gọi là tà kiến đảo kiến nãy mình trị bệnh vô minh là bệnh mù, giờ mình trị bệnh mát chập, cái này trị bệnh sanh diệt này rất sâu sắc, ví dụ mình thở vô thở ra mình thấy hơi thở sanh diệt, hơi thở sanh diệt, hơi thở chỉ là hơi thở chứ không phải mình thở tại vì danh với tướng với vọng tưởng đi chung với nhau, tên gọi ví dụ mình nói mình tự nhiên có cái mặt dễ thương cỡ chừng 55 ký, mặt trái xoan, da trắng, có eo mình nghĩ hình bóng cái đó là sắc tưởng sáu tưởng, sắc tưởng mình nói mình tự nhiên nhớ cái mặt của mình đó là sắc tưởng cho nên hễ mình có danh có tướng là có vọng tưởng đi liền với nhau, có tên có hình dáng có tưởng đi theo đó nếu mình loại khỏi cái tên cái tưởng bớt từ từ, ngay bây giờ đang có một cảm giác vui biết lúc đó có cảm giác vui chứ không phải mình có cảm giác vui, có một cảm giác vui sướng ngay bây giờ trong tâm mình nhìn hồi bớt từ từ không còn cảm giác vui sướng, chút xíu có cảm giác khổ, có một cảm giác khó chịu nóng nực mồ hôi đổ hay đạp xe mỏi chân đủ thứ có một cảm giác khó chịu đang có một cảm giác khó chịu trong tâm đây là quán thọ, lúc đó có cảm giác không phải vui cũng phải khổ không phải dễ chịu cũng không phải khó chịu cảm giác trung tính cảm giác này bất khổ bất lạc cảm giác này dễ bị si tức là cảm giác dễ chịu tham, cảm giác bất mãn khó chịu là sân, cảm giác không dễ chịu không khó chịu là si, cái nào cũng dính rất ghê gớm nếu mình không phải là cao thủ bậc hành giả thâm sâu thì mình không thểnhìn rõ tâm mình lúc nào cũng gắn chặt với tham ái, si, mê, vô minh, ngã mạng, tà kiến chấp thủ trử hành giả thực tập trí huệ thiền tuệ rất sâu sắc, bây giờ mình nghĩ ngồi niệm Phật lần chuỗi mình nhìn thấy mấy người kia đang đi làm gì đó còn mình ngồi tu đó là thân kiến, khác nhau của người tu và trí huệ Vô ngã khác một trời một vực, mình ngồi thiền nay được yên tịnh đã quá sao tự nhiên đánh chuông chi, mình ngôi cho oai phong cái đó vừa có ngã vừa có tham ái trong đó tuy là thiện pháp, ai được thanh tịnh, tôi được cho nên chỗ này lập cướp rất quan trọng nếu không nắm vững trong hữu lậu trong sanh diệt tới mức độ nào cũng khổ đau vì không loại được cái vô minh, mình làm bao nhiêu công tác cũng vậy, mình làm mình luôn quán chiếu về Vô ngã không có tôi không có của của tôi thì mình làm ít thấy mình bị bực ít thấy mình có công, không khoe công, không cư công, không biểu hiện công lao nên công đó trở thành công đức, tại đâu có mình không có tôi lấy gì tôi làm nhiều hơn tại mỗi giây mỗi phút mình tu cái đó rồi, cái đó đi tới công đức vô vi vô lậu chỗ này mình chim nghiệm cho kỹ, nếu mình không đứng lập trường này tu đại đa số tất cả mình đều gắn cái tôi vào mà gắn cái tôi vào chạm tới là có chuyện đây là thặm thâm pháp nghĩa linh hồn của Phật giáo, nên người ta nói làm mà không thấy mình làm, vì mình đang tu cái này, vẫn làm siêng năng nỗ lực mà không thấy mình làm nên cái làm được hoài đó là vô vi như vô sở bất vi, không có làm nhưng không có gì mà không làm cho nên tu vô tu tu chứng vô chứng chứng là tại vì tu tới chỗ không có mình, không có mình lấy gì chứng từng nào có gì đó mới chứng ngay chỗ không có tôi là chỗ chứng rất sâu, chỗ đó là thặm thăm vi diệu pháp. Ngài Ứng Thuận đạo sư nghiên cứu cả cuộc đời trong Pháp tạng kết thúc cho chúng ta biết rằng Tương ưng bộ kinh trong năm bộ kinh Nykaya bộ Tương ưng đó gọi là vô biên thậm thăm pháp nghĩa, bộ kinh đó nói về ba sự thật này Vô thường Khổ không, Vô ngã, chỗ quan trọng mình ứng dựng được vào trong đời sống chỗ này mới quý nên mình tu tới chỗ mình ngồi không thấy mình ngồi, sắc pháp ngồi danh pháp ngồi nên các bậc A-la-hán họ nhập thọ tưởng định kiếp này qua kiếp kia có mấy câu chuyện nói móng tóc mọc dài không biết vì không còn cái tôi nên đạt tới cảnh giới bất khả tư nghì siêu việt, còn mình có cái tôi tới giờ cơm rồi tới giờ ngủ rồi... lúc nào mình cũng thời gian không gian trong cái tôi của tôi lòng dòng không đi ra khỏi còn phá vỡ cái tôi nên phá tung tất cả giới hạn không còn hạn chế vượt qua cái nghiệp, nghiệp là những thói quen cách sống trở thành cái nghiệp.
(Văn bản. Diệu Quang)
Khi năm vững ba sự thật này chúng ta mới đi vào Đạo trí đại luận, Minh Thành mong muốn rằng lớp ta học thấy rõ, nắm vững và thực tập được chứ không phải học cỡi ngựa xem hoa, học phớt sau này người người ta hỏi chỉ là kỷ niệm, Minh Thành muốn huynh đệ phải đi sâu, từ pháp học tới pháp hành mới có thể đạt tới pháp thành.
Minh Thành trích trong quyển Pháp hành thiền tuệ của Ngài Tôn giả Hộ Pháp, chữ Tôn giả là bậc tôn kính, Minh Thành đã đến Thiền viện Viên Không để thăm Ngài Hộ Pháp khoảng mười lần, Ngài là một bậc Cao tăng của Phật giáo Nguyên thủy được gọi là báu vật của Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam.
Ngày xưa mình học Vô thường-Khổ-Vô Ngã một cách rất lý thuyết, rất sơ lược bên ngoài, huynh đệ đi vào trong đây mới thấy rằng nghĩa lý Vô thường Khổ không Vô ngã là nguyên lý vĩ đại của vũ trụ vạn vật, ba sự thật vĩ đại tức là Tam tướng là Vô thường Khổ không Vô ngã, mình học cái này mình dùng sự chim nghiệm quán sát để mình thấy bản chất của thân tâm và vạn vật, tại vì mình bị che trong kinh đức Thế Tôn nói chúng ta là chúng sanh là giống như người mù và người điên, mình nghĩ một người mù không thấy đường lại còn điên thì không biết làm được cái gì, mù là vô minh không thấy được sự thật, điên là tà kiến còn gọi là điên đảo kiến là cái thấy biết đó lộn lạo lấy giả làm chân, lấy hư làm thật, lấy không làm có nên ví dụ này mình phải chim nghiệm, mình mới thấy mình còn dở không mình tưởng mình giỏi, thường thường mình phải chim nghiệm ví dụ này không thấy đường, mình học cái này là trị con mắt cho nó sáng lên, trị cho bình tỉnh trở lại, điên đảo kiến, tà kiến cái thấy của mình lộn ngược, ngược ngạo cái này rất quan trọng, quan trọng ở trong cái quan trọng, cốt tủy ở trong cốt tủy nếu mình nắm được cái này tất cả toàn bộ giáo pháp Tam tạng thánh giáo mở cửa bước vào, Pháp ấn là chỗ này, mình muốn học được cái này mình phải quang hết kiến chấp hiểu biết gọi là thân kiến, kiến chấp, thành kiến, kiến thủ, ngã kiến mình bỏ hết, một cái quạn trọng nhất của bậc vào dòng thánh nhập lưu, nhất là phá thân kiến cái này cực kỳ quan trọng nếu mình còn ở trong đau khổ mãi mãi không bao giờ dứt khổ, thân kiến là gì? kiến chấp về thân rất nhiều chữ đây là mình nói về kiến chấp Phật giáo Bali còn Phật giáo pháp triển còn nhiều danh từ khác như định kiến, tà kiến, vọng kiến, ngã kiến. Một cái sâu xa nhất mà đau đớn nhất về cái nhìn sai lầm về thân về tâm người ta gọi danh từ chuyên môn là danh và sắc pháp, chính cái nhìn sai lầm này là đầu dây mối nhợ của tất cả sự hỗn mang, hỗn loạn, hỗn độn hỗn hào trên cuộc đời này quan trọng, nếu ai phá được cái này là vào dòng thánh, người nào phá được thân kiến là nhập lưu, mình tu chỉ ngồi thiền hay tụng kinh ngồi được lâu lần chuỗi được dài hay làm gì ở ngoài đó là chưa dính dáng đến thánh pháp, tụng kinh, ngồi thiền, trì trú phục vụ cho cái này là đúng để phá thân kiến này là đúng nếu để cho cái này bồi đắp lên thêm thì trật sai. Năm nay là năm quyết định vào dòng thánh hay vào vòng dòng phàm, năm nay là năm cuối cùng có khi tháng này là tháng cuối cùng, tuần này là tuần cuối cùng hay ngày này là ngày cuối, cùng hay giờ này là giờ cuối cùng, giây phút này là giây phút cuối cùng đó chân nghĩa pháp vô tỉ pháp đó là chân lý đó là cái thấy vô thường, phải thường trực lúc nào cũng quán chiếu như vậy, tâm xả ly bớt chấp thủ mới thành tựu, mình tu ở vòng vòng ngoài, thân kiến này mà mình không phá được là mình bị mù lòa ở trong giáo pháp của Như lai nếu mình không thấy được một ngày suốt hai mươi bốn giờ mình toàn sống với cái này tức là cái nào cũng tôi, của tôi lúc nào mình suy nghĩ cái này tôi của tôi, cái này tôi ăn, tôi nói, tôi nghĩ, cái này tôi làm cái này của tôi, tất cả cái này là đang sống trong mù lòa và điên loạn. Cái này Minh Thành giới thiệu khái quát đại khái cho các huynh đệ nhắm được đại cương cương lĩnh từ đó nghiên cứu thêm và thực tập.
Đầu tiên trong mười sáu tầng trí huệ của thiền tuệ cái quan trọng nhất đầu tiên mình phải thành tựu được trí danh sắc, cái này mình tu rất hay rất tuyệt vời, cái trí huệ quan trọng đầu tiền của một hành giả để thực hành để thành tựu mình phải thành tựu được trí huệ về danh và sắc, trí huệ này phá thân kiến. Thế nào gọi là sắc pháp danh pháp? sắc pháp là tất cả mọi hình sắc, sắc uẫn nhưng danh pháp chỉ cho tâm có tên nhưng không có hình tướng, ngôn từ bây giờ là vật chất và tinh thần nên sắc pháp là tất cả mọi hình sắc trong vũ trụ này cái đó gọi là sắc pháp bao gồm thân mình.
Danh pháp là chỉ có cái tên mình nắm bắt nó không được đó là tâm, thọ, tưởng hành, thức nếu phân chia theo ngũ uẫn, cảm giác, tư tưởng, tâm hành và nhận thức gọi là danh pháp cho nên trí đầu tiên quyết định quan trọng của người tu hành giả tu tập là phải nhìn cho thấy được thân này là danh pháp, sắc pháp chứ không có mình trong đó, sắc pháp là phần kết hợp của tứ đại về đọc kinh Tứ niệm xứ, phải đọc phải tụng hành ngày nghiền ngẫm chứ mình thấy rõ rằng thân sáu chục ký lô mà mình gọi là thân của mình đó là sắc pháp, đó là sắc chất, là vật chất đây là sắc pháp, những cảm giác, cảm nhận, cảm nghĩ, những tư tưởng những tâm hành, nhận thức v.v..là danh pháp cái này là quyết định phải loại khỏi những tư tưởng của mình là tôi và của tôi đó chỉ là sắc pháp và danh pháp thì mới bước và trí tuệ thiền tuệ còn nghĩ đó là tôi là của tôi trí huệ này chưa có thành tựu, cái này phải thực tập liên tục cho tới loại bỏ hẳn cái ý nghĩ tôi và của tôi mà chỉ thấy rằng danh pháp và sắc pháp, tách ý nghĩ của tôi ra khỏi thân và tâm giống như nhà bác học một nhà nghiên cứu một đề tài hay đối tượng, đối tượng mình đang nghiên cứu là cái thân, là sắc pháp, đối tượng thứ hai có tên gọi mà không thấy được đó là những cảm giác, những tri giác, tâm hành, những nhận thức bên trong đó đó là đối tượng tứ hai để mình nghiên cứu. Người tu là công trình nghiên cứu vĩ đại chứ không phải nghiên cứu bên ngoài, nghiên cứu ngay nơi bản thân ngay nơi tâm, ngay nơi danh pháp sắc pháp, ngay nơi vật chất, ngay nơi tinh thần đối tượng nghiên cứu là thân tâm là danh là sắc pháp, quán chiếu, bước này quyết định nếu không qua khỏi bước này mình vĩnh viễn không đi vào trí tuệ Phật giáo đây là chân chánh trí tuệ Phật pháp, loại bỏ hẳn trong tư tưởng cái tôi cái của tôi không có cái nào là của tôi chỉ có danh pháp và sắc pháp mới tu được nếu mình đứng trên chỗ tôi tu, của tôi, tôi tu nhiều người kia tu ít, tôi thông minh người kia dốt, tôi hiểu người kia không hiểu, tôi lâu người kia mới đứng trên bản ngã vĩnh viễn trong hữu lậu hữu vi không phải trí huệ của Phật giáo nên lập cướp của trí huệ trong Phật giáo là từ chỗ vô ngã mà thực hành, chỗ sâu là chỗ này tất cả tôn giáo trên thế giới nó không có tôn giáo nào nói về trí huệ Vô ngã đây là nơi của đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng ngộ và thực thực hành pháp thiền tuệ này đi thẳng vào cội nguồn của Phật pháp, trí huệ đầu tiên thấy rõ trí huệ danh pháp và sắc pháp. Minh Thành đọc trong chánh tạng Bali Hòa thượng Minh Châu dịch này các Tỳ-kheo đây là sắc, sắc pháp, đức Phật ví dụ rất rõ một hôm đức Phật ở trong rừng đức Phật ngồi ở dưới gốc cây các Thầy Tỳ-kheo cũng ngồi xung quanh này các Tỳ-kheo nếu như có người nào đó mà họ đem lượm mấy cành cây gom lại họ đốt, lúc đó ông có nghĩ rằng họ đang lấy đồ của tôi, họ đang nắm tới tôi, họ đang lấy đồ của tôi, đốt của tôi không?
Dạ không
Đức Phật nói Thọ tưởng hành thức cũng vậy, cành cây lá đâu có dính tới mình khi người ta lấy mình thấy đâu có đồ của mình nên danh pháp sắc pháp cũng không phải là mình, thân này giống như mấy cành cây trong trí huệ đức Phật muốn truyền trao cho mình là như vậy. Cái khổ nhất thâm canh khố đế giang sơn dễ đổi bản tánh khó đời là sâu thẵm trong này là tôi nên quan trọng nhất là chuyển đổi nhận thức đây là chánh kiến của Phật giáo, công phu của Phật giáo quan trọng nhất là chuyển đổi nhận thức, nhận thức sai là thân kiến đây là cả một công trình rất vĩ đại có bài pháp đầu xuân nhắn nhủ là xuất gia là một công trình vĩ đại, nói sắc pháp thân pháp, mình nghe được pháp này gọi là chánh pháp khó nghe là chỗ này, có nhiều người nói giờ con thấy pháp kinh băng đĩa nhiều nhưng chỗ này là khó nghe là chỗ này khó chấp nhận, chấp nhận được thành thánh nhân, tại sao lại nói nó là danh là sắc là không phải tôi không phải của tôi?
Ba trạng thái chung là Vô thường Khổ trạng thái Vô ngã, tại sao tại? vì có sự sanh sự diệt liên tục không ngừng hai chữ sanh diệt này đây là pháp tu rất tuyệt vời tóm thâu thiền tuệ gọi là thành tựu sanh diệt trí hay mình nói cái quả còn nói cái nhân là sanh diệt quán.
“Này các Tỳ-kheo dù sống một trăm năm mà không thấy pháp sanh diệt chẳng bằng sống một ngày thấy được đạo lý sanh diệt Vô thường” cho nên nguời chân tu người tha thiết trong sự tu là luôn luôn nhìn thấy sanh diệt của danh pháp và sắc pháp nói đơn giản là thân tâm, tại vì mình quen mình nhìn theo biểu diện nhìn vào đẹp xấu mình nhìn vào hai phương diện mà mình không trú trọng vào bản chất sanh diệt, ví dụ nhìn đóa hoa này tươi đẹp ba bốn bữa nhìn sao xấu thôi quang bỏ đi chứ không thấy tính chất sanh diệt, hôm bữa thấy sanh nay thấy diệt, chẳng hẳn bưng ly nước trà lên khói hương nghi ngút đó là tướng sanh của ly trà nhưng uống từ từ hết đó là diệt, diệt hồi biến thể thành một loại nước khác, quán thêm bất tịnh sang một dạng khác màu nó cũng giống vậy nhưng ai cũng ghê nên tại mình cứ nhìn theo đẹp xấu không nhìn vào tính chất sanh diệt. Bây giờ hành giả phải nhìn thấy tướng sanh diệt ví dụ tiếng chuông nãy sanh giờ diệt nên người tu là để ý vào khía cạnh đó để người ta nhàm chán tất cả pháp sanh diệt, tại vì nó vô thường luôn luôn biến đổi, mình đi ăn đám cưới hay đi ăn đám đầy tháng hay tân gia thấy vui cười nói mình mới bước vào đây biết là tướng sanh khi về ai cũng mệt dọn dẹp đó là tướng diệt, mình không để ý mà cứ để ý vui buồn không thấy sanh diệt trong đó ở đó là nói cái thô, nói cái sâu hơn là mỗi hơi thở là sanh diệt, mỗi nhịp đập con tim mình là sanh diệt, mỗi bước chân của mình là sanh diệt nếu nói xấu không có cái mình mà sắc đi thân đi chứ không có cái mình đi bắt đầu chúng ta đi vào sự thực tập, ăn sắc nó ăn, thân nó ăn mà không có người ăn khống có mình ăn đó chỉ là pháp duyên khởi, không có cái mình ăn trong đó, loại được tư tưởng này ra từ từ khi nào loại hết là tu đà hoàng, bất cứ cái gì mình gắn cái mình vào chính cái này làm cho mình khổ, mình phải nhìn thấy khía cạnh sanh diệt của nó, muốn thành tựu được sanh diệt trí này mình quán chiếu hoài thường trực ví dụ mình thắp cây nhang lên là sanh chút xíu tàn hết là diệt, đốt viên trầm khói bay lên thơm uốn lượn khói rất đẹp hồi tàn diệt, mới mở pháp hội lên rần rần trang trí đẹp trưng bông dài đẹp từ cổng vào tới chánh điện, quay phim chụp hình tới chừng dọn xuống nét mặt khác quán chiếu việc đó, ngay chỗ bông mình thấy sanh diệt, mình chỉ cần đưa vô thì chỗ nào cũng là chỗ tu, lúc nào cũng nhìn bằng sanh diệt trí, sanh diệt quán, chính cái nhìn đó mới làm phá vỡ cái chấp thường, chấp lạc, chấp ngã, chấp luôn luôn vậy hoài, chấp vui ,chấp cái nào ra cái nấy rất cứng chắc, dùng sanh diệt trí để phá vỡ cái điên đảo kiến đây là trị bệnh thần kinh, mình nhìn lộn lạo sự vật gọi là tà kiến đảo kiến nãy mình trị bệnh vô minh là bệnh mù, giờ mình trị bệnh mát chập, cái này trị bệnh sanh diệt này rất sâu sắc, ví dụ mình thở vô thở ra mình thấy hơi thở sanh diệt, hơi thở sanh diệt, hơi thở chỉ là hơi thở chứ không phải mình thở tại vì danh với tướng với vọng tưởng đi chung với nhau, tên gọi ví dụ mình nói mình tự nhiên có cái mặt dễ thương cỡ chừng 55 ký, mặt trái xoan, da trắng, có eo mình nghĩ hình bóng cái đó là sắc tưởng sáu tưởng, sắc tưởng mình nói mình tự nhiên nhớ cái mặt của mình đó là sắc tưởng cho nên hễ mình có danh có tướng là có vọng tưởng đi liền với nhau, có tên có hình dáng có tưởng đi theo đó nếu mình loại khỏi cái tên cái tưởng bớt từ từ, ngay bây giờ đang có một cảm giác vui biết lúc đó có cảm giác vui chứ không phải mình có cảm giác vui, có một cảm giác vui sướng ngay bây giờ trong tâm mình nhìn hồi bớt từ từ không còn cảm giác vui sướng, chút xíu có cảm giác khổ, có một cảm giác khó chịu nóng nực mồ hôi đổ hay đạp xe mỏi chân đủ thứ có một cảm giác khó chịu đang có một cảm giác khó chịu trong tâm đây là quán thọ, lúc đó có cảm giác không phải vui cũng phải khổ không phải dễ chịu cũng không phải khó chịu cảm giác trung tính cảm giác này bất khổ bất lạc cảm giác này dễ bị si tức là cảm giác dễ chịu tham, cảm giác bất mãn khó chịu là sân, cảm giác không dễ chịu không khó chịu là si, cái nào cũng dính rất ghê gớm nếu mình không phải là cao thủ bậc hành giả thâm sâu thì mình không thểnhìn rõ tâm mình lúc nào cũng gắn chặt với tham ái, si, mê, vô minh, ngã mạng, tà kiến chấp thủ trử hành giả thực tập trí huệ thiền tuệ rất sâu sắc, bây giờ mình nghĩ ngồi niệm Phật lần chuỗi mình nhìn thấy mấy người kia đang đi làm gì đó còn mình ngồi tu đó là thân kiến, khác nhau của người tu và trí huệ Vô ngã khác một trời một vực, mình ngồi thiền nay được yên tịnh đã quá sao tự nhiên đánh chuông chi, mình ngôi cho oai phong cái đó vừa có ngã vừa có tham ái trong đó tuy là thiện pháp, ai được thanh tịnh, tôi được cho nên chỗ này lập cướp rất quan trọng nếu không nắm vững trong hữu lậu trong sanh diệt tới mức độ nào cũng khổ đau vì không loại được cái vô minh, mình làm bao nhiêu công tác cũng vậy, mình làm mình luôn quán chiếu về Vô ngã không có tôi không có của của tôi thì mình làm ít thấy mình bị bực ít thấy mình có công, không khoe công, không cư công, không biểu hiện công lao nên công đó trở thành công đức, tại đâu có mình không có tôi lấy gì tôi làm nhiều hơn tại mỗi giây mỗi phút mình tu cái đó rồi, cái đó đi tới công đức vô vi vô lậu chỗ này mình chim nghiệm cho kỹ, nếu mình không đứng lập trường này tu đại đa số tất cả mình đều gắn cái tôi vào mà gắn cái tôi vào chạm tới là có chuyện đây là thặm thâm pháp nghĩa linh hồn của Phật giáo, nên người ta nói làm mà không thấy mình làm, vì mình đang tu cái này, vẫn làm siêng năng nỗ lực mà không thấy mình làm nên cái làm được hoài đó là vô vi như vô sở bất vi, không có làm nhưng không có gì mà không làm cho nên tu vô tu tu chứng vô chứng chứng là tại vì tu tới chỗ không có mình, không có mình lấy gì chứng từng nào có gì đó mới chứng ngay chỗ không có tôi là chỗ chứng rất sâu, chỗ đó là thặm thăm vi diệu pháp. Ngài Ứng Thuận đạo sư nghiên cứu cả cuộc đời trong Pháp tạng kết thúc cho chúng ta biết rằng Tương ưng bộ kinh trong năm bộ kinh Nykaya bộ Tương ưng đó gọi là vô biên thậm thăm pháp nghĩa, bộ kinh đó nói về ba sự thật này Vô thường Khổ không, Vô ngã, chỗ quan trọng mình ứng dựng được vào trong đời sống chỗ này mới quý nên mình tu tới chỗ mình ngồi không thấy mình ngồi, sắc pháp ngồi danh pháp ngồi nên các bậc A-la-hán họ nhập thọ tưởng định kiếp này qua kiếp kia có mấy câu chuyện nói móng tóc mọc dài không biết vì không còn cái tôi nên đạt tới cảnh giới bất khả tư nghì siêu việt, còn mình có cái tôi tới giờ cơm rồi tới giờ ngủ rồi... lúc nào mình cũng thời gian không gian trong cái tôi của tôi lòng dòng không đi ra khỏi còn phá vỡ cái tôi nên phá tung tất cả giới hạn không còn hạn chế vượt qua cái nghiệp, nghiệp là những thói quen cách sống trở thành cái nghiệp.