Tham Ái Ở Đâu - Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 3
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tham Ái Ở Đâu?
Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Gột rửa tham ái PAGEREF _Toc162801713 \h 1
II. Tham ái PAGEREF _Toc162801714 \h 3
III. Sự nguy hại PAGEREF _Toc162801715 \h 4
I. Gột rửa tham ái
Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về Tiểu kinh ví dụ dấu chân voi, hôm trước chúng ta đã nghe Đức Thế Tôn trình bày về những giới hạnh của bậc Thánh, sự giữ gìn các căn của bậc Thánh, sự chánh niệm và tỉnh giác của bậc Thánh. Hôm nay chúng ta học phần từ bỏ năm triền cái, trong bài kinh này nói rất vắn tắt về năm triền cái nhưng lại có rất nhiều bài kinh khác trong Nikāya được Thế Tôn nói rất nhiều phương diện về năm triền cái.
Nếu chỉ đọc một bài kinh ngắn gọn này thì chúng ta sẽ không thành tựu trí tuệ để nhìn thấy thế nào là tham ái, tham ái ở đâu và những phương pháp chế ngự, diệt tận tham ái, hôn trầm thụy miên, sân hận hay trạo cử, hối hận hoặc là nghi ngờ. Trước nay chúng ta tu tập khó đưa đến khả năng nhiếp phục và thành tựu như ý nguyện vì mình chỉ đọc qua một bài kinh hoặc một đoạn nào đó rồi lấy đó làm chuẩn mực nhưng thật ra còn rất nhiều chỗ khác mà Đức Phật nói về năm triền cái. Hôm nay chúng ta sẽ đi sâu và đi nhiều vào tham ái vì vấn đề này rất quan trọng trong sự tu học của chúng ta.
"Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận, từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá, từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp". (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)
Vị này sống tỉnh táo, tỉnh sáng, tinh anh, sáng tỏ, đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, rõ biết trước mặt chứ không phải ăn no rồi lên ngồi thiền nhắm mắt là chìm trong hôn mê, không tỉnh táo. Vị này thành tựu các giới nên tâm được khinh an, hỷ lạc, không có sự ray rứt, hối hận bên trong nội tâm, thân không bận rộn, tâm yên định, gột rửa hết sự hối hận của tâm.
Vị này nhìn thấy ngũ uẩn, không ngờ vực đối với ngũ uẩn, không còn chút nào lưỡng lự mà thấy sắc là sắc, thấy được sự vận hành, an trú, đoạn diệt của sắc, thấy rõ sự sanh khởi của cảm thọ, sự vận hành, an trú của cảm thọ và sự chấm dứt của cảm thọ, đối với tưởng; hành; thức cũng thấy rõ sự tập khởi và sự đoạn diệt, thấy rõ cái nào là tham, cái nào là sân, cái nào là si, thấy rõ nội tâm có tham hay không có tham, nội tâm quảng đại hay nhỏ hẹp, thấy rõ những pháp bất thiện, bản ngã, dục ái có sanh khởi không, lúc đó có vô minh hay không. Vị này thấy biết một cách rõ ràng và có những phương pháp xử lý triệt để, khi tâm có thiện pháp từ, bi, hỷ, xả hoặc là trạch pháp, sự tinh tấn, khinh an thì vị này đều thấy rõ ràng cho nên gột rửa tâm hết những nghi ngờ đối với những thiện pháp.
"Vị ấy từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược, ly dục, ly pháp ác bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì'". (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)
Chỉ với một câu "vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái" nghe thì đơn giản nhưng khi nhận diện ngũ uẩn soi rọi các cảm thọ thì không đơn giản chút nào. Đọc phớt qua câu này thì nghĩ mình không có tham ái nhưng khi nhận diện các cảm thọ, suy nghĩ, những hình bóng trong tâm thì thấy đây là vấn đề rất lớn của người tu chúng ta.
Đầu tiên phải biết tham ái là gì, thứ hai phải biết cái gì sanh ra tham ái, thứ ba phải biết vì sao tham ái diệt, thứ tư là phải biết phương pháp, cách thức, con đường diệt tận tham ái. Đây là bốn trí cần phải thành tựu. Mình nói rằng muốn diệt cái sân, muốn hết nóng giận thì phải biết trạng thái của nóng giận là gì, cái gì sanh ra nóng giận, vì sao nóng giận diệt và cách thức, phương pháp diệt tận nóng giận. Tất cả mọi thứ đều đưa về bốn Thánh đế, đây là bốn trí của Tứ Thánh Đế dược áp dụng vào tất cả phương diện, đi sâu vào có thêm ba trí nữa đó là vị ngọt của tham ái, sự nguy hiểm và tác hại của tham ái và cuối cùng là sự xuất ly khỏi tham ái. Khi muốn phá dẹp bất kì thứ nào trong thân tâm phải có đủ bảy loại trí tuệ này.
II. Tham ái
Đầu tiên tham ái là một cảm thọ, một suy nghĩ, một hình bóng yêu thích. Ví dụ nhìn ngôi nhà thấy thích, có suy nghĩ ưa thích, có cảm giác dễ chịu, khả ái. Khi thấy chiếc xe, món đồ đẹp là khởi lên cảm thọ ưa thích, khả lạc, khả ái, khả ý, khả hỷ liên hệ đến dục hấp dẫn, nhìn thấy mảnh vườn, miếng đất, đôi dép đẹp, nhìn thấy con người đẹp rồi sanh ra cảm thọ dễ chịu, yêu thích, ham muốn thì đó là tham ái.
Tại sao tham ái sanh? Do có sự tiếp xúc, khi thấy món đồ đó, nghe nói về món đồ đó, được ngửi, được nếm, được đụng chạm thì đó là do tiếp xúc nên cảm thọ tham ái sanh khởi. Làm thế nào để tham ái diệt? Do xúc diệt thì tham ái diệt, chấm dứt tiếp xúc thì tham ái sẽ chấm dứt. Cách nào để chấm dứt? Đức Phật nêu ra rất nhiều phương pháp để phá sự không thấy không biết tham ái đưa đến khổ đau. Ái diệt là Niết-bàn vì khi tham ái không được thì sanh ra bực tức, nóng giận.
Đức Phật đã nói nguyên nhân của đau khổ chính là tham ái, khi mắt tiếp xúc sắc sẽ sanh ra sự ưa thích nếu sắc đó là đẹp, nếu sanh ra cảm giác ghét bỏ cũng là ái, sân chỉ là một mặt khác của tham ái, vì không hợp với cái thích nên sanh ra ghét. Mình phải thấy vị ngọt trong tham ái là sự khoan khoái, vui thích, êm ái, khi mắt tiếp xúc sắc, tai tiếp xúc tiếng, mũi tiếp xúc mùi, lưỡi tiếp xúc vị, thân xúc chạm hay ý chỉ nghĩ về những hình bóng, cảm thọ bên trong không ai biết nhưng có vị ngọt trong đó, nếu không nhận diện ngũ uẩn là không biết lúc đó mình đang thưởng thức vị ngọt của hình bóng một sắc tưởng, mình có sự yêu thích trong hình bóng đó, hài lòng, ham muốn trong đó. Sự nguy hại của nó là thứ vô thường, tan rã, bại hoại, đổi thay, là thứ đau khổ. Cách để thoát ra khỏi nó là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, khi nhìn lại trong cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng thì chúng ta mới nhận diện ra bộ mặt của tham ái, sự vận hành của tham ái, nó rất đa dạng, đa diện, đa khía cạnh.
III. Sự nguy hại
Minh Thành sẽ giới thiệu những bản kinh quan trọng để các Tăng Ni sinh về đọc thêm, nghiền ngẫm thêm, nghe thêm.
"Sợ hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Khổ, này các Tỳ-kheo, là đồng nghiệp với các dục.
Bệnh, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Cục bướu, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Tham dính, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Bùn lầy, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Chữ "dục" ở đây chính là tham ái, chữ "dục" này bao gồm ái dục, dục vọng, dục tham, dục ái. Nói Tiếng Việt cho dễ hiểu thì thứ nhất là yêu thích là đồng nghĩa với sợ hãi, yêu thích là đồng nghĩa với khổ đau, yêu thích là đồng nghĩa bệnh tật, yêu thích là đồng nghĩa với cục bướu, yêu thích tức là tham dính, yêu thích là vũng lầy. Đây là những hình ảnh để chúng ta tác ý, quán chiếu, trong các bài kinh thường ghi lại khi các vị Tỳ-kheo đi khất thực về thường ngồi ở những chỗ xa vắng để nhìn lại nội tâm để quán chiếu, tác ý, trừ diệt tham ái, nhìn vào nội tâm có tham ái không, nếu có thì trừ diệt, nếu không có cũng quán chiếu để diệt tận những thứ vi tế chứ không phải ngồi yên.
"Và này các Tỳ-kheo, vì sao sợ hãi là đồng nghĩa với các dục?
Này các Tỳ-kheo, say đắm bởi tham dục, bị trói buộc bởi các tham ước muốn, ngay trong hiện tại không thoát khỏi sợ hãi, đời sau cũng không thoát khỏi sợ hãi. Do vậy, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Đây là những định lý chứng ngộ của Đức Phật, một khi đã say đắm trong những tham muốn sẽ bị trói buộc trong những tham muốn đó, ngay trong hiện tại đã bị lo lắng, sợ hãi, đời sau tiếp tục sợ hãi cho nên sợ hãi đồng nghĩa với những sự tham muốn. Chữ "dục" ở đây có hai phần, thứ nhất là đối tượng của dục tức là sắc; thanh; hương; vị; xúc là năm dục trưởng dưỡng bên ngoài và thứ hai là chủ thể tham muốn bên trong chính là những suy tư, suy nghĩ tham ái, ham muốn đó.
Năm dục trưởng dưỡng đó làm lớn mạnh lòng tham muốn của con người, bản thân sắc đẹp chỉ là thứ vô tri nhưng khi nhìn thấy thì người nhìn sẽ khởi lên tham muốn cho nên gọi là dục trưởng dưỡng, chữ "trưởng dưỡng" nghĩa là nuôi lớn lòng tham muốn. Những âm thanh ngọt ngào bản chất chỉ là âm thanh thôi nhưng những âm thanh đó làm con người ta khi nghe được sanh khởi mạnh thêm lòng tham muốn, cho nên gọi là dục trưởng dưỡng. Cái mùi, cái vị, sự tiếp xúc đụng chạm cũng vậy, Đức Phật đã nói những tư duy tham ái là dục của con người.
"Các tư duy tham ái,
Là dục của con người,
Các hoa mỹ ở đời,
Chúng không phải là dục,
Các tư duy tham ái
Là dục của con người,
Các hoa mỹ an trú
Như vậy ở trên đời,
Ở đây những bậc Trí,
Nhiếp phục được lòng dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Những ý nghĩ ham muốn, ưa thích, mong chờ, khao khát, thèm thuồng đồng nghĩa với sợ hãi, hễ có những thứ đó là có sợ hãi, có khổ đau, có bệnh hoạn, có cục bướu, có tham dính, có sình lầy. Những suy nghĩ đó làm mình lún dần xuống, những hình bóng, những cảm xúc đó dần dần phát ra khẩu hành, thân hành rồi đi tìm những đối tượng và cuối cùng là thực hiện những tham muốn đó, chỉ hưởng được một chút vị ngọt nhưng lại có nhiều sự nguy hiểm và tác hại. Đó là những thứ đổi thay, là những thứ biến hoại cho nên đau khổ trong đó, vì vậy hễ có yêu thích là có sợ hãi, hễ có tham ái là có sợ hãi, có tham muốn là có sợ hãi. Thích chiếc xe là khổ với xe, thích căn nhà là khổ với nhà, thích món đồ nào là khổ với món đồ đó, thích con người là khổ với con người, đây chính là sự chứng ngộ của Đức Phật.
Yêu thương là bệnh hoạn, yêu thích là bệnh hoạn vì mình yêu thích, say đắm trong những thứ đó rồi mình lo lắng, bất an nếu nó mất hoặc nó đổi thay hoặc bị người khác chiếm lấy, dù là món đồ, hay căn nhà, miếng đất hoặc là con người, tất cả những thứ đó chỉ tóm gọn trong sắc cho nên một chữ "sắc" của Đức Phật bao trùm trái đất, địa cầu. Mình học để mình thường nhìn lại khi mắt; tai; mũi; lưỡi; thân tiếp xúc có sanh khởi ra những cảm giác đó không, mình có nhiếp phục, chế ngự không, có tác ý đánh đuổi nó không. Phải thường nhắc nhở bản thân để tâm luyến ái, dính mắc từ từ được tháo gỡ, đó gọi là viễn ly, xuất ly, xả ly vì thấy tác hại và nguy hiểm trong sự yêu thích, tham ái đó.
"Sợ hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Ðau khổ, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Bệnh tật, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Cục bướu, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Mũi tên, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Trói buộc, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Bùn, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Thai tạng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (VI). Sợ Hãi)
Trong bài kinh này Đức Phật đưa ra thêm ba hình ảnh, mũi tên, trói buộc và thai tạng là đồng nghĩa với các dục. Tham muốn, tham ái, yêu thích là mũi tên. Tham muốn, tham ái, yêu thích là sự trói buộc, trói cột, đây chính là kiết sử nghĩa là yêu thích và trói cột, nó sai khiến mình phải tìm kiếm, chạy đuổi để thực hiện sự ưa thích, tham ái đó. Bào thai là đồng nghĩa với các dục, chính vì có ham muốn nên mới đi vào trong bào thai để tái sanh.
"Như thế nào, này các Tỳ-kheo, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục?
Vì rằng, những ai bị dục ái nhiễm, những ai bị dục tham trói buộc, không được giải thoát khỏi sợ hãi hiện tại, không được giải thoát khỏi sợ hãi trong tương lai; do vậy, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (VI). Sợ Hãi)
Có yêu thích, có ham thích là có lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ đau, bị trúng tên, bị trói cột, bị lún sâu vào đầm lầy, chịu khổ đau và tiếp tục rơi vào trong bào thai.
"Ái nhiễm, này các Tỳ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỳ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Những bài kinh này có sự liên hệ, bổ túc cho nhau, tác thành cho nhau làm chói sáng, bừng sáng Thánh trí ly tham của Đức Phật và ly tham cũng có nghĩa là ly dục, ly ái. Chúng ta sẽ diễn giải để dễ hiểu lời kinh trên, đó là tâm bị nhuốm màu yêu thương, yêu thích, tham muốn thì tâm đó là bệnh tật, là ung nhọt. Tâm bị ngấm vào những cảm thọ, suy tư, nghĩ tưởng yêu thương, yêu thích, tham ái thì tâm đó là ung nhọt, là mụn nhọt, là bệnh tật.
Tâm yêu thích sắc, yêu thích tiếng, yêu thích mùi vị, yêu thích sự đụng chạm thì tâm khoan khoái, tham muốn, thèm khát đó là bệnh tật, tâm đó là mụn nhọt, là ung nhọt, là mũi tên. Đây là những chủ đề thiền quán vi diệu để nhắc nhở bản thân mở ra, thoát ra, nếu không mình sẽ bị trúng tên độc, mình sẽ bị bệnh tật, mình sẽ có ung hạch, ung nhọt, ung bướu.
Sự yêu thích này không giới hạn trong nam nữ mà còn rộng ra cả năm dục trưởng dưỡng. Như Lai không có ái nhiễm nên Như Lai không bị mũi tên bắn trúng cho nên hãy mong ước có được tâm ly tham, tâm tận ái, tâm thoát ly tham ái. Hãy cầu mong có tâm đó, hãy ước nguyện để thành tựu được tâm đó, qua đây chúng ta thấy được Đức Phật rất thương chúng sanh, ngài nhắc đi nhắc lại trong rất nhiều bài kinh.
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý mắt, và hãy như thật chánh quán con mắt là vô thường. Này các Tỳ-kheo, do như lý tác ý con mắt và như thật chánh quán con mắt là vô thường, Tỳ-kheo nhàm chán đối với con mắt. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.
Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý tai... mũi... lưỡi... thân...
Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường. Này các Tỳ-kheo, do như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường, Tỳ-kheo nhàm chán đối với ý. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận, III. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (3))
Hãy tác ý con mắt này là vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng. Hãy tác động tâm ý để nhắc nhở rằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, hình hài này là biến đổi, là đột ngột, đột biến, đột tử. Vô thường nghĩa là đột ngột thay đổi, cứ vài ngày Minh Thành nghe nói gia đình Phật tử này nhiễm F0, gia đình kia có người mất, vô thường là bất thình lình, bất trắc, bất an, bất toại nguyện, bất ổn vì thế Đức Phật nhắc nhở chúng ta phải tác ý con mắt này là vô thường, là bệnh tật, là khổ đau, là biến hoại, là vô ngã nghĩa là không có "tôi" ở trong con mắt này, hãy tác ý lỗ tai này là vô thường, là đổi thay, là bệnh tật, là trống rỗng, không có tôi và của tôi trong lỗ tai này, hãy tác ý mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường, là biến hoại, là duyên sanh, không có gì là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Chúng ta cần vận dụng phương pháp này thường xuyên để thực tập, chúng ta phải tác ý như vậy vì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là chỗ trú ẩn của tham ái.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ tập Thánh đế? Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Như dục ái, hữu ái, vô hữu ái". (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)
Thế nào là nguyên nhân của khổ đau mà bậc Thánh chứng ngộ, chính là tham ái đưa đến tái sanh, sự tham ái này đưa đến sanh ra một đời sống kết hợp với yêu thích và ham muốn, tìm cầu vui sướng chỗ này chỗ kia. Tìm cầu vui sướng ở cõi dục, ở cõi sắc và cõi vô sắc, trong kinh dùng từ dục ái, hữu ái và vô hữu ái, chữ nào cũng có ái theo sau. Dục ái là yêu thích thế giới của dục cho nên sanh ra trong dục giới, hữu ái là yêu thích trong thế giới của sự hiện hữu, cái này vi tế hơn cõi dục, đó là sắc giới, của những hình sắc vi tế của chư thiên chứ không có hình tướng như loài người, vô hữu ái là yêu thích sự không hiện hữu trong các cảnh trời không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ. Chính tham ái này thiết lập ra ba cõi, tam giới.
"Này các Tỳ-kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy". (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)
Những điều này chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác A-la-hán chỉ cho mình biết, khi Minh Thành đọc bài kinh này là rúng động toàn thân vì không thể ngờ tham ái khủng khiếp đến vậy, vi tế đến vậy. Mình học phất phơ, học qua loa, xem thường, thiển cận, cạn cợt, học cẩu thả cho nên mình hiểu không tận tường nên tu không đến nơi đến chốn.
Ở đời sắc gì đáng yêu, đáng thích thì cái sắc sanh khởi ở ngay đó, an trú ngay đó. Đức Thế Tôn nói đến đâu là giải thích đến đó, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đều có nghĩa có văn đầy đủ tất cả viên mãn phạm hạnh để đưa mình đến đời sống cao thượng, Thánh thiện, trong sạch, tối thượng hoàn toàn. Tham ái ở ngay nơi con mắt, sanh khởi, an trú ở ngay đó, lỗ mũi, cái miệng, hình hài, cơ thể này là sắc thân ái, sắc khả ái, ngài nói đến sáu trần, sáu căn, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư và sáu ái, không còn bất cứ một cái nhỏ nhoi nào mà ngài không nhìn không thấy, không chứng không hiểu, như vậy mới gọi là bậc Chánh Biến Tri, Thế Gian Giải.
Nếu có ai đụng chạm vào thân này là xảy ra chuyện vì mình cho thân này là sắc thân ái, sắc khả ái, vào thân con nào cũng cho rằng thân đó là thân ái, khả ái. Như vậy gọi là sắc thủ uẩn, là sự nắm chặt vào trong tổ hợp của hình hài, sắc chất vô thường, tạm bợ, dễ vỡ, dễ nát này. Từ sự không thấy không biết (vô minh) mà sanh ra tham ái và chấp thủ, khi nhìn vào gương phải chiếu ra hình ảnh gương mặt, mắt, mũi, miệng, tai của mình thì trong đầu mình nghĩ "nhìn mình trông cũng được" thì đó là sắc thân ái, sắc khả ái, là sắc thủ uẩn, gương mặt xấu vậy mà nhìn vào gương cũng cho rằng trông cũng được.
Cho nên đẹp hay xấu cũng có sự chấp thủ, tham ái, vô minh rồi đau khổ, bệnh tật, bị trúng tên độc, bị rơi xuống đầm lầy, lọt vào bào thai, lo lắng, bất an, khổ sầu vì rất yêu thích con mắt, lỗ tai, miệng. Mình rất yêu tự thể chính mình, mình yêu say đắm con mắt, cái miệng, hình dáng này, đôi môi này, say đắm và chấp thủ vào những thứ này để rồi bệnh tật, đau khổ quằn quại, bất an, lo lắng, sợ hãi và khổ sầu. Đó là tâm vô minh, tâm si mê, tâm ngu dại, tâm mù lòa, đui chột, tâm của bóng đêm hắc ám, tâm hoang vu rừng rú vì chưa được ánh sáng của mặt trời Thánh tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác rọi vào, thậm chí có ánh sáng rọi vào mà cũng không chấp nhận giống như cái chậu bị lật úp không có ánh sáng nào chiếu vào được.
"Nhật nguyệt tuy minh nan chiếu phúc bồn chi hạ
Đao kiếm tuy khoái, bất trảm vô tội chi nhân".
Nghĩa là mặt trời và mặt trăng tuy sáng nhưng không chiếu vô được chậu đang úp, gươm tuy bén nhưng không lẽ dùng để chém kẻ vô tội. Đức Phật gọi đây là khối vô minh uẩn to lớn của chúng sanh và sự khát ái này rất khủng khiếp, tham ái này sanh khởi và an trú trong từng sợi lông. Khi nhìn ra được những thứ này mình sẽ rất bất ngờ, thật khủng khiếp cho tâm tham ái và vô minh, mình thấy bản thân đáng thương và khờ dại làm sao, cứ bám víu vào đống xương da, mủ máu và thịt này.
Hơn thua trong từng ánh mắt, từng lời nói, tranh đấu trong từng hành động, chúng ta là nạn nhân của tâm bệnh tật này cho nên cần phải tu tập tích cực. Còn nếu tu lơ là, tu đều đều an phận thủ thường, ẩn dương nương Phật thì không thể nào phá được tham ái và chấp thủ khủng khiếp này, khi nào trong tâm không còn bất kì suy nghĩ nào cho rằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân này là tôi, là của tôi thì lúc đó mới Nhập Lưu, mới thật sự đi vào dòng chảy của trí tuệ chân chánh, mới là người thừa tự pháp, mới là người mang họ Sakya Thích-ca chân chánh, trở thành huyết thống Đại Giác, Linh Sơn cốt nhục, quyến thuộc Bồ-đề, lúc đó mới chính thức đi vào hàng con Phật.
"Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: 'Mắt là của tôi'. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: 'Các sắc là của tôi'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Hãy nghĩ rằng con mắt này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Hãy thường tác ý suy nghĩ như vậy để loại bỏ suy nghĩ con mắt này là tôi vì nếu nghĩ con mắt này là tôi thì mình sẽ yêu thích con mắt này, mình tham ái con mắt này, mình nắm giữ con mắt này nhưng con mắt này lại là thứ vô thường, biến hoại, duyên sanh, bất tịnh, đau khổ, bệnh hoạn vậy thì làm sao mình hết khổ? Sau khi chết lại đi tìm con mắt khác cho nên đừng bao giờ nghĩ con mắt này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, mỗi khi nhìn thấy con mắt, nhìn thấy cái bóng của gương mặt trong gương thì hãy tác ý như vậy, nó chỉ là sắc pháp tứ đại, là một mớ tóc, một mớ da và một bộ não chứ không có ai trong này. Phải thường xuyên tác ý như vậy để loại bỏ vô minh, tham ái, chấp thủ trong sắc uẩn này, trong tổ hợp hình hài sắc chất này.
Nếu mình không được nghe lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì dù đi cầu học của bất kì ai trong vô lượng vô biên kiếp cũng không thấy được đạo lộ xuất ly khỏi tham ái, phải phá được vô minh mới diệt được tham ái, mới tận được chấp thủ thì mới chấm dứt khổ đau.
Căn phòng mình ở, ngôi chùa mình ở, ngôi nhà mình ở, cái thất mình ở, chiếc xe mình ở, chiếc áo mình mặc là sắc thân ái, sắc khả ái. Khi nãy là nói sáu căn còn bây giờ là nói đến sáu trần, tham ái sanh khởi và cư trú ở nơi đó. Ví dụ Minh Thành thích cây tùng nên chăm sóc nó từng tí một, bỗng nhiên có người chặt mất cái cây hoặc làm cây chết thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đó là sắc thân ái, sắc khả ái, mình sẽ đau khổ, mình bị trúng mũi tên của nó. Không phải chỉ yêu thích bên trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của nó mà còn yêu cả những cảnh vật, món đồ, con người bên ngoài. Đối với các tiếng, mùi vị và sự tiếp xúc cũng giống như vậy, các xúc này có nhãn xúc, thân xúc, nhỉ xúc, thiệt xúc, tỷ xúc, ý xúc chứ không phải chỉ đơn giản xúc là sự tiếp xúc không.
Tất cả mọi chữ trong kinh Nikāya là khẩu quyết, là bí kiếp, là mật mã chứ không phải xúc là xúc, ái là ái mà đó là cả một sự chứng ngộ của Đức Phật. Chỉ một chữ nhưng tu suốt đời chưa chắc mình thành tựu trí tuệ đầy đủ về chữ đó, nếu thành tựu đầy đủ thì tối thiểu phải Nhập Lưu, còn tối cao là A-la-hán. Sau khi nói sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp thì Đức Phật nói đến sự rõ biết các sắc, nhờ có mắt mà mình rõ biết được các sắc và mình cũng yêu thích sự rõ biết các sắc này, sau đó là sự rõ biết âm thanh, mình muốn được nghe, thích được nghe, đó là tiếng khả ái, tiếng thân ái, cho nên khi nhìn sâu vào thì cái nào mình cũng bị dính mắc.
Mình yêu thích sắc, yêu thích mùi vị, yêu thích sự tiếp xúc, đang dịch bệnh nhưng vẫn muốn chạy ra ngoài dù có bệnh cũng chịu, tiếp xúc để được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được nhìn, được cảm nhận rồi sanh ra những cảm giác do tiếp xúc, bệnh cũng chịu, chết cũng chịu chứ ở nhà là không chịu nổi, đó là xúc thực, là thức ăn của sự tiếp xúc.
Nếu mình chưa từng được nghe pháp, chưa từng học, chưa từng nhận diện thì làm sao mình biết xúc là gì, tại sao có xúc, khi xúc sẽ sanh ra cảm thọ gì, là yêu thích hay ghét bỏ hoặc là không yêu thích cũng không ghét bỏ, đó chính là quán pháp trên các pháp cho nên Đức Phật tất cả chúng ta đều bị mù lòa.
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Nếu Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng mà thấy chúng ta như vầy là các ngài thương vô cùng thương, thương hết chỗ nói. Bị lây bệnh thành F0 phải vào khu cách ly vậy mà vào đó rồi cũng đánh nhau, cãi nhau rồi thành giết nhau, như vậy có phải khổ chồng lên khổ không. Bên ngoài như vậy thì trong tâm cũng rối bời, giống như cuộn chỉ, tổ kén, như những bụi lau sậy, lúc nào cũng thấy một tự ngã to tướng, thấy nguyên khối tưởng, có biết bao pháp vận hành nhưng cũng chỉ thấy có tôi, không biết sự lắp ráp, sự kết hợp, những mắc xích tạo thành nó nên vận hành trong vô minh, tham ái, chấp thủ để rồi đau khổ, sầu bi, ưu não. Trên đời này ngoài pháp ra không có gì có thể giúp mình hết khổ, đừng đi tìm cái gì khác ngoài pháp vì chỉ có uổng công mà thôi.
Chữ "pháp" và "pháp ái" rất khó để có thể hiểu được, chữ "pháp" ở đây mang nghĩa khác, chữ "pháp" ở bài khác lại mang nghĩa khác cho nên chữ "pháp" trong tạng kinh Nikāya không phải dễ để hiểu được nó. Trong sắc; thanh; hượng; vị; xúc pháp thì pháp này có nghĩa là thọ; tưởng; hành, đó là những cảm giác, hình bóng và suy nghĩ trong tâm. Đó là đối tượng của thức, ý căn, pháp trần và ý thức, khi mình để ý lại trong tâm thì thấy có một hình bóng dễ thương, có những suy nghĩ dễ thương và yêu thích, có những cảm giác dễ chịu, khoan khoái, đó là pháp ái.
Không đối diện người cũng không đối diện cảnh, chỉ ngồi một mình nhưng trong tâm hiện ra hình bóng một người, có cảm giác dễ chịu và có suy nghĩ về người đó, chúng ta yêu thích những suy nghĩ, hình bóng và cảm thọ ưa thích đó. Những cái này mình gặp thường xuyên nhưng do mình không nhận diện nên không biết đó là pháp ái. Mình ở đây nhưng lại nhớ ngôi chùa của mình, hình bóng ngôi chùa hiện lên, có cảm giác thân thương, dễ chịu, có suy nghĩ về ngôi chùa, mình ưa thích suy nghĩ đó, ưa thích cảm giác và hình bóng đó thì gọi là pháp ái. Đối với người thân, món đồ, cảnh quê cũng vậy, có những cảm giác, nghĩ tưởng ưa thích, ham muốn, mong muốn, đợi chờ, thèm muốn thì đó là pháp ái dù cho mình không đối diện mà chỉ đối diện trong tâm, những bậc thành tựu có thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân sẽ nhìn thấy còn người ngoài không thể thấy được vì đó là sắc vi tế. Vì thế khi đọc được tâm người khác là đọc được thọ; tưởng; hành.
Khi đi sâu vào kinh Nikāya sẽ giải mã tất cả thân tâm và thế giới, trong ngũ uẩn này không có gì mà mình không rõ, không còn lờ mờ giống như ngày xưa nữa, không phân vân, nghi ngờ, không còn trừu tượng nữa mà pháp nào rõ ràng pháp đó. Khi có vô minh thì thấy rõ lúc đó có vô minh, khi có tham ái thì thấy rõ lúc đó có tham ái, khi dục thì mình biết lúc đó có dục, khi sân thì thấy rõ lúc đó có sân vì khi vận hành là ngũ uẩn đều có mặt.
Khi sân lên thì mặt đổi màu, lỗ tai đỏ lên, có cảm thọ tức giận, nóng bức, có hình bóng người mình ghét hiện lên vì thế nội tâm có tham thì biết nội tâm có tham, nội tâm có dục, có ái thì biết nội tâm có dục, có ái, nội tâm có si mê, bản ngã thì biết nhưng chữ "biết" đó là đang nói vắt tắt. Đó là chữ đầu của chánh kiến, sau đó chánh tư duy phải vận dụng, khởi động lên đánh đuổi nó ra khỏi tâm, chánh tinh tấn là dùng mọi cách, mọi phương tiện đánh tan cảm thọ, hình bóng, suy tư đó chứ không phải biết rồi tự sanh, tự diệt, vì thế mới có chánh tinh tấn.
Những bậc đã đạt chánh tri kiến một cách thâm sâu và thành tựu các tầng thiền định thì chỉ cần các ngài biết là ác bất thiện pháp, cấu nhiễm, cấu uế tự động tan biến, còn mình thì chưa được, mình chưa thành tựu trí huệ thì chẳng biết gì cả. Mình chỉ biết trong thức, trong suy tưởng chứ không phải biết bằng tuệ tri, đó là xuyên thấu tất cả sự sanh diệt, vận hành của bốn trí lậu hoặc và bốn trí ngũ uẩn, đó mới là biết bằng tuệ tri. Khi Bồ-tát Tất-đạt-đa chứng ngộ dưới cội Bồ-đề thì đầu tiên ngài chứng bốn Thánh trí về ngũ uẩn, tiếp theo ngài thành tựu bốn Thánh trí về lậu hoặc, sau đó ngài thành tựu tam minh mới chứng đắc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Chúng ta phải học thêm nhiều và thực tập thêm nhiều hơn nữa. Hôm nay Minh Thành trình bày với các thầy các cô, các Tăng Ni sinh để chúng ta có sự thấy biết thêm về tham ái trong sự tu học để chúng ta nỗ lực, cố gắng nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận để sớm đến ngày ái tận, giải thoát.
./.
Tham Ái Ở Đâu?
Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Gột rửa tham ái PAGEREF _Toc162801713 \h 1
II. Tham ái PAGEREF _Toc162801714 \h 3
III. Sự nguy hại PAGEREF _Toc162801715 \h 4
I. Gột rửa tham ái
Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về Tiểu kinh ví dụ dấu chân voi, hôm trước chúng ta đã nghe Đức Thế Tôn trình bày về những giới hạnh của bậc Thánh, sự giữ gìn các căn của bậc Thánh, sự chánh niệm và tỉnh giác của bậc Thánh. Hôm nay chúng ta học phần từ bỏ năm triền cái, trong bài kinh này nói rất vắn tắt về năm triền cái nhưng lại có rất nhiều bài kinh khác trong Nikāya được Thế Tôn nói rất nhiều phương diện về năm triền cái.
Nếu chỉ đọc một bài kinh ngắn gọn này thì chúng ta sẽ không thành tựu trí tuệ để nhìn thấy thế nào là tham ái, tham ái ở đâu và những phương pháp chế ngự, diệt tận tham ái, hôn trầm thụy miên, sân hận hay trạo cử, hối hận hoặc là nghi ngờ. Trước nay chúng ta tu tập khó đưa đến khả năng nhiếp phục và thành tựu như ý nguyện vì mình chỉ đọc qua một bài kinh hoặc một đoạn nào đó rồi lấy đó làm chuẩn mực nhưng thật ra còn rất nhiều chỗ khác mà Đức Phật nói về năm triền cái. Hôm nay chúng ta sẽ đi sâu và đi nhiều vào tham ái vì vấn đề này rất quan trọng trong sự tu học của chúng ta.
"Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận, từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá, từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp". (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)
Vị này sống tỉnh táo, tỉnh sáng, tinh anh, sáng tỏ, đặt niệm trước mặt, chánh niệm trước mặt, rõ biết trước mặt chứ không phải ăn no rồi lên ngồi thiền nhắm mắt là chìm trong hôn mê, không tỉnh táo. Vị này thành tựu các giới nên tâm được khinh an, hỷ lạc, không có sự ray rứt, hối hận bên trong nội tâm, thân không bận rộn, tâm yên định, gột rửa hết sự hối hận của tâm.
Vị này nhìn thấy ngũ uẩn, không ngờ vực đối với ngũ uẩn, không còn chút nào lưỡng lự mà thấy sắc là sắc, thấy được sự vận hành, an trú, đoạn diệt của sắc, thấy rõ sự sanh khởi của cảm thọ, sự vận hành, an trú của cảm thọ và sự chấm dứt của cảm thọ, đối với tưởng; hành; thức cũng thấy rõ sự tập khởi và sự đoạn diệt, thấy rõ cái nào là tham, cái nào là sân, cái nào là si, thấy rõ nội tâm có tham hay không có tham, nội tâm quảng đại hay nhỏ hẹp, thấy rõ những pháp bất thiện, bản ngã, dục ái có sanh khởi không, lúc đó có vô minh hay không. Vị này thấy biết một cách rõ ràng và có những phương pháp xử lý triệt để, khi tâm có thiện pháp từ, bi, hỷ, xả hoặc là trạch pháp, sự tinh tấn, khinh an thì vị này đều thấy rõ ràng cho nên gột rửa tâm hết những nghi ngờ đối với những thiện pháp.
"Vị ấy từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược, ly dục, ly pháp ác bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì'". (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)
Chỉ với một câu "vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái" nghe thì đơn giản nhưng khi nhận diện ngũ uẩn soi rọi các cảm thọ thì không đơn giản chút nào. Đọc phớt qua câu này thì nghĩ mình không có tham ái nhưng khi nhận diện các cảm thọ, suy nghĩ, những hình bóng trong tâm thì thấy đây là vấn đề rất lớn của người tu chúng ta.
Đầu tiên phải biết tham ái là gì, thứ hai phải biết cái gì sanh ra tham ái, thứ ba phải biết vì sao tham ái diệt, thứ tư là phải biết phương pháp, cách thức, con đường diệt tận tham ái. Đây là bốn trí cần phải thành tựu. Mình nói rằng muốn diệt cái sân, muốn hết nóng giận thì phải biết trạng thái của nóng giận là gì, cái gì sanh ra nóng giận, vì sao nóng giận diệt và cách thức, phương pháp diệt tận nóng giận. Tất cả mọi thứ đều đưa về bốn Thánh đế, đây là bốn trí của Tứ Thánh Đế dược áp dụng vào tất cả phương diện, đi sâu vào có thêm ba trí nữa đó là vị ngọt của tham ái, sự nguy hiểm và tác hại của tham ái và cuối cùng là sự xuất ly khỏi tham ái. Khi muốn phá dẹp bất kì thứ nào trong thân tâm phải có đủ bảy loại trí tuệ này.
II. Tham ái
Đầu tiên tham ái là một cảm thọ, một suy nghĩ, một hình bóng yêu thích. Ví dụ nhìn ngôi nhà thấy thích, có suy nghĩ ưa thích, có cảm giác dễ chịu, khả ái. Khi thấy chiếc xe, món đồ đẹp là khởi lên cảm thọ ưa thích, khả lạc, khả ái, khả ý, khả hỷ liên hệ đến dục hấp dẫn, nhìn thấy mảnh vườn, miếng đất, đôi dép đẹp, nhìn thấy con người đẹp rồi sanh ra cảm thọ dễ chịu, yêu thích, ham muốn thì đó là tham ái.
Tại sao tham ái sanh? Do có sự tiếp xúc, khi thấy món đồ đó, nghe nói về món đồ đó, được ngửi, được nếm, được đụng chạm thì đó là do tiếp xúc nên cảm thọ tham ái sanh khởi. Làm thế nào để tham ái diệt? Do xúc diệt thì tham ái diệt, chấm dứt tiếp xúc thì tham ái sẽ chấm dứt. Cách nào để chấm dứt? Đức Phật nêu ra rất nhiều phương pháp để phá sự không thấy không biết tham ái đưa đến khổ đau. Ái diệt là Niết-bàn vì khi tham ái không được thì sanh ra bực tức, nóng giận.
Đức Phật đã nói nguyên nhân của đau khổ chính là tham ái, khi mắt tiếp xúc sắc sẽ sanh ra sự ưa thích nếu sắc đó là đẹp, nếu sanh ra cảm giác ghét bỏ cũng là ái, sân chỉ là một mặt khác của tham ái, vì không hợp với cái thích nên sanh ra ghét. Mình phải thấy vị ngọt trong tham ái là sự khoan khoái, vui thích, êm ái, khi mắt tiếp xúc sắc, tai tiếp xúc tiếng, mũi tiếp xúc mùi, lưỡi tiếp xúc vị, thân xúc chạm hay ý chỉ nghĩ về những hình bóng, cảm thọ bên trong không ai biết nhưng có vị ngọt trong đó, nếu không nhận diện ngũ uẩn là không biết lúc đó mình đang thưởng thức vị ngọt của hình bóng một sắc tưởng, mình có sự yêu thích trong hình bóng đó, hài lòng, ham muốn trong đó. Sự nguy hại của nó là thứ vô thường, tan rã, bại hoại, đổi thay, là thứ đau khổ. Cách để thoát ra khỏi nó là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, khi nhìn lại trong cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng thì chúng ta mới nhận diện ra bộ mặt của tham ái, sự vận hành của tham ái, nó rất đa dạng, đa diện, đa khía cạnh.
III. Sự nguy hại
Minh Thành sẽ giới thiệu những bản kinh quan trọng để các Tăng Ni sinh về đọc thêm, nghiền ngẫm thêm, nghe thêm.
"Sợ hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Khổ, này các Tỳ-kheo, là đồng nghiệp với các dục.
Bệnh, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Cục bướu, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Tham dính, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Bùn lầy, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Chữ "dục" ở đây chính là tham ái, chữ "dục" này bao gồm ái dục, dục vọng, dục tham, dục ái. Nói Tiếng Việt cho dễ hiểu thì thứ nhất là yêu thích là đồng nghĩa với sợ hãi, yêu thích là đồng nghĩa với khổ đau, yêu thích là đồng nghĩa bệnh tật, yêu thích là đồng nghĩa với cục bướu, yêu thích tức là tham dính, yêu thích là vũng lầy. Đây là những hình ảnh để chúng ta tác ý, quán chiếu, trong các bài kinh thường ghi lại khi các vị Tỳ-kheo đi khất thực về thường ngồi ở những chỗ xa vắng để nhìn lại nội tâm để quán chiếu, tác ý, trừ diệt tham ái, nhìn vào nội tâm có tham ái không, nếu có thì trừ diệt, nếu không có cũng quán chiếu để diệt tận những thứ vi tế chứ không phải ngồi yên.
"Và này các Tỳ-kheo, vì sao sợ hãi là đồng nghĩa với các dục?
Này các Tỳ-kheo, say đắm bởi tham dục, bị trói buộc bởi các tham ước muốn, ngay trong hiện tại không thoát khỏi sợ hãi, đời sau cũng không thoát khỏi sợ hãi. Do vậy, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (III). Sợ Hãi)
Đây là những định lý chứng ngộ của Đức Phật, một khi đã say đắm trong những tham muốn sẽ bị trói buộc trong những tham muốn đó, ngay trong hiện tại đã bị lo lắng, sợ hãi, đời sau tiếp tục sợ hãi cho nên sợ hãi đồng nghĩa với những sự tham muốn. Chữ "dục" ở đây có hai phần, thứ nhất là đối tượng của dục tức là sắc; thanh; hương; vị; xúc là năm dục trưởng dưỡng bên ngoài và thứ hai là chủ thể tham muốn bên trong chính là những suy tư, suy nghĩ tham ái, ham muốn đó.
Năm dục trưởng dưỡng đó làm lớn mạnh lòng tham muốn của con người, bản thân sắc đẹp chỉ là thứ vô tri nhưng khi nhìn thấy thì người nhìn sẽ khởi lên tham muốn cho nên gọi là dục trưởng dưỡng, chữ "trưởng dưỡng" nghĩa là nuôi lớn lòng tham muốn. Những âm thanh ngọt ngào bản chất chỉ là âm thanh thôi nhưng những âm thanh đó làm con người ta khi nghe được sanh khởi mạnh thêm lòng tham muốn, cho nên gọi là dục trưởng dưỡng. Cái mùi, cái vị, sự tiếp xúc đụng chạm cũng vậy, Đức Phật đã nói những tư duy tham ái là dục của con người.
"Các tư duy tham ái,
Là dục của con người,
Các hoa mỹ ở đời,
Chúng không phải là dục,
Các tư duy tham ái
Là dục của con người,
Các hoa mỹ an trú
Như vậy ở trên đời,
Ở đây những bậc Trí,
Nhiếp phục được lòng dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Những ý nghĩ ham muốn, ưa thích, mong chờ, khao khát, thèm thuồng đồng nghĩa với sợ hãi, hễ có những thứ đó là có sợ hãi, có khổ đau, có bệnh hoạn, có cục bướu, có tham dính, có sình lầy. Những suy nghĩ đó làm mình lún dần xuống, những hình bóng, những cảm xúc đó dần dần phát ra khẩu hành, thân hành rồi đi tìm những đối tượng và cuối cùng là thực hiện những tham muốn đó, chỉ hưởng được một chút vị ngọt nhưng lại có nhiều sự nguy hiểm và tác hại. Đó là những thứ đổi thay, là những thứ biến hoại cho nên đau khổ trong đó, vì vậy hễ có yêu thích là có sợ hãi, hễ có tham ái là có sợ hãi, có tham muốn là có sợ hãi. Thích chiếc xe là khổ với xe, thích căn nhà là khổ với nhà, thích món đồ nào là khổ với món đồ đó, thích con người là khổ với con người, đây chính là sự chứng ngộ của Đức Phật.
Yêu thương là bệnh hoạn, yêu thích là bệnh hoạn vì mình yêu thích, say đắm trong những thứ đó rồi mình lo lắng, bất an nếu nó mất hoặc nó đổi thay hoặc bị người khác chiếm lấy, dù là món đồ, hay căn nhà, miếng đất hoặc là con người, tất cả những thứ đó chỉ tóm gọn trong sắc cho nên một chữ "sắc" của Đức Phật bao trùm trái đất, địa cầu. Mình học để mình thường nhìn lại khi mắt; tai; mũi; lưỡi; thân tiếp xúc có sanh khởi ra những cảm giác đó không, mình có nhiếp phục, chế ngự không, có tác ý đánh đuổi nó không. Phải thường nhắc nhở bản thân để tâm luyến ái, dính mắc từ từ được tháo gỡ, đó gọi là viễn ly, xuất ly, xả ly vì thấy tác hại và nguy hiểm trong sự yêu thích, tham ái đó.
"Sợ hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Ðau khổ, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Bệnh tật, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Cục bướu, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Mũi tên, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Trói buộc, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Bùn, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục.
Thai tạng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với các dục" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (VI). Sợ Hãi)
Trong bài kinh này Đức Phật đưa ra thêm ba hình ảnh, mũi tên, trói buộc và thai tạng là đồng nghĩa với các dục. Tham muốn, tham ái, yêu thích là mũi tên. Tham muốn, tham ái, yêu thích là sự trói buộc, trói cột, đây chính là kiết sử nghĩa là yêu thích và trói cột, nó sai khiến mình phải tìm kiếm, chạy đuổi để thực hiện sự ưa thích, tham ái đó. Bào thai là đồng nghĩa với các dục, chính vì có ham muốn nên mới đi vào trong bào thai để tái sanh.
"Như thế nào, này các Tỳ-kheo, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục?
Vì rằng, những ai bị dục ái nhiễm, những ai bị dục tham trói buộc, không được giải thoát khỏi sợ hãi hiện tại, không được giải thoát khỏi sợ hãi trong tương lai; do vậy, sợ hãi là đồng nghĩa với các dục". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, VI. Phẩm Gotamì, (VI). Sợ Hãi)
Có yêu thích, có ham thích là có lo lắng, bất an, sợ hãi, khổ đau, bị trúng tên, bị trói cột, bị lún sâu vào đầm lầy, chịu khổ đau và tiếp tục rơi vào trong bào thai.
"Ái nhiễm, này các Tỳ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỳ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Những bài kinh này có sự liên hệ, bổ túc cho nhau, tác thành cho nhau làm chói sáng, bừng sáng Thánh trí ly tham của Đức Phật và ly tham cũng có nghĩa là ly dục, ly ái. Chúng ta sẽ diễn giải để dễ hiểu lời kinh trên, đó là tâm bị nhuốm màu yêu thương, yêu thích, tham muốn thì tâm đó là bệnh tật, là ung nhọt. Tâm bị ngấm vào những cảm thọ, suy tư, nghĩ tưởng yêu thương, yêu thích, tham ái thì tâm đó là ung nhọt, là mụn nhọt, là bệnh tật.
Tâm yêu thích sắc, yêu thích tiếng, yêu thích mùi vị, yêu thích sự đụng chạm thì tâm khoan khoái, tham muốn, thèm khát đó là bệnh tật, tâm đó là mụn nhọt, là ung nhọt, là mũi tên. Đây là những chủ đề thiền quán vi diệu để nhắc nhở bản thân mở ra, thoát ra, nếu không mình sẽ bị trúng tên độc, mình sẽ bị bệnh tật, mình sẽ có ung hạch, ung nhọt, ung bướu.
Sự yêu thích này không giới hạn trong nam nữ mà còn rộng ra cả năm dục trưởng dưỡng. Như Lai không có ái nhiễm nên Như Lai không bị mũi tên bắn trúng cho nên hãy mong ước có được tâm ly tham, tâm tận ái, tâm thoát ly tham ái. Hãy cầu mong có tâm đó, hãy ước nguyện để thành tựu được tâm đó, qua đây chúng ta thấy được Đức Phật rất thương chúng sanh, ngài nhắc đi nhắc lại trong rất nhiều bài kinh.
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý mắt, và hãy như thật chánh quán con mắt là vô thường. Này các Tỳ-kheo, do như lý tác ý con mắt và như thật chánh quán con mắt là vô thường, Tỳ-kheo nhàm chán đối với con mắt. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát.
Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý tai... mũi... lưỡi... thân...
Này các Tỳ-kheo, hãy như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường. Này các Tỳ-kheo, do như lý tác ý và như thật chánh quán ý là vô thường, Tỳ-kheo nhàm chán đối với ý. Do duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu tận. Do tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm được gọi là khéo giải thoát". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận, III. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (3))
Hãy tác ý con mắt này là vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng. Hãy tác động tâm ý để nhắc nhở rằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, hình hài này là biến đổi, là đột ngột, đột biến, đột tử. Vô thường nghĩa là đột ngột thay đổi, cứ vài ngày Minh Thành nghe nói gia đình Phật tử này nhiễm F0, gia đình kia có người mất, vô thường là bất thình lình, bất trắc, bất an, bất toại nguyện, bất ổn vì thế Đức Phật nhắc nhở chúng ta phải tác ý con mắt này là vô thường, là bệnh tật, là khổ đau, là biến hoại, là vô ngã nghĩa là không có "tôi" ở trong con mắt này, hãy tác ý lỗ tai này là vô thường, là đổi thay, là bệnh tật, là trống rỗng, không có tôi và của tôi trong lỗ tai này, hãy tác ý mũi; lưỡi; thân; ý này là vô thường, là biến hoại, là duyên sanh, không có gì là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Chúng ta cần vận dụng phương pháp này thường xuyên để thực tập, chúng ta phải tác ý như vậy vì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là chỗ trú ẩn của tham ái.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ tập Thánh đế? Sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Như dục ái, hữu ái, vô hữu ái". (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)
Thế nào là nguyên nhân của khổ đau mà bậc Thánh chứng ngộ, chính là tham ái đưa đến tái sanh, sự tham ái này đưa đến sanh ra một đời sống kết hợp với yêu thích và ham muốn, tìm cầu vui sướng chỗ này chỗ kia. Tìm cầu vui sướng ở cõi dục, ở cõi sắc và cõi vô sắc, trong kinh dùng từ dục ái, hữu ái và vô hữu ái, chữ nào cũng có ái theo sau. Dục ái là yêu thích thế giới của dục cho nên sanh ra trong dục giới, hữu ái là yêu thích trong thế giới của sự hiện hữu, cái này vi tế hơn cõi dục, đó là sắc giới, của những hình sắc vi tế của chư thiên chứ không có hình tướng như loài người, vô hữu ái là yêu thích sự không hiện hữu trong các cảnh trời không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ. Chính tham ái này thiết lập ra ba cõi, tam giới.
"Này các Tỳ-kheo, sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đâu, khi an trú thì an trú ở đâu? Ở đời, sắc gì thân ái, sắc gì khả ái? Ở đời con mắt là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy. Ở đời cái tai... ở đời mũi... ở đời lưỡi... ở đời thân... ở đời ý là sắc thân ái, là sắc khả ái. Sự tham ái này khi sanh khởi thì sanh khởi ở đấy, khi an trú thì an trú ở đấy". (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Ðại Niệm xứ)
Những điều này chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác A-la-hán chỉ cho mình biết, khi Minh Thành đọc bài kinh này là rúng động toàn thân vì không thể ngờ tham ái khủng khiếp đến vậy, vi tế đến vậy. Mình học phất phơ, học qua loa, xem thường, thiển cận, cạn cợt, học cẩu thả cho nên mình hiểu không tận tường nên tu không đến nơi đến chốn.
Ở đời sắc gì đáng yêu, đáng thích thì cái sắc sanh khởi ở ngay đó, an trú ngay đó. Đức Thế Tôn nói đến đâu là giải thích đến đó, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đều có nghĩa có văn đầy đủ tất cả viên mãn phạm hạnh để đưa mình đến đời sống cao thượng, Thánh thiện, trong sạch, tối thượng hoàn toàn. Tham ái ở ngay nơi con mắt, sanh khởi, an trú ở ngay đó, lỗ mũi, cái miệng, hình hài, cơ thể này là sắc thân ái, sắc khả ái, ngài nói đến sáu trần, sáu căn, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư và sáu ái, không còn bất cứ một cái nhỏ nhoi nào mà ngài không nhìn không thấy, không chứng không hiểu, như vậy mới gọi là bậc Chánh Biến Tri, Thế Gian Giải.
Nếu có ai đụng chạm vào thân này là xảy ra chuyện vì mình cho thân này là sắc thân ái, sắc khả ái, vào thân con nào cũng cho rằng thân đó là thân ái, khả ái. Như vậy gọi là sắc thủ uẩn, là sự nắm chặt vào trong tổ hợp của hình hài, sắc chất vô thường, tạm bợ, dễ vỡ, dễ nát này. Từ sự không thấy không biết (vô minh) mà sanh ra tham ái và chấp thủ, khi nhìn vào gương phải chiếu ra hình ảnh gương mặt, mắt, mũi, miệng, tai của mình thì trong đầu mình nghĩ "nhìn mình trông cũng được" thì đó là sắc thân ái, sắc khả ái, là sắc thủ uẩn, gương mặt xấu vậy mà nhìn vào gương cũng cho rằng trông cũng được.
Cho nên đẹp hay xấu cũng có sự chấp thủ, tham ái, vô minh rồi đau khổ, bệnh tật, bị trúng tên độc, bị rơi xuống đầm lầy, lọt vào bào thai, lo lắng, bất an, khổ sầu vì rất yêu thích con mắt, lỗ tai, miệng. Mình rất yêu tự thể chính mình, mình yêu say đắm con mắt, cái miệng, hình dáng này, đôi môi này, say đắm và chấp thủ vào những thứ này để rồi bệnh tật, đau khổ quằn quại, bất an, lo lắng, sợ hãi và khổ sầu. Đó là tâm vô minh, tâm si mê, tâm ngu dại, tâm mù lòa, đui chột, tâm của bóng đêm hắc ám, tâm hoang vu rừng rú vì chưa được ánh sáng của mặt trời Thánh tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác rọi vào, thậm chí có ánh sáng rọi vào mà cũng không chấp nhận giống như cái chậu bị lật úp không có ánh sáng nào chiếu vào được.
"Nhật nguyệt tuy minh nan chiếu phúc bồn chi hạ
Đao kiếm tuy khoái, bất trảm vô tội chi nhân".
Nghĩa là mặt trời và mặt trăng tuy sáng nhưng không chiếu vô được chậu đang úp, gươm tuy bén nhưng không lẽ dùng để chém kẻ vô tội. Đức Phật gọi đây là khối vô minh uẩn to lớn của chúng sanh và sự khát ái này rất khủng khiếp, tham ái này sanh khởi và an trú trong từng sợi lông. Khi nhìn ra được những thứ này mình sẽ rất bất ngờ, thật khủng khiếp cho tâm tham ái và vô minh, mình thấy bản thân đáng thương và khờ dại làm sao, cứ bám víu vào đống xương da, mủ máu và thịt này.
Hơn thua trong từng ánh mắt, từng lời nói, tranh đấu trong từng hành động, chúng ta là nạn nhân của tâm bệnh tật này cho nên cần phải tu tập tích cực. Còn nếu tu lơ là, tu đều đều an phận thủ thường, ẩn dương nương Phật thì không thể nào phá được tham ái và chấp thủ khủng khiếp này, khi nào trong tâm không còn bất kì suy nghĩ nào cho rằng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân này là tôi, là của tôi thì lúc đó mới Nhập Lưu, mới thật sự đi vào dòng chảy của trí tuệ chân chánh, mới là người thừa tự pháp, mới là người mang họ Sakya Thích-ca chân chánh, trở thành huyết thống Đại Giác, Linh Sơn cốt nhục, quyến thuộc Bồ-đề, lúc đó mới chính thức đi vào hàng con Phật.
"Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: 'Mắt là của tôi'. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: 'Các sắc là của tôi'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, VII. Ái Nhiễm)
Hãy nghĩ rằng con mắt này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Hãy thường tác ý suy nghĩ như vậy để loại bỏ suy nghĩ con mắt này là tôi vì nếu nghĩ con mắt này là tôi thì mình sẽ yêu thích con mắt này, mình tham ái con mắt này, mình nắm giữ con mắt này nhưng con mắt này lại là thứ vô thường, biến hoại, duyên sanh, bất tịnh, đau khổ, bệnh hoạn vậy thì làm sao mình hết khổ? Sau khi chết lại đi tìm con mắt khác cho nên đừng bao giờ nghĩ con mắt này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, mỗi khi nhìn thấy con mắt, nhìn thấy cái bóng của gương mặt trong gương thì hãy tác ý như vậy, nó chỉ là sắc pháp tứ đại, là một mớ tóc, một mớ da và một bộ não chứ không có ai trong này. Phải thường xuyên tác ý như vậy để loại bỏ vô minh, tham ái, chấp thủ trong sắc uẩn này, trong tổ hợp hình hài sắc chất này.
Nếu mình không được nghe lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì dù đi cầu học của bất kì ai trong vô lượng vô biên kiếp cũng không thấy được đạo lộ xuất ly khỏi tham ái, phải phá được vô minh mới diệt được tham ái, mới tận được chấp thủ thì mới chấm dứt khổ đau.
Căn phòng mình ở, ngôi chùa mình ở, ngôi nhà mình ở, cái thất mình ở, chiếc xe mình ở, chiếc áo mình mặc là sắc thân ái, sắc khả ái. Khi nãy là nói sáu căn còn bây giờ là nói đến sáu trần, tham ái sanh khởi và cư trú ở nơi đó. Ví dụ Minh Thành thích cây tùng nên chăm sóc nó từng tí một, bỗng nhiên có người chặt mất cái cây hoặc làm cây chết thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đó là sắc thân ái, sắc khả ái, mình sẽ đau khổ, mình bị trúng mũi tên của nó. Không phải chỉ yêu thích bên trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của nó mà còn yêu cả những cảnh vật, món đồ, con người bên ngoài. Đối với các tiếng, mùi vị và sự tiếp xúc cũng giống như vậy, các xúc này có nhãn xúc, thân xúc, nhỉ xúc, thiệt xúc, tỷ xúc, ý xúc chứ không phải chỉ đơn giản xúc là sự tiếp xúc không.
Tất cả mọi chữ trong kinh Nikāya là khẩu quyết, là bí kiếp, là mật mã chứ không phải xúc là xúc, ái là ái mà đó là cả một sự chứng ngộ của Đức Phật. Chỉ một chữ nhưng tu suốt đời chưa chắc mình thành tựu trí tuệ đầy đủ về chữ đó, nếu thành tựu đầy đủ thì tối thiểu phải Nhập Lưu, còn tối cao là A-la-hán. Sau khi nói sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp thì Đức Phật nói đến sự rõ biết các sắc, nhờ có mắt mà mình rõ biết được các sắc và mình cũng yêu thích sự rõ biết các sắc này, sau đó là sự rõ biết âm thanh, mình muốn được nghe, thích được nghe, đó là tiếng khả ái, tiếng thân ái, cho nên khi nhìn sâu vào thì cái nào mình cũng bị dính mắc.
Mình yêu thích sắc, yêu thích mùi vị, yêu thích sự tiếp xúc, đang dịch bệnh nhưng vẫn muốn chạy ra ngoài dù có bệnh cũng chịu, tiếp xúc để được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được nhìn, được cảm nhận rồi sanh ra những cảm giác do tiếp xúc, bệnh cũng chịu, chết cũng chịu chứ ở nhà là không chịu nổi, đó là xúc thực, là thức ăn của sự tiếp xúc.
Nếu mình chưa từng được nghe pháp, chưa từng học, chưa từng nhận diện thì làm sao mình biết xúc là gì, tại sao có xúc, khi xúc sẽ sanh ra cảm thọ gì, là yêu thích hay ghét bỏ hoặc là không yêu thích cũng không ghét bỏ, đó chính là quán pháp trên các pháp cho nên Đức Phật tất cả chúng ta đều bị mù lòa.
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Nếu Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng mà thấy chúng ta như vầy là các ngài thương vô cùng thương, thương hết chỗ nói. Bị lây bệnh thành F0 phải vào khu cách ly vậy mà vào đó rồi cũng đánh nhau, cãi nhau rồi thành giết nhau, như vậy có phải khổ chồng lên khổ không. Bên ngoài như vậy thì trong tâm cũng rối bời, giống như cuộn chỉ, tổ kén, như những bụi lau sậy, lúc nào cũng thấy một tự ngã to tướng, thấy nguyên khối tưởng, có biết bao pháp vận hành nhưng cũng chỉ thấy có tôi, không biết sự lắp ráp, sự kết hợp, những mắc xích tạo thành nó nên vận hành trong vô minh, tham ái, chấp thủ để rồi đau khổ, sầu bi, ưu não. Trên đời này ngoài pháp ra không có gì có thể giúp mình hết khổ, đừng đi tìm cái gì khác ngoài pháp vì chỉ có uổng công mà thôi.
Chữ "pháp" và "pháp ái" rất khó để có thể hiểu được, chữ "pháp" ở đây mang nghĩa khác, chữ "pháp" ở bài khác lại mang nghĩa khác cho nên chữ "pháp" trong tạng kinh Nikāya không phải dễ để hiểu được nó. Trong sắc; thanh; hượng; vị; xúc pháp thì pháp này có nghĩa là thọ; tưởng; hành, đó là những cảm giác, hình bóng và suy nghĩ trong tâm. Đó là đối tượng của thức, ý căn, pháp trần và ý thức, khi mình để ý lại trong tâm thì thấy có một hình bóng dễ thương, có những suy nghĩ dễ thương và yêu thích, có những cảm giác dễ chịu, khoan khoái, đó là pháp ái.
Không đối diện người cũng không đối diện cảnh, chỉ ngồi một mình nhưng trong tâm hiện ra hình bóng một người, có cảm giác dễ chịu và có suy nghĩ về người đó, chúng ta yêu thích những suy nghĩ, hình bóng và cảm thọ ưa thích đó. Những cái này mình gặp thường xuyên nhưng do mình không nhận diện nên không biết đó là pháp ái. Mình ở đây nhưng lại nhớ ngôi chùa của mình, hình bóng ngôi chùa hiện lên, có cảm giác thân thương, dễ chịu, có suy nghĩ về ngôi chùa, mình ưa thích suy nghĩ đó, ưa thích cảm giác và hình bóng đó thì gọi là pháp ái. Đối với người thân, món đồ, cảnh quê cũng vậy, có những cảm giác, nghĩ tưởng ưa thích, ham muốn, mong muốn, đợi chờ, thèm muốn thì đó là pháp ái dù cho mình không đối diện mà chỉ đối diện trong tâm, những bậc thành tựu có thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân sẽ nhìn thấy còn người ngoài không thể thấy được vì đó là sắc vi tế. Vì thế khi đọc được tâm người khác là đọc được thọ; tưởng; hành.
Khi đi sâu vào kinh Nikāya sẽ giải mã tất cả thân tâm và thế giới, trong ngũ uẩn này không có gì mà mình không rõ, không còn lờ mờ giống như ngày xưa nữa, không phân vân, nghi ngờ, không còn trừu tượng nữa mà pháp nào rõ ràng pháp đó. Khi có vô minh thì thấy rõ lúc đó có vô minh, khi có tham ái thì thấy rõ lúc đó có tham ái, khi dục thì mình biết lúc đó có dục, khi sân thì thấy rõ lúc đó có sân vì khi vận hành là ngũ uẩn đều có mặt.
Khi sân lên thì mặt đổi màu, lỗ tai đỏ lên, có cảm thọ tức giận, nóng bức, có hình bóng người mình ghét hiện lên vì thế nội tâm có tham thì biết nội tâm có tham, nội tâm có dục, có ái thì biết nội tâm có dục, có ái, nội tâm có si mê, bản ngã thì biết nhưng chữ "biết" đó là đang nói vắt tắt. Đó là chữ đầu của chánh kiến, sau đó chánh tư duy phải vận dụng, khởi động lên đánh đuổi nó ra khỏi tâm, chánh tinh tấn là dùng mọi cách, mọi phương tiện đánh tan cảm thọ, hình bóng, suy tư đó chứ không phải biết rồi tự sanh, tự diệt, vì thế mới có chánh tinh tấn.
Những bậc đã đạt chánh tri kiến một cách thâm sâu và thành tựu các tầng thiền định thì chỉ cần các ngài biết là ác bất thiện pháp, cấu nhiễm, cấu uế tự động tan biến, còn mình thì chưa được, mình chưa thành tựu trí huệ thì chẳng biết gì cả. Mình chỉ biết trong thức, trong suy tưởng chứ không phải biết bằng tuệ tri, đó là xuyên thấu tất cả sự sanh diệt, vận hành của bốn trí lậu hoặc và bốn trí ngũ uẩn, đó mới là biết bằng tuệ tri. Khi Bồ-tát Tất-đạt-đa chứng ngộ dưới cội Bồ-đề thì đầu tiên ngài chứng bốn Thánh trí về ngũ uẩn, tiếp theo ngài thành tựu bốn Thánh trí về lậu hoặc, sau đó ngài thành tựu tam minh mới chứng đắc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Chúng ta phải học thêm nhiều và thực tập thêm nhiều hơn nữa. Hôm nay Minh Thành trình bày với các thầy các cô, các Tăng Ni sinh để chúng ta có sự thấy biết thêm về tham ái trong sự tu học để chúng ta nỗ lực, cố gắng nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận để sớm đến ngày ái tận, giải thoát.
./.