Thứ Tự Tu Tập 9 - Kinh GANAKA MOGGALLANA - Trung Bộ
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
THỨ TỰ TU TẬP 9
KINH GANAKA MOGGALLANA
TRUNG BỘ
–Thích Minh Thành–
Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Rõ biết được thọ; tưởng; hành bên trong, chúng ta tập cho mình thói quen thực tập ba pháp trước khi bắt đầu vào học, đây là một thói quen rất đẹp của những Tăng Ni sinh hay những giảng sư tương lai, thiền sinh. Ba pháp này rất quan trọng, không những trong lúc ngồi học, ngồi thiền mà lúc nào cũng phải đặt niệm trước mặt, bất cứ lúc nào mình cũng cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Người xuất gia phải có phong thái ung dung, thảnh thơi, bình an trong bất cứ lúc nào, dù cho công việc rất vội vã, vội vàng cũng phải thực tập cho được phong thái ung dung, nhẹ nhàng và tỉnh giác, không phải chỉ là bề ngoài làm hình thức, dáng vẻ cho người ta xem, đó là lúc đầu, chúng ta miễn cưỡng chiến thắng lại thói quen của phàm phu, những tập quán, tính tình của buông lung phóng dật, của trạo cử, lăng xăng, khi tập quen rồi thì sáu căn ba nghiệp của mình sẽ an tịnh, lắng dịu trong mọi hoàn cảnh. Người tu không có lăng xăng, không có dao động, không có lắm mồm lắm miệng, thực tập được cái này chúng ta sẽ có nghi dung đĩnh đạc, vỏ ngoài của phạm hạnh. Chúng ta phải thực tập nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều năm, nhiều thập kỉ và thực tập suốt cuộc đời mình.
Chúng ta phải thực tập niệm thân, niệm oai nghi, hành động, đó là vẻ đẹp của người xuất gia. Vừa rồi trên con tổ chức khóa tu xuất gia gieo duyên, cạo tóc cho 40 người, hội chúng khoảng 80 vị nhưng khi ăn cơm thì tiếng thở của người kế bên cũng nghe được, không hề nghe tiếng động của đũa muỗng, tô chén. Có Phật tử phát tâm cúng dường tiền xe đưa các thầy các cô lên núi tu học, đó là sự cung kính của hàng Phật tử, chúng ta cần phải tu học nhiều hơn chứ không phải thấy vậy là thích thú. Người ta rất tin tưởng nên mình phải làm những điều đáp lại lòng tin, sự kính trọng đó, sống có tình có nghĩa, mỗi buổi học của chúng ta được lưu lại là một điểm, nếu nghĩ tiêu cực là không tốt nhưng nghĩ tích cực là rất tốt, những hình ảnh này ba năm sau, mười năm sau, hai mươi năm sau chúng ta xem lại khi chúng ta đã lên những phẩm vị thì nhìn lại thời Tăng sinh, Ni sinh của mình, chúng ta nghe lại những lời pháp thì đó là điều tốt cho chúng ta.
Ba pháp này rất quan trọng, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Khi đặt niệm trước mặt thì ngồi ở đâu ánh nhìn cũng đoan chánh, vững chắc, vững trú, khi cảm giác toàn thân là định tâm ở trên thân, khi nội tâm tỉnh giác là nhìn thấy được thọ; tưởng; hành sanh khởi và đoạn diệt nội tại để soi rọi trong ngoài các pháp căn – trần – thức.
Khi chúng ta chưa học nhận diện ngũ uẩn, chưa học quán chiếu cảm thọ, chưa học chánh quán thọ thực, chúng ta làm đệ tử Phật mà không biết cách ăn của Đức Phật là một điều thiếu xót rất lớn, mình phải xem cách Đức Phật ăn cơm như thế nào và cách ăn của các bậc Thánh Tăng ngày xưa là hai bài chúng ta cần đọc thật kĩ và phải học thuộc lòng để biết ăn như thế nào mới giống Phật chứ không như chúng ta cúng quả đường, cái là của Trung Quốc. Ngài dạy cho mình khi ăn phải kiểm soát sự thúc giục, sự ưa thích và sự ham muốn trong khi ăn, trọng tâm của toàn bộ giáo lý của Đức Phật là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, toàn bộ cốt lõi đạo Phật chỉ có bấy nhiêu đó, chính là sự nhiếp phục những ưa thích, ham muốn đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức hoặc là đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp. Vì thế trong mọi công phu tu tập của người xuất gia là để nhiếp phục lòng tham muốn sau khi thấy biết bản chất của vấn đề, vì tham muốn đó đưa đến khổ đau.
Trước kia mình chưa nhận diện ngũ uẩn, chưa quán chiếu cảm thọ, chưa nhận ra được dục, tham, ái trong khi ăn nhưng bây giờ chúng ta bắt đầu nhìn ra. Nếu như đối với các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật hoặc là một người ít muốn biết đủ thì được Phật tử cúng cho hộp cơm ăn được rồi, không cần đi tìm nữa. Nếu mình chỉ ăn một lần mà chỉ có hộp cơm vừa nhỏ vừa nguội thì không đủ no mới tìm thêm thì được, đằng này chiều mình về chùa có cơm ăn, có khi tối còn ăn mì thêm nhưng ngay lúc đó mình không chấp nhận mà đi tìm thêm đồ ăn, đây là chỗ để mình học. Khi mình đi đến đạo tràng nào đó, đi đến một pháp hội nào đó hoặc ngay trong chùa mình mà người ta đem lên cái gì thì mình ăn cái đó, làm được bao nhiêu đó thôi đã là một công phu có sở đắc, đã là cả một vấn đề, ngược lại mình đòi ớt, thêm nước tương, thêm rau… cái đòi thêm là tham, nghĩa là muốn thêm, muốn nữa. Tức là người ta đem cho mình ly nước rất ngon, mỗi người chỉ được một ly, mình uống hết rồi nhưng hỏi thêm "còn nữa không" thì đó là tham, muốn uống nữa nhưng mình không nhìn ra được điều này, chính vì không nhìn ra được nên mới vô minh.
Vô minh là không sáng tỏ, không thấy không biết các cảm thọ, nghĩ tưởng, nhận thức đang sanh khởi như thế nào, đó là vô minh đối với năm uẩn cho nên tu mà không nhận diện ngũ uẩn, không thấy cảm thọ, không nhìn ra tham, sân, si, bản ngã thì đó là tu trong vô minh, vĩnh viễn không bao giờ giác ngộ. Không thấy được dục, tham, ái sanh khởi gì cả, mình nghe nói "đồ ăn nhiều lắm, thầy cô cứ ăn thoải mái không cần sợ gì cả", câu này sẽ giết mình chết, họ khuyến khích mình dục tham cho nhiều lên nhưng họ không biết và mình cũng không biết thì cái không biết đó được nhân đôi. Có nhiều trường hợp cù cưa "thầy cô dùng đi, tội nghiệp cho tấm lòng" mà mình còn dung nạp được thì đó là trường hợp bất đắc dĩ nên có thể, còn đằng này là mình đòi hỏi, thậm chí người ta nói "dạ hết rồi, 100 người thì con đếm 100 ly thôi ạ" thế là buồn, giận vì xin không cho, tham không được thì sân, chẳng những ăn xong rồi còn xách bịch đem về.
Có nhiều cách để mình an trú vào pháp, nếu biết pháp sẽ có rất nhiều cách, thường thì Phật tử đến quý thầy, quý cô là thường tình, ít có người hiểu pháp một cách sâu sắc mà đa số là vì tình cảm, vì tình nghĩa, vì sự quý mến, kính trọng cho nên mình phải có trách nhiệm hướng dẫn cho họ, hướng dẫn ở mức độ nào là tùy theo trí tuệ của sự tu học của mình, thứ hai là trình độ của người đó tiếp nhận đến mức độ nào. Khi mình đã quá no, không thể ăn được mà Phật tử nhiệt tình mời thì thứ nhất mình sẽ yên lặng nhưng không phải làm mặt hình sự mà mình trang nghiêm, an tịnh thì tự động họ sẽ biết, mình im lặng mỉm cười vậy thôi, còn nếu mình càng chống trả thì người ta càng mời, càng muốn đưa thức ăn cho nên mình mỉm cười và ngồi yên tịnh, những người có nhận thức thì tự động sẽ biết, giảm lại, còn nếu mình đã an tịnh mà họ cứ lấn tới thì mình không quan trọng món đồ ăn đó nữa mà mình quay trở về nhiếp phục cảm thọ ham thích trong người mình. Vấn đề ở đây là trong nội tâm mình chứ không phải người bên ngoài mời mọc, dù người ta có đưa nhiều nhưng bên trong mình nhiếp phục cảm thọ ham muốn, thúc giục muốn ăn và chế ngự cảm thọ ham thích đó. Thứ ba là sau khi ăn xong hoặc là một lúc nào đó thích hợp thì mình giải thích cho người đó biết "con bị bệnh nên món đó không ăn được" hoặc là "trong giới luật của người tu….", tùy theo độ thân thiện của mình và người đó và tùy theo hợp thời thì mình giải thích cho họ biết. Nếu họ chỉ đi có một lần thì thôi, mình chỉ cần quay lại nhiếp phục cảm thọ trong nội tâm thôi, đừng để cho cái khoan khoái, ham thích ăn ngon dẫn dắt mình rồi ăn nhiều vào sẽ có vấn đề.
Con đi chia sẻ pháp nhiều nơi, cả trong nước lẫn ngoài nước nên trường hợp này con gặp rất nhiều. Do mình không thấy cảm giác lúc đó như thế nào, mình không thấy sự thúc giục trong lúc đó, mình không thấy sự muốn ăn, khi ngồi trước những món ăn nóng hổi, có đầy đủ sắc, hương vị tấn công cùng một lúc thì lúc đó là lúc mình ra chiến trận. Mình không biết tu nhìn vào sẽ thấy khoan khoái, ham thích, còn người có tu là đang ra trận vì mình đang đối diện với những sắc hương vị khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn. Nếu cảm thọ mình không biết, sự thúc giục trong tâm cũng không biết, cái ham thích muốn ăn cũng không biết, đòi thêm, muốn nữa, thêm nữa cũng không biết thì mình chỉ biết có món ăn, trong lúc đối diện món ăn phải thấy sự vận hành của các pháp, sau đó phải nhiếp phục và chế ngự thì đó mới là người tu, không có những cái này không phải là người tu. Ngồi ăn thả ga, thưởng thức hương vị thức ăn, khoan khoái, thích thú trong món ăn thì tu cái gì trong khi người ta quỳ lạy bên dưới?
Mình ăn trong dục, tham, ái, mình ăn trong vô minh, không thấy pháp, không thấy thân tâm, không nhiếp phục dục tham. Mình vừa ăn vừa nói chuyện này chuyện kia rồi tưởng lại những món ăn trong quá khứ và hướng đến món ăn trong tương lai "chiều nay về nấu nữa", chỉ toàn là dục, tham, ái, vô minh cho nên trong bài tiết độ ăn uống có đoạn diệt trừ các cảm thọ cũ và không để sanh khởi lên những cảm thọ mới. Cảm thọ cũ tức là những cảm giác ngon mà mình đã từng ăn rồi, khi nhìn vào tô bún Huế, bánh canh, phở hội ngộ, dù chưa ăn nhưng mình nhớ lại mình đã từng ăn hương ra sao, vị ra sao, cái sắc ra sao, đó là thọ; tưởng; hành cũ. Khi ăn vào là sanh ra cảm thọ mới là yêu thích nữa, như vậy cảm thọ mới và cũ nhập chung làm tăng trưởng dục, tham, ái trong cái ăn vì thế trong Nikāya có phép quán rất quan trọng là nhàm chán thức ăn.
Trước khi con vào dòng pháp Nikāya là lâu lâu đi nhà hàng, Phật tử về nước là mời đi quán Hum ở quận 1, mình thưởng thức món ăn nên thích lắm nhưng từ khi vào dòng pháp này thì đối với sự tham muốn thức ăn có sự giảm bớt rất nhiều, khi thức ăn tập khởi là sắc tập khởi, khi thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt, nghĩa là do có ăn nên thân này mới tồn tại thì mình mới sống, còn nếu không ăn là mình chết, vì có thức ăn nên sắc pháp này mới tồn tại, còn không có thức ăn thì sắc pháp này bị đoạn diệt. Thức ăn này gồm bốn loại đã được ghi trong kinh.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Hai là xúc thực,
Ba là tư niệm thực,
Bốn là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh". (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Đoàn thực là thức ăn để nuôi thân tứ đại, các nước Phật giáo nguyên thủy vẫn còn ăn bốc bằng tay rất gọn gàng, đoàn là những thức ăn tròn, từng miếng. Mình phải quán nhàm chán với đoàn thực này vì ăn nhiều cũng dễ bệnh, dục khởi lên, cơ thể mình sẽ sung mãn, mình ái, mình yêu thích, khoan khoái thức ăn là đồng nghĩa mình yêu, mình thích cái thân, mình yêu thích thân đồng nghĩa yêu thích sanh tử luân hồi. Do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi nên đó là nguyên nhân để thân này tồn tại, cho thân này sanh khởi, mình yêu thích cái làm cho thân sanh khởi thì có sanh là sẽ có tử, vậy là mình yêu thích cái nhân của luân hồi sanh tử cho nên Đức Phật và chư vị Tỳ-kheo thời Đức Phật còn tại thế chỉ ăn một ngày một bữa thôi là để nhiếp phục và chế ngự cái tham, cái ái, cái dục trong cái ăn. Nếu mình còn bất cứ cái tham, cái ái, cái dục nào thì chính cái đó sẽ ràng buộc, trói cột mình và làm cho mình khổ đau.
Mình muốn ăn, thích ăn, mình thèm ăn mà không cho ăn thì có khổ không? Tham không được thì sân lên cho nên cội gốc vấn đề là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham. Đó là dục tham đối với ăn, suy ra dục tham đối với mặc, dục tham đối với ở, dục tham đối với mọi thứ đều được chế ngự thì cuối cùng là đoạn tận nó luôn, ái diệt tức là Niết-bàn. Trong kinh ghi lại dì mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề cạo tóc đắp y chân trần đi biết bao cây số để đến năn nỉ Thế Tôn được xuất gia, sau cùng ngài A-nan năn nhỉ thì Thế Tôn đồng ý cho xuất gia, một thời gian sau bà đến bạch Thế Tôn rằng mình đã già không còn sống được bao nhiêu xin Thế Tôn dạy cho cách tóm gọn nhanh nhất để tu thành tựu, Thế Tôn nói thấy ái ở đâu là diệt ở đó. Bà về thọ trì một thời gian ngắn thôi là lậu tận, chứng Thánh quả, trở thành tổ sư đầu tiên của Ni chúng thời Đức Phật, đó là Kiều Đàm di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề cho nên nhìn vào tâm là biết ngay, mình còn khoái ăn, khoái mặc đồ đẹp, khoái đi xe xịn, khoái ở chùa to, khoái danh, khoái lợi, phải có chức vị, tất cả những cái này đều là sanh tử luân hồi, không có liên hệ gì đến Niết-bàn, chỉ có ái tận mới là Niết-bàn. Niết-bàn là sự dập tắt hoàn toàn những sự dục ái, yêu thích, ham muốn đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không còn một chút yêu thích nào đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức dù cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức ở quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần đều phải quán là khổ đau, là hố than hừng, là con rắn độc, là kẻ giết người nên cần nhàm chán, ly tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
"-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Phải quán chiếu như vậy để tâm mình nhả ra cái ham muốn, cái thích, cái khoái trong tất cả các pháp. Có những chùa lớn xong khóa tu là có thầy rơi rớt, mình chỉ thấy mặt tốt của khóa tu chứ chưa thấy được mặt không tốt của nó vì lúc đó bên nam là quần hùng tụ hội, còn bên nữ là ngàn hoa khoe sắc, khi vào khóa tu là tiếp xúc, xin số điện thoại, nhắn tin, gọi điện "sao thầy đi tu vậy thầy", "thầy đi tu uổng quá vậy thầy", "sao thầy hiền quá vậy", trong chùa có câu tục ngữ "bảy thất mất ông thầy", đó là mình chỉ thấy mặt lợi mà không thấy mặt hại cho nên người xưa khi giới – định – tuệ đã vững chắc, vững mạnh thì sau đó mới đi làm lợi ích cho những người bên ngoài, còn mình bây giờ chưa học xong đã đi làm thầy giáo, cô giáo, cái hướng của mình bây giờ là hướng hoạt động, hướng làm việc thì cái này đứng về mặt thế gian là có lợi, tức là mình thấy bản thân cũng có ích, cũng có giá trị, làm được cái này cái kia nhưng đứng về mặt Thánh pháp thì rất nguy hiểm, Thế Tôn nói rằng giống như một người mù dẫn đoàn mù thì tất cả đều sẽ đi xuống vực sâu.
"Ví như này, Bharadvaja, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy; cũng vậy, này Bharadvaja, Ta nghĩ rằng, lời nói của các Bà-la-môn cũng giống như chuỗi người mù: người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy" (Trung Bộ Kinh, 95. Kinh Cankì)
Đây là chỗ chúng ta cần quán chiếu, chiêm nghiệm rất kĩ, cho nên sắc này rất nguy hiểm, một khi bị dính mắc vào rồi thì giới không giữ được, định cũng không có, tuệ không sanh, như vậy cái linh hồn, cái sinh mạng của người xuất gia bị sụp đổ, chưa thành đã bị hoại vì do sự tiếp xúc, vì vậy chư Tỳ-kheo thời Đức Phật sống nơi xa vắng.
" Này các Tỳ-kheo, phàm những gì bậc Ðạo Sư cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương đệ tử, những việc ấy Ta đã làm cho các Ông, vì lòng thương tưởng các Ông.
Này các Tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, I. Nghiệp)
Những câu kinh trên Đức Phật dạy chúng ta đừng tiếp xúc cho nên cái học này chính là sự tiếp xúc, đúng pháp là Tăng học riêng, Ni học riêng nhưng vì hoàn cảnh nên học chung nhưng phải rất giữ gìn, chớ có buông lung vì xúc sẽ sanh thọ, xúc sanh dục, xúc sanh nghiệp. Mình gặp một người thật đẹp thì mình sẽ sanh ra cảm xúc ngay lập tức, đây chính là sự chứng ngộ của Đức Phật, tiếp xúc sẽ sanh ra thọ trừ khi nào người đó mù, căn bị hư hoại, thức không phát khởi được, mù không thấy nhưng tai lại nghe giọng du dương thì cũng chết, lúc đầu là thọ do nhãn xúc sanh còn bây giờ là thọ do nhĩ xúc sanh. Con mắt là cửa sổ tâm hồn nên nhìn một cái là sanh ra cảm giác ngay, có tiếng sét ái tình ngay, xúc là sanh ra nghiệp, là mình và người đó đã từng là vợ chồng trong quá khứ nên giờ tiếp xúc là nghiệp cũ sống lại, đó là sức mạnh của nghiệp cũ, khổ cũng đi theo, chết cũng đi theo, cha mẹ ngăn cấm cũng đi theo, trốn nhà đi, đó là khi tiếp xúc thì nghiệp sanh khởi lên.
Khi tiếp xúc sanh khởi cảm thọ và đây là thọ lạc, dễ chịu, khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn. Khả hỷ là vui thích, khả ý là vừa lòng, khả ái là khoan khoái, đáng yêu liên hệ đến dục, liên hệ đến sự ham muốn của mình, ví dụ mình thích hoa lan mà thấy triển lãm hoa lan là lôi kéo mình lại, dính mắc trong đó, vậy là tiếp xúc sanh ra dục, tiếp xúc là thích, là muốn cho nên khi nhận diện các pháp sẽ thấy rất sâu sắc, những cái này đều là định lý chứng ngộ của Đức Phật trong kinh Nikāya mà mình không học Nikāya là không bao giờ biết được những điều này. Không phải chỉ có tiếp xúc là mắt nhìn là thôi mà Đức Phật dạy có tới sáu xúc mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, không phải chỉ có thọ do nhãn xúc sanh mà trở về có ý xúc trong tâm, sắc tưởng hiện lại, thanh tưởng vang vọng lại, hồi tưởng lại giọng nói nhẹ nhàng đó, khi ăn cũng vậy, món đó là sắc tưởng, hương tưởng, vị tưởng và xúc tưởng làm chết người, ngoài ra còn có thanh tưởng là tiếng húp, tiếng nhai, tiếng chiên xào đồ ăn. Xúc của ái dục rất khủng khiếp, nó đánh vào cả sáu xúc cùng một lúc cho nên chúng sanh vào đó là không thể thoát ra được, phàm phu không thể vượt qua nổi. Ngay cả những vị đã ly dục, ly tham đối với các dục vọng, lìa khỏi sắc này, không bị dục chi phối nhưng vẫn là phàm phu chứ không phải ly dục hết là Thánh nhân, mặc dù đã ly tham đối với các dục vọng nhưng vẫn là phàm phu, chưa vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh, khi nào nhận diện được ngũ uẩn, thành tựu được trí vô ngã thì lúc đó mới gọi là Thánh đệ tử.
Sắc này là rất ghê gớm, còn cái sân đã nói nhiều lần, không phải khi mình bị chỉ trích, la rầy là mình đem sách kinh ra đọc cho có ý nghĩa hoặc là suy nghĩ "giận làm chi" thì đó chỉ là cách đối trị thông thường của phàm phu chứ chưa phải là cách đối trị của Đa văn Thánh đệ tử. Tất cả những gì sanh khởi lên mình phải quay trở lại nhiếp phục cảm thọ của mình, mình thấy sanh khởi cái sân lên là sai, sanh khởi bản ngã lên là nhục, mình trải tâm từ quán nghiệp quả. Mình bị la rầy liên tục thì nghĩ rằng lấy sách ra đọc cho đỡ mất thời gian thì cách đó chỉ là tránh né, lấy cái này thế cái kia, chưa có trực diện nhìn vào thọ; tưởng; hành của mình, chưa giải quyết một cách trực tiếp, trực chỉ, trực tiếp vào trong thọ; tưởng; hành, nhất là cảm thọ. Chúng ta phải cố gắng nhận diện ngũ uẩn, nhận diện những cảm thọ tham, sân, si, nhận diện năm triền cái để chúng ta biết cái pháp mình đang tu, ngày xưa con chỉ học lý thuyết không thôi, không ai chỉ dạy pháp hành, còn giờ chúng ta được chỉ dạy từng chút một nên chúng ta phải nhiệt tâm, siêng năng trong vấn đề trình pháp.
Về sắc thì chúng ta phải quán bất tịnh, quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn của một tử thi, nhất là tuổi trẻ rất cần pháp hành này, mình không thực hành thì không có cách nào nhiếp phục được vì nó rất khủng khiếp. Khi mình có những sai phạm, lỗi lầm thì tâm mình sẽ ray rứt, bất an, dao động, tâm mình sẽ hối tiếc, hối hận khi làm sai, trạo cử là sự dao động của thân, còn hối tiếc là dao động của tâm nhưng có khi người ta dùng trạo cử để chỉ luôn cho thân tâm hoặc nói tắt là trạo hối. Hôn trầm thụy miên là buồn ngủ, dã dượi, tâm thụ động, ăn no làm biếng là thức ăn cho ngủ gục. Nghi ngờ là nghi ngờ về pháp, nói gọn là nghi ngờ về ngũ uẩn, ví dụ mình thắc mắc không biết lúc trước mình là ai hoặc bây giờ mình là gì, sau khi chết trở thành cái gì, đây là người chưa thấy pháp, còn thấy pháp thì trước kia mình là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, bây giờ là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sau khi chết đi đầu thai lên cũng là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình không nghi ngờ về pháp ngũ uẩn nữa, tâm không phân vân, lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
Cả một công trình tu học thì nhìn nhận lại hiện tại mình đã tu đến đâu? Cái tham đối với sắc đã bỏ được bao nhiêu? Tham ăn, tham mặc, tham đi chơi ngắm cảnh, tham xe mới, tham ở chỗ đẹp, yêu thích cái thân mình, đối với những cái đó tâm ham thích giảm được bao nhiêu? Nếu người ta cho mình ăn cái gì mà mình ăn cái nấy thì tu cũng kha khá rồi, quả đường dọn lên như vậy thì chỉ ăn vậy thôi chứ không đòi hỏi thêm gì nữa, chỉ bấy nhiêu thôi cũng có sự nhiếp phục, chế ngự rồi. Những lúc không được như ý mình, thiếu thốn đủ thứ mà tâm vẫn chấp nhận, ít muốn biết đủ, được như vậy thì ở chỗ nào cũng an ổn, hoàn cảnh nào cũng an lạc, thước đo của sự tu học nằm ở chỗ dục tham đối với sắc. Có người đi lại nói mình nhìn giống bị bệnh, ốm o gầy mòn, xấu xí thì tâm mình ra sao? Mình sân lên vì mình chấp vào sắc thủ uẩn, mình cho tấm thân này là mình nên nghe người ta nói là sanh lên cảm thọ, còn nếu trong tâm mình không cho thân này là mình, mình biết sắc là vô thường, biến hoại, là lẽ tự nhiên nên tâm mình an tịnh hoặc ít nhất có khởi sân lên nhẹ nhưng mình nhiếp phục là nó sẽ tan, còn chấp thủ quá nặng vào thân này, nắm chặt vào đây cho rằng đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi nên ai chạm vào là có chuyện.
Từ nãy giờ mình nói đến ăn, mặc, ở, xe cộ, đi đây đi đó là ở ngoài, sâu vào trong là ý nghĩ cho rằng đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi cần phải được dẹp bỏ, từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, quăng nó ra, khạc nó ra, nhổ nó ra, tẩy sạch hoàn toàn thì mới thành tựu được trí huệ của bậc Thánh. Khi có suy nghĩ tôi bị khinh khi thì tác ý "tôi nào ở đây? Ai ở đây? Chỉ có đống gan, ruột, phèo, phổi, phân và nước tiểu mà thôi", mình phải dạy tâm như vậy, lúc đầu nó cứng cỏi, ương ngạnh, chống đối nhưng dạy từ từ thì tâm sẽ cúi đầu nghe lời, cuối cùng quyết định 100% không có cái tôi trong này là Nhập Lưu Thánh quả Tu-đà-hoàn. Nếu xác quyết 100% trong suy nghĩ này không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi thì Nhập Lưu, đối với thọ; tưởng; hành; thức cũng giống như vậy./.
THỨ TỰ TU TẬP 9
KINH GANAKA MOGGALLANA
TRUNG BỘ
–Thích Minh Thành–
Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Rõ biết được thọ; tưởng; hành bên trong, chúng ta tập cho mình thói quen thực tập ba pháp trước khi bắt đầu vào học, đây là một thói quen rất đẹp của những Tăng Ni sinh hay những giảng sư tương lai, thiền sinh. Ba pháp này rất quan trọng, không những trong lúc ngồi học, ngồi thiền mà lúc nào cũng phải đặt niệm trước mặt, bất cứ lúc nào mình cũng cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Người xuất gia phải có phong thái ung dung, thảnh thơi, bình an trong bất cứ lúc nào, dù cho công việc rất vội vã, vội vàng cũng phải thực tập cho được phong thái ung dung, nhẹ nhàng và tỉnh giác, không phải chỉ là bề ngoài làm hình thức, dáng vẻ cho người ta xem, đó là lúc đầu, chúng ta miễn cưỡng chiến thắng lại thói quen của phàm phu, những tập quán, tính tình của buông lung phóng dật, của trạo cử, lăng xăng, khi tập quen rồi thì sáu căn ba nghiệp của mình sẽ an tịnh, lắng dịu trong mọi hoàn cảnh. Người tu không có lăng xăng, không có dao động, không có lắm mồm lắm miệng, thực tập được cái này chúng ta sẽ có nghi dung đĩnh đạc, vỏ ngoài của phạm hạnh. Chúng ta phải thực tập nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều năm, nhiều thập kỉ và thực tập suốt cuộc đời mình.
Chúng ta phải thực tập niệm thân, niệm oai nghi, hành động, đó là vẻ đẹp của người xuất gia. Vừa rồi trên con tổ chức khóa tu xuất gia gieo duyên, cạo tóc cho 40 người, hội chúng khoảng 80 vị nhưng khi ăn cơm thì tiếng thở của người kế bên cũng nghe được, không hề nghe tiếng động của đũa muỗng, tô chén. Có Phật tử phát tâm cúng dường tiền xe đưa các thầy các cô lên núi tu học, đó là sự cung kính của hàng Phật tử, chúng ta cần phải tu học nhiều hơn chứ không phải thấy vậy là thích thú. Người ta rất tin tưởng nên mình phải làm những điều đáp lại lòng tin, sự kính trọng đó, sống có tình có nghĩa, mỗi buổi học của chúng ta được lưu lại là một điểm, nếu nghĩ tiêu cực là không tốt nhưng nghĩ tích cực là rất tốt, những hình ảnh này ba năm sau, mười năm sau, hai mươi năm sau chúng ta xem lại khi chúng ta đã lên những phẩm vị thì nhìn lại thời Tăng sinh, Ni sinh của mình, chúng ta nghe lại những lời pháp thì đó là điều tốt cho chúng ta.
Ba pháp này rất quan trọng, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Khi đặt niệm trước mặt thì ngồi ở đâu ánh nhìn cũng đoan chánh, vững chắc, vững trú, khi cảm giác toàn thân là định tâm ở trên thân, khi nội tâm tỉnh giác là nhìn thấy được thọ; tưởng; hành sanh khởi và đoạn diệt nội tại để soi rọi trong ngoài các pháp căn – trần – thức.
Khi chúng ta chưa học nhận diện ngũ uẩn, chưa học quán chiếu cảm thọ, chưa học chánh quán thọ thực, chúng ta làm đệ tử Phật mà không biết cách ăn của Đức Phật là một điều thiếu xót rất lớn, mình phải xem cách Đức Phật ăn cơm như thế nào và cách ăn của các bậc Thánh Tăng ngày xưa là hai bài chúng ta cần đọc thật kĩ và phải học thuộc lòng để biết ăn như thế nào mới giống Phật chứ không như chúng ta cúng quả đường, cái là của Trung Quốc. Ngài dạy cho mình khi ăn phải kiểm soát sự thúc giục, sự ưa thích và sự ham muốn trong khi ăn, trọng tâm của toàn bộ giáo lý của Đức Phật là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, toàn bộ cốt lõi đạo Phật chỉ có bấy nhiêu đó, chính là sự nhiếp phục những ưa thích, ham muốn đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức hoặc là đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp. Vì thế trong mọi công phu tu tập của người xuất gia là để nhiếp phục lòng tham muốn sau khi thấy biết bản chất của vấn đề, vì tham muốn đó đưa đến khổ đau.
Trước kia mình chưa nhận diện ngũ uẩn, chưa quán chiếu cảm thọ, chưa nhận ra được dục, tham, ái trong khi ăn nhưng bây giờ chúng ta bắt đầu nhìn ra. Nếu như đối với các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật hoặc là một người ít muốn biết đủ thì được Phật tử cúng cho hộp cơm ăn được rồi, không cần đi tìm nữa. Nếu mình chỉ ăn một lần mà chỉ có hộp cơm vừa nhỏ vừa nguội thì không đủ no mới tìm thêm thì được, đằng này chiều mình về chùa có cơm ăn, có khi tối còn ăn mì thêm nhưng ngay lúc đó mình không chấp nhận mà đi tìm thêm đồ ăn, đây là chỗ để mình học. Khi mình đi đến đạo tràng nào đó, đi đến một pháp hội nào đó hoặc ngay trong chùa mình mà người ta đem lên cái gì thì mình ăn cái đó, làm được bao nhiêu đó thôi đã là một công phu có sở đắc, đã là cả một vấn đề, ngược lại mình đòi ớt, thêm nước tương, thêm rau… cái đòi thêm là tham, nghĩa là muốn thêm, muốn nữa. Tức là người ta đem cho mình ly nước rất ngon, mỗi người chỉ được một ly, mình uống hết rồi nhưng hỏi thêm "còn nữa không" thì đó là tham, muốn uống nữa nhưng mình không nhìn ra được điều này, chính vì không nhìn ra được nên mới vô minh.
Vô minh là không sáng tỏ, không thấy không biết các cảm thọ, nghĩ tưởng, nhận thức đang sanh khởi như thế nào, đó là vô minh đối với năm uẩn cho nên tu mà không nhận diện ngũ uẩn, không thấy cảm thọ, không nhìn ra tham, sân, si, bản ngã thì đó là tu trong vô minh, vĩnh viễn không bao giờ giác ngộ. Không thấy được dục, tham, ái sanh khởi gì cả, mình nghe nói "đồ ăn nhiều lắm, thầy cô cứ ăn thoải mái không cần sợ gì cả", câu này sẽ giết mình chết, họ khuyến khích mình dục tham cho nhiều lên nhưng họ không biết và mình cũng không biết thì cái không biết đó được nhân đôi. Có nhiều trường hợp cù cưa "thầy cô dùng đi, tội nghiệp cho tấm lòng" mà mình còn dung nạp được thì đó là trường hợp bất đắc dĩ nên có thể, còn đằng này là mình đòi hỏi, thậm chí người ta nói "dạ hết rồi, 100 người thì con đếm 100 ly thôi ạ" thế là buồn, giận vì xin không cho, tham không được thì sân, chẳng những ăn xong rồi còn xách bịch đem về.
Có nhiều cách để mình an trú vào pháp, nếu biết pháp sẽ có rất nhiều cách, thường thì Phật tử đến quý thầy, quý cô là thường tình, ít có người hiểu pháp một cách sâu sắc mà đa số là vì tình cảm, vì tình nghĩa, vì sự quý mến, kính trọng cho nên mình phải có trách nhiệm hướng dẫn cho họ, hướng dẫn ở mức độ nào là tùy theo trí tuệ của sự tu học của mình, thứ hai là trình độ của người đó tiếp nhận đến mức độ nào. Khi mình đã quá no, không thể ăn được mà Phật tử nhiệt tình mời thì thứ nhất mình sẽ yên lặng nhưng không phải làm mặt hình sự mà mình trang nghiêm, an tịnh thì tự động họ sẽ biết, mình im lặng mỉm cười vậy thôi, còn nếu mình càng chống trả thì người ta càng mời, càng muốn đưa thức ăn cho nên mình mỉm cười và ngồi yên tịnh, những người có nhận thức thì tự động sẽ biết, giảm lại, còn nếu mình đã an tịnh mà họ cứ lấn tới thì mình không quan trọng món đồ ăn đó nữa mà mình quay trở về nhiếp phục cảm thọ ham thích trong người mình. Vấn đề ở đây là trong nội tâm mình chứ không phải người bên ngoài mời mọc, dù người ta có đưa nhiều nhưng bên trong mình nhiếp phục cảm thọ ham muốn, thúc giục muốn ăn và chế ngự cảm thọ ham thích đó. Thứ ba là sau khi ăn xong hoặc là một lúc nào đó thích hợp thì mình giải thích cho người đó biết "con bị bệnh nên món đó không ăn được" hoặc là "trong giới luật của người tu….", tùy theo độ thân thiện của mình và người đó và tùy theo hợp thời thì mình giải thích cho họ biết. Nếu họ chỉ đi có một lần thì thôi, mình chỉ cần quay lại nhiếp phục cảm thọ trong nội tâm thôi, đừng để cho cái khoan khoái, ham thích ăn ngon dẫn dắt mình rồi ăn nhiều vào sẽ có vấn đề.
Con đi chia sẻ pháp nhiều nơi, cả trong nước lẫn ngoài nước nên trường hợp này con gặp rất nhiều. Do mình không thấy cảm giác lúc đó như thế nào, mình không thấy sự thúc giục trong lúc đó, mình không thấy sự muốn ăn, khi ngồi trước những món ăn nóng hổi, có đầy đủ sắc, hương vị tấn công cùng một lúc thì lúc đó là lúc mình ra chiến trận. Mình không biết tu nhìn vào sẽ thấy khoan khoái, ham thích, còn người có tu là đang ra trận vì mình đang đối diện với những sắc hương vị khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn. Nếu cảm thọ mình không biết, sự thúc giục trong tâm cũng không biết, cái ham thích muốn ăn cũng không biết, đòi thêm, muốn nữa, thêm nữa cũng không biết thì mình chỉ biết có món ăn, trong lúc đối diện món ăn phải thấy sự vận hành của các pháp, sau đó phải nhiếp phục và chế ngự thì đó mới là người tu, không có những cái này không phải là người tu. Ngồi ăn thả ga, thưởng thức hương vị thức ăn, khoan khoái, thích thú trong món ăn thì tu cái gì trong khi người ta quỳ lạy bên dưới?
Mình ăn trong dục, tham, ái, mình ăn trong vô minh, không thấy pháp, không thấy thân tâm, không nhiếp phục dục tham. Mình vừa ăn vừa nói chuyện này chuyện kia rồi tưởng lại những món ăn trong quá khứ và hướng đến món ăn trong tương lai "chiều nay về nấu nữa", chỉ toàn là dục, tham, ái, vô minh cho nên trong bài tiết độ ăn uống có đoạn diệt trừ các cảm thọ cũ và không để sanh khởi lên những cảm thọ mới. Cảm thọ cũ tức là những cảm giác ngon mà mình đã từng ăn rồi, khi nhìn vào tô bún Huế, bánh canh, phở hội ngộ, dù chưa ăn nhưng mình nhớ lại mình đã từng ăn hương ra sao, vị ra sao, cái sắc ra sao, đó là thọ; tưởng; hành cũ. Khi ăn vào là sanh ra cảm thọ mới là yêu thích nữa, như vậy cảm thọ mới và cũ nhập chung làm tăng trưởng dục, tham, ái trong cái ăn vì thế trong Nikāya có phép quán rất quan trọng là nhàm chán thức ăn.
Trước khi con vào dòng pháp Nikāya là lâu lâu đi nhà hàng, Phật tử về nước là mời đi quán Hum ở quận 1, mình thưởng thức món ăn nên thích lắm nhưng từ khi vào dòng pháp này thì đối với sự tham muốn thức ăn có sự giảm bớt rất nhiều, khi thức ăn tập khởi là sắc tập khởi, khi thức ăn đoạn diệt là sắc đoạn diệt, nghĩa là do có ăn nên thân này mới tồn tại thì mình mới sống, còn nếu không ăn là mình chết, vì có thức ăn nên sắc pháp này mới tồn tại, còn không có thức ăn thì sắc pháp này bị đoạn diệt. Thức ăn này gồm bốn loại đã được ghi trong kinh.
"Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Hai là xúc thực,
Ba là tư niệm thực,
Bốn là thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh". (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Đoàn thực là thức ăn để nuôi thân tứ đại, các nước Phật giáo nguyên thủy vẫn còn ăn bốc bằng tay rất gọn gàng, đoàn là những thức ăn tròn, từng miếng. Mình phải quán nhàm chán với đoàn thực này vì ăn nhiều cũng dễ bệnh, dục khởi lên, cơ thể mình sẽ sung mãn, mình ái, mình yêu thích, khoan khoái thức ăn là đồng nghĩa mình yêu, mình thích cái thân, mình yêu thích thân đồng nghĩa yêu thích sanh tử luân hồi. Do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi nên đó là nguyên nhân để thân này tồn tại, cho thân này sanh khởi, mình yêu thích cái làm cho thân sanh khởi thì có sanh là sẽ có tử, vậy là mình yêu thích cái nhân của luân hồi sanh tử cho nên Đức Phật và chư vị Tỳ-kheo thời Đức Phật còn tại thế chỉ ăn một ngày một bữa thôi là để nhiếp phục và chế ngự cái tham, cái ái, cái dục trong cái ăn. Nếu mình còn bất cứ cái tham, cái ái, cái dục nào thì chính cái đó sẽ ràng buộc, trói cột mình và làm cho mình khổ đau.
Mình muốn ăn, thích ăn, mình thèm ăn mà không cho ăn thì có khổ không? Tham không được thì sân lên cho nên cội gốc vấn đề là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham. Đó là dục tham đối với ăn, suy ra dục tham đối với mặc, dục tham đối với ở, dục tham đối với mọi thứ đều được chế ngự thì cuối cùng là đoạn tận nó luôn, ái diệt tức là Niết-bàn. Trong kinh ghi lại dì mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề cạo tóc đắp y chân trần đi biết bao cây số để đến năn nỉ Thế Tôn được xuất gia, sau cùng ngài A-nan năn nhỉ thì Thế Tôn đồng ý cho xuất gia, một thời gian sau bà đến bạch Thế Tôn rằng mình đã già không còn sống được bao nhiêu xin Thế Tôn dạy cho cách tóm gọn nhanh nhất để tu thành tựu, Thế Tôn nói thấy ái ở đâu là diệt ở đó. Bà về thọ trì một thời gian ngắn thôi là lậu tận, chứng Thánh quả, trở thành tổ sư đầu tiên của Ni chúng thời Đức Phật, đó là Kiều Đàm di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề cho nên nhìn vào tâm là biết ngay, mình còn khoái ăn, khoái mặc đồ đẹp, khoái đi xe xịn, khoái ở chùa to, khoái danh, khoái lợi, phải có chức vị, tất cả những cái này đều là sanh tử luân hồi, không có liên hệ gì đến Niết-bàn, chỉ có ái tận mới là Niết-bàn. Niết-bàn là sự dập tắt hoàn toàn những sự dục ái, yêu thích, ham muốn đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không còn một chút yêu thích nào đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức dù cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức ở quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần đều phải quán là khổ đau, là hố than hừng, là con rắn độc, là kẻ giết người nên cần nhàm chán, ly tham đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
"-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Phải quán chiếu như vậy để tâm mình nhả ra cái ham muốn, cái thích, cái khoái trong tất cả các pháp. Có những chùa lớn xong khóa tu là có thầy rơi rớt, mình chỉ thấy mặt tốt của khóa tu chứ chưa thấy được mặt không tốt của nó vì lúc đó bên nam là quần hùng tụ hội, còn bên nữ là ngàn hoa khoe sắc, khi vào khóa tu là tiếp xúc, xin số điện thoại, nhắn tin, gọi điện "sao thầy đi tu vậy thầy", "thầy đi tu uổng quá vậy thầy", "sao thầy hiền quá vậy", trong chùa có câu tục ngữ "bảy thất mất ông thầy", đó là mình chỉ thấy mặt lợi mà không thấy mặt hại cho nên người xưa khi giới – định – tuệ đã vững chắc, vững mạnh thì sau đó mới đi làm lợi ích cho những người bên ngoài, còn mình bây giờ chưa học xong đã đi làm thầy giáo, cô giáo, cái hướng của mình bây giờ là hướng hoạt động, hướng làm việc thì cái này đứng về mặt thế gian là có lợi, tức là mình thấy bản thân cũng có ích, cũng có giá trị, làm được cái này cái kia nhưng đứng về mặt Thánh pháp thì rất nguy hiểm, Thế Tôn nói rằng giống như một người mù dẫn đoàn mù thì tất cả đều sẽ đi xuống vực sâu.
"Ví như này, Bharadvaja, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy; cũng vậy, này Bharadvaja, Ta nghĩ rằng, lời nói của các Bà-la-môn cũng giống như chuỗi người mù: người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy" (Trung Bộ Kinh, 95. Kinh Cankì)
Đây là chỗ chúng ta cần quán chiếu, chiêm nghiệm rất kĩ, cho nên sắc này rất nguy hiểm, một khi bị dính mắc vào rồi thì giới không giữ được, định cũng không có, tuệ không sanh, như vậy cái linh hồn, cái sinh mạng của người xuất gia bị sụp đổ, chưa thành đã bị hoại vì do sự tiếp xúc, vì vậy chư Tỳ-kheo thời Đức Phật sống nơi xa vắng.
" Này các Tỳ-kheo, phàm những gì bậc Ðạo Sư cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương đệ tử, những việc ấy Ta đã làm cho các Ông, vì lòng thương tưởng các Ông.
Này các Tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, I. Nghiệp)
Những câu kinh trên Đức Phật dạy chúng ta đừng tiếp xúc cho nên cái học này chính là sự tiếp xúc, đúng pháp là Tăng học riêng, Ni học riêng nhưng vì hoàn cảnh nên học chung nhưng phải rất giữ gìn, chớ có buông lung vì xúc sẽ sanh thọ, xúc sanh dục, xúc sanh nghiệp. Mình gặp một người thật đẹp thì mình sẽ sanh ra cảm xúc ngay lập tức, đây chính là sự chứng ngộ của Đức Phật, tiếp xúc sẽ sanh ra thọ trừ khi nào người đó mù, căn bị hư hoại, thức không phát khởi được, mù không thấy nhưng tai lại nghe giọng du dương thì cũng chết, lúc đầu là thọ do nhãn xúc sanh còn bây giờ là thọ do nhĩ xúc sanh. Con mắt là cửa sổ tâm hồn nên nhìn một cái là sanh ra cảm giác ngay, có tiếng sét ái tình ngay, xúc là sanh ra nghiệp, là mình và người đó đã từng là vợ chồng trong quá khứ nên giờ tiếp xúc là nghiệp cũ sống lại, đó là sức mạnh của nghiệp cũ, khổ cũng đi theo, chết cũng đi theo, cha mẹ ngăn cấm cũng đi theo, trốn nhà đi, đó là khi tiếp xúc thì nghiệp sanh khởi lên.
Khi tiếp xúc sanh khởi cảm thọ và đây là thọ lạc, dễ chịu, khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn. Khả hỷ là vui thích, khả ý là vừa lòng, khả ái là khoan khoái, đáng yêu liên hệ đến dục, liên hệ đến sự ham muốn của mình, ví dụ mình thích hoa lan mà thấy triển lãm hoa lan là lôi kéo mình lại, dính mắc trong đó, vậy là tiếp xúc sanh ra dục, tiếp xúc là thích, là muốn cho nên khi nhận diện các pháp sẽ thấy rất sâu sắc, những cái này đều là định lý chứng ngộ của Đức Phật trong kinh Nikāya mà mình không học Nikāya là không bao giờ biết được những điều này. Không phải chỉ có tiếp xúc là mắt nhìn là thôi mà Đức Phật dạy có tới sáu xúc mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, không phải chỉ có thọ do nhãn xúc sanh mà trở về có ý xúc trong tâm, sắc tưởng hiện lại, thanh tưởng vang vọng lại, hồi tưởng lại giọng nói nhẹ nhàng đó, khi ăn cũng vậy, món đó là sắc tưởng, hương tưởng, vị tưởng và xúc tưởng làm chết người, ngoài ra còn có thanh tưởng là tiếng húp, tiếng nhai, tiếng chiên xào đồ ăn. Xúc của ái dục rất khủng khiếp, nó đánh vào cả sáu xúc cùng một lúc cho nên chúng sanh vào đó là không thể thoát ra được, phàm phu không thể vượt qua nổi. Ngay cả những vị đã ly dục, ly tham đối với các dục vọng, lìa khỏi sắc này, không bị dục chi phối nhưng vẫn là phàm phu chứ không phải ly dục hết là Thánh nhân, mặc dù đã ly tham đối với các dục vọng nhưng vẫn là phàm phu, chưa vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh, khi nào nhận diện được ngũ uẩn, thành tựu được trí vô ngã thì lúc đó mới gọi là Thánh đệ tử.
Sắc này là rất ghê gớm, còn cái sân đã nói nhiều lần, không phải khi mình bị chỉ trích, la rầy là mình đem sách kinh ra đọc cho có ý nghĩa hoặc là suy nghĩ "giận làm chi" thì đó chỉ là cách đối trị thông thường của phàm phu chứ chưa phải là cách đối trị của Đa văn Thánh đệ tử. Tất cả những gì sanh khởi lên mình phải quay trở lại nhiếp phục cảm thọ của mình, mình thấy sanh khởi cái sân lên là sai, sanh khởi bản ngã lên là nhục, mình trải tâm từ quán nghiệp quả. Mình bị la rầy liên tục thì nghĩ rằng lấy sách ra đọc cho đỡ mất thời gian thì cách đó chỉ là tránh né, lấy cái này thế cái kia, chưa có trực diện nhìn vào thọ; tưởng; hành của mình, chưa giải quyết một cách trực tiếp, trực chỉ, trực tiếp vào trong thọ; tưởng; hành, nhất là cảm thọ. Chúng ta phải cố gắng nhận diện ngũ uẩn, nhận diện những cảm thọ tham, sân, si, nhận diện năm triền cái để chúng ta biết cái pháp mình đang tu, ngày xưa con chỉ học lý thuyết không thôi, không ai chỉ dạy pháp hành, còn giờ chúng ta được chỉ dạy từng chút một nên chúng ta phải nhiệt tâm, siêng năng trong vấn đề trình pháp.
Về sắc thì chúng ta phải quán bất tịnh, quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn của một tử thi, nhất là tuổi trẻ rất cần pháp hành này, mình không thực hành thì không có cách nào nhiếp phục được vì nó rất khủng khiếp. Khi mình có những sai phạm, lỗi lầm thì tâm mình sẽ ray rứt, bất an, dao động, tâm mình sẽ hối tiếc, hối hận khi làm sai, trạo cử là sự dao động của thân, còn hối tiếc là dao động của tâm nhưng có khi người ta dùng trạo cử để chỉ luôn cho thân tâm hoặc nói tắt là trạo hối. Hôn trầm thụy miên là buồn ngủ, dã dượi, tâm thụ động, ăn no làm biếng là thức ăn cho ngủ gục. Nghi ngờ là nghi ngờ về pháp, nói gọn là nghi ngờ về ngũ uẩn, ví dụ mình thắc mắc không biết lúc trước mình là ai hoặc bây giờ mình là gì, sau khi chết trở thành cái gì, đây là người chưa thấy pháp, còn thấy pháp thì trước kia mình là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, bây giờ là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sau khi chết đi đầu thai lên cũng là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình không nghi ngờ về pháp ngũ uẩn nữa, tâm không phân vân, lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.
Cả một công trình tu học thì nhìn nhận lại hiện tại mình đã tu đến đâu? Cái tham đối với sắc đã bỏ được bao nhiêu? Tham ăn, tham mặc, tham đi chơi ngắm cảnh, tham xe mới, tham ở chỗ đẹp, yêu thích cái thân mình, đối với những cái đó tâm ham thích giảm được bao nhiêu? Nếu người ta cho mình ăn cái gì mà mình ăn cái nấy thì tu cũng kha khá rồi, quả đường dọn lên như vậy thì chỉ ăn vậy thôi chứ không đòi hỏi thêm gì nữa, chỉ bấy nhiêu thôi cũng có sự nhiếp phục, chế ngự rồi. Những lúc không được như ý mình, thiếu thốn đủ thứ mà tâm vẫn chấp nhận, ít muốn biết đủ, được như vậy thì ở chỗ nào cũng an ổn, hoàn cảnh nào cũng an lạc, thước đo của sự tu học nằm ở chỗ dục tham đối với sắc. Có người đi lại nói mình nhìn giống bị bệnh, ốm o gầy mòn, xấu xí thì tâm mình ra sao? Mình sân lên vì mình chấp vào sắc thủ uẩn, mình cho tấm thân này là mình nên nghe người ta nói là sanh lên cảm thọ, còn nếu trong tâm mình không cho thân này là mình, mình biết sắc là vô thường, biến hoại, là lẽ tự nhiên nên tâm mình an tịnh hoặc ít nhất có khởi sân lên nhẹ nhưng mình nhiếp phục là nó sẽ tan, còn chấp thủ quá nặng vào thân này, nắm chặt vào đây cho rằng đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi nên ai chạm vào là có chuyện.
Từ nãy giờ mình nói đến ăn, mặc, ở, xe cộ, đi đây đi đó là ở ngoài, sâu vào trong là ý nghĩ cho rằng đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi cần phải được dẹp bỏ, từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, quăng nó ra, khạc nó ra, nhổ nó ra, tẩy sạch hoàn toàn thì mới thành tựu được trí huệ của bậc Thánh. Khi có suy nghĩ tôi bị khinh khi thì tác ý "tôi nào ở đây? Ai ở đây? Chỉ có đống gan, ruột, phèo, phổi, phân và nước tiểu mà thôi", mình phải dạy tâm như vậy, lúc đầu nó cứng cỏi, ương ngạnh, chống đối nhưng dạy từ từ thì tâm sẽ cúi đầu nghe lời, cuối cùng quyết định 100% không có cái tôi trong này là Nhập Lưu Thánh quả Tu-đà-hoàn. Nếu xác quyết 100% trong suy nghĩ này không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi thì Nhập Lưu, đối với thọ; tưởng; hành; thức cũng giống như vậy./.