Cửa Vào Bất Tử 10
Cửa Vào Bất Tử 10
Thích Minh Thành
Ngày tháng năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mê lầm đối với năm uẩn PAGEREF _Toc108683821 \h 1
II. Mê lầm với cảm thọ PAGEREF _Toc108683822 \h 4
III. Nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc108683823 \h 6
I. Mê lầm đối với năm uẩn
Kính bạch các bậc hiền trí, tăng, ni và quý Phật tử.
Hôm nay chúng ta tìm hiểu phần cuối của chuyên đề Cửa vào bất tử.
“Sắc, thọ, tưởng, các hành và thức
Đây gọi là các pháp duyên sanh,
Vì lầm mê năm uẩn là mình,
Nên sanh tử trầm luân không dứt.
Vì chẳng biết rõ về năm uẩn
Nên chúng làm điên đảo tâm tư
Tham, sân, si, thương, ghét, vui, buồn
Tâm dao động quay cuồng vì chúng.
Tập nhận biết rõ về năm uẩn
Tập tỉnh tâm trước những pháp này
Tập tâm lìa năm uẩn cho mau
Lìa năm uẩn là lìa đau khổ.
Khi năm uẩn được tâm rõ biết,
Chúng không còn chi phối được tâm
Tâm tẩy sạch uế nhiễm trong, ngoài
Đó được gọi là tâm giải thoát.”
Những phần này là phần tổng kết nghĩa lý rất thâm sâu, cốt lõi của bài chúng ta đang học. Từ buổi đầu chúng ta được chia sẻ nhận diện về năm uẩn, về thân thể, về cảm xúc, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ và nhận thức.
Chúng ta đã tìm hiểu về duyên sanh pháp nên ở đây chúng ta không nhắc lại nữa, chúng ta phải nhớ học bài thật kĩ và thực tập cho thuần thục để chúng ta biết thế nào là các pháp duyên sanh ở trong ngũ uẩn. Vì mê lầm nên năm uẩn cho là mình, nên sanh tử trầm luân không dứt. Vì lầm mê cho rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức là mình nên sự sống chết, sự chìm nổi, sự lanh quanh, lẩn quẩn, sự quay vòng (luân hồi) không bao giờ dừng, ngưng, dứt hay kết thúc được. Vòng tròn của bánh xe cứ quay vòng mãi. Vậy vòng tròn ở đâu? Vì tâm mê, chúng ta thấy trong câu “Vì lầm mê năm uẩn là mình” thì lầm mê đó gọi là tâm mê, tâm mê lầm, tâm si mê, tâm u mê, tâm đam mê, tâm đắm mê. Đắm mê ở trong hình hài, hình thể, hình sắc, hình tướng, hình dáng, diện mạo, gương mặt này, khuôn mặt này. Nhận lầm, cho rằng cái này là tôi, của tôi, tự ngã của tôi, cho rằng đây là mình, là của mình, tự ngã của mình.
Thứ hai là lầm mê trong vật chất, chúng ta đã học định nghĩa của sắc uẩn là thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại. Nên chữ sắc không có nghĩa là sắc đẹp ở bên ngoài mà chữ sắc học theo tinh thần kinh Nikāya là thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại. Lầm mê thứ nhất đối với chúng ta là lầm mê đối với sắc, sắc này gồm bốn khía cạnh: sắc thân, đồ vật, cảnh vật và tứ đại.
Chúng ta lầm mê thứ nhất là sắc thân, tâm lầm, tâm mê, sự ngộ nhận, hiểu lầm, nhìn sai, thấy sai là chúng ta đau khổ. Tại sao như vậy? Vì nhà gỗ nho nhỏ trên bàn giảng pháp này, có thể một ánh lửa nhỏ thôi thì nó sẽ trở thành một đống tro, nó không còn là cái nhà nữa, hình dáng của nó thay đổi. Cây này thiếu nước, thiếu phân, không đủ ánh sáng, không khí thì nó không còn màu xanh này nữa. Cái ghế Minh Thành đang ngồi đây, vì một đóm lửa hay một vật gì nặng rơi trúng nó thì nó có thể cháy rụi hoặc bể nát thành một đống củi, đống cây vụn thôi. Thậm chí căn nhà này cũng vậy.
Như vậy, tất cả các sắc đó là biến hoại, vô thường, là tan rã, là đi đến chỗ hoại diệt, nhưng mình cho đó là của mình, là mình, là tự ngã của mình nên khi nó biến hoại là mình khổ đau, khi nó tan nát là mình sầu não, khi nó mất đi thì mình cũng không muốn sống nữa. Như có những người làm ăn phá sản thì người ta nhảy lầu tự vẫn, treo cổ hay nhảy sông, uống thuốc. Đó là mình nói vật chất, vì người ta hiểu lầm, người ta cho vật chất đó là của tôi, là tôi, là sở hữu của tôi, mà không biết được rằng vật chất, tài sản, chiếc xe, cục tiền, sổ đỏ, sổ tiết kiệm, bao nhiêu vàng, đất đai, ruộng vườn, nhà cửa đó là pháp biến hoại, bất cứ lúc nào cũng có thể đổi thay, đổ vỡ, tan nát. Nhưng mình lại nhận lầm và cho nó là còn mãi, là của mình.
Đó chính là tâm mê của mình, nhìn sai sự thật, vì còn Thánh trí tuệ của Đức Phật là sự thật, lẽ thật, bản chất, chính vì tâm của mình không hiểu được bản chất đó nên ham thích, đó là vô minh và tham ái. Thứ nhất là không hiểu, từ chỗ không hiểu mới ưa thích, từ sự ưa thích mới nắm giữ, từ sự nắm giữ đó nhưng nắm không được nên bị rơi ra, bể ra, tan nát ra thì dẫn đến đau khổ.
Tất cả khổ trên thế giới này đều là như vậy, vô minh, tham ái và chấp thủ. Đức Phật dạy cho mình Thánh trí ngũ uẩn này hay toàn bộ giáo pháp của Đức Phật là nhằm mục đích phá vỡ vô minh, tức là dẹp đi sự mê lầm, không thấy, không biết đúng sự thật. Khi mình hết mê lầm đó, khi mình thấy được sự thật thì mình sẽ không còn tham muốn nữa, giảm tham muốn đến chỗ dừng tham muốn. Mình không ham, không thích, không muốn những thứ vô thường, tan nát, bại hoại nó nữa thì tâm mình không có nắm chặt, không có nắm giữ, chấp thủ nữa. Như vậy gọi là giải thoát, “vô thủ trước Niết-bàn”, đó là tâm không nắm giữ, không nắm chặt, không bám chấp, chấp thủ.
Như vậy, làm sao để mình buông ra được, tâm mình nhả ra, mở ra, thoát ra được những món đồ, đồ vật đó cho đến hình hài này? Đó là mình phải thấy biết được sự thật. Như chúng ta đã học từ trước về bảy trí về sắc, bảy trí tuệ đó để phá vô minh, tức để dẹp đi sự không thấy, không biết, ngộ nhận, hiểu lầm, nhìn sai về thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại. Khi mình nhìn đúng rồi thì mình sẽ giảm bớt ham muốn, khi giảm bớt ham muốn rồi thì mình sẽ giảm đi sự nắm giữ, không nắm giữ thì mình sẽ buông xuống, thì mình được khỏe. Trước đó là mình cứ mang vào, nắm vào, giữ chặt, ghì chặt, chắp chặt, bám chặt rồi mình khổ cũng rất chắc, rất dày, rất sâu.
Vậy nên:
“Vì lầm mê năm uẩn là mình,
Nên sanh tử trầm luân không dứt.”
Sanh tử trầm luân tức là sống chết chìm nổi không dứt.
II. Mê lầm với cảm thọ
Tâm mê thứ hai đối với cảm thọ, cảm xúc, cảm giác. Không hiểu về cảm thọ, cảm giác, cho cảm giác là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Khi nãy là thân mình nắm vào, đồ vật, cảnh đẹp, tứ đại cũng nắm vào, đó là mê lầm thứ nhất, vô minh, tham ái, chấp thủ thứ nhất là về sắc uẩn, tổ hợp của sắc chất. Tiếp theo, đến tâm mê thứ hai là tâm mê đối với cảm giác, khi cảm giác vui thích là khoan khoái, hí hửng, say sưa, say đắm, đam mê, nếu là cảm giác bực bội, khó chịu là sân hận, thiêu đốt, muốn đập phá, hủy diệt. Cứ thích chạy suốt cuộc đời để chạy đi tìm cảm giác dễ chịu, chạy đi tìm vị ngọt trong sự yêu thích, khoan khoái nhưng không biết rằng cảm giác vui sướng đó, bên trong đó chứa đựng những mầm móng của khổ đau.
Thanh thiếu niên ngày nay rơi vào chỗ này, bị đọa lạc, trụy lạc rất nhiều. Như câu chuyện ngày hôm qua Minh Thành đã chia sẻ với đại chúng, đứa con xin tiền cha nhưng không cho nên giết người cha chết. Người ta điều tra ra người thanh niên này bị nghiện ma túy và giam cha suốt mười ngày để hành hạ trước khi đâm người cha chết. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Khi lấy tiền cũng đi ăn chơi, hút chích, đó cũng là chạy theo cảm giác rồi tạo ra những tội ngỗ nghịch, trở thành nghịch tử giết cha như vậy. Giờ phải chịu tù tội, sau khi chết phải rơi vào địa ngục sen hồng vô lượng vô biên kiếp như vậy. Tất cả những điều đó là cảm giác.
Minh Thành đã có chia sẻ loạt bài Cảm giác nhận chìm thế giới. Cả thế gian, thế giới này đều bị cảm giác đó nhận chìm. Cứ chạy đi tìm những cảm giác vui sướng nhưng không biết trong đó là đau khổ. Game có cảm giác sướng không? Game trong đó có cảm giác không? Không có cảm giác nhưng sao lại bỏ ăn, bỏ ngủ, bỏ hết tất cả để chơi suốt trong đó bao nhiêu ngày hay đêm, buông ra là thậm chí chết trên bàn đó. Vì không hiểu đó là cảm giác nên yêu thích, khoan khoái trong cảm giác đó và nắm giữ, không muốn rời cảm giác đó mà quên mất đi sức khỏe, nhận thức, ý thức, tác hại của nó, tai nạn, hiểm họa của nó. Cuối cùng thì thân bại danh liệt, bệnh hoạn, thậm chí là mất mạng cũng vì cảm giác đó.
Vậy đua xe có cảm giác không? Khi đua xe làm cho sung sướng, rồ ga, phóng nhanh, làm cho nổi lên một lúc như vậy thì sau đó ra sao? Từ chết đến bị thương chỉ vì muốn tìm một chút cảm giác. Như gần đây có những chuyện rất đau lòng, ở nước ngoài chơi một trò chơi mà những đứa trẻ nhảy ra ngay trước đầu xe tải khi xe đang chạy. Nếu tránh được thì là anh hùng còn nếu không tránh được thì bị chết ngay tại chỗ. Làm vậy chỉ để đăng lên Tiktok. Nên gần đây bị chết rất nhiều những đứa trẻ chỉ mới mười mấy, hai mươi tuổi. Chỉ để tìm cảm giác mạnh.
Ngoài ra còn có nhậu nhẹt, ăn chơi, tìm những cảm giác mới lạ. Như vậy là đi tìm đau khổ, bệnh hoạn, tìm sự lo lắng, sự bất an, không chỉ đau khổ cho mình mà còn đau khổ cho người thân, cha mẹ, xóm làng, cho những người tham gia giao thông.
Nên Đức Phật rất tuyệt vời, tối thượng, trí huệ từ bi, vô lượng vô biên. Vừa làm đệ tử của Ngài là được khuyên “Con không được uống rượu nha con!”. Đó là Ngài bảo vệ cho mình. Vừa rồi, một vị này cũng là chức sắc trong ngành giao thông, nhưng uống rượu say nên gây tai nạn, tông trúng vào hai vợ chồng và đứa con làm họ chết ngay tại chỗ. Đó là vì ma men. Rất nhiều trường hợp khác, không phải chỉ một trường hợp, nhưng từ mấy ngàn năm trước thì Thế Tôn đã thấy được. Rượu say sưa đó có cảm giác không? Lên xe phóng nhanh vậy có cảm giác không?
Vì lầm mê cảm giác là mình, nên nước mắt, máu, sự chết chóc, khổ đau không dứt.
Vậy nên Thánh trí tuệ về năm uẩn này chúng ta học suốt đời cũng không hết. Đó là mê lầm thứ hai. Không thấy, không biết về cảm giác, không biết nhân duyên sanh diệt của cảm thọ, cảm xúc, cảm giác mà cho cảm giác đó là mình, nhận nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi và chấp thủ, tham đắm, mê lầm, say sưa, say đắm, si mê, điên đảo trong đó. Đó là nguyên nhân của khổ.
Tiếp theo, lầm mê nhận những hình bóng trong tâm là mình, mà không biết đó là tưởng uẩn, là tổ hợp của những hình bóng, là do sự tiếp xúc sanh khởi ra, là pháp duyên sanh, pháp vô thường. Không biết nhưng lại cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Những hình bóng, những suy nghĩ, lời nói thầm trong tâm, là tư tưởng, tức là những hình bóng trong tâm và những lời nói lầm thầm suy nghĩ cho đó là mình. Đầu tiên không thấy, không biết nên đó là vô minh, kế đó là khoan khoái, yêu thích, tức là tham ái. Sau đó là nắm giữ những suy nghĩ, hình bóng đó nắm giữ là chấp thủ.
Khi nói không biết, yêu thích, nắm giữ, khổ đau thì dễ hiểu hơn, rất rõ ràng. Còn nếu mình nói là vô minh, tham ái, chấp thủ là mình thấy nó rất trừu tượng. Nên giờ mình nói là tâm mê lầm không hiểu biết, nó yêu thích những đồ, những thứ đó, rồi nắm giữ những thứ đó và đau khổ vì những thứ đó. Đó là giải thích cho vô minh, tham ái, chấp thủ.
Giờ không nắm giữ nữa vì đã biết nguy hiểm, tác hại của nó thì buông ra, bỏ ra, nới ra, mở ra, quăng ra, đó chính là giải thoát. Những từ đó đều là những từ làm đề mục thiền quán thâm sâu suốt cuộc đời chúng ta hành trì bốn từ đó: vô minh, tham ái, chấp thủ, giải thoát. Đó là bốn đề mục thiền quán vĩ đại của người xuất gia, người cư sĩ chúng ta.
III. Nhận diện năm uẩn
Nếu mình không học nhận diện ngũ uẩn thì làm sao mình biết được đó là vô minh? Làm sao mình biết được cảm thọ đó là tham ái hay cảm thọ nắm giữ, chấp thủ? Nếu mình không thực tập quán chiếu về năm uẩn, về ngũ uẩn, về tâm xả thì làm sao mình biết được lúc đó là tâm mình đang buông bỏ?
Nên chỉ khi nào mình nhận diện được ngũ uẩn, quán chiếu được ngũ uẩn, soi rọi được năm uẩn thì lúc đó tâm mê này mới được nhìn thấy. Trí mình phát giác, phát hiện được đây là tâm mê, đây là tâm lầm lạc, tâm mê lầm, mê muội, tâm si mê, tâm mờ tối, vô minh.
“Vì chẳng biết rõ về năm uẩn
Nên chúng làm điên đảo tâm tư”
Để rồi nhận thức uẩn là mình. Như hôm trước mình đã học về rõ biết đó. Vì chẳng biết rõ về năm uẩn nên năm thứ đó là cho tâm tư của mình nghiêng ngã, đảo lộn. Từ điên đảo là đảo lộn, cho trắng là đen, lấy giả làm thật, tưởng không là có, tưởng cái biến đổi đó mà là còn mãi, khổ đau mà tưởng là vui sướng, cái trống rỗng, trống không mà tưởng là có lõi. Cái dơ bẩn mà lại tưởng là nó sạch sẽ, đẹp đẽ. Đó là tứ đảo trong kinh Nikāya, tức là bốn sự điên đảo của chúng sanh, vô thường mà cho là thường, khổ mà cho là vui, vô ngã mà cho là ngã, bất tịnh mà cho là tịnh, cái mà nó luôn luôn bất thình lình, đột ngột biến đổi, tan hoại mà mình lại cho là nó còn mãi, đó là sự điên đảo thứ nhất của tâm.
Bản chất là khổ, mình cho là vui sướng, đây là sự điên đảo thứ hai. Đó là sự lắp ráp, kết hợp, nương dựa mà mình lại cho rằng nó là một cái thuần nhất, nguyên khối, tự thể, tự ngã chắc nịch có bản ngã, có cái ta cái tôi trong đó, đó là điên đảo thứ ba. Điên đảo thứ tư là sự không sạch, dơ bẩn mà mình cho đó là sạch sẽ. Đó là bốn cái điên đảo tưởng, tư tưởng lộn lạo, lầm lạc, mê lầm. Đó là tâm mê của chúng sanh.
“Vì chẳng biết rõ về năm uẩn
Nên chúng làm điên đảo tâm tư
Tham, sân, si, thương, ghét, vui, buồn
Tâm dao động quay cuồng vì chúng.”
Lúc thì tham, lúc thì giận, lúc thì ngu ngơ, si si dại dại, lúc thì lại vui cười, hí hửng, lúc thì mặt lại sụ xuống như bánh bao chiều, như cái mâm. Tâm thì dao động, quay cuồng vì năm uẩn này, nói đơn giản là vì những thứ tiền, nhà, đất, xe, tài sản… Hay dao động vì cái thân, vì ở trong cảm xúc, cảm thọ, tư tưởng ở trong đó, vì cứ cho nó là mình, là của mình nên khi bị suy suyển một chút là mình bất an, khổ đau, lo lắng, sợ hãi, là ăn không ngon, ngủ không yên.
Ví dụ như đôi dép mang vào nhưng khi ra có người “tạm ứng”. Lúc đó thì tâm như thế nào? Tâm có được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu không, dù đang đi chùa, đến chùa sám hối? Chỉ mới lạy sám hối thôi mà đi ra trước cổng kiếm đôi dép thì ai đó đã “tạm ứng” mất thì lúc đó tâm ra sao? Đó là vì mình cho cái này là của tôi, nhưng thật sự là không của ai hết. Nếu có duyên thì mình xài nó còn hết duyên thì thôi, người khác xài.
Đó là pháp duyên sanh, còn duyên thì ở với mình còn hết duyên thì từ thiện, bố thí luôn, nhẹ nhàng như vậy. Như vậy mới là hiểu pháp duyên sanh, pháp vô thường. Như vậy mới hiểu được đó là sắc uẩn. Còn khi mới ra tìm không thấy là bối rối, láng quáng, la lối om sòm, sân si lên dù bên trong vừa trải tâm từ, bước ra mất dép thì tâm từ cũng bay mất, lại sân si. Như vậy là khổ đau, vì mình nhận lầm, cho đôi dép đó là của mình.
Hiểu rộng ra, những cái khác cũng vậy, áo choàng để mình mặc vào ngồi tu nhưng giờ lỡ có người khác mặc, người ta tu thì mình nên vui cho người ta chứ làm sao lại giận? Hay lại sân lên “Cái áo của tôi ai lấy đâu mất tiêu rồi?” Có người mặc là mình mừng, có một người mặc chiếc áo đó là mình mừng cho người ta, mình đi tìm áo khác, nếu không có áo choàng thì mình mặc bình thường thì mình ngồi bên dưới có tuyệt vời hay không? Đó là áo giới, áo giải thoát nhưng vì chiếc áo đó mà mình sân hận thì sai. Vì đó là tâm mê.
Tại sao có thể đạt được một tâm bình an, tĩnh lặng khi bị mất áo choàng? Là mình quán chiếu các sắc pháp này không phải của mình, nó chỉ là pháp duyên sanh vô thường, mình quân tu, quân tập, luyện tập lâu ngày, lâu tháng, lâu năm. Trí tuệ đó đã thẩm thấu, đã thâm sâu, đã thuần thục, đã nhuần nhuyễn, đã thông thạo nên đến khi đó thì bình an. Nghĩ là “Mặc áo choàng vô thì tốt, nhường áo choàng!”
Đó là trí tuệ về sắc uẩn. Nên mình không có thấy thì sao? Mình cứ bị nó làm điên đảo tâm tư, cứ tham sân si, thương ghét, vui buồn rồi tâm dao động quay cuồng vì chúng. Suốt ngày cứ lòng vòng trong ham, giận, buồn, thương rồi ghét, tâm cứ dao động mãi, ngồi, nằm, đi, đứng không được yên. Lát buồn người này, rồi lại giận người kia, sư phụ, sư huynh cũng giận, đừng nói đến chồng con là làm tới bến luôn. Như vậy thì khổ đau, mình biến gia đình của mình trở thành ngục tù, đi thì thôi nhưng ở nhà lại có chuyện, vào nhìn mặt những người thân thương nhất của mình thì nhìn mặt là thấy bực bội, khó chịu. Vậy có khổ không?
Nên Minh Thành thường nhắc tu cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu để cho lắng dịu những tham, sân, si, thương, ghét, buồn, vui này. Tâm bớt dao động thì mình mới bớt khổ. Nếu nhiều khi ngồi đó nhưng bên trong lại đang bực bội thì không phải ngồi yên, giống như ngồi trong đống lửa, ngồi kế bên hố than hừng. Tuy là ở một mình nhưng bên trong những cảm thọ bực bội, nóng bức, nhiệt não thiêu đốt. Vì không biết rõ về năm uẩn nên làm cho tâm tư của mình đảo điên. Vậy nên phải:
“Tập nhận biết rõ về năm uẩn
Tập tỉnh tâm trước những pháp này
Tập tâm lìa năm uẩn cho mau
Lìa năm uẩn là lìa đau khổ.”
Các câu trên có ba chữ “tập”, là ba cấp độ của sự tu học, tu hành. Thứ nhất là “tập nhận biết rõ về năm uẩn” là tập nhận diện ngũ uẩn chúng ta đã học từ buổi đầu, tập cho thuần thục. Bước thứ hai là “Tập tỉnh tâm trước những pháp này”, tĩnh tâm là sự tỉnh thức, tỉnh táo, tỉnh sáng, tỉnh giác, khi mình nhận biết được nó rồi, mình biết được cái nào là thiện, là ác, là tội, là phước, cái nào là tâm hiền, cái nào là tâm dữ, tâm nào là tâm ô nhiễm và tâm nào là tâm thanh tịnh. Những tâm nào là tâm dơ bẩn, những suy nghĩ nào là dơ bẩn và suy nghĩ nào là trong sạch, những suy nghĩ nào mà làm lợi ích cho mình, lợi ích cho người, những suy nghĩ nào làm hại mình làm hại người, mình phải đọc cho rõ ra.
Mình phải nhìn rõ ra những cái tưởng đó, để nghe rõ những tiếng nói lầm thầm trong tâm. Mình phải nhận diện sâu sắc những cảm thọ đó, như vậy thì bước thứ nhất là mình tập nhận biết rõ về năm uẩn, bước thứ hai là tập tĩnh tâm trước những pháp này, tức là tập chánh niệm, tỉnh thức, tỉnh giác, tỉnh táo khi năm uẩn vận hành. Tức là, bước một là mình biết được thế nào là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, bước thứ hai là mình tập chánh niệm và tỉnh thức để thấy được nhân quả, thiện ác, tội phước, lành dữ ở trong sự vận hành của ngũ uẩn đó, đó là bước thứ hai.
Vậy chúng ta đọc bài trên có thấy được ba chữ tập là ba bước tu không?
Đó là bước thứ hai, tập chánh niệm tỉnh giác khi nhận diện ngũ uẩn. Ví dụ một suy nghĩ sanh khởi lên, thì mình đọc suy nghĩ này là suy nghĩ ly tham, là suy nghĩ đưa đến sự rời xa, thoát ra. Suy nghĩ này là tốt, phát huy, đào sâu, tăng trưởng, phát triển suy nghĩ này. Nếu mình nhìn thấy một suy nghĩ mà đó là suy nghĩ bất thiện pháp, suy nghĩ của ham muốn, dục vọng, hơn thua, suy nghĩ của ta đây, của tranh đấu, suy nghĩ này là ác, bất thiện pháp, suy nghĩ này cần từ bỏ, chấm dứt, cầm phải diệt tận, tẩy sạch thì đó gọi là tập tĩnh tâm trước những pháp này.
Đó gọi là như lý giác sát và như lý tác ý. Như lý giác sát là nhận diện ngũ uẩn, như lý tác ý là mình tác động tâm ý theo chiều thiện, chiều lành, chiều trí tuệ. Vậy nên bước thứ nhất là bước nhận biết rõ, bước thứ hai là tỉnh giác trước ngũ uẩn – sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đây là năm thứ ăn trộm, trộm hết của báu, trí tuệ, từ bi của mình, trộm hết rồi nó nổi sân si lên, thì từ bi đã bị ăn cắp mất. Cảm thọ nổi lên khổ thọ mà bực bội, sân hận lên, ăn cắp mất tâm từ mình tu tập tám tháng nay.
Vậy có để cho nó ăn cắp không? Hay là phát giác, phát hiện nó la lên, bắt nó lại, lấy đồ nó lại, không cho nó cầm đem đi. Đó là mình giữ được tâm từ của mình, không để cho cảm thọ tức giận, sân hận xâm chiếm, áp đảo hay lấy mất tâm hiền, tâm từ của mình đi. Chúng ta có canh chừng ăn trộm không? Phải canh chừng ăn trộm, vì ăn trộm rình rập mình mọi lúc mọi nơi. Trong suy nghĩ mình có ăn trộm, trong cảm xúc của mình có ăn trộm, trong tư tưởng cũng có ăn trộm, ăn cướp, luôn phải canh chừng, giữ tâm, xem chừng bị mất đồ, mất của báu, mất tâm hiền, tâm từ, tâm bi, tâm hỷ nên than vãn “Buồn chán, không muốn tu, nhạt nhẽo, vô vị, buồn quá, cô đơn quá!” Đó là ăn trộm, mất tâm hỷ của pháp.
Nó có rù quến, dụ dỗ không? Phải nhìn thấy “Ăn trộm nè!” rồi đuổi nó ra liền ngay lập tức, rượt nó chạy mất dép, lấy chổi chà rượt nó, không là để nó cứ ở đó rồi khi nó chán chán thì ngồi thiền hay tụng kinh đều nghỉ hết, chỉ muốn “Ngủ, chơi, không muốn học hay muốn tu gì nữa! Mệt quá hà!” Đó là ăn trộm, phải nhìn ra tên ăn trộm đó. Nhất là các bà cụ ngồi bên dưới, thời gian không còn bao nhiêu nhưng để cho nó ăn trộm làm mất đi quỹ thời gian quý báu, vàng bạc, kim cương của mình nên rất uổng phí.
Vậy nên phải coi chừng năm thằng ăn trộm đó, ngũ uẩn là ngũ tặc, năm uẩn là năm trộm, năm thằng ăn cướp. Phải đọc từng suy nghĩ, lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ, nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm, bi tâm, hỷ tâm, xả tâm, trí tuệ tâm, phải dẫn nó đi vào Ba mươi bảy phẩm giác ngộ, không cho nó đi lan man ngoài ngũ dục, tâm buông lung phóng dật. Tâm si mê, điên đảo, vô minh, đưa nó trở về tâm trí tuệ.
Như vậy, bước thứ hai tu là từ đó thâm sâu vào rồi mình mới thấy bộ mặt thật sự của năm uẩn này, tới bước thứ ba là “Tập tâm lìa năm uẩn cho mau”. Cái này là cấp độ sâu sắc, sau khi mình đã có sự tỉnh giác chánh niệm mình nhìn sâu hết tất cả những manh nha, manh mối, những thứ lưu manh, ở trong ngũ uẩn đó, thứ xảo trá, lừa đảo, lừa gạt mình, thứ ác độc, hại mình, tâm sân si, bản ngã hại mình, hại người. Mình nhìn ra hết thì mới thấy rằng “Thứ này mới đáng nhàm chán, thứ này là thứ bất tịnh, là thứ tội lỗi, gây ra nhiều khổ đau. Không ưa thích, ham muốn thứ này nữa. Nhàm chán nó!” Như vậy tập lìa năm uẩn cho mau, lìa năm uẩn là lìa đau khổ.
Bài kệ bốn câu đó là đạo lộ, ba chữ tập, là đạo lộ của bậc Thánh. Thứ nhất tập nhận biết rõ, thứ hai tập tĩnh tâm, thứ ba tập tâm lìa năm uẩn. Đây là tinh hoa của cả tạng kinh Nikāya, là cốt lõi của tất cả lời dạy của Đức Pahạt trong Thánh điển.
“Khi năm uẩn được tâm rõ biết,
Chúng không còn chi phối được tâm
Tâm tẩy sạch uế nhiễm trong, ngoài
Đó được gọi là tâm giải thoát.”
Khi thân thể này cảm giác những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong tâm được rõ biết một cách tận tường, thấu đáo, đầy đủ tất cả các phương diện, khía cạnh thì chúng không còn chi phối được tâm của mình nữa. Khi mình nhìn ra được bộ mặt thật sự của sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì chúng không còn đủ sức chi phối, xâm chiếm, áp đảo mình nữa. Thì lúc đó, tâm mình sẽ tẩy sạch những uế nhiễm bên trong lẫn bên ngoài, không còn tham ngũ dục bên ngoài, không còn ái tự thân, sắc uẩn, cũng như bốn uẩn còn lại.
Tẩy sạch những cấu nhiễm, những tham đắm, như vậy gọi là tâm giải thoát. Không còn tham đối với bất cứ sắc nào, quá khứ, hiện tại, vị lai, thô tế trong ngoài, xa gần. Không còn ham thích, chấp thủ đối với tất cả các cảm thọ, cảm giác nào dù là quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần đối với các tưởng, các hành, các thức. Tâm hoàn toàn tẩy sạch hết tất cả, những tham, sân, si, vô minh, bản ngã, chấp thủ, tham ái. Tẩy hoàn toàn sạch hết, như vậy gọi là tâm giải thoát.
““Sự thấy biết rõ về năm uẩn”
Đó gọi là Thánh Trí đầu tiên
Thánh Trí này đưa đến vô sanh,
Trí đưa thể nhập vào bất tử.
Có một Pháp dẫn vào Bất tử,
Có một Con đường đến Vô sanh,
Có một Phương cách Thoát luân hồi,
“Tâm tỉnh giác chiếu soi năm uẩn”.”
Khi thân thể này được rõ biết, khi những cảm giác khổ, vui, không khổ không vui được rõ biết, khi những hình bóng trong tâm được thấy biết thấu đáu, khi mọi lời nói lầm thầm trong suy nghĩ được mình đọc, mình chiếu, soi rọi, chánh kiến, thấy đúng bản chất của nó thì chúng không còn có thể chi phối được tâm của mình nữa.
Sở dĩ bây giờ mình không nhiếp phục, chế ngự nó được là vì mình không thấy biết nó một cách toàn diện. Giống như đứa trẻ không thấy biết được cục than đỏ đó có khả năng đốt cháy, làm phỏng nên mới nắm lấy. Còn người lớn nhận thức được thì làm sao lại đi nắm lấy cục than lửa đó. Hay giống như đứa trẻ không hiểu, không biết nên mới bước tới, rơi xuống hố than hừng, còn người nhận thức được thì thấy than là phải tránh xa, sợ hãi.
Cũng vậy, phàm phu, vô minh, chúng sanh giống như đứa trẻ nít không nhận thức được đó là hố than hừng mà tưởng đâu đó là chỗ vui sướng, chơi lạ nên đi tới xem, nhìn, vui mà không biết rằng đó là tai họa. Các bậc thành tựu thấy biết, chánh tri kiến là những vị thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là hố than hừng, là đống lửa, là mũi tên, rắn độc, là người lạ, là gai nhọn, ung nhọt, khổ đau, là bất an.
Các Ngài thấy được vậy nên tâm các Ngài tẩy sạch được sự yêu thích, tham đắm, trói cột trong đó, tâm các Ngài mở, thoát ra, xuất ly, xả ly, đoạn ly, viễn ly, hoàn toàn thoát ra. Tâm đó gọi là tâm giải thoát. Sự thấy biết rõ về năm uẩn đó gọi là Thánh trí đầu tiên, sau đó mới dùng những cách thức đúng đắn để tổng vệ sinh nội tâm tham, sân, si, bản ngã bên trong.
“Thánh Trí này đưa đến vô sanh,
Trí đưa thể nhập vào bất tử.”
Không sanh, chẳng chết. Không sanh thì không chết, có sanh nên mới có chết, không sanh thì làm sao có chết? Tại sao không sanh? Vì biết sự đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi của sanh nên các bậc Thánh không ưa thích sự sanh, không ham sanh, không thích sanh, không muốn sanh. Các Ngài muốn đạt đến chỗ vô sanh nên đi đến cảnh giới bất tử.
“Có một Pháp dẫn vào Bất tử,
Có một Con đường đến Vô sanh,
Có một Phương cách Thoát luân hồi,
“Tâm tỉnh giác chiếu soi năm uẩn”.”
Đây là bí kíp Chánh Pháp, là con mắt của mười hai bộ kinh, là trái tim của Đức Phật, là những câu trên. Có một pháp dẫn đi vào chỗ không chết, có một con đường đưa đến chỗ chẳng sanh, có một phương cách ra khỏi sự quay cuồng, quay vòng, phương pháp đó là “Tâm tỉnh giác chiếu soi năm uẩn”.
Cứ nhìn mãi về sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Chiếu mãi, soi mãi, rọi mãi rồi sẽ thấy, nó là thứ đáng nhàm đáng chán, đáng rời, đáng xa, đáng từ, đáng bỏ, đáng thoát, đáng ra. Đó là cửa vào bất tử. Và hôm nay, bài này kết thúc mười buổi chuyên đề Cửa vào bất tử. Kết thúc bài này có vài lời chia sẻ trong tập sách:
“Bốn Thánh trí về ngũ uẩn, hay Trí về Tứ Thánh Đế đó là con đường, là cánh cửa dẫn đến sự bất tử, sự thoát ly khỏi sanh tử và phiền não. Với Thánh trí này, tất cả những câu hỏi, những vấn đề trong cuộc sống và trong sự tu đạo sẽ được giải đáp hoàn hảo. Đức Phật nhờ thành tựu Thánh trí này mới tự xưng là đã chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì vậy, người con Phật cần nên tìm hiểu và thể nhập sâu sắc bốn Thánh trí này.”
(Trích trong quyển Cửa vào bất tử)
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo.
Thích Minh Thành
Ngày tháng năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mê lầm đối với năm uẩn PAGEREF _Toc108683821 \h 1
II. Mê lầm với cảm thọ PAGEREF _Toc108683822 \h 4
III. Nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc108683823 \h 6
I. Mê lầm đối với năm uẩn
Kính bạch các bậc hiền trí, tăng, ni và quý Phật tử.
Hôm nay chúng ta tìm hiểu phần cuối của chuyên đề Cửa vào bất tử.
“Sắc, thọ, tưởng, các hành và thức
Đây gọi là các pháp duyên sanh,
Vì lầm mê năm uẩn là mình,
Nên sanh tử trầm luân không dứt.
Vì chẳng biết rõ về năm uẩn
Nên chúng làm điên đảo tâm tư
Tham, sân, si, thương, ghét, vui, buồn
Tâm dao động quay cuồng vì chúng.
Tập nhận biết rõ về năm uẩn
Tập tỉnh tâm trước những pháp này
Tập tâm lìa năm uẩn cho mau
Lìa năm uẩn là lìa đau khổ.
Khi năm uẩn được tâm rõ biết,
Chúng không còn chi phối được tâm
Tâm tẩy sạch uế nhiễm trong, ngoài
Đó được gọi là tâm giải thoát.”
Những phần này là phần tổng kết nghĩa lý rất thâm sâu, cốt lõi của bài chúng ta đang học. Từ buổi đầu chúng ta được chia sẻ nhận diện về năm uẩn, về thân thể, về cảm xúc, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ và nhận thức.
Chúng ta đã tìm hiểu về duyên sanh pháp nên ở đây chúng ta không nhắc lại nữa, chúng ta phải nhớ học bài thật kĩ và thực tập cho thuần thục để chúng ta biết thế nào là các pháp duyên sanh ở trong ngũ uẩn. Vì mê lầm nên năm uẩn cho là mình, nên sanh tử trầm luân không dứt. Vì lầm mê cho rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức là mình nên sự sống chết, sự chìm nổi, sự lanh quanh, lẩn quẩn, sự quay vòng (luân hồi) không bao giờ dừng, ngưng, dứt hay kết thúc được. Vòng tròn của bánh xe cứ quay vòng mãi. Vậy vòng tròn ở đâu? Vì tâm mê, chúng ta thấy trong câu “Vì lầm mê năm uẩn là mình” thì lầm mê đó gọi là tâm mê, tâm mê lầm, tâm si mê, tâm u mê, tâm đam mê, tâm đắm mê. Đắm mê ở trong hình hài, hình thể, hình sắc, hình tướng, hình dáng, diện mạo, gương mặt này, khuôn mặt này. Nhận lầm, cho rằng cái này là tôi, của tôi, tự ngã của tôi, cho rằng đây là mình, là của mình, tự ngã của mình.
Thứ hai là lầm mê trong vật chất, chúng ta đã học định nghĩa của sắc uẩn là thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại. Nên chữ sắc không có nghĩa là sắc đẹp ở bên ngoài mà chữ sắc học theo tinh thần kinh Nikāya là thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại. Lầm mê thứ nhất đối với chúng ta là lầm mê đối với sắc, sắc này gồm bốn khía cạnh: sắc thân, đồ vật, cảnh vật và tứ đại.
Chúng ta lầm mê thứ nhất là sắc thân, tâm lầm, tâm mê, sự ngộ nhận, hiểu lầm, nhìn sai, thấy sai là chúng ta đau khổ. Tại sao như vậy? Vì nhà gỗ nho nhỏ trên bàn giảng pháp này, có thể một ánh lửa nhỏ thôi thì nó sẽ trở thành một đống tro, nó không còn là cái nhà nữa, hình dáng của nó thay đổi. Cây này thiếu nước, thiếu phân, không đủ ánh sáng, không khí thì nó không còn màu xanh này nữa. Cái ghế Minh Thành đang ngồi đây, vì một đóm lửa hay một vật gì nặng rơi trúng nó thì nó có thể cháy rụi hoặc bể nát thành một đống củi, đống cây vụn thôi. Thậm chí căn nhà này cũng vậy.
Như vậy, tất cả các sắc đó là biến hoại, vô thường, là tan rã, là đi đến chỗ hoại diệt, nhưng mình cho đó là của mình, là mình, là tự ngã của mình nên khi nó biến hoại là mình khổ đau, khi nó tan nát là mình sầu não, khi nó mất đi thì mình cũng không muốn sống nữa. Như có những người làm ăn phá sản thì người ta nhảy lầu tự vẫn, treo cổ hay nhảy sông, uống thuốc. Đó là mình nói vật chất, vì người ta hiểu lầm, người ta cho vật chất đó là của tôi, là tôi, là sở hữu của tôi, mà không biết được rằng vật chất, tài sản, chiếc xe, cục tiền, sổ đỏ, sổ tiết kiệm, bao nhiêu vàng, đất đai, ruộng vườn, nhà cửa đó là pháp biến hoại, bất cứ lúc nào cũng có thể đổi thay, đổ vỡ, tan nát. Nhưng mình lại nhận lầm và cho nó là còn mãi, là của mình.
Đó chính là tâm mê của mình, nhìn sai sự thật, vì còn Thánh trí tuệ của Đức Phật là sự thật, lẽ thật, bản chất, chính vì tâm của mình không hiểu được bản chất đó nên ham thích, đó là vô minh và tham ái. Thứ nhất là không hiểu, từ chỗ không hiểu mới ưa thích, từ sự ưa thích mới nắm giữ, từ sự nắm giữ đó nhưng nắm không được nên bị rơi ra, bể ra, tan nát ra thì dẫn đến đau khổ.
Tất cả khổ trên thế giới này đều là như vậy, vô minh, tham ái và chấp thủ. Đức Phật dạy cho mình Thánh trí ngũ uẩn này hay toàn bộ giáo pháp của Đức Phật là nhằm mục đích phá vỡ vô minh, tức là dẹp đi sự mê lầm, không thấy, không biết đúng sự thật. Khi mình hết mê lầm đó, khi mình thấy được sự thật thì mình sẽ không còn tham muốn nữa, giảm tham muốn đến chỗ dừng tham muốn. Mình không ham, không thích, không muốn những thứ vô thường, tan nát, bại hoại nó nữa thì tâm mình không có nắm chặt, không có nắm giữ, chấp thủ nữa. Như vậy gọi là giải thoát, “vô thủ trước Niết-bàn”, đó là tâm không nắm giữ, không nắm chặt, không bám chấp, chấp thủ.
Như vậy, làm sao để mình buông ra được, tâm mình nhả ra, mở ra, thoát ra được những món đồ, đồ vật đó cho đến hình hài này? Đó là mình phải thấy biết được sự thật. Như chúng ta đã học từ trước về bảy trí về sắc, bảy trí tuệ đó để phá vô minh, tức để dẹp đi sự không thấy, không biết, ngộ nhận, hiểu lầm, nhìn sai về thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại. Khi mình nhìn đúng rồi thì mình sẽ giảm bớt ham muốn, khi giảm bớt ham muốn rồi thì mình sẽ giảm đi sự nắm giữ, không nắm giữ thì mình sẽ buông xuống, thì mình được khỏe. Trước đó là mình cứ mang vào, nắm vào, giữ chặt, ghì chặt, chắp chặt, bám chặt rồi mình khổ cũng rất chắc, rất dày, rất sâu.
Vậy nên:
“Vì lầm mê năm uẩn là mình,
Nên sanh tử trầm luân không dứt.”
Sanh tử trầm luân tức là sống chết chìm nổi không dứt.
II. Mê lầm với cảm thọ
Tâm mê thứ hai đối với cảm thọ, cảm xúc, cảm giác. Không hiểu về cảm thọ, cảm giác, cho cảm giác là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Khi nãy là thân mình nắm vào, đồ vật, cảnh đẹp, tứ đại cũng nắm vào, đó là mê lầm thứ nhất, vô minh, tham ái, chấp thủ thứ nhất là về sắc uẩn, tổ hợp của sắc chất. Tiếp theo, đến tâm mê thứ hai là tâm mê đối với cảm giác, khi cảm giác vui thích là khoan khoái, hí hửng, say sưa, say đắm, đam mê, nếu là cảm giác bực bội, khó chịu là sân hận, thiêu đốt, muốn đập phá, hủy diệt. Cứ thích chạy suốt cuộc đời để chạy đi tìm cảm giác dễ chịu, chạy đi tìm vị ngọt trong sự yêu thích, khoan khoái nhưng không biết rằng cảm giác vui sướng đó, bên trong đó chứa đựng những mầm móng của khổ đau.
Thanh thiếu niên ngày nay rơi vào chỗ này, bị đọa lạc, trụy lạc rất nhiều. Như câu chuyện ngày hôm qua Minh Thành đã chia sẻ với đại chúng, đứa con xin tiền cha nhưng không cho nên giết người cha chết. Người ta điều tra ra người thanh niên này bị nghiện ma túy và giam cha suốt mười ngày để hành hạ trước khi đâm người cha chết. Chúng ta thấy khủng khiếp không? Khi lấy tiền cũng đi ăn chơi, hút chích, đó cũng là chạy theo cảm giác rồi tạo ra những tội ngỗ nghịch, trở thành nghịch tử giết cha như vậy. Giờ phải chịu tù tội, sau khi chết phải rơi vào địa ngục sen hồng vô lượng vô biên kiếp như vậy. Tất cả những điều đó là cảm giác.
Minh Thành đã có chia sẻ loạt bài Cảm giác nhận chìm thế giới. Cả thế gian, thế giới này đều bị cảm giác đó nhận chìm. Cứ chạy đi tìm những cảm giác vui sướng nhưng không biết trong đó là đau khổ. Game có cảm giác sướng không? Game trong đó có cảm giác không? Không có cảm giác nhưng sao lại bỏ ăn, bỏ ngủ, bỏ hết tất cả để chơi suốt trong đó bao nhiêu ngày hay đêm, buông ra là thậm chí chết trên bàn đó. Vì không hiểu đó là cảm giác nên yêu thích, khoan khoái trong cảm giác đó và nắm giữ, không muốn rời cảm giác đó mà quên mất đi sức khỏe, nhận thức, ý thức, tác hại của nó, tai nạn, hiểm họa của nó. Cuối cùng thì thân bại danh liệt, bệnh hoạn, thậm chí là mất mạng cũng vì cảm giác đó.
Vậy đua xe có cảm giác không? Khi đua xe làm cho sung sướng, rồ ga, phóng nhanh, làm cho nổi lên một lúc như vậy thì sau đó ra sao? Từ chết đến bị thương chỉ vì muốn tìm một chút cảm giác. Như gần đây có những chuyện rất đau lòng, ở nước ngoài chơi một trò chơi mà những đứa trẻ nhảy ra ngay trước đầu xe tải khi xe đang chạy. Nếu tránh được thì là anh hùng còn nếu không tránh được thì bị chết ngay tại chỗ. Làm vậy chỉ để đăng lên Tiktok. Nên gần đây bị chết rất nhiều những đứa trẻ chỉ mới mười mấy, hai mươi tuổi. Chỉ để tìm cảm giác mạnh.
Ngoài ra còn có nhậu nhẹt, ăn chơi, tìm những cảm giác mới lạ. Như vậy là đi tìm đau khổ, bệnh hoạn, tìm sự lo lắng, sự bất an, không chỉ đau khổ cho mình mà còn đau khổ cho người thân, cha mẹ, xóm làng, cho những người tham gia giao thông.
Nên Đức Phật rất tuyệt vời, tối thượng, trí huệ từ bi, vô lượng vô biên. Vừa làm đệ tử của Ngài là được khuyên “Con không được uống rượu nha con!”. Đó là Ngài bảo vệ cho mình. Vừa rồi, một vị này cũng là chức sắc trong ngành giao thông, nhưng uống rượu say nên gây tai nạn, tông trúng vào hai vợ chồng và đứa con làm họ chết ngay tại chỗ. Đó là vì ma men. Rất nhiều trường hợp khác, không phải chỉ một trường hợp, nhưng từ mấy ngàn năm trước thì Thế Tôn đã thấy được. Rượu say sưa đó có cảm giác không? Lên xe phóng nhanh vậy có cảm giác không?
Vì lầm mê cảm giác là mình, nên nước mắt, máu, sự chết chóc, khổ đau không dứt.
Vậy nên Thánh trí tuệ về năm uẩn này chúng ta học suốt đời cũng không hết. Đó là mê lầm thứ hai. Không thấy, không biết về cảm giác, không biết nhân duyên sanh diệt của cảm thọ, cảm xúc, cảm giác mà cho cảm giác đó là mình, nhận nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi và chấp thủ, tham đắm, mê lầm, say sưa, say đắm, si mê, điên đảo trong đó. Đó là nguyên nhân của khổ.
Tiếp theo, lầm mê nhận những hình bóng trong tâm là mình, mà không biết đó là tưởng uẩn, là tổ hợp của những hình bóng, là do sự tiếp xúc sanh khởi ra, là pháp duyên sanh, pháp vô thường. Không biết nhưng lại cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Những hình bóng, những suy nghĩ, lời nói thầm trong tâm, là tư tưởng, tức là những hình bóng trong tâm và những lời nói lầm thầm suy nghĩ cho đó là mình. Đầu tiên không thấy, không biết nên đó là vô minh, kế đó là khoan khoái, yêu thích, tức là tham ái. Sau đó là nắm giữ những suy nghĩ, hình bóng đó nắm giữ là chấp thủ.
Khi nói không biết, yêu thích, nắm giữ, khổ đau thì dễ hiểu hơn, rất rõ ràng. Còn nếu mình nói là vô minh, tham ái, chấp thủ là mình thấy nó rất trừu tượng. Nên giờ mình nói là tâm mê lầm không hiểu biết, nó yêu thích những đồ, những thứ đó, rồi nắm giữ những thứ đó và đau khổ vì những thứ đó. Đó là giải thích cho vô minh, tham ái, chấp thủ.
Giờ không nắm giữ nữa vì đã biết nguy hiểm, tác hại của nó thì buông ra, bỏ ra, nới ra, mở ra, quăng ra, đó chính là giải thoát. Những từ đó đều là những từ làm đề mục thiền quán thâm sâu suốt cuộc đời chúng ta hành trì bốn từ đó: vô minh, tham ái, chấp thủ, giải thoát. Đó là bốn đề mục thiền quán vĩ đại của người xuất gia, người cư sĩ chúng ta.
III. Nhận diện năm uẩn
Nếu mình không học nhận diện ngũ uẩn thì làm sao mình biết được đó là vô minh? Làm sao mình biết được cảm thọ đó là tham ái hay cảm thọ nắm giữ, chấp thủ? Nếu mình không thực tập quán chiếu về năm uẩn, về ngũ uẩn, về tâm xả thì làm sao mình biết được lúc đó là tâm mình đang buông bỏ?
Nên chỉ khi nào mình nhận diện được ngũ uẩn, quán chiếu được ngũ uẩn, soi rọi được năm uẩn thì lúc đó tâm mê này mới được nhìn thấy. Trí mình phát giác, phát hiện được đây là tâm mê, đây là tâm lầm lạc, tâm mê lầm, mê muội, tâm si mê, tâm mờ tối, vô minh.
“Vì chẳng biết rõ về năm uẩn
Nên chúng làm điên đảo tâm tư”
Để rồi nhận thức uẩn là mình. Như hôm trước mình đã học về rõ biết đó. Vì chẳng biết rõ về năm uẩn nên năm thứ đó là cho tâm tư của mình nghiêng ngã, đảo lộn. Từ điên đảo là đảo lộn, cho trắng là đen, lấy giả làm thật, tưởng không là có, tưởng cái biến đổi đó mà là còn mãi, khổ đau mà tưởng là vui sướng, cái trống rỗng, trống không mà tưởng là có lõi. Cái dơ bẩn mà lại tưởng là nó sạch sẽ, đẹp đẽ. Đó là tứ đảo trong kinh Nikāya, tức là bốn sự điên đảo của chúng sanh, vô thường mà cho là thường, khổ mà cho là vui, vô ngã mà cho là ngã, bất tịnh mà cho là tịnh, cái mà nó luôn luôn bất thình lình, đột ngột biến đổi, tan hoại mà mình lại cho là nó còn mãi, đó là sự điên đảo thứ nhất của tâm.
Bản chất là khổ, mình cho là vui sướng, đây là sự điên đảo thứ hai. Đó là sự lắp ráp, kết hợp, nương dựa mà mình lại cho rằng nó là một cái thuần nhất, nguyên khối, tự thể, tự ngã chắc nịch có bản ngã, có cái ta cái tôi trong đó, đó là điên đảo thứ ba. Điên đảo thứ tư là sự không sạch, dơ bẩn mà mình cho đó là sạch sẽ. Đó là bốn cái điên đảo tưởng, tư tưởng lộn lạo, lầm lạc, mê lầm. Đó là tâm mê của chúng sanh.
“Vì chẳng biết rõ về năm uẩn
Nên chúng làm điên đảo tâm tư
Tham, sân, si, thương, ghét, vui, buồn
Tâm dao động quay cuồng vì chúng.”
Lúc thì tham, lúc thì giận, lúc thì ngu ngơ, si si dại dại, lúc thì lại vui cười, hí hửng, lúc thì mặt lại sụ xuống như bánh bao chiều, như cái mâm. Tâm thì dao động, quay cuồng vì năm uẩn này, nói đơn giản là vì những thứ tiền, nhà, đất, xe, tài sản… Hay dao động vì cái thân, vì ở trong cảm xúc, cảm thọ, tư tưởng ở trong đó, vì cứ cho nó là mình, là của mình nên khi bị suy suyển một chút là mình bất an, khổ đau, lo lắng, sợ hãi, là ăn không ngon, ngủ không yên.
Ví dụ như đôi dép mang vào nhưng khi ra có người “tạm ứng”. Lúc đó thì tâm như thế nào? Tâm có được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu không, dù đang đi chùa, đến chùa sám hối? Chỉ mới lạy sám hối thôi mà đi ra trước cổng kiếm đôi dép thì ai đó đã “tạm ứng” mất thì lúc đó tâm ra sao? Đó là vì mình cho cái này là của tôi, nhưng thật sự là không của ai hết. Nếu có duyên thì mình xài nó còn hết duyên thì thôi, người khác xài.
Đó là pháp duyên sanh, còn duyên thì ở với mình còn hết duyên thì từ thiện, bố thí luôn, nhẹ nhàng như vậy. Như vậy mới là hiểu pháp duyên sanh, pháp vô thường. Như vậy mới hiểu được đó là sắc uẩn. Còn khi mới ra tìm không thấy là bối rối, láng quáng, la lối om sòm, sân si lên dù bên trong vừa trải tâm từ, bước ra mất dép thì tâm từ cũng bay mất, lại sân si. Như vậy là khổ đau, vì mình nhận lầm, cho đôi dép đó là của mình.
Hiểu rộng ra, những cái khác cũng vậy, áo choàng để mình mặc vào ngồi tu nhưng giờ lỡ có người khác mặc, người ta tu thì mình nên vui cho người ta chứ làm sao lại giận? Hay lại sân lên “Cái áo của tôi ai lấy đâu mất tiêu rồi?” Có người mặc là mình mừng, có một người mặc chiếc áo đó là mình mừng cho người ta, mình đi tìm áo khác, nếu không có áo choàng thì mình mặc bình thường thì mình ngồi bên dưới có tuyệt vời hay không? Đó là áo giới, áo giải thoát nhưng vì chiếc áo đó mà mình sân hận thì sai. Vì đó là tâm mê.
Tại sao có thể đạt được một tâm bình an, tĩnh lặng khi bị mất áo choàng? Là mình quán chiếu các sắc pháp này không phải của mình, nó chỉ là pháp duyên sanh vô thường, mình quân tu, quân tập, luyện tập lâu ngày, lâu tháng, lâu năm. Trí tuệ đó đã thẩm thấu, đã thâm sâu, đã thuần thục, đã nhuần nhuyễn, đã thông thạo nên đến khi đó thì bình an. Nghĩ là “Mặc áo choàng vô thì tốt, nhường áo choàng!”
Đó là trí tuệ về sắc uẩn. Nên mình không có thấy thì sao? Mình cứ bị nó làm điên đảo tâm tư, cứ tham sân si, thương ghét, vui buồn rồi tâm dao động quay cuồng vì chúng. Suốt ngày cứ lòng vòng trong ham, giận, buồn, thương rồi ghét, tâm cứ dao động mãi, ngồi, nằm, đi, đứng không được yên. Lát buồn người này, rồi lại giận người kia, sư phụ, sư huynh cũng giận, đừng nói đến chồng con là làm tới bến luôn. Như vậy thì khổ đau, mình biến gia đình của mình trở thành ngục tù, đi thì thôi nhưng ở nhà lại có chuyện, vào nhìn mặt những người thân thương nhất của mình thì nhìn mặt là thấy bực bội, khó chịu. Vậy có khổ không?
Nên Minh Thành thường nhắc tu cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu để cho lắng dịu những tham, sân, si, thương, ghét, buồn, vui này. Tâm bớt dao động thì mình mới bớt khổ. Nếu nhiều khi ngồi đó nhưng bên trong lại đang bực bội thì không phải ngồi yên, giống như ngồi trong đống lửa, ngồi kế bên hố than hừng. Tuy là ở một mình nhưng bên trong những cảm thọ bực bội, nóng bức, nhiệt não thiêu đốt. Vì không biết rõ về năm uẩn nên làm cho tâm tư của mình đảo điên. Vậy nên phải:
“Tập nhận biết rõ về năm uẩn
Tập tỉnh tâm trước những pháp này
Tập tâm lìa năm uẩn cho mau
Lìa năm uẩn là lìa đau khổ.”
Các câu trên có ba chữ “tập”, là ba cấp độ của sự tu học, tu hành. Thứ nhất là “tập nhận biết rõ về năm uẩn” là tập nhận diện ngũ uẩn chúng ta đã học từ buổi đầu, tập cho thuần thục. Bước thứ hai là “Tập tỉnh tâm trước những pháp này”, tĩnh tâm là sự tỉnh thức, tỉnh táo, tỉnh sáng, tỉnh giác, khi mình nhận biết được nó rồi, mình biết được cái nào là thiện, là ác, là tội, là phước, cái nào là tâm hiền, cái nào là tâm dữ, tâm nào là tâm ô nhiễm và tâm nào là tâm thanh tịnh. Những tâm nào là tâm dơ bẩn, những suy nghĩ nào là dơ bẩn và suy nghĩ nào là trong sạch, những suy nghĩ nào mà làm lợi ích cho mình, lợi ích cho người, những suy nghĩ nào làm hại mình làm hại người, mình phải đọc cho rõ ra.
Mình phải nhìn rõ ra những cái tưởng đó, để nghe rõ những tiếng nói lầm thầm trong tâm. Mình phải nhận diện sâu sắc những cảm thọ đó, như vậy thì bước thứ nhất là mình tập nhận biết rõ về năm uẩn, bước thứ hai là tập tĩnh tâm trước những pháp này, tức là tập chánh niệm, tỉnh thức, tỉnh giác, tỉnh táo khi năm uẩn vận hành. Tức là, bước một là mình biết được thế nào là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, bước thứ hai là mình tập chánh niệm và tỉnh thức để thấy được nhân quả, thiện ác, tội phước, lành dữ ở trong sự vận hành của ngũ uẩn đó, đó là bước thứ hai.
Vậy chúng ta đọc bài trên có thấy được ba chữ tập là ba bước tu không?
Đó là bước thứ hai, tập chánh niệm tỉnh giác khi nhận diện ngũ uẩn. Ví dụ một suy nghĩ sanh khởi lên, thì mình đọc suy nghĩ này là suy nghĩ ly tham, là suy nghĩ đưa đến sự rời xa, thoát ra. Suy nghĩ này là tốt, phát huy, đào sâu, tăng trưởng, phát triển suy nghĩ này. Nếu mình nhìn thấy một suy nghĩ mà đó là suy nghĩ bất thiện pháp, suy nghĩ của ham muốn, dục vọng, hơn thua, suy nghĩ của ta đây, của tranh đấu, suy nghĩ này là ác, bất thiện pháp, suy nghĩ này cần từ bỏ, chấm dứt, cầm phải diệt tận, tẩy sạch thì đó gọi là tập tĩnh tâm trước những pháp này.
Đó gọi là như lý giác sát và như lý tác ý. Như lý giác sát là nhận diện ngũ uẩn, như lý tác ý là mình tác động tâm ý theo chiều thiện, chiều lành, chiều trí tuệ. Vậy nên bước thứ nhất là bước nhận biết rõ, bước thứ hai là tỉnh giác trước ngũ uẩn – sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đây là năm thứ ăn trộm, trộm hết của báu, trí tuệ, từ bi của mình, trộm hết rồi nó nổi sân si lên, thì từ bi đã bị ăn cắp mất. Cảm thọ nổi lên khổ thọ mà bực bội, sân hận lên, ăn cắp mất tâm từ mình tu tập tám tháng nay.
Vậy có để cho nó ăn cắp không? Hay là phát giác, phát hiện nó la lên, bắt nó lại, lấy đồ nó lại, không cho nó cầm đem đi. Đó là mình giữ được tâm từ của mình, không để cho cảm thọ tức giận, sân hận xâm chiếm, áp đảo hay lấy mất tâm hiền, tâm từ của mình đi. Chúng ta có canh chừng ăn trộm không? Phải canh chừng ăn trộm, vì ăn trộm rình rập mình mọi lúc mọi nơi. Trong suy nghĩ mình có ăn trộm, trong cảm xúc của mình có ăn trộm, trong tư tưởng cũng có ăn trộm, ăn cướp, luôn phải canh chừng, giữ tâm, xem chừng bị mất đồ, mất của báu, mất tâm hiền, tâm từ, tâm bi, tâm hỷ nên than vãn “Buồn chán, không muốn tu, nhạt nhẽo, vô vị, buồn quá, cô đơn quá!” Đó là ăn trộm, mất tâm hỷ của pháp.
Nó có rù quến, dụ dỗ không? Phải nhìn thấy “Ăn trộm nè!” rồi đuổi nó ra liền ngay lập tức, rượt nó chạy mất dép, lấy chổi chà rượt nó, không là để nó cứ ở đó rồi khi nó chán chán thì ngồi thiền hay tụng kinh đều nghỉ hết, chỉ muốn “Ngủ, chơi, không muốn học hay muốn tu gì nữa! Mệt quá hà!” Đó là ăn trộm, phải nhìn ra tên ăn trộm đó. Nhất là các bà cụ ngồi bên dưới, thời gian không còn bao nhiêu nhưng để cho nó ăn trộm làm mất đi quỹ thời gian quý báu, vàng bạc, kim cương của mình nên rất uổng phí.
Vậy nên phải coi chừng năm thằng ăn trộm đó, ngũ uẩn là ngũ tặc, năm uẩn là năm trộm, năm thằng ăn cướp. Phải đọc từng suy nghĩ, lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kĩ, nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm, bi tâm, hỷ tâm, xả tâm, trí tuệ tâm, phải dẫn nó đi vào Ba mươi bảy phẩm giác ngộ, không cho nó đi lan man ngoài ngũ dục, tâm buông lung phóng dật. Tâm si mê, điên đảo, vô minh, đưa nó trở về tâm trí tuệ.
Như vậy, bước thứ hai tu là từ đó thâm sâu vào rồi mình mới thấy bộ mặt thật sự của năm uẩn này, tới bước thứ ba là “Tập tâm lìa năm uẩn cho mau”. Cái này là cấp độ sâu sắc, sau khi mình đã có sự tỉnh giác chánh niệm mình nhìn sâu hết tất cả những manh nha, manh mối, những thứ lưu manh, ở trong ngũ uẩn đó, thứ xảo trá, lừa đảo, lừa gạt mình, thứ ác độc, hại mình, tâm sân si, bản ngã hại mình, hại người. Mình nhìn ra hết thì mới thấy rằng “Thứ này mới đáng nhàm chán, thứ này là thứ bất tịnh, là thứ tội lỗi, gây ra nhiều khổ đau. Không ưa thích, ham muốn thứ này nữa. Nhàm chán nó!” Như vậy tập lìa năm uẩn cho mau, lìa năm uẩn là lìa đau khổ.
Bài kệ bốn câu đó là đạo lộ, ba chữ tập, là đạo lộ của bậc Thánh. Thứ nhất tập nhận biết rõ, thứ hai tập tĩnh tâm, thứ ba tập tâm lìa năm uẩn. Đây là tinh hoa của cả tạng kinh Nikāya, là cốt lõi của tất cả lời dạy của Đức Pahạt trong Thánh điển.
“Khi năm uẩn được tâm rõ biết,
Chúng không còn chi phối được tâm
Tâm tẩy sạch uế nhiễm trong, ngoài
Đó được gọi là tâm giải thoát.”
Khi thân thể này cảm giác những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong tâm được rõ biết một cách tận tường, thấu đáo, đầy đủ tất cả các phương diện, khía cạnh thì chúng không còn chi phối được tâm của mình nữa. Khi mình nhìn ra được bộ mặt thật sự của sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì chúng không còn đủ sức chi phối, xâm chiếm, áp đảo mình nữa. Thì lúc đó, tâm mình sẽ tẩy sạch những uế nhiễm bên trong lẫn bên ngoài, không còn tham ngũ dục bên ngoài, không còn ái tự thân, sắc uẩn, cũng như bốn uẩn còn lại.
Tẩy sạch những cấu nhiễm, những tham đắm, như vậy gọi là tâm giải thoát. Không còn tham đối với bất cứ sắc nào, quá khứ, hiện tại, vị lai, thô tế trong ngoài, xa gần. Không còn ham thích, chấp thủ đối với tất cả các cảm thọ, cảm giác nào dù là quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần đối với các tưởng, các hành, các thức. Tâm hoàn toàn tẩy sạch hết tất cả, những tham, sân, si, vô minh, bản ngã, chấp thủ, tham ái. Tẩy hoàn toàn sạch hết, như vậy gọi là tâm giải thoát.
““Sự thấy biết rõ về năm uẩn”
Đó gọi là Thánh Trí đầu tiên
Thánh Trí này đưa đến vô sanh,
Trí đưa thể nhập vào bất tử.
Có một Pháp dẫn vào Bất tử,
Có một Con đường đến Vô sanh,
Có một Phương cách Thoát luân hồi,
“Tâm tỉnh giác chiếu soi năm uẩn”.”
Khi thân thể này được rõ biết, khi những cảm giác khổ, vui, không khổ không vui được rõ biết, khi những hình bóng trong tâm được thấy biết thấu đáu, khi mọi lời nói lầm thầm trong suy nghĩ được mình đọc, mình chiếu, soi rọi, chánh kiến, thấy đúng bản chất của nó thì chúng không còn có thể chi phối được tâm của mình nữa.
Sở dĩ bây giờ mình không nhiếp phục, chế ngự nó được là vì mình không thấy biết nó một cách toàn diện. Giống như đứa trẻ không thấy biết được cục than đỏ đó có khả năng đốt cháy, làm phỏng nên mới nắm lấy. Còn người lớn nhận thức được thì làm sao lại đi nắm lấy cục than lửa đó. Hay giống như đứa trẻ không hiểu, không biết nên mới bước tới, rơi xuống hố than hừng, còn người nhận thức được thì thấy than là phải tránh xa, sợ hãi.
Cũng vậy, phàm phu, vô minh, chúng sanh giống như đứa trẻ nít không nhận thức được đó là hố than hừng mà tưởng đâu đó là chỗ vui sướng, chơi lạ nên đi tới xem, nhìn, vui mà không biết rằng đó là tai họa. Các bậc thành tựu thấy biết, chánh tri kiến là những vị thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức là hố than hừng, là đống lửa, là mũi tên, rắn độc, là người lạ, là gai nhọn, ung nhọt, khổ đau, là bất an.
Các Ngài thấy được vậy nên tâm các Ngài tẩy sạch được sự yêu thích, tham đắm, trói cột trong đó, tâm các Ngài mở, thoát ra, xuất ly, xả ly, đoạn ly, viễn ly, hoàn toàn thoát ra. Tâm đó gọi là tâm giải thoát. Sự thấy biết rõ về năm uẩn đó gọi là Thánh trí đầu tiên, sau đó mới dùng những cách thức đúng đắn để tổng vệ sinh nội tâm tham, sân, si, bản ngã bên trong.
“Thánh Trí này đưa đến vô sanh,
Trí đưa thể nhập vào bất tử.”
Không sanh, chẳng chết. Không sanh thì không chết, có sanh nên mới có chết, không sanh thì làm sao có chết? Tại sao không sanh? Vì biết sự đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi của sanh nên các bậc Thánh không ưa thích sự sanh, không ham sanh, không thích sanh, không muốn sanh. Các Ngài muốn đạt đến chỗ vô sanh nên đi đến cảnh giới bất tử.
“Có một Pháp dẫn vào Bất tử,
Có một Con đường đến Vô sanh,
Có một Phương cách Thoát luân hồi,
“Tâm tỉnh giác chiếu soi năm uẩn”.”
Đây là bí kíp Chánh Pháp, là con mắt của mười hai bộ kinh, là trái tim của Đức Phật, là những câu trên. Có một pháp dẫn đi vào chỗ không chết, có một con đường đưa đến chỗ chẳng sanh, có một phương cách ra khỏi sự quay cuồng, quay vòng, phương pháp đó là “Tâm tỉnh giác chiếu soi năm uẩn”.
Cứ nhìn mãi về sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Chiếu mãi, soi mãi, rọi mãi rồi sẽ thấy, nó là thứ đáng nhàm đáng chán, đáng rời, đáng xa, đáng từ, đáng bỏ, đáng thoát, đáng ra. Đó là cửa vào bất tử. Và hôm nay, bài này kết thúc mười buổi chuyên đề Cửa vào bất tử. Kết thúc bài này có vài lời chia sẻ trong tập sách:
“Bốn Thánh trí về ngũ uẩn, hay Trí về Tứ Thánh Đế đó là con đường, là cánh cửa dẫn đến sự bất tử, sự thoát ly khỏi sanh tử và phiền não. Với Thánh trí này, tất cả những câu hỏi, những vấn đề trong cuộc sống và trong sự tu đạo sẽ được giải đáp hoàn hảo. Đức Phật nhờ thành tựu Thánh trí này mới tự xưng là đã chứng được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì vậy, người con Phật cần nên tìm hiểu và thể nhập sâu sắc bốn Thánh trí này.”
(Trích trong quyển Cửa vào bất tử)
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo.