Tâm sự với người xuất gia - Hồng tâm của Chánh pháp
Tâm sự với người xuất gia – Hồng tâm của Chánh pháp
-THÍCH MINH THÀNH-
Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân.
Lời đầu tiên con xin vấn an sức khỏe của quý thầy. Xin phép quý thầy con được xưng là con. Con xin thưa đại chúng, trong thời gian gần 8 tháng vừa qua, con có những chuyển biến rất là lớn ở trong sự tu học. Đặc biệt là học kì đại chúng thấy con vắng mặt, con khám phá ra được những lời dạy gốc của Đức Phật và con chấn động, sốc, một cơn sốc khủng khiếp. Lần này trở lại con muốn tặng món quà nếu như có đủ duyên sẽ đi hết khóa này với huynh đệ. Tiếp theo là trận đại dịch, con có thêm thời gian nhiều để độc cư, rất là bất ngờ, không thể ngờ được là chúng ta hiểu lầm về những lời Phật dạy rất là nhiều, cho nên sự tu học của chúng ta không có được kết quả bao nhiêu.
Con sẽ trình bày với đại chúng biểu đồ 2500 năm của Phật giáo được ngài Ấn Thuận đạo sư đúc kết lại. Gần 3000 năm lịch sử của Phật giáo nằm trong một tấm giấy gần bằng một cái bàn, nhưng thời kì Chánh pháp chỉ có một chút xíu, một ô nhỏ thôi. Chánh pháp của Đức Phật chỉ có 500 năm, sau 500 năm đó tất cả những tác phẩm đều là của người sau. Đó được gọi là tượng pháp. Quý huynh đệ phải nắm thật là vững về phương diện lịch sử, về phương diện nghiên cứu và về phương diện tu học nếu không tất cả sự tu hành của mình mãi là lợi ích nhỏ bé, không bao giờ uống nước tận nguồn để thấy được chân giá trị của Chánh pháp. Con nhắc lại, tất cả những tác phẩm sau 500 năm Đức Phật nhập diệt đều là những tác phẩm của người sau, chỉ có tạng kinh Nikāya là chính xác những lời Đức Phật dạy. Tạng kinh Nikāya có 5 bộ thì 4 bộ đầu mới là chánh thống, còn Tiểu Bộ Kinh là sau này thành lập. Ngay cả trong tạng Nikāya mà vẫn có pha tạp, đây là điều làm cho con hết sức xót xa, tất cả sự tu học của chúng ta hiện nay là tu học theo tượng pháp. Tượng là mường tượng, giông giống không phải chánh, chính vì vậy nó không có các Thánh vị, Thánh quả. Như vậy Chánh pháp nói cái gì, chỗ này là chỗ quan trọng. Toàn bộ giáo pháp của tạng Nikāya là nói điều gì? Đây là một mật mã của Tam Tạng, có thể mình tu suốt cuộc đời mình không biết được vì mình học tượng pháp.
Trong bài kinh Tượng pháp, Đức Phật nói “Này Ananda, khi vàng giả xuất hiện thì vàng thật biến mất”, vàng giả là tượng pháp. Nếu chúng ta không thành tựu thâm sâu trong sự nghiên cứu như quý huynh đệ thấy ở phương Tây, người ta nghiên cứu kinh Nikāya, Pāli tạng. Những người phương Tây xuất gia, thì phần nhiều họ xuất gia ở Phật giáo nguyên thủy. Vấn đề ở đây không phải trên tông phái, trên hình thức, ngay cả Phật giáo nguyên thủy bây giờ, trong đây sẽ có các vị tu nguyên thủy lại chú trọng vào vi diệu pháp cũng là những tác phẩm sau này. Con đã đi 8 trường thiền ở Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện và Myanmar là chỗ các vị Tam Tạng pháp sư có mặt duy nhất trên thế giới này. Nhưng ở Myanmar bây giờ chú trọng vào vi diệu pháp, họ cho kinh tạng là thứ yếu, khủng khiếp như vậy. Tại sao Chánh pháp không được tôn trọng, bị người ta xem thường? Tại vì khi tượng pháp xuất hiện thì tượng pháp nói Chánh pháp là tiểu thừa, tôi đây – tượng pháp mới là ngon, và bàn bạc tượng pháp trong tất cả các kinh điển sau này, đánh đổ giáo lý chính thống của Đức Phật. Con là một trong những người tiếp nhận tư tưởng đó và học 28 năm, tất cả tư tưởng Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Niết-bàn, Lăng Già con đều có thể cầm bộ kinh đó lên giảng được, con đã dạy cao đẳng, dạy Thủ Lăng Nghiêm. Khi tượng pháp xuất hiện thì mạt sát Chánh pháp. Những người hậu học làm sao biết được, tin tưởng vô mấy cái sách vở này rồi xem thường Chánh pháp và Chánh pháp từ từ bị mai một. Bây giờ mình không nói chuyện này nhiều, đó là báo cáo kết quả 30 năm nghiên cứu, tu học, tầm cầu giáo pháp trên toàn thế giới.
Bây giờ mình vô vấn đề Chánh pháp nói cái gì, đây là chỗ sốc toàn tập. Con xin thưa đại chúng, nếu mình không hành trì thì cái sốc của mình ở ngoài da, trên miệng thôi, nếu mà hành trì thì nó sốc vô tim, gan, xương, tủy. Con đã trình bày với đại chúng 10 buổi về Thánh trí ngũ uẩn, không biết các huynh đệ có ai còn nhớ không hay đã quên hết rồi. Phải nhìn thấy được thân tâm của chính mình, nếu không nhìn thấy một cách chính xác, chân chánh, xác đáng, sâu sắc, đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh của tự thân thì người đó ở ngoài cửa chứ chưa nhập môn. Dầu cho mình có cạo đầu ở trong chùa suốt đời thì mình vẫn là một người không có phần trong Phật pháp, đó chỉ là những phước thiện của kẻ phàm phu. Cho nên đầu tiên mình nghe cái từ thì mình thấy nó rất là bình dị, từ đó mình không có hiểu chính xác, nhưng khi mình hiểu chính xác rồi mình sẽ bất ngờ. Cửa thứ nhất đó phải đi vào mới là đệ tử Phật. Đại chúng có biết cánh cửa thứ nhất đó là gì không, đây là Thánh quả thứ nhất của Tu đà hoàn. Một người thành tựu Chánh kiến đầy đủ là Thánh quả thứ nhất – Đắc pháp nhãn tịnh, minh kiến, minh nhãn, bậc đã thấy, đã biết thân tâm của mình. Thấy và biết cái gì?
Đây không phải là kiến thức đọc suông ở trong bài kinh mình tụng mà đây là trí tuệ của bậc Thánh. Mình phải nhìn ra được thân thể này cấu tạo bằng cái gì, trong tâm thức mình gồm có những cái gì? Những cảm giác, những hình bóng nội tâm, những suy nghĩ lầm thầm, sự rõ biết, mình phải nhìn cho ra được ngũ uẩn đang có mặt, đang vận động, vận hành. Mình phải thấy và biết, đó là bước căn bản nhất, nếu không thấy cái này để phá quan niệm về chấp ngã, về cái tôi, một cái tôi nguyên thể, nguyên khối thì vĩnh viễn là phàm phu. Dầu cho có chức vụ, địa vị gì cũng là phàm phu hết nếu không thấy được ngũ uẩn. Đó là cửa thứ nhất. Tại sao vậy? Nếu mình không thấy ngũ uẩn và mình chấp nhận có một tự ngã, mình càng làm thì tự ngã càng tăng trưởng, mình càng học thì tri thức của mình càng chồng chất, ngã kiến và vô minh. Mình càng tu thì vun bồi cho thân kiến chấp ngã tại vì không thấy năm uẩn. Cho nên trong suốt thời gian con cùng với các thầy chia sẻ trước khi con nhập thất là thời gian con cho quý thầy thực tập nhìn nhận ngũ uẩn, đó là bước đầu tiên của Chánh kiến.
Xin thưa đại chúng, con 28 năm học các tông phái ở tất cả mọi nơi mà con không có biết ngũ uẩn. Cho nên bản ngã của con vẫn chình ình, to lớn mà mình không biết. Cứ tưởng đâu tu như vậy cũng đỡ lắm rồi, so với người ta mình tu hơn, khi vào thất rồi thì khủng khiếp, nhục nhã, xấu hổ, nước mắt đầm đìa. Thấy sự tu hành của mình trong suốt thời gian qua là tu trong vô minh, tu trong bản ngã. Con thưa đại chúng là con đi lạy từng người đệ tử, đệ tử cư sĩ, đệ tử xuất gia con lạy hết, sám hối. Một số người nói con tu chắc có vấn đề, không sao hết, người ta chưa hiểu. Khi mình nhìn ra được thực sự thì mình thấy khủng khiếp lắm. Bây giờ mình nói tổng quát. Khi mình nhìn thấy được những cảm giác nghĩ tưởng, những nhận thức, rõ biết, mình thấy rõ nó gồm năm nhóm, không còn là một thứ nữa. Lúc trước mình nhìn nó là nguyên khối tưởng, một cái tôi, một cái tự ngã trọn vẹn. Bây giờ mình tách nó ra làm năm phần thì các pháp sẽ hiển hiện một cách đầy đủ, rõ ràng ở trong thân, tâm của mình. Những cảm giác của dục, tham, ái sanh khởi mình thấy, mình biết. Những cảm giác của sân sanh khởi trong một cái nhỏ xíu động chuyển trên lồng ngực thì mình thấy, mình biết. Những cảm giác của bản ngã, ta đây sanh khởi lên bằng trí tuệ của ngũ uẩn mình thấy, mình biết. Đầu tiên là bốn Thánh về ngũ uẩn. Thứ hai mới là chỗ tối yếu, nếu không thấy được cái này thì cả đời tu của mình uổng tương chao. Tại vì sâu xa trong những cảm giác nghĩ tưởng và nhận thức của chúng ta là một cái tâm cấu nhiễm lậu hoặc, đó là bốn Thánh trí về lậu hoặc. Khi phát hiện những cái này là con bàng hoàng, ngỡ ngàng, không thể ngờ được mình tu bạc cái đầu mà tới bây giờ mình mới thấy thật sự tham là cái gì, dục là cái gì. Còn lúc trước cái thấy của mình về tham, dục, là phạm giới này kia thì đó là cái thấy của phàm phu, không tu cũng biết. Còn cái thấy này là thấy sự sanh khởi của nó trong cảm thọ, trong cái tưởng, trong cái hành. Nó bắt đầu mống khởi trong này, những hình bóng mờ mờ hiện lên là mình nhìn thấy, những cảm giác nó động chuyển trong cơ thể là mình nhìn thấy chứ nó chưa có nói ra miệng, nó chưa động tay, động chân, mà trong cảm giác thúc giục là mình thấy. Đó là mình thấy được tâm lậu hoặc.
Đức Phật dưới cội bồ đề đã chứng bốn Thánh trí về ngũ uẩn, chứng bốn Thánh trí về lậu hoặc. Cho nên nếu không thấy ngũ uẩn là không thấy lậu hoặc, mà không thấy, không biết lậu hoặc thì không thể nào nhiếp phục và đoạn tận lậu hoặc. Mà không nhiếp phục, không đoạn tận lậu hoặc thì làm sao đi đến lậu tận. Cho nên đây là mật mã của Chánh pháp, tinh hoa của Nikāya, con mắt trí tuệ của Tam bảo. Khi mình nhìn ra được tâm lậu hoặc thì khủng khiếp lắm quý thầy ơi! Một cái tâm thối tha, xấu xa, nhớp nhớ, một cái tâm đầy dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, một cái tâm đầy ganh tỵ, đố kị, hơn thua, một cái tâm khủng khiếp, mình không thể ngờ trong tâm mình lại dơ bẩn như vậy. Đó chính là cái tâm lậu hoặc, tại sao là lậu hoặc. Có biết người ta đi hàng lậu không, cũng vậy cái tâm đó nó qua mặt mình, nó luồn lách, nó che đậy, nó gian trá, xảo ngụy. Nó chính là những con yêu tinh ở trong Tây Du Kí, con mắt thường không nhìn ra được, phải bằng Thánh trí ngũ uẩn và Thánh trí lậu hoặc mới nhìn ra được. Chính cái tâm đó nó gạt mình. Mình đâu có muốn đi theo con đường tham dục, mình tu mà, nhưng nó vẫn thỏ thẻ thì thầm những lời ngon tiếng ngọt, bao nhiêu lí lẽ ngụy biện và cuối cùng mình đi vào những lối tẻ, những con đường mà mình không muốn đi. Đó là tâm lậu hoặc. Mình đầu tròn áo vuông, mình đâu có muốn sân hận, đâu có muốn xăn tay áo, đâu có muốn trừng trợn mắt nhưng mình chiến thắng nó nổi không? Nó sanh khởi lên mình có nhìn thấy và nhiếp phục, diệt tận nó không hay là nó quật ngã mình, nó đè đầu cởi cổ mình, mình làm nô lệ cho dục, làm tôi đòi cho dục, mình cung phụng, phục vụ cho nó, mình làm đầy tớ cho dục. Dục ở đây không phải riêng nam nữ mà có rất nhiều thứ dục.
Trong khi mình ăn, nếu mình quán chiếu năm uẩn thì mình sẽ thấy bên trong có một cảm giác thúc giục. Trong khi mình uống, nếu mình chánh niệm tỉnh giác nhận diện ngũ uẩn thì sẽ có một sự ừng ực, ừng ực, khát quá rồi, uống cho nó nhanh, cho nó đã. Trong khi mình tắm, mình vô mình xối ào ào, thì cái xối đó là trạng thái của dục, nó được một cảm giác khoan khoái, thích thú. Khiếp lắm! Khi nhìn ra rồi thì thấy tất cả đời sống của mình được vận hành trên cái nền tảng của dục, tham, ái. Một khi mình phát giác, phát hiện được thì sẽ có những phương pháp nhiếp phục nó. Mình đánh gục nó, phá sập được cái tham, ái này xuống rồi thì một đời sống tương lai không có thanh lọc nữa, sanh tử luân hồi mới chấm dứt. Ngày nào trong lòng mình còn nuôi dưỡng những cái dục, tham, ái, yêu thích, khao khát, thèm muốn đó thì còn tiếp diễn dài dài những thân máu mủ, xương, da. Cho nên giáo pháp chánh thống của Đức Phật là nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn. Tất cả những hình sắc, những cảm giác nghĩ tưởng, nhận thức đều được Thánh trí của ngũ uẩn nó soi chiếu vô và nó có sức công phá lớn. 37 phẩm trợ đạo là nòng súng đại bác, những vũ khí tối tân, tối thượng. Dùng Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực đánh sập hết tất cả những dục, tham, ái đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sự tu của mình là một công trình phát giác, phát hiện ra những cảm giác nghĩ tưởng về dục, về tham, về ái. Từ đó nhiếp phục, đoạn tận, đánh sập, đánh vỡ, đánh tan, đánh nát, đánh nó không còn một manh giáp thì đó là Sát tặc đại sư bậc A La Hán, đó mới là chiến sĩ, dũng sĩ trong Phật giáo.
Còn bây giờ mình tu theo kiểu ngày lên 2, 3 thời là tu xong. Tự thân mình thì không thấy, tâm mình có gì mình không thấy, dục, tham sai khiến mình như thế nào mình không thấy, vô minh, bản ngã không thấy, không biết. Làm được một chút là ta đây, làm được một chút là khoe khoang, làm được một chút là vênh váo, làm được một chút là ngã mạn. Cuối cùng đời tu của mình lấy cái gì làm sự nghiệp, tu để được người ta tôn trọng ư? Tu để được người ta cung kính ư? Tu để được người ta lạy, dâng bao thư ư? Tu để được làm ông trụ trì ư? Tu để được làm ông giảng sư ư? Tu để được danh vọng, địa vị, quyền thế ư? Tất cả những điều đó chính là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu tâm mình hướng về những thứ đó là lạc đường, sai đường. Chính cái tu như vậy là sầu, bi, khổ, ưu não tăng trưởng, phát triển và tích lũy. Khi còn là một chú tiểu thì hiền lành, dễ thương, trong sáng, vô tư và ngây thơ. Thọ một giới Sa-di lên rồi thì bắt đầu nó khác, thọ giới Tỳ-kheo lên thì khác nữa, đau lòng lắm, mà lên trụ trì một cái rồi là đừng mong ai nói được cái gì nữa hết. Cuộc đời tu của mình như vậy là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hiện tiền. Tại sao vậy? Nó khuếch trương, nó bành trướng, tăng trưởng một cái bản ngã. Lòng dục, lòng tham, lòng ái càng quảng đại. Chúng ta nhìn lại một cách sâu sắc đi xem chiều hướng chung bây giờ mình tu như thế nào? Mình có lấy nhiếp phục, đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn làm mục đích tu hành không hay là mình lấy cái gì khác? Đó gọi là mạt phát, tượng pháp, Chánh pháp không còn nữa. Không có người đặt tâm vào việc nhìn thấy các lậu hoặc, nhiếp phục tham, sân, si và bản ngã thì không có Thánh đạo, không có Thánh quả, đó là lí do tại sao tượng pháp, mạt pháp. Không còn có người đặt tâm vào hướng đó, không còn có người đem hết tất cả tấm lòng chân thành, tất cả trái tim của mình để thực hành điều đó, để hướng dẫn học trò, đệ tử, Phật tử điều đó. Xót xa lắm quý huynh đệ!
Xin thưa đại chúng, thời gian không lâu nữa là con không về Sài Gòn nữa. Tại vì con thấy pháp này khó nói lắm. Con biết là ở dưới có người chống đối, có người suy nghĩ ngược lại nhưng đây là tiếng nói sau cùng của Chánh pháp. Chánh pháp bây giờ rất là khó để cho người ta chấp nhận, tại sao vậy? Tại vì tượng pháp đã tràn ngập và trong đầu người ta, những suy nghĩ của người ta đã quen với những cái này rồi. Con gióng lên tiếng chuông cuối cùng để đi đến sự kết thúc của giáo pháp. Con xin thưa quý thầy là khó, nhưng người thật sự tu sẽ rất vui mừng vì đây là con đường thật sự, là cơ hội quý báu cho những người thực sự muốn tu. Tại vì giáo pháp này sẽ phơi bày tất cả sự thật của thế gian này. Không còn bất cứ cái gì trên cuộc đời này có thể che giấu nổi trước trí tuệ ngũ uẩn. Một khi mình thường trực nhận diện, nhìn nhận ra những cảm giác nghĩ tưởng của mình thì quý huynh đệ sẽ thấy dục nó sanh khởi như thế nào, tham như thế nào, ái như thế nào, vô minh như thế nào, bản ngã như thế nào, những lậu hoặc của mình hoạt động như thế nào thì mình sẽ bất ngờ. Mình sẽ nhìn thấy chung quanh mình không có ai cả, toàn là những đống tham, sân, si, bản ngã nó hoạt động. Chỉ cần hở ra một câu nói, một hành động, một ánh nhìn thôi là nó sẵn sàng xử mình.
Ngày nay chúng ta thấy trên báo chí, tin tức hằng ngày con nghe nghe mà con rùng rợn, nổi da gà. Con giết mẹ, giết cha; vợ chồng phân xác nhau; anh em ruột giết nhau mà không phải 1 người mà là 4, 5 người chỉ vì có mấy tấc đất. Vì một cái vuốt má của người thanh niên khác với cô bạn gái của cậu trai này mà cậu này giết cậu kia chết và ở tù 18 năm, đó chỉ là một cái vuốt má giỡn thôi. Đó không phải vì dục sao, đó không phải vì tham, vì ái sao mà phải đi vào cảnh tù đày ngay trong hiện tại, và trong tương lai là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Rất rõ ràng, đó chính là Nikāya thế kỉ 21, tất cả những tin tức thời sự hằng ngày là tạng kinh Nikāya sống của thế kỉ 21 nếu mình chịu để tâm và nhìn, mình sẽ thấy một sự thật bất biến của Đức Thế tôn để lại. Mình sẽ nhìn thân tâm này, mình sẽ nhìn những người chung quanh, nhìn cuộc đời này bằng một con mắt khác, thanh tịnh pháp nhãn sẽ được thành tựu, đó là con mắt pháp sẽ được mở ra. Còn mình chưa thành tựu Chánh kiến này, mình nhìn đâu cũng thấy đẹp lắm, hấp dẫn lắm, cuộc đời này là muôn ngàn cảnh sắc, thế giới này bao la, bao nhiêu thứ đợi mình khám phá. Đó là mình nhìn bằng cái tâm của dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Một khi mình y cứ theo lời Phật dạy trong tạng Nikāya, mình thường xuyên nhìn lại thân thể này, cảm giác này, những hình bóng trong tâm – tưởng này, những suy nghĩ lầm thầm – hành này, những nhận thức rõ biết – thức này, mình sẽ thấy sâu trong đó là sự trà trộn lẫn lộn của dục, tham, ái, vô minh, sân, si và bản ngã. Chúng đầy rẫy, xuyên suốt, thường trực bất cứ mọi lúc, mọi nơi. Nó vận hành, hoạt động, xâm chiếm, áp đảo, nó làm chủ trong thân tâm mình nhưng mình không biết. Huynh đệ nghĩ đi, bây giờ mẹ con, cha con mà nói nặng chút xíu là nó đâm chết thì còn gì nữa. Thầy trò mà đi bêu xấu nhau, huynh đệ tương tàn, ích kỷ, chỉ biết danh lợi, địa vị. Gặp người có quyền thế thì mọp xuống, gặp mấy người ở dưới thì lại đạp đầu người ta “thượng đội hạ đạp”. Đó là người tu đó thì đừng nói chi là người thế gian, đau lòng lắm! Mình không nên nhìn ai hết, mình nên quay lại ngũ uẩn thân tâm của mình. Khi mình hiểu được ngũ uẩn tự thân, mình hiểu được dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã của mình thì mình sẽ hiểu hết được tất cả ngũ uẩn chung quanh y chang như vậy, không có khác. Lúc đó nó phát sanh nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt và đoạn tận dục, tham, chấp thủ đối với ngũ uẩn trong cuộc đời này. Đó là định lý của giải thoát. Nếu mình không nhìn bằng Thánh trí này thì tất cả cái nghe, cái thấy, cái tiếp xúc, cái suy nghĩ, cảm nhận, nhận biết của mình toàn là trong nghiệp thức vô minh và tham ái. Đây là điều mà con sốc toàn tập.
Phải tu, phải học, phải tu học đúng Chánh pháp, không uổng công mình bỏ cha mẹ, bỏ thân quyến. Phải có tâm nhiệt thành, tha thiết cầu học Chánh pháp. Chúng ta nhớ trong Tây Du Kí, Ngô Thừa Ân hết sức thâm sâu trong chi tiết Đường Tăng thỉnh kinh giả, đó là nói lên sự thật này. Ngô Thừa Ân đã thấy điều đó và nói trong Tây Du Kí, quý huynh đệ thấy khủng khiếp không. Những học giả, cư sĩ đã nhìn thấy từ rất là lâu. Thực sự điều này có rất nhiều vị như là Hòa thượng Minh Châu đã tuyên bố rồi nhưng mà chúng ta để qua một bên. Chúng ta không tìm hiểu, không tha thiết, chân thành, không để tấm lòng mình vào sự truy nguyên, cứu sát thật sự nghiêm túc, sâu sắc để chúng ta tu học cho có kết quả. Kết quả của chúng ta là diệt tham, sân, si; là hạ gục được bản ngã; là mở ra, nôn ra, ói ra, mửa ra, nhả ra, từ bỏ lòng dục, tham, ái đối với những thứ vô thường, biến hoại, đối với những thứ đau khổ, trống rỗng trong cuộc đời này. Đó là kết quả của chúng ta. Các thầy nhìn đi, trên 4 triệu người nhiễm dịch, chết hàng mấy trăm ngàn và nhiều hơn thế nữa, nhiều hơn con số đó. Đang đi có thể ngã xuống bất động, đang ngồi làm việc trên vi tính có thể bậc ngửa ra và qua đời, đang nói cười thì sụm xuống, tắt hơi. Tấm thân này, sắc uẩn này, cái đống da thịt, xương máu này là thứ biến hoại, tan nát, thứ trống rỗng, trống không, trống trơn. Tích tắc là kết thúc đời sống này, chớp mắt đã trở thành người thiên cổ nhưng sự vô minh, sự bám chấp mê muội của chúng ta tuy cũng nhìn thấy những cảm thọ, cảm xúc nhưng mà qua rồi thì nó khăng khăng trở lại tập khí u mê, ngã chấp. Nó điên đảo, si mê, khao khát, nó cứ chạy tìm hoài, tìm mãi, nó cứ sầu bi, ưu não tiếp diễn và lẩn quẩn trong đó không có đường ra. Không có đường nào cho nó ra hết. Đáng thương cho chúng ta, đau khổ cho chúng ta! Nhìn thấy an ổn như vậy đó nhưng đụng vô đi thì biết, lựu đạn ở bên trong, súng để ở trong đó, thuốc nổ, tất cả những chất độc được tàng trữ trong các cảm thọ, trong những suy nghĩ, trong những hình bóng nội tâm, nó chất chứa trong đó để nó làm khổ cho nhau. Chúng ta đã làm khổ cho người thân của chúng ta bao nhiêu lần vì những sân hận, những ham muốn, bản ngã, ta đây của mình.
Con xin mời đại chúng ngồi lại tư thế thiền để nghe điều này cho thấm thía. Chúng ta thực tập một chút thiền quán về tấm thân này, chúng ta thực hành ba pháp và nhìn vào trong cảm thọ của mình. Những lời này là những lời nói với chính mình để mình thức tỉnh thân tâm của chúng ta. Con xin mới đại chúng nhiếp niệm, nhìn vào cảm giác, hướng vào trong.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương
Phủ ngoài một lớp da trơn lán
Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tanh hôi với hôi tanh
Máu mủ bầy nhầy, phân, nước tiểu
Nhìn kĩ bên trong chẳng có ai.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao, nói ta, tôi.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tâm chấp ngã, hơn thua
Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu
Đốt cháy tâm can trong giận sân.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ là đống nhớp bọc bằng da
Thế mà vỗ ngực ta vầy, khác
Kẻ mạo danh nhận rác là ta.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ là đống nhớp bọc bằng da
Chẳng có ai ở trong đây cả
Hỡi tâm mê, hãy tỉnh ra mau!
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Tỉnh đi, đây – đống nhớp bọc da
Chẳng có gì gọi là ta cả
Tất cả chỉ là nhớp nhơ da.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu để ái, dục, sân
Ái, dục, sân chi thân trống rỗng
Để rồi không thoát khỏi trầm luân.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu để thích, muốn, tham
Thích, muốn, tham chi thân trống rỗng
Để cho nước mắt chảy cạn dần.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu để nóng, giận, sân
Nóng, giận, sân chi thân trống rỗng
Để cho tâm phiền não, khổ đau.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu phải khổ vậy tâm
Có gì đâu để nhốt tâm này
Trong thân xác tràn đầy hôi thối.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu để đắm tham tâm
Tâm được cái gì khi tham đắm
Cái thân trống rỗng nhớp nhơ này.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu phải khổ vậy tâm
Để lửa dục đốt thiêu tâm trí
Tâm được cái gì, vậy hỡi tâm?
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tâm lậu hoặc lang thang
Rày đây mai đó trong lang bạc
Hết giá thân này, lại thân kia.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tâm lậu hoặc tham lam
Thèm muốn mãi vẫn không thôi vướng
Để rồi rong ruổi chốn khổ đau.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tâm xảo trá trong thân
Giả dối, khoe khoang phô bản ngã
Ngụy biện quanh co, giấu lỗi lầm.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tâm dục, ái, tham, sân
Đắm đuối, chấp mê thân trống rỗng
Không tìm thấy lối để thoát ra.
Bên trong thân này là những cảm giác, những suy nghĩ và những hình bóng chập chờn, trống rỗng. Những cảm giác thúc giục, những cảm giác hơn thua, những cảm giác ganh tỵ, tật đố, ta đây, cao ngạo, khen mình chê người, dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn đã tàn phá thân tâm ta. Những cảm giác thúc giục bên trong đòi hỏi, ham muốn, khao khát, suốt cuộc đời chúng ta chạy và tìm để cung phụng cho những cảm giác đòi hỏi đó. Khi cảm giác đó đạt được rồi thì một dòng cảm thọ khác sanh khởi và đòi hỏi nữa, chúng ta lại tiếp tục đi tìm để phục dịch cho nó, cho dục. Sau khi cảm giác đó tan rồi thì một dòng cảm giác khác sanh khởi nữa, chúng ta lại tiếp tục tìm, tiếp tục khao khát, truy tầm và cả một đời sống của chúng ta là một cuộc truy tìm cảm giác, cảm thọ. Cho đến khi nào chúng ta thật sự thấy và biết về sự tập khởi của cảm thọ, sự vận hành của cảm thọ, sự chuyển biến của cảm thọ, sự chấm dứt của cảm thọ chúng ta mới có thể thoát khởi những chi phối, xâm chiếm, áp đảo và khống chế của các cảm giác dục, ái, tham, sân, si và bản ngã.
Chúng ta nhìn đi, bên ngoài phủ một lớp da trơn lán, quên hết vô vàn thứ nhớp nhơ. Đối tượng mà chúng ta yêu thích, say đắm, ngày nhớ đêm mong, nhưng chúng ta chỉ cần rạch một đường da, lột nó ra thì sự thật phơi bày. Chúng ta khiếp sợ, hoảng sợ, kinh sợ, hãi sợ trong khi trước đó chúng ta khao khát nhớ mong, tưởng mơ, thậm chí những người ngoài đời sống, chết, mất mạng cũng được để được sờ mó, vuốt ve, ôm ấp. Nhưng khi lột lớp da, lột da mặt đó ra thì sự thật phơi bày. Nó lòi ra xương sọ, máu chảy xuống, mỡ tuôn ra, đầu lâu, hộp sọ. Chúng ta hoảng hốt “Ma, quỷ”, nhưng không phải mà quỷ, mà đó là cái chúng ta ưa thích, cái mà chúng ta khao khát, ngày nhớ đêm mong. Khi chúng ta nhìn thấy được bản mặt thật sự của bộ xương này thì hỡi ôi phũ phàng!
Không những bộ xương đó, mà cả bộ xương đang ngồi đây, quý thầy nhìn lên bộ xương khô này, đây là bộ xương đang hoạt động. Bên ngoài nó phủ một lớp da trơn lán, nó có một cái giả danh là Thích Minh Thành, nó có một cái giả danh là trụ trì giáo thọ, giảng sư, pháp sư, sư phụ và chính cái giả danh đó mới là chết. Nó bị cái giả danh đó chôn sống, đi đâu cũng vênh váo nó là trụ trì, đi đâu cũng hất mặt lên nó là sư phụ, nó là giáo thọ và nếu như học trò không cung kính thì nó sân hận lên, nó bản ngã, ta đây lên và nó tiếp tục làm súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục. Đó là sự thật đó. Tỉnh đi! Ngủ để làm gì? Hãy tỉnh đi rồi sẽ được ngủ dài lắm. Dịch vô rồi là sẽ ngủ với dịch, ngủ với dịch Corona, ngủ với mấy con virut. Quý huynh đệ thấy không, phủ phàng lắm. Khi mình nhìn được điều này thì tuyệt diệu vô cùng, nó vi diệu, thần diệu, thù diệu, thắng diệu, vô số diệu, tối thượng diệu. Sự thật của thế giới này được phơi bày, chúng ta sẽ không còn bị gạt nữa dầu cho tập khí, thói quen của mình cũng còn. Tại vì cái trớn của mình đang xuống dốc, dầu cho mình bóp thắng lại nhưng nó cũng vẫn tuột. Cho nên cái trớn trong vòng luân hồi của mình còn rất mạnh, tuy mình thấy, mình hiểu như vậy nhưng không phải mình thắng được liền, nhưng mình sẽ chiến thắng.
Cho nên trong Bát chánh đạo, Chánh kiến dẫn đầu tất cả pháp và Chánh kiến giống như dòng nước của Thánh pháp, có khả năng đưa người về phía trước. Bất cứ người nào khi thành tựu Chánh kiến thì chắc chắn sẽ đi đến diệt tận các lậu hoặc trong tương lai. Điều đó chắc chắn sẽ xảy ra, không thể không xảy ra. Chính vì vậy chúng ta ở đây học Văn – Tư – Tu để chúng ta nghe Chánh pháp này hoài hoài, nhìn lại và kiểm soát hoài hoài để tuyên chiến, bắt đầu ra mặt chống đối lại dục, tham, sân, si, bản ngã. Còn lúc trước mình sống với nó, mình nhận nó là mình “Cái tánh tôi nóng lắm, đừng có nói gì hết, tôi là vậy đó, chịu thì chịu, không chịu thì thôi”. Như vậy là vô minh, phàm phu, ngu si, mê muội. Phải nhìn ra được đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhìn ra những thói quen, bây giờ mình nhìn thấy rồi “Ta thấy mi rồi nghe không, bây giờ ta đã thấy ra kẻ làm nhà rồi nghe không, hồi đó giờ ta không thấy. Mi là tên thợ vô hình ẩn mặt này, sát thủ giấu mặt này, dục, tham ở trong ngũ uẩn này, chấp thủ trong ngũ uẩn này”. Ngày hôm này bị phát giác, phát hiện, được phơi bày ra ánh sáng, lôi đầu nó ra, xử nó. “Từ hồi đó tới giờ mày làm cho tao khổ, phải không? Bữa nay tao thấy cái mặt mày rồi nghe không. Bắt đầu tao sẽ xử mày”. Xử bằng cái gì – bằng bất tịnh quán. Xử bằng cái gì – bằng 9 giai đoạn của một tử thi. Xử bằng cái gì – bằng bầy nhầy gan, ruột, phèo, phổi, ngày nào cũng quán bất tịnh hết. Mỗi lần nhìn vô gương thấy gương mặt của mình là cái đầu lâu để nó phá đi cái thân kiến – kiến chấp về thân, phá đi sự ám ảnh trong nội tâm là một cái tôi tự ngã, một cái ta đây. Phá cái thân kiến đó bằng bất tịnh quán, phá cái sắc uẩn, thực hành Thân hành niệm.
Con thưa với đại chúng, cái này khó chứ không phải dễ nhưng mình thực hành được rồi mình sẽ thấy một cái hạnh phúc không có gì có thể sánh được ở trên đời. Đây mới là sự nghiệp vĩ đại của người xuất gia. Tại vì đối với tự thân mà mình đã phá được sự thấy biết sai lầm về thân kiến thì đối với chùa chiềng, bổn đạo, đối với tài sản bên ngoài chẳng là gì cả. Tới lúc đó tâm mình mới được nhẹ nhàng, tự do. Còn bây giờ cái gì mình cũng thấy tôi, của tôi, tự ngã của tôi hết thì người ta chạm một cái nhẹ là ôi thôi nước mắt đầy mặt, đấm ngực, té xỉu, ngất xỉu, từ chết cho đến bị thương. Vừa rồi khi Minh Thành độc cư nghe tin thầy trụ trì bị người ta đập đầu chết ngoài miền Trung, và ở thành phố mình của có một thầy trụ trì đột quỵ chết. Ở Nha Trang khi Minh Thành ra giảng pháp vào năm rồi, có một thầy ở một chùa ngay chân núi, đất bị sạt xuống, nát cái chùa, nó cuốn ông thầy đi và chết luôn. Nhiều lắm! Đừng tưởng con quỷ vô thường nó sợ chức trụ trì, đừng tưởng cạo đầu, đắp y lên rồi là có thể chặn đứng được tam đồ ác đạo. Không có đâu, coi chừng nó dễ hơn cả người thường. Khủng khiếp lắm, cẩn thận!
Bây giờ với một cái tâm đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã của mình rồi bất thình lình bị xe đụng thì sẽ đi đâu là không thể biết được. Do đó khi ngồi thiền mình quán chiếu bất thình lình mình bị nhiễm dịch, mình bị tai nạn giao thông, mình bị đột quỵ hoặc mình nằm một chỗ, hoặc mình chết thì lúc đó tâm thức của mình như thế nào? Khủng khiếp lắm! Đây là niệm tử ở trong Thập niệm, là pháp thường trực trong tạng kinh Nikāya, đây là pháp tu thường trực hằng ngày của chư Tỳ-kheo trong thời Đức Phật. Nhưng cái này mình ít khi nào nghĩ tới, nhiều khi mình nói “Thầy nói gì thấy ghê quá vậy thầy ơi. Còn khỏe đây mà thầy nói gì thấy ghê quá vậy”. Nhưng mình phải quán như vậy để tâm mình nó nhả ra. Và khi mình quán thường thường như vậy thì những chuyện nhỏ nhỏ đến với mình thì nó nhẹ tênh, khỏe re, không có gì hết. Mình phá được cái này thì mình mới phá được tham, ái, chấp thủ đối với thân thể này, đời sống này, đối với vật chất này như vậy mình tu mới được chấm dứt luân hồi sanh tử, đó là giải thoát. Nhưng cái miệng thì nói một chữ giải thoát chà bá lửa mà trong này “Có không, đưa để cúng, cất trước”, đó chính là nói sự thật bây giờ, như vậy thì cái giải thoát, cái giác ngộ đó treo lên để làm gì? Đó chỉ là hình thức, mình phải thật sự mong cầu giải thoát. Mình đừng có gạt người ta, gạt chính mình, gạt cha mẹ, người thân của mình, mình nói mình đi tu, từ bỏ hết để giải thoát, để cứu độ mẹ cha, ông bà, cửu huyền thất tổ mà vô tu mình tham hơn, dồn chất chứa vô nhiều hơn lúc mình chưa tu nữa. Mình đang làm cái gì vậy, mình nhìn kĩ thì đau lòng lắm, đau lòng cho chính mình. Mình phải phản tỉnh trong những giờ ngồi thiền, phải đem ra xử lí mình “Mày cạo đầu vô chùa để làm cái gì, mày nói như vậy, làm như vậy thì có phải người tu hay không? Hay mày là kẻ lừa đảo, xảo trá”. Giờ ngồi thiền mình phải lôi ra mình xử tất cả thân hành, khẩu hành, ý hành của mình, mình kiểm toán, kiểm tra, kiểm kê, kiểm điểm. Mình phải thay đổi, làm một người tu đàng hoàng, nếu chưa được Tu đà hoàn, thì phải là một người tu đàng hoàng chứ không phải là kẻ dối trá, lừa đảo.
Khi nhìn đúng thân tâm mình rồi thì đi đâu mình cũng cúi cúi xuống xấu hổ hết, khi đó pháp tàm quý nó sanh khởi. Con xin thưa đại chúng, từ nhục nhã đưa đến Thánh quả. Nếu một người không có tàm quý thì không bao giờ người đó tu thành tựu hết. Phải tàm quý trước cái dục của mình: phá trai, phạm giới, ăn mặn, uống rượi, trai gái,.. nhưng mà hất cái mặt lên thì nguy hiểm lắm, tai họa lắm. Rớt tấm y này xuống là lò lửa, chảo dầu, nước đồng sôi. Đọc chương Tương ưng lợi đắc, cung kính và Tương ưng địa ngục trong Tương Ưng Bộ Kinh khủng khiếp lắm. Ngài Ma Ha Ca Diếp nói “Nếu một người không có lo sợ, người đó không đạt đến Niết-bàn.” Nếu một người không xấu hổ, không sợ hãi, không tàm quý thì người này không thể nào thành tựu được giới hạnh thiền định trí tuệ. Có xấu hổ, có nhục nhã, có tàm quý mới đi tới chỗ điều chỉnh và lần lần đi tới chỗ thanh tịnh. Còn chúng ta nhìn lại bản thân mình xem, phạm đầy đầu đầy cổ hết, ngay cả những giới căn bản, đừng nói những giới nhỏ nhặt thì đời tu chúng ta còn cái gì.
Thành ra quý huynh đệ mình hãy suy xét cho thật kĩ, đây là những lời tâm huyết bằng tình huynh đệ mà Minh Thành chia sẻ, nếu có điều gì các thầy không vui lòng thì con xin sám hối.
./.
-THÍCH MINH THÀNH-
Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân.
Lời đầu tiên con xin vấn an sức khỏe của quý thầy. Xin phép quý thầy con được xưng là con. Con xin thưa đại chúng, trong thời gian gần 8 tháng vừa qua, con có những chuyển biến rất là lớn ở trong sự tu học. Đặc biệt là học kì đại chúng thấy con vắng mặt, con khám phá ra được những lời dạy gốc của Đức Phật và con chấn động, sốc, một cơn sốc khủng khiếp. Lần này trở lại con muốn tặng món quà nếu như có đủ duyên sẽ đi hết khóa này với huynh đệ. Tiếp theo là trận đại dịch, con có thêm thời gian nhiều để độc cư, rất là bất ngờ, không thể ngờ được là chúng ta hiểu lầm về những lời Phật dạy rất là nhiều, cho nên sự tu học của chúng ta không có được kết quả bao nhiêu.
Con sẽ trình bày với đại chúng biểu đồ 2500 năm của Phật giáo được ngài Ấn Thuận đạo sư đúc kết lại. Gần 3000 năm lịch sử của Phật giáo nằm trong một tấm giấy gần bằng một cái bàn, nhưng thời kì Chánh pháp chỉ có một chút xíu, một ô nhỏ thôi. Chánh pháp của Đức Phật chỉ có 500 năm, sau 500 năm đó tất cả những tác phẩm đều là của người sau. Đó được gọi là tượng pháp. Quý huynh đệ phải nắm thật là vững về phương diện lịch sử, về phương diện nghiên cứu và về phương diện tu học nếu không tất cả sự tu hành của mình mãi là lợi ích nhỏ bé, không bao giờ uống nước tận nguồn để thấy được chân giá trị của Chánh pháp. Con nhắc lại, tất cả những tác phẩm sau 500 năm Đức Phật nhập diệt đều là những tác phẩm của người sau, chỉ có tạng kinh Nikāya là chính xác những lời Đức Phật dạy. Tạng kinh Nikāya có 5 bộ thì 4 bộ đầu mới là chánh thống, còn Tiểu Bộ Kinh là sau này thành lập. Ngay cả trong tạng Nikāya mà vẫn có pha tạp, đây là điều làm cho con hết sức xót xa, tất cả sự tu học của chúng ta hiện nay là tu học theo tượng pháp. Tượng là mường tượng, giông giống không phải chánh, chính vì vậy nó không có các Thánh vị, Thánh quả. Như vậy Chánh pháp nói cái gì, chỗ này là chỗ quan trọng. Toàn bộ giáo pháp của tạng Nikāya là nói điều gì? Đây là một mật mã của Tam Tạng, có thể mình tu suốt cuộc đời mình không biết được vì mình học tượng pháp.
Trong bài kinh Tượng pháp, Đức Phật nói “Này Ananda, khi vàng giả xuất hiện thì vàng thật biến mất”, vàng giả là tượng pháp. Nếu chúng ta không thành tựu thâm sâu trong sự nghiên cứu như quý huynh đệ thấy ở phương Tây, người ta nghiên cứu kinh Nikāya, Pāli tạng. Những người phương Tây xuất gia, thì phần nhiều họ xuất gia ở Phật giáo nguyên thủy. Vấn đề ở đây không phải trên tông phái, trên hình thức, ngay cả Phật giáo nguyên thủy bây giờ, trong đây sẽ có các vị tu nguyên thủy lại chú trọng vào vi diệu pháp cũng là những tác phẩm sau này. Con đã đi 8 trường thiền ở Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện và Myanmar là chỗ các vị Tam Tạng pháp sư có mặt duy nhất trên thế giới này. Nhưng ở Myanmar bây giờ chú trọng vào vi diệu pháp, họ cho kinh tạng là thứ yếu, khủng khiếp như vậy. Tại sao Chánh pháp không được tôn trọng, bị người ta xem thường? Tại vì khi tượng pháp xuất hiện thì tượng pháp nói Chánh pháp là tiểu thừa, tôi đây – tượng pháp mới là ngon, và bàn bạc tượng pháp trong tất cả các kinh điển sau này, đánh đổ giáo lý chính thống của Đức Phật. Con là một trong những người tiếp nhận tư tưởng đó và học 28 năm, tất cả tư tưởng Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Niết-bàn, Lăng Già con đều có thể cầm bộ kinh đó lên giảng được, con đã dạy cao đẳng, dạy Thủ Lăng Nghiêm. Khi tượng pháp xuất hiện thì mạt sát Chánh pháp. Những người hậu học làm sao biết được, tin tưởng vô mấy cái sách vở này rồi xem thường Chánh pháp và Chánh pháp từ từ bị mai một. Bây giờ mình không nói chuyện này nhiều, đó là báo cáo kết quả 30 năm nghiên cứu, tu học, tầm cầu giáo pháp trên toàn thế giới.
Bây giờ mình vô vấn đề Chánh pháp nói cái gì, đây là chỗ sốc toàn tập. Con xin thưa đại chúng, nếu mình không hành trì thì cái sốc của mình ở ngoài da, trên miệng thôi, nếu mà hành trì thì nó sốc vô tim, gan, xương, tủy. Con đã trình bày với đại chúng 10 buổi về Thánh trí ngũ uẩn, không biết các huynh đệ có ai còn nhớ không hay đã quên hết rồi. Phải nhìn thấy được thân tâm của chính mình, nếu không nhìn thấy một cách chính xác, chân chánh, xác đáng, sâu sắc, đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh của tự thân thì người đó ở ngoài cửa chứ chưa nhập môn. Dầu cho mình có cạo đầu ở trong chùa suốt đời thì mình vẫn là một người không có phần trong Phật pháp, đó chỉ là những phước thiện của kẻ phàm phu. Cho nên đầu tiên mình nghe cái từ thì mình thấy nó rất là bình dị, từ đó mình không có hiểu chính xác, nhưng khi mình hiểu chính xác rồi mình sẽ bất ngờ. Cửa thứ nhất đó phải đi vào mới là đệ tử Phật. Đại chúng có biết cánh cửa thứ nhất đó là gì không, đây là Thánh quả thứ nhất của Tu đà hoàn. Một người thành tựu Chánh kiến đầy đủ là Thánh quả thứ nhất – Đắc pháp nhãn tịnh, minh kiến, minh nhãn, bậc đã thấy, đã biết thân tâm của mình. Thấy và biết cái gì?
Đây không phải là kiến thức đọc suông ở trong bài kinh mình tụng mà đây là trí tuệ của bậc Thánh. Mình phải nhìn ra được thân thể này cấu tạo bằng cái gì, trong tâm thức mình gồm có những cái gì? Những cảm giác, những hình bóng nội tâm, những suy nghĩ lầm thầm, sự rõ biết, mình phải nhìn cho ra được ngũ uẩn đang có mặt, đang vận động, vận hành. Mình phải thấy và biết, đó là bước căn bản nhất, nếu không thấy cái này để phá quan niệm về chấp ngã, về cái tôi, một cái tôi nguyên thể, nguyên khối thì vĩnh viễn là phàm phu. Dầu cho có chức vụ, địa vị gì cũng là phàm phu hết nếu không thấy được ngũ uẩn. Đó là cửa thứ nhất. Tại sao vậy? Nếu mình không thấy ngũ uẩn và mình chấp nhận có một tự ngã, mình càng làm thì tự ngã càng tăng trưởng, mình càng học thì tri thức của mình càng chồng chất, ngã kiến và vô minh. Mình càng tu thì vun bồi cho thân kiến chấp ngã tại vì không thấy năm uẩn. Cho nên trong suốt thời gian con cùng với các thầy chia sẻ trước khi con nhập thất là thời gian con cho quý thầy thực tập nhìn nhận ngũ uẩn, đó là bước đầu tiên của Chánh kiến.
Xin thưa đại chúng, con 28 năm học các tông phái ở tất cả mọi nơi mà con không có biết ngũ uẩn. Cho nên bản ngã của con vẫn chình ình, to lớn mà mình không biết. Cứ tưởng đâu tu như vậy cũng đỡ lắm rồi, so với người ta mình tu hơn, khi vào thất rồi thì khủng khiếp, nhục nhã, xấu hổ, nước mắt đầm đìa. Thấy sự tu hành của mình trong suốt thời gian qua là tu trong vô minh, tu trong bản ngã. Con thưa đại chúng là con đi lạy từng người đệ tử, đệ tử cư sĩ, đệ tử xuất gia con lạy hết, sám hối. Một số người nói con tu chắc có vấn đề, không sao hết, người ta chưa hiểu. Khi mình nhìn ra được thực sự thì mình thấy khủng khiếp lắm. Bây giờ mình nói tổng quát. Khi mình nhìn thấy được những cảm giác nghĩ tưởng, những nhận thức, rõ biết, mình thấy rõ nó gồm năm nhóm, không còn là một thứ nữa. Lúc trước mình nhìn nó là nguyên khối tưởng, một cái tôi, một cái tự ngã trọn vẹn. Bây giờ mình tách nó ra làm năm phần thì các pháp sẽ hiển hiện một cách đầy đủ, rõ ràng ở trong thân, tâm của mình. Những cảm giác của dục, tham, ái sanh khởi mình thấy, mình biết. Những cảm giác của sân sanh khởi trong một cái nhỏ xíu động chuyển trên lồng ngực thì mình thấy, mình biết. Những cảm giác của bản ngã, ta đây sanh khởi lên bằng trí tuệ của ngũ uẩn mình thấy, mình biết. Đầu tiên là bốn Thánh về ngũ uẩn. Thứ hai mới là chỗ tối yếu, nếu không thấy được cái này thì cả đời tu của mình uổng tương chao. Tại vì sâu xa trong những cảm giác nghĩ tưởng và nhận thức của chúng ta là một cái tâm cấu nhiễm lậu hoặc, đó là bốn Thánh trí về lậu hoặc. Khi phát hiện những cái này là con bàng hoàng, ngỡ ngàng, không thể ngờ được mình tu bạc cái đầu mà tới bây giờ mình mới thấy thật sự tham là cái gì, dục là cái gì. Còn lúc trước cái thấy của mình về tham, dục, là phạm giới này kia thì đó là cái thấy của phàm phu, không tu cũng biết. Còn cái thấy này là thấy sự sanh khởi của nó trong cảm thọ, trong cái tưởng, trong cái hành. Nó bắt đầu mống khởi trong này, những hình bóng mờ mờ hiện lên là mình nhìn thấy, những cảm giác nó động chuyển trong cơ thể là mình nhìn thấy chứ nó chưa có nói ra miệng, nó chưa động tay, động chân, mà trong cảm giác thúc giục là mình thấy. Đó là mình thấy được tâm lậu hoặc.
Đức Phật dưới cội bồ đề đã chứng bốn Thánh trí về ngũ uẩn, chứng bốn Thánh trí về lậu hoặc. Cho nên nếu không thấy ngũ uẩn là không thấy lậu hoặc, mà không thấy, không biết lậu hoặc thì không thể nào nhiếp phục và đoạn tận lậu hoặc. Mà không nhiếp phục, không đoạn tận lậu hoặc thì làm sao đi đến lậu tận. Cho nên đây là mật mã của Chánh pháp, tinh hoa của Nikāya, con mắt trí tuệ của Tam bảo. Khi mình nhìn ra được tâm lậu hoặc thì khủng khiếp lắm quý thầy ơi! Một cái tâm thối tha, xấu xa, nhớp nhớ, một cái tâm đầy dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, một cái tâm đầy ganh tỵ, đố kị, hơn thua, một cái tâm khủng khiếp, mình không thể ngờ trong tâm mình lại dơ bẩn như vậy. Đó chính là cái tâm lậu hoặc, tại sao là lậu hoặc. Có biết người ta đi hàng lậu không, cũng vậy cái tâm đó nó qua mặt mình, nó luồn lách, nó che đậy, nó gian trá, xảo ngụy. Nó chính là những con yêu tinh ở trong Tây Du Kí, con mắt thường không nhìn ra được, phải bằng Thánh trí ngũ uẩn và Thánh trí lậu hoặc mới nhìn ra được. Chính cái tâm đó nó gạt mình. Mình đâu có muốn đi theo con đường tham dục, mình tu mà, nhưng nó vẫn thỏ thẻ thì thầm những lời ngon tiếng ngọt, bao nhiêu lí lẽ ngụy biện và cuối cùng mình đi vào những lối tẻ, những con đường mà mình không muốn đi. Đó là tâm lậu hoặc. Mình đầu tròn áo vuông, mình đâu có muốn sân hận, đâu có muốn xăn tay áo, đâu có muốn trừng trợn mắt nhưng mình chiến thắng nó nổi không? Nó sanh khởi lên mình có nhìn thấy và nhiếp phục, diệt tận nó không hay là nó quật ngã mình, nó đè đầu cởi cổ mình, mình làm nô lệ cho dục, làm tôi đòi cho dục, mình cung phụng, phục vụ cho nó, mình làm đầy tớ cho dục. Dục ở đây không phải riêng nam nữ mà có rất nhiều thứ dục.
Trong khi mình ăn, nếu mình quán chiếu năm uẩn thì mình sẽ thấy bên trong có một cảm giác thúc giục. Trong khi mình uống, nếu mình chánh niệm tỉnh giác nhận diện ngũ uẩn thì sẽ có một sự ừng ực, ừng ực, khát quá rồi, uống cho nó nhanh, cho nó đã. Trong khi mình tắm, mình vô mình xối ào ào, thì cái xối đó là trạng thái của dục, nó được một cảm giác khoan khoái, thích thú. Khiếp lắm! Khi nhìn ra rồi thì thấy tất cả đời sống của mình được vận hành trên cái nền tảng của dục, tham, ái. Một khi mình phát giác, phát hiện được thì sẽ có những phương pháp nhiếp phục nó. Mình đánh gục nó, phá sập được cái tham, ái này xuống rồi thì một đời sống tương lai không có thanh lọc nữa, sanh tử luân hồi mới chấm dứt. Ngày nào trong lòng mình còn nuôi dưỡng những cái dục, tham, ái, yêu thích, khao khát, thèm muốn đó thì còn tiếp diễn dài dài những thân máu mủ, xương, da. Cho nên giáo pháp chánh thống của Đức Phật là nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn. Tất cả những hình sắc, những cảm giác nghĩ tưởng, nhận thức đều được Thánh trí của ngũ uẩn nó soi chiếu vô và nó có sức công phá lớn. 37 phẩm trợ đạo là nòng súng đại bác, những vũ khí tối tân, tối thượng. Dùng Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực đánh sập hết tất cả những dục, tham, ái đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sự tu của mình là một công trình phát giác, phát hiện ra những cảm giác nghĩ tưởng về dục, về tham, về ái. Từ đó nhiếp phục, đoạn tận, đánh sập, đánh vỡ, đánh tan, đánh nát, đánh nó không còn một manh giáp thì đó là Sát tặc đại sư bậc A La Hán, đó mới là chiến sĩ, dũng sĩ trong Phật giáo.
Còn bây giờ mình tu theo kiểu ngày lên 2, 3 thời là tu xong. Tự thân mình thì không thấy, tâm mình có gì mình không thấy, dục, tham sai khiến mình như thế nào mình không thấy, vô minh, bản ngã không thấy, không biết. Làm được một chút là ta đây, làm được một chút là khoe khoang, làm được một chút là vênh váo, làm được một chút là ngã mạn. Cuối cùng đời tu của mình lấy cái gì làm sự nghiệp, tu để được người ta tôn trọng ư? Tu để được người ta cung kính ư? Tu để được người ta lạy, dâng bao thư ư? Tu để được làm ông trụ trì ư? Tu để được làm ông giảng sư ư? Tu để được danh vọng, địa vị, quyền thế ư? Tất cả những điều đó chính là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu tâm mình hướng về những thứ đó là lạc đường, sai đường. Chính cái tu như vậy là sầu, bi, khổ, ưu não tăng trưởng, phát triển và tích lũy. Khi còn là một chú tiểu thì hiền lành, dễ thương, trong sáng, vô tư và ngây thơ. Thọ một giới Sa-di lên rồi thì bắt đầu nó khác, thọ giới Tỳ-kheo lên thì khác nữa, đau lòng lắm, mà lên trụ trì một cái rồi là đừng mong ai nói được cái gì nữa hết. Cuộc đời tu của mình như vậy là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hiện tiền. Tại sao vậy? Nó khuếch trương, nó bành trướng, tăng trưởng một cái bản ngã. Lòng dục, lòng tham, lòng ái càng quảng đại. Chúng ta nhìn lại một cách sâu sắc đi xem chiều hướng chung bây giờ mình tu như thế nào? Mình có lấy nhiếp phục, đoạn tận dục và tham đối với ngũ uẩn làm mục đích tu hành không hay là mình lấy cái gì khác? Đó gọi là mạt phát, tượng pháp, Chánh pháp không còn nữa. Không có người đặt tâm vào việc nhìn thấy các lậu hoặc, nhiếp phục tham, sân, si và bản ngã thì không có Thánh đạo, không có Thánh quả, đó là lí do tại sao tượng pháp, mạt pháp. Không còn có người đặt tâm vào hướng đó, không còn có người đem hết tất cả tấm lòng chân thành, tất cả trái tim của mình để thực hành điều đó, để hướng dẫn học trò, đệ tử, Phật tử điều đó. Xót xa lắm quý huynh đệ!
Xin thưa đại chúng, thời gian không lâu nữa là con không về Sài Gòn nữa. Tại vì con thấy pháp này khó nói lắm. Con biết là ở dưới có người chống đối, có người suy nghĩ ngược lại nhưng đây là tiếng nói sau cùng của Chánh pháp. Chánh pháp bây giờ rất là khó để cho người ta chấp nhận, tại sao vậy? Tại vì tượng pháp đã tràn ngập và trong đầu người ta, những suy nghĩ của người ta đã quen với những cái này rồi. Con gióng lên tiếng chuông cuối cùng để đi đến sự kết thúc của giáo pháp. Con xin thưa quý thầy là khó, nhưng người thật sự tu sẽ rất vui mừng vì đây là con đường thật sự, là cơ hội quý báu cho những người thực sự muốn tu. Tại vì giáo pháp này sẽ phơi bày tất cả sự thật của thế gian này. Không còn bất cứ cái gì trên cuộc đời này có thể che giấu nổi trước trí tuệ ngũ uẩn. Một khi mình thường trực nhận diện, nhìn nhận ra những cảm giác nghĩ tưởng của mình thì quý huynh đệ sẽ thấy dục nó sanh khởi như thế nào, tham như thế nào, ái như thế nào, vô minh như thế nào, bản ngã như thế nào, những lậu hoặc của mình hoạt động như thế nào thì mình sẽ bất ngờ. Mình sẽ nhìn thấy chung quanh mình không có ai cả, toàn là những đống tham, sân, si, bản ngã nó hoạt động. Chỉ cần hở ra một câu nói, một hành động, một ánh nhìn thôi là nó sẵn sàng xử mình.
Ngày nay chúng ta thấy trên báo chí, tin tức hằng ngày con nghe nghe mà con rùng rợn, nổi da gà. Con giết mẹ, giết cha; vợ chồng phân xác nhau; anh em ruột giết nhau mà không phải 1 người mà là 4, 5 người chỉ vì có mấy tấc đất. Vì một cái vuốt má của người thanh niên khác với cô bạn gái của cậu trai này mà cậu này giết cậu kia chết và ở tù 18 năm, đó chỉ là một cái vuốt má giỡn thôi. Đó không phải vì dục sao, đó không phải vì tham, vì ái sao mà phải đi vào cảnh tù đày ngay trong hiện tại, và trong tương lai là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Rất rõ ràng, đó chính là Nikāya thế kỉ 21, tất cả những tin tức thời sự hằng ngày là tạng kinh Nikāya sống của thế kỉ 21 nếu mình chịu để tâm và nhìn, mình sẽ thấy một sự thật bất biến của Đức Thế tôn để lại. Mình sẽ nhìn thân tâm này, mình sẽ nhìn những người chung quanh, nhìn cuộc đời này bằng một con mắt khác, thanh tịnh pháp nhãn sẽ được thành tựu, đó là con mắt pháp sẽ được mở ra. Còn mình chưa thành tựu Chánh kiến này, mình nhìn đâu cũng thấy đẹp lắm, hấp dẫn lắm, cuộc đời này là muôn ngàn cảnh sắc, thế giới này bao la, bao nhiêu thứ đợi mình khám phá. Đó là mình nhìn bằng cái tâm của dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Một khi mình y cứ theo lời Phật dạy trong tạng Nikāya, mình thường xuyên nhìn lại thân thể này, cảm giác này, những hình bóng trong tâm – tưởng này, những suy nghĩ lầm thầm – hành này, những nhận thức rõ biết – thức này, mình sẽ thấy sâu trong đó là sự trà trộn lẫn lộn của dục, tham, ái, vô minh, sân, si và bản ngã. Chúng đầy rẫy, xuyên suốt, thường trực bất cứ mọi lúc, mọi nơi. Nó vận hành, hoạt động, xâm chiếm, áp đảo, nó làm chủ trong thân tâm mình nhưng mình không biết. Huynh đệ nghĩ đi, bây giờ mẹ con, cha con mà nói nặng chút xíu là nó đâm chết thì còn gì nữa. Thầy trò mà đi bêu xấu nhau, huynh đệ tương tàn, ích kỷ, chỉ biết danh lợi, địa vị. Gặp người có quyền thế thì mọp xuống, gặp mấy người ở dưới thì lại đạp đầu người ta “thượng đội hạ đạp”. Đó là người tu đó thì đừng nói chi là người thế gian, đau lòng lắm! Mình không nên nhìn ai hết, mình nên quay lại ngũ uẩn thân tâm của mình. Khi mình hiểu được ngũ uẩn tự thân, mình hiểu được dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã của mình thì mình sẽ hiểu hết được tất cả ngũ uẩn chung quanh y chang như vậy, không có khác. Lúc đó nó phát sanh nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt và đoạn tận dục, tham, chấp thủ đối với ngũ uẩn trong cuộc đời này. Đó là định lý của giải thoát. Nếu mình không nhìn bằng Thánh trí này thì tất cả cái nghe, cái thấy, cái tiếp xúc, cái suy nghĩ, cảm nhận, nhận biết của mình toàn là trong nghiệp thức vô minh và tham ái. Đây là điều mà con sốc toàn tập.
Phải tu, phải học, phải tu học đúng Chánh pháp, không uổng công mình bỏ cha mẹ, bỏ thân quyến. Phải có tâm nhiệt thành, tha thiết cầu học Chánh pháp. Chúng ta nhớ trong Tây Du Kí, Ngô Thừa Ân hết sức thâm sâu trong chi tiết Đường Tăng thỉnh kinh giả, đó là nói lên sự thật này. Ngô Thừa Ân đã thấy điều đó và nói trong Tây Du Kí, quý huynh đệ thấy khủng khiếp không. Những học giả, cư sĩ đã nhìn thấy từ rất là lâu. Thực sự điều này có rất nhiều vị như là Hòa thượng Minh Châu đã tuyên bố rồi nhưng mà chúng ta để qua một bên. Chúng ta không tìm hiểu, không tha thiết, chân thành, không để tấm lòng mình vào sự truy nguyên, cứu sát thật sự nghiêm túc, sâu sắc để chúng ta tu học cho có kết quả. Kết quả của chúng ta là diệt tham, sân, si; là hạ gục được bản ngã; là mở ra, nôn ra, ói ra, mửa ra, nhả ra, từ bỏ lòng dục, tham, ái đối với những thứ vô thường, biến hoại, đối với những thứ đau khổ, trống rỗng trong cuộc đời này. Đó là kết quả của chúng ta. Các thầy nhìn đi, trên 4 triệu người nhiễm dịch, chết hàng mấy trăm ngàn và nhiều hơn thế nữa, nhiều hơn con số đó. Đang đi có thể ngã xuống bất động, đang ngồi làm việc trên vi tính có thể bậc ngửa ra và qua đời, đang nói cười thì sụm xuống, tắt hơi. Tấm thân này, sắc uẩn này, cái đống da thịt, xương máu này là thứ biến hoại, tan nát, thứ trống rỗng, trống không, trống trơn. Tích tắc là kết thúc đời sống này, chớp mắt đã trở thành người thiên cổ nhưng sự vô minh, sự bám chấp mê muội của chúng ta tuy cũng nhìn thấy những cảm thọ, cảm xúc nhưng mà qua rồi thì nó khăng khăng trở lại tập khí u mê, ngã chấp. Nó điên đảo, si mê, khao khát, nó cứ chạy tìm hoài, tìm mãi, nó cứ sầu bi, ưu não tiếp diễn và lẩn quẩn trong đó không có đường ra. Không có đường nào cho nó ra hết. Đáng thương cho chúng ta, đau khổ cho chúng ta! Nhìn thấy an ổn như vậy đó nhưng đụng vô đi thì biết, lựu đạn ở bên trong, súng để ở trong đó, thuốc nổ, tất cả những chất độc được tàng trữ trong các cảm thọ, trong những suy nghĩ, trong những hình bóng nội tâm, nó chất chứa trong đó để nó làm khổ cho nhau. Chúng ta đã làm khổ cho người thân của chúng ta bao nhiêu lần vì những sân hận, những ham muốn, bản ngã, ta đây của mình.
Con xin mời đại chúng ngồi lại tư thế thiền để nghe điều này cho thấm thía. Chúng ta thực tập một chút thiền quán về tấm thân này, chúng ta thực hành ba pháp và nhìn vào trong cảm thọ của mình. Những lời này là những lời nói với chính mình để mình thức tỉnh thân tâm của chúng ta. Con xin mới đại chúng nhiếp niệm, nhìn vào cảm giác, hướng vào trong.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương
Phủ ngoài một lớp da trơn lán
Che hết vô vàn thứ nhớp nhơ.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tanh hôi với hôi tanh
Máu mủ bầy nhầy, phân, nước tiểu
Nhìn kĩ bên trong chẳng có ai.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Thế mà vỗ ngực nói ta đây
Như một bao rác đầy hôi thối
Lại vỗ vào bao, nói ta, tôi.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tâm chấp ngã, hơn thua
Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu
Đốt cháy tâm can trong giận sân.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ là đống nhớp bọc bằng da
Thế mà vỗ ngực ta vầy, khác
Kẻ mạo danh nhận rác là ta.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ là đống nhớp bọc bằng da
Chẳng có ai ở trong đây cả
Hỡi tâm mê, hãy tỉnh ra mau!
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Tỉnh đi, đây – đống nhớp bọc da
Chẳng có gì gọi là ta cả
Tất cả chỉ là nhớp nhơ da.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu để ái, dục, sân
Ái, dục, sân chi thân trống rỗng
Để rồi không thoát khỏi trầm luân.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu để thích, muốn, tham
Thích, muốn, tham chi thân trống rỗng
Để cho nước mắt chảy cạn dần.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu để nóng, giận, sân
Nóng, giận, sân chi thân trống rỗng
Để cho tâm phiền não, khổ đau.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu phải khổ vậy tâm
Có gì đâu để nhốt tâm này
Trong thân xác tràn đầy hôi thối.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu để đắm tham tâm
Tâm được cái gì khi tham đắm
Cái thân trống rỗng nhớp nhơ này.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Có gì đâu phải khổ vậy tâm
Để lửa dục đốt thiêu tâm trí
Tâm được cái gì, vậy hỡi tâm?
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tâm lậu hoặc lang thang
Rày đây mai đó trong lang bạc
Hết giá thân này, lại thân kia.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tâm lậu hoặc tham lam
Thèm muốn mãi vẫn không thôi vướng
Để rồi rong ruổi chốn khổ đau.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tâm xảo trá trong thân
Giả dối, khoe khoang phô bản ngã
Ngụy biện quanh co, giấu lỗi lầm.
Thân trống rỗng, không ai trong đó
Chỉ có tâm dục, ái, tham, sân
Đắm đuối, chấp mê thân trống rỗng
Không tìm thấy lối để thoát ra.
Bên trong thân này là những cảm giác, những suy nghĩ và những hình bóng chập chờn, trống rỗng. Những cảm giác thúc giục, những cảm giác hơn thua, những cảm giác ganh tỵ, tật đố, ta đây, cao ngạo, khen mình chê người, dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn đã tàn phá thân tâm ta. Những cảm giác thúc giục bên trong đòi hỏi, ham muốn, khao khát, suốt cuộc đời chúng ta chạy và tìm để cung phụng cho những cảm giác đòi hỏi đó. Khi cảm giác đó đạt được rồi thì một dòng cảm thọ khác sanh khởi và đòi hỏi nữa, chúng ta lại tiếp tục đi tìm để phục dịch cho nó, cho dục. Sau khi cảm giác đó tan rồi thì một dòng cảm giác khác sanh khởi nữa, chúng ta lại tiếp tục tìm, tiếp tục khao khát, truy tầm và cả một đời sống của chúng ta là một cuộc truy tìm cảm giác, cảm thọ. Cho đến khi nào chúng ta thật sự thấy và biết về sự tập khởi của cảm thọ, sự vận hành của cảm thọ, sự chuyển biến của cảm thọ, sự chấm dứt của cảm thọ chúng ta mới có thể thoát khởi những chi phối, xâm chiếm, áp đảo và khống chế của các cảm giác dục, ái, tham, sân, si và bản ngã.
Chúng ta nhìn đi, bên ngoài phủ một lớp da trơn lán, quên hết vô vàn thứ nhớp nhơ. Đối tượng mà chúng ta yêu thích, say đắm, ngày nhớ đêm mong, nhưng chúng ta chỉ cần rạch một đường da, lột nó ra thì sự thật phơi bày. Chúng ta khiếp sợ, hoảng sợ, kinh sợ, hãi sợ trong khi trước đó chúng ta khao khát nhớ mong, tưởng mơ, thậm chí những người ngoài đời sống, chết, mất mạng cũng được để được sờ mó, vuốt ve, ôm ấp. Nhưng khi lột lớp da, lột da mặt đó ra thì sự thật phơi bày. Nó lòi ra xương sọ, máu chảy xuống, mỡ tuôn ra, đầu lâu, hộp sọ. Chúng ta hoảng hốt “Ma, quỷ”, nhưng không phải mà quỷ, mà đó là cái chúng ta ưa thích, cái mà chúng ta khao khát, ngày nhớ đêm mong. Khi chúng ta nhìn thấy được bản mặt thật sự của bộ xương này thì hỡi ôi phũ phàng!
Không những bộ xương đó, mà cả bộ xương đang ngồi đây, quý thầy nhìn lên bộ xương khô này, đây là bộ xương đang hoạt động. Bên ngoài nó phủ một lớp da trơn lán, nó có một cái giả danh là Thích Minh Thành, nó có một cái giả danh là trụ trì giáo thọ, giảng sư, pháp sư, sư phụ và chính cái giả danh đó mới là chết. Nó bị cái giả danh đó chôn sống, đi đâu cũng vênh váo nó là trụ trì, đi đâu cũng hất mặt lên nó là sư phụ, nó là giáo thọ và nếu như học trò không cung kính thì nó sân hận lên, nó bản ngã, ta đây lên và nó tiếp tục làm súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục. Đó là sự thật đó. Tỉnh đi! Ngủ để làm gì? Hãy tỉnh đi rồi sẽ được ngủ dài lắm. Dịch vô rồi là sẽ ngủ với dịch, ngủ với dịch Corona, ngủ với mấy con virut. Quý huynh đệ thấy không, phủ phàng lắm. Khi mình nhìn được điều này thì tuyệt diệu vô cùng, nó vi diệu, thần diệu, thù diệu, thắng diệu, vô số diệu, tối thượng diệu. Sự thật của thế giới này được phơi bày, chúng ta sẽ không còn bị gạt nữa dầu cho tập khí, thói quen của mình cũng còn. Tại vì cái trớn của mình đang xuống dốc, dầu cho mình bóp thắng lại nhưng nó cũng vẫn tuột. Cho nên cái trớn trong vòng luân hồi của mình còn rất mạnh, tuy mình thấy, mình hiểu như vậy nhưng không phải mình thắng được liền, nhưng mình sẽ chiến thắng.
Cho nên trong Bát chánh đạo, Chánh kiến dẫn đầu tất cả pháp và Chánh kiến giống như dòng nước của Thánh pháp, có khả năng đưa người về phía trước. Bất cứ người nào khi thành tựu Chánh kiến thì chắc chắn sẽ đi đến diệt tận các lậu hoặc trong tương lai. Điều đó chắc chắn sẽ xảy ra, không thể không xảy ra. Chính vì vậy chúng ta ở đây học Văn – Tư – Tu để chúng ta nghe Chánh pháp này hoài hoài, nhìn lại và kiểm soát hoài hoài để tuyên chiến, bắt đầu ra mặt chống đối lại dục, tham, sân, si, bản ngã. Còn lúc trước mình sống với nó, mình nhận nó là mình “Cái tánh tôi nóng lắm, đừng có nói gì hết, tôi là vậy đó, chịu thì chịu, không chịu thì thôi”. Như vậy là vô minh, phàm phu, ngu si, mê muội. Phải nhìn ra được đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhìn ra những thói quen, bây giờ mình nhìn thấy rồi “Ta thấy mi rồi nghe không, bây giờ ta đã thấy ra kẻ làm nhà rồi nghe không, hồi đó giờ ta không thấy. Mi là tên thợ vô hình ẩn mặt này, sát thủ giấu mặt này, dục, tham ở trong ngũ uẩn này, chấp thủ trong ngũ uẩn này”. Ngày hôm này bị phát giác, phát hiện, được phơi bày ra ánh sáng, lôi đầu nó ra, xử nó. “Từ hồi đó tới giờ mày làm cho tao khổ, phải không? Bữa nay tao thấy cái mặt mày rồi nghe không. Bắt đầu tao sẽ xử mày”. Xử bằng cái gì – bằng bất tịnh quán. Xử bằng cái gì – bằng 9 giai đoạn của một tử thi. Xử bằng cái gì – bằng bầy nhầy gan, ruột, phèo, phổi, ngày nào cũng quán bất tịnh hết. Mỗi lần nhìn vô gương thấy gương mặt của mình là cái đầu lâu để nó phá đi cái thân kiến – kiến chấp về thân, phá đi sự ám ảnh trong nội tâm là một cái tôi tự ngã, một cái ta đây. Phá cái thân kiến đó bằng bất tịnh quán, phá cái sắc uẩn, thực hành Thân hành niệm.
Con thưa với đại chúng, cái này khó chứ không phải dễ nhưng mình thực hành được rồi mình sẽ thấy một cái hạnh phúc không có gì có thể sánh được ở trên đời. Đây mới là sự nghiệp vĩ đại của người xuất gia. Tại vì đối với tự thân mà mình đã phá được sự thấy biết sai lầm về thân kiến thì đối với chùa chiềng, bổn đạo, đối với tài sản bên ngoài chẳng là gì cả. Tới lúc đó tâm mình mới được nhẹ nhàng, tự do. Còn bây giờ cái gì mình cũng thấy tôi, của tôi, tự ngã của tôi hết thì người ta chạm một cái nhẹ là ôi thôi nước mắt đầy mặt, đấm ngực, té xỉu, ngất xỉu, từ chết cho đến bị thương. Vừa rồi khi Minh Thành độc cư nghe tin thầy trụ trì bị người ta đập đầu chết ngoài miền Trung, và ở thành phố mình của có một thầy trụ trì đột quỵ chết. Ở Nha Trang khi Minh Thành ra giảng pháp vào năm rồi, có một thầy ở một chùa ngay chân núi, đất bị sạt xuống, nát cái chùa, nó cuốn ông thầy đi và chết luôn. Nhiều lắm! Đừng tưởng con quỷ vô thường nó sợ chức trụ trì, đừng tưởng cạo đầu, đắp y lên rồi là có thể chặn đứng được tam đồ ác đạo. Không có đâu, coi chừng nó dễ hơn cả người thường. Khủng khiếp lắm, cẩn thận!
Bây giờ với một cái tâm đầy rẫy tham, sân, si, bản ngã của mình rồi bất thình lình bị xe đụng thì sẽ đi đâu là không thể biết được. Do đó khi ngồi thiền mình quán chiếu bất thình lình mình bị nhiễm dịch, mình bị tai nạn giao thông, mình bị đột quỵ hoặc mình nằm một chỗ, hoặc mình chết thì lúc đó tâm thức của mình như thế nào? Khủng khiếp lắm! Đây là niệm tử ở trong Thập niệm, là pháp thường trực trong tạng kinh Nikāya, đây là pháp tu thường trực hằng ngày của chư Tỳ-kheo trong thời Đức Phật. Nhưng cái này mình ít khi nào nghĩ tới, nhiều khi mình nói “Thầy nói gì thấy ghê quá vậy thầy ơi. Còn khỏe đây mà thầy nói gì thấy ghê quá vậy”. Nhưng mình phải quán như vậy để tâm mình nó nhả ra. Và khi mình quán thường thường như vậy thì những chuyện nhỏ nhỏ đến với mình thì nó nhẹ tênh, khỏe re, không có gì hết. Mình phá được cái này thì mình mới phá được tham, ái, chấp thủ đối với thân thể này, đời sống này, đối với vật chất này như vậy mình tu mới được chấm dứt luân hồi sanh tử, đó là giải thoát. Nhưng cái miệng thì nói một chữ giải thoát chà bá lửa mà trong này “Có không, đưa để cúng, cất trước”, đó chính là nói sự thật bây giờ, như vậy thì cái giải thoát, cái giác ngộ đó treo lên để làm gì? Đó chỉ là hình thức, mình phải thật sự mong cầu giải thoát. Mình đừng có gạt người ta, gạt chính mình, gạt cha mẹ, người thân của mình, mình nói mình đi tu, từ bỏ hết để giải thoát, để cứu độ mẹ cha, ông bà, cửu huyền thất tổ mà vô tu mình tham hơn, dồn chất chứa vô nhiều hơn lúc mình chưa tu nữa. Mình đang làm cái gì vậy, mình nhìn kĩ thì đau lòng lắm, đau lòng cho chính mình. Mình phải phản tỉnh trong những giờ ngồi thiền, phải đem ra xử lí mình “Mày cạo đầu vô chùa để làm cái gì, mày nói như vậy, làm như vậy thì có phải người tu hay không? Hay mày là kẻ lừa đảo, xảo trá”. Giờ ngồi thiền mình phải lôi ra mình xử tất cả thân hành, khẩu hành, ý hành của mình, mình kiểm toán, kiểm tra, kiểm kê, kiểm điểm. Mình phải thay đổi, làm một người tu đàng hoàng, nếu chưa được Tu đà hoàn, thì phải là một người tu đàng hoàng chứ không phải là kẻ dối trá, lừa đảo.
Khi nhìn đúng thân tâm mình rồi thì đi đâu mình cũng cúi cúi xuống xấu hổ hết, khi đó pháp tàm quý nó sanh khởi. Con xin thưa đại chúng, từ nhục nhã đưa đến Thánh quả. Nếu một người không có tàm quý thì không bao giờ người đó tu thành tựu hết. Phải tàm quý trước cái dục của mình: phá trai, phạm giới, ăn mặn, uống rượi, trai gái,.. nhưng mà hất cái mặt lên thì nguy hiểm lắm, tai họa lắm. Rớt tấm y này xuống là lò lửa, chảo dầu, nước đồng sôi. Đọc chương Tương ưng lợi đắc, cung kính và Tương ưng địa ngục trong Tương Ưng Bộ Kinh khủng khiếp lắm. Ngài Ma Ha Ca Diếp nói “Nếu một người không có lo sợ, người đó không đạt đến Niết-bàn.” Nếu một người không xấu hổ, không sợ hãi, không tàm quý thì người này không thể nào thành tựu được giới hạnh thiền định trí tuệ. Có xấu hổ, có nhục nhã, có tàm quý mới đi tới chỗ điều chỉnh và lần lần đi tới chỗ thanh tịnh. Còn chúng ta nhìn lại bản thân mình xem, phạm đầy đầu đầy cổ hết, ngay cả những giới căn bản, đừng nói những giới nhỏ nhặt thì đời tu chúng ta còn cái gì.
Thành ra quý huynh đệ mình hãy suy xét cho thật kĩ, đây là những lời tâm huyết bằng tình huynh đệ mà Minh Thành chia sẻ, nếu có điều gì các thầy không vui lòng thì con xin sám hối.
./.