Quán chiếu tứ đại 3 - Lòng Tin Bất Động
Kinh Nikāya Giảng giải
QUÁN CHIẾU TỨ ĐẠI 3
(Lòng Tin Bất Động)
Thích Minh Thành
***
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Đại chúng trở về hơi thở, rõ biết ở trước mặt, cảm nhận cảm giác toàn thân, chánh niệm trước mặt, nội tâm tỉnh giác, rõ biết, lưng thẳng, cổ thẳng, đầu thẳng, mắt mở, nhìn xuống về phía trước.
Kính thưa đại chúng! Hôm nay chúng ta qua phần II: “Dầu cho bốn đại có đổi khác, nhưng lòng tin vẫn bất động ở nơi Tam bảo và Thánh giới”.
Sau đây là bài kinh “Bạn Bè Thân Hữu 2”, Tương Ưng Bộ Kinh – tập 5.
Những ai, này các Tỷ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, những ai mà các Ông nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè, thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được các Ông khuyến khích, áp đặt, an trú trong bốn Dự lưu phần. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 5, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, bài kinh Bạn Bè Thân Hữu 2)
Đức Thế Tôn nói rằng, những ai mà mình có lòng thương đối với họ, mình nghĩ rằng những người này cùng một huyết thống với mình như cha mẹ, bà con, anh chị em, bà con cô bác, bạn bè, người thân, thì những đó cần phải khuyến khích, khuyên bảo họ, đặt để họ làm cho họ được an trú trong bốn phần Dự lưu. Bốn phần Dự lưu rất quan trọng, quý huynh đệ phải nắm vững và học thuộc. Bốn Dự lưu phần giúp cho mình dự vào dòng Chánh Pháp, tham dự vào đội ngũ của Thánh hiền, bước vào dòng trí tuệ xuất thế gian, như vậy gọi là bốn Dự lưu phần.
Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú ở trong tịnh tín bất động đối với Phật: “Đây là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 5, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, bài kinh Bạn Bè Thân Hữu 2)
Minh Thành muốn chia sẻ đến các huynh đệ một điều rất quan trọng. Khi đọc kinh tạng, các huynh đệ không thể đọc sơ sài, qua loa, không được đọc giống như đọc báo, đọc truyện, mà huynh đệ cần phải chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, chỗ nào không hiểu thì phải tra cứu và hỏi. Khi tu tập thiền quán phải quán chiếu, đó là cách đọc Kinh Tạng Nikāya và cũng là phương pháp học đạo. Đối với bốn Dự lưu phần, nếu thấu đạt toàn vẹn thì sẽ chứng sơ quả Tu-đà-hoàn.
Tịnh tín bất động là có một niềm tin trong sạch không còn dao động, lay động, động chuyển, không còn bị lung lay đối với Đức Phật. Có rất nhiều nghĩa các huynh đệ về đọc thêm, ở đây chỉ nói nghĩa căn bản. Đầu tiên, phải biết Đức Phật là bậc xứng đáng cho trời người cúng dường, gọi là bậc Ứng Cúng, điều này các huynh đệ có thể đọc trong “Chín ân đức của Phật”, trong các Tạng Kinh Nam Truyền. Chánh Biến Tri là sự thấy biết chân chánh, phổ quát, phổ biến, biến mảng, cùng khắp, hoàn toàn thấu triệt. Minh Hạnh Túc là Đức Phật đầy đủ tam minh: túc mạng minh, thiên nhãn minh và lậu tận minh. Thiện thệ là khéo vượt qua ba dòng thác lũ: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Khéo vượt qua bộc lưu – những dòng xoáy của dục, của hữu và vô minh. Thế Gian Giải là bậc hiểu biết hết tất cả sự vật, việc người ở trong cuộc đời này, thấu triệt hoàn toàn tất cả pháp trên thế gian. Vô Thượng Sĩ là không còn ai hơn nữa. Điều Ngự Trượng Phu là điều phục, chế ngự những người khó điều phục, giống như: Vô Não, Ương Quật Ma La, A Xà Thế, Ma Ha Ca Diếp. Thiên Nhân Sư tức là bậc thầy của trời và người. Phật là bậc tỉnh thức hoàn toàn. Và bậc tôn quý của thế gian gọi là Thế Tôn. Phải có niềm tin không dao động đối với bậc như vậy.
Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú ở trong tịnh tín bất động đối với Pháp:“Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 5, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, bài kinh Bạn Bè Thân Hữu 2)
Hãy khuyến khích cho những người thân, cho cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị em, bạn bè của mình, đặt để họ, làm cho họ đi vào niềm tin không còn dao động đối với Pháp. “Thiết thực hiện tại” được giải thích trong Kinh Tạng là: “Khi nội tâm của ông có tham, ông biết nội tâm của ông có tham; khi nội tâm của ông có sân hận, ông biết nội tâm của ông đang có sân hận; khi nội tâm của ông có si mê, ông biết nội tâm của ông có si mê, như vậy là thiết thực. Và ông biết rằng tham, sân, si làm khổ cho mình, làm khổ cho người và làm khổ cả hai. Nhiếp phục được tham, nhiếp phục được sân, nhiếp phục được si, thì lúc đó không làm khổ cho mình, không làm khổ cho người đó là thiết thực, hiện tại và có hiệu quả tức thời”.
Khi nội tâm có tham thì mình biết và có phương pháp nhiếp phục được tham. Phương pháp nhiếp phục ở đây là quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn một tử thi, niệm tử, quán tưởng vô thường, đó là phương pháp nhiếp phục tham.
Khi nội tâm có sân, có nóng giận thì hãy trải tâm từ. Từ tâm giải thoát là phương pháp nhiếp phục sân. Giải thoát là mở ra, quán chiếu nghĩ đến tình thương, không có lý do gì sân hận người đó, mình thương người đó, tại mình và người đó cùng là tai nạn của vô minh, nạn nhân của phiền não, tham ái, chấp thủ, bản ngã, lầm nhận ngũ uẩn là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi.
Khi thấy nội tâm si mê thì phải phấn chấn, tinh cần giới, dõng mãnh giới, tinh tấn nỗ lực. Dùng Như Lý Tác Ý đánh đuổi nhu nhược, biếng nhác, giải đãi, thụ động. Quán chiếu về cái chết, những người bị tai nạn, người bị bệnh, những cảnh khổ, thì lúc đó mình sẽ tinh tấn, dũng mãnh. Như vậy là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, người trí tự mình sẽ giác hiểu.
Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú ở trong tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 5, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, bài kinh Bạn Bè Thân Hữu 2)
Diệu hạnh là hạnh mầu nhiệm, trực hạnh là hạnh chánh trực. Ứng lý hạnh là hạnh xứng hợp với chân lý với đạo lý. Chơn chánh hạnh là hạnh chân chính, chân thật, ngay thẳng – đó là đệ tử của Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng.
Điều này rất quan trọng nhưng hay bị lầm lẫn. Không phải Tăng là chung hết, mà bốn đôi tám chúng mới được xem là chúng Tăng của Đức Phật, bốn đôi tám chúng mới được xem là Tăng bảo. Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả, hướng Sơ quả, hướng Nhị quả, hướng Tam quả, hướng Tứ quả là bốn đôi tám chúng.
Ví dụ như bậc Tu-đà-hoàn, đó là bậc thành tựu Chánh Tri Kiến, thấy xác thân này là ngũ uẩn, không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi. Quán chiếu về tứ đại, quán chiếu về sáu pháp niệm thân: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn một tử thi – thường quán chiếu sáu phương diện của thân là pháp niệm thân trong Tứ Niệm Xứ.
Người luôn luôn quán chiếu như trên, có tâm nhàm chán, có tâm từ bỏ, có tâm ly tham, không có ham muốn đối với năm uẩn, tứ đại, tuy rằng tập khí, phiền não còn, nhưng thấy được bản chất tứ đại, ngũ uẩn nên bắt đầu có sự nhàm chán, bắt đầu hướng đến từ bỏ, đó là hướng Dự lưu quả, bước vào bốn đôi tám chúng.
Còn dầu cho có ở trong chùa 30 năm, mà không thấy thân này là tứ đại, không thấy thân này là ngũ uẩn, mà thấy thân này là tôi, của tôi, rồi gom góp danh lợi bằng nhiều cách, với nhiều tài sản thì không thể nào liệt vào Tăng bảo. Như vậy làm sao được gọi là đáng tôn kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng chắp tay, là ruộng phước vô thượng của đời, cho nên chưa được kể là Tăng bảo. Điều này rất quan trọng, mình hay bị lầm lẫn, cứ nghĩ rằng cạo đầu, lên giới đài thọ giới thì đã là thành viên của Tăng bảo. Đi trên con đường tu, hướng tới con đường tu thì phải xem lại mình trong Tăng bảo. Nếu chưa từng nghe pháp ngũ uẩn, pháp tứ đại, danh pháp, sắc pháp, chưa từng biết vô ngã, vô thường thì mình vẫn là Vô văn phàm phu, không phải là Đa văn Thánh đệ tử, dầu cho đang trong hình thức là người tu. Nếu luôn luôn nhìn thấy tôi và của tôi to tướng thì mình còn xa ở ngoài cổng chùa, chưa dự vào bốn đôi tám chúng, chưa phải là thành viên của Tăng bảo, chưa phải là bậc đáng chắp tay, đáng tôn trọng, cung kính, cúng dường, chưa phải là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Cho nên người xuất gia phải phấn đấu rất nhiều, không giống như quan niệm trước nay rằng chỉ cần tu một ngày hai thời. Tu theo Đức Phật là phải luôn luôn ở trong tri kiến, làm cho tăng thượng tri kiến chánh trực – đó là chánh tri kiến. Luôn luôn tưới tẩm, nuôi dưỡng, chăm sóc, phát triển cho tới lúc nào thật sự thấy được thân này là tứ đại, năm uẩn, không có tôi, không phải của tôi. Khi xác quyết thấy bất động như thế thì đã Nhập lưu, thẳng tiến đến chánh giác, chắc chắn không còn lui sụt. “Này các Tỷ-kheo, ta bảo đảm đảm chắc chắn với các ông, vị này thẳng tiến đến Chánh giác, chậm nhất là trong bảy đời, đó là bậc dự lưu”.
Hơn thống lãnh cõi đất,
Hơn được sanh cõi trời,
Hơn chủ trì vũ trụ,
Quả Dự Lưu tối thắng.
(Kinh Pháp Cú – Phầm Thế Gian)
Phấn đấu là ở chỗ này, đoạt giải là tại đây, không phải bằng cấp, không phải là trụ trì, không phải kỷ lục chùa lớn nhất Việt Nam, đó là phàm, thế gian pháp. Thành tựu được trí này, hơn là thống lãnh quả đất, hơn làm vua cõi trời, hơn chủ trì vũ trụ – tức là là hơn cả Obama, Donald Trump, Tập Cận Bình. Tất cả những điều đó không có gì bằng với Dự lưu quả, người bước vào Dự lưu quả là Thánh tăng.
Nếu chưa bước Dự lưu, chỉ mới hướng Dự lưu với cái thấy rõ ràng xác quyết, người nào cúng dường cho vị này thì phước lớn hơn mười phương hư không. Phật tử nào hay bất cứ ai cúng dường cho người hướng vào Dự lưu, nhập vào dòng Thánh này thì phước đó không thể nào tưởng tượng, so sánh được. Thành ra học pháp này mới thấy được sự tuyệt diệu, không phải giống như những điều mình hiểu trước đây. Các huynh đệ xem có vào bốn đôi tám chúng chưa?
Dầu cho, này các Tỷ-kheo, bốn đại chủng địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại có đổi khác, nhưng nhất định không có thay đổi trong vị Thánh đệ tử đã thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật. Ở đây, sự đổi khác có nghĩa là: Một Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động như vậy sẽ sanh vào địa ngục, hay vào loài bàng sanh, hay vào hàng ngạ quỷ; sự kiện như vậy không xảy ra. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 5, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, bài kinh Bạn Bè Thân Hữu 2)
Vị nào đã thành tựu niềm tin bất động đối với Phật, Pháp, Tăng, nhưng vị này rơi vào ba đường ác – sự kiện này không thể xảy ra. Người có niềm tin bất động đối với ba ngôi Tam bảo thì không bao giờ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Còn đối với người xuất gia thì chưa chắc địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không rơi vào, có khả năng rơi vào rất lớn. Bây giờ nếu tu không khéo thì rất đáng sợ hãi. Sợ hãi cho những người mượn lớp áo xuất gia để tạo những điều khác. Không phải là Sa môn mà tự xưng là Sa môn, không phải là Phạm hạnh mà tự xưng là Phạm hạnh, như vậy thì ác thú, đọa xứ, khổ xứ là tương lai chắc chắn của những người đó. Trong bài Kinh “Lửa Cháy”, Đức Phật nói về những Tỷ-kheo không giữ gìn giới hạnh nhưng thọ nhận cúng dường. Khi nghe bài kinh đó xong có mấy chục vị hoàn tục và mấy chục vị ói máu tại chỗ, do đó chuyện xuất gia không bao giờ đơn giản. Chư Tổ nói, ở dưới lớp áo này, khi áo cà sa rớt xuống thì nguy hại không thể lường. Nếu không tu tập chơn chánh, không có giới hạnh, thiền định và trí huệ, mất lớp áo cà sa này tức là khi chết sẽ chìm sâu.
Bốn đại có thay đổi nhưng nhất định lòng tin của vị Thánh đệ tử không thay đổi. Thế nào là bốn đại chủng thay đổi? Ví dụ, có những người tu cư sĩ rất nhiệt tâm lo lắng hộ trì Tam bảo, cúng dường từ vật chất, sức lực, đến tinh thần nhưng sau đó gặp một việc nên có ấn tượng không tốt về chư Tăng, sau đó người này bỏ luôn không đi chùa, không hộ pháp cúng dường, thậm chí họ phản cảm. Như vậy là niềm tin chưa bất động, bị lay chuyển. Hoặc có người làm phước, vào chùa tu tập nhưng bị tai nạn, họ đổ thừa “tại sao tôi cúng chùa từ thiện mà lại bị tai nạn”, rồi họ không tu tập, lòng tin bị lung lay. Cũng có những người xuất gia, gặp một vấn đề nào đó nên mất niềm tin rồi ra đời, đó là chưa đạt được niềm tin bất động. Như vậy, niềm tin bất động là dầu cho bốn đại ở ngoài (động đất, tai nạn, biến động, bệnh thậm chí gần như mất mạng) và bốn đại bên trong có đổi khác nhưng niềm tin không dao động, đó là tịnh tính bất động.
Ví dụ, đang tu tập nhưng bị bệnh ung thư, nhưng càng bệnh thì ta càng thấy thân này là vô thường, thân này là ung nhọt, là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, trí càng vững, đó là tịnh tính bất động đối với Phật, Pháp, Tăng. Còn nếu bị bệnh, mà suy nghĩ là “mình hiền lành, tu từ nhỏ đến lớn, làm bao nghiệp thiện, tại sao sanh ra ác nghiệp, như vậy là không đúng nhân quả, vậy thôi bỏ tu ra đời”, đó là không thành tựu tịnh tính bất động.
Bốn đại đổi khác là dầu cho bên ngoài động đất, sóng thần, thiên tai, lũ lụt, nhà sập hay bị đuổi ra khỏi chùa mà mình không dao động; hay thân thể bị què chân, cụt tay, ung thư… thậm chí mất mạng, cũng không thay đổi, đó là tịnh tín bất động. Các huynh đệ hãy xem lại xem mình có niềm tin bao nhiêu đối với Phật, Pháp, Tăng? Làm sao huynh đệ biết rằng trong lớp học của mình có bao nhiêu vị dự vào bốn đôi tám chúng? Những vị tu học đúng theo Kinh Tạng Nikāya là có người dự vào bốn đôi tám chúng, tối thiểu là hướng Dự lưu. Cũng như Hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu, không phải bậc bình thường, một mình Ngài dịch hết đại Kinh Tạng Nikāya, mà hầu hết nói về pháp vô ngã, chánh tri kiến. Cho nên cung kính là tối thượng, không nên xem thường.
Chúng ta cũng phải tịnh tín bất động đối với Thánh giới. Như vậy, Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới là đầy đủ bốn chi phần của Dự lưu.
Tiếp theo, chúng ta tìm hiểu Phần III: Đức Phật Chánh giác về bốn đại.
Phần này sẽ giải thích cho chúng ta biết tại sao Đức Phật thành Phật, Ngài giác ngộ điều gì? Ở phần này, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly về bốn đại là ba loại trí huệ rất là quan trọng, cần phải học thuộc lòng. Thông thường khi Đức Phật nói về điều gì hay quán chiếu điều gì, Ngài luôn luôn lấy ba khía cạnh của một vấn đề để quán chiếu, tu tập, chứng ngộ và giảng thuyết. Nói đủ là bảy trí, nói gọn là ba trí, tức là ba khía cạnh của một vấn đề.
Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa thành Chánh Đẳng Giác, khi Ta còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau:
"Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của địa giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thủy giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của hỏa giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của phong giới?"
Lạc gì, hỷ gì khởi lên, do duyên địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, đó là vị ngọt của chúng. Cái gì vô thường, khổ, biến hoại của địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, đó là nguy hiểm của chúng. Sự nhiếp phục dục và tham (chandaràga), sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới". (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2, Chương III. Tương Ưng Giới, IV. Phẩm Thứ Tư, bài kinh Trước)
Đây là trí huệ để quán chiếu về tứ đại, thuộc lòng những câu này khi quán thì mới biết cách quán, nếu không thuộc lòng thì là “quán gà” chứ không phải quán tưởng trí tuệ.
Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên với đất, nước, gió, lửa tức là vị ngọt của tứ đại. Do duyên nơi tứ đại, khởi lên lạc hỷ gì tức là vui thích, ham muốn, thích thú thì đó là vị ngọt. Ví dụ, khi nhìn thấy đóa hoa, thấy hoa sen được làm rất khéo, đẹp và thích, đó là vị ngọt của tứ đại. Nhìn điều gì mình thấy thích thú, lôi cuốn, hấp dẫn, thích thú thì đó là vị ngọt của tứ đại. Vậy một ngày mình nếm bao nhiêu lần vị ngọt của tứ đại? Vị ngọt thì tràn ngập, chẳng hạn khi nhìn lên các bảng quảng cáo, tivi, báo chí, đó toàn là nhan nhãn những vị ngọt.
Sự nguy hiểm của tứ đại là sự vô thường, khổ, biến hoại, sự nguy hiểm này thông thường bị che đậy. Ví dụ, khi tai nạn giao thông xảy ra thì đắp chiếu lại, bôi mờ dấu vết, luôn luôn che đậy sự nguy hại của tứ đại, sự nguy hiểm và tác hại của tứ đại, nói gọn là của sắc. Chẳng hạn đi vào toilet mà chẳng may trong đó còn lưu lại kỉ niệm của quá khứ thì mình rất là khó chịu, tất cả những thứ đó mình hãy quên, hãy cho nó trôi đi và xóa sạch nó. Sự sống của mình là sự khéo che đậy, mà Đức Thế Tôn được khen ngợi là người phơi bày ra những gì bị che kín. Đó là một trong những câu mà tất cả chư thiên, nhân loại và các vị A-la-hán, Thánh đệ tử tán dương Đức Phật. “Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc”. (Kinh Potaliya, Trung 2, 53). Đây là những câu thường gặp, khi đọc mình lại lướt qua và không biết giá trị của nó, nhưng đó là công đức của Phật.
Cho nên sự nguy hiểm và tác hại của tứ đại là khổ, vô thường và biến hoại, không có một tứ đại nào mà không vô thường. Hôm qua Minh Thành xem chương trình thi tài năng của nước Mỹ, nhìn thấy ông giám khảo ngày xưa mặt đẹp, tướng đẹp nhưng nay đầu lại bạc trắng, đó là sự vô thường đã đến. Còn mình nhiều khi 3-4 ngày phải cạo râu, tóc thì đã bạc, do đó mỗi khi cạo tóc phải quán chiếu đây là nguy hại của tứ đại, là sự vô thường, biến hoại. Mới ngày hôm qua xỉa răng, bị văng cục trám răng, nhưng do huệ quán hơi yếu, nếu mạnh thì mình đã chứng ngộ, vào Thánh quả, do đó phải nhìn thấy sự nguy hại của tứ đại. Các Tỷ-kheo thời Đức Phật khi gặp những chuyện như vậy thì quán chiếu và chứng ngộ rất nhiều, do thường sống trong sự tư duy, quán chiếu, cho nên khi gặp những trường hợp đó xảy ra nơi thân tâm thì họ quán chiếu và thực chứng, chứng ngộ. Cho nên sự vô thường, khổ, biến hoại của tứ đại là sự nguy hại, nguy hiểm.
Xem những tin tức hàng ngày, ta thấy lửa cháy cả khu nhà trọ làm chết 2 người; tai nạn xe chết 13 người, 3 người bị thương nặng, trước khi đó khoảng 30 phút, những người đó không biết mình sắp chết. Khi nghe nói vậy thì chúng ta chỉ gật đầu, nhưng mình không tin, không thấy thật sự về vô thường, nếu thấy được thì mới thành tựu trí huệ. Ví dụ, bây giờ các huynh đệ ngồi đây thì không ai tin bốn giờ sau mình nhập viện. Có cô gái mới 23 tuổi bị án chung thân, có người 18 tuổi bị án tử hình, khi được phỏng vấn, họ nói “tôi không thể nào tưởng tượng nổi mới 18-20 tuổi mà bị chung thân tử hình”. Không bao giờ họ có suy nghĩ đó thì làm sao thành tựu trí huệ, làm sao thấy rõ sự nguy hiểm của sắc thân tứ đại này. Chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử mới thành tựu trí huệ này. Do đó phải thường thường quán chiếu sự nguy hại của sắc thân tứ đại này, phải thấy sự khổ trong thân.
Huynh đệ suy nghĩ xem lỗ mũi có bao nhiêu là bệnh, lỗ tai cũng có bao nhiêu là bệnh, miệng, thân có bao nhiêu thứ bệnh, đó là sự nguy hại của sắc. Thân này nơi nào cũng có bệnh, như răng hư, ù lỗ tai là thấy khổ rồi, có nhiều người đi máy bay không được hay đi xe không được, phải uống thuốc. Thân có bao nhiêu là bệnh, nhưng mình sống trong vô minh, si mê mà không thấy, chỉ thấy rằng được ăn, được hưởng thụ, đến khi xảy ra chuyện đôi khi cũng không thấy. Chỉ thấy người ta như vậy, mình cũng như vậy, chứ không thành tựu trí huệ. Cho nên, phải quán chiếu, tư duy bằng óc não, tâm thức, chứ không phải tư duy bằng miệng.
Cách đây 3 ngày Minh Thành đi ra Nha Trang, ở Nha Trang 2 ngày giảng 6 thời pháp, mỗi thời pháp 1,5 giờ, trước đó giảng 4 thời với quý huynh đệ, như vậy, tuần rồi trong 3 ngày Minh Thành giảng 10 buổi pháp thoại. Khi nói chuyện cho Hội người mù khiếm thị của Nha Trang, Minh Thành thấy xót xa lắm. Tại vì chưa hiểu nổi khổ của người mù, cho nên tuy chúng ta có đôi mắt nhưng sử dụng hời hợt, rất lãng phí, không đem con mắt này để thực tập, nhìn thấy vô thường.
Minh Thành xem trên tin tức thời sự, ở Đà Lạt có một cô lập quán Tuổi Thanh Xuân, có cô ấy nói và cười, nhưng Minh Thành lại chảy nước mắt, cô nói bằng cách ra dấu tay, cô câm và điếc, mà cô cười vui với những sự vui rất bình thường. Minh Thành thấy thương cho người vô văn phàm phu, họ không biết đó là sự nguy hiểm của sắc thân, họ không nhàm chán, không thấy đó là khổ, đôi khi thấy khổ không biết đường ra. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử rất đặc biệt, khác biệt là họ thành tựu trí huệ, thấy được sự xuất ly, thấy được sự nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt đối với sắc và sự xuất ly đi ra khỏi sắc, đó là trí huệ tối thắng, sự đặc thù của Đa văn Thánh đệ tử.
Trên mạng có tin tức em bé 4 tuổi nhưng bị cha đổ xăng lên người đốt như một quái nhân, trên ti vi có chiếu về một cô bị chồng tẩm xăng đốt, khi quay phim thì che mặt lại, đôi lúc có hé ra phân nửa, nếu gặp ban đêm mình sẽ rất hoảng sợ.
Ở Nha Trang Minh Thành có buổi nói về bài kinh “Xúc Chạm”, Đức Phật nói khổ rất đa dạng, đa chủng, đa loại, rất nhiều phương diện. Còn mình có lỗ tai nhưng không biết học phương pháp nghe vô thường, có con mắt nhưng không học thấy vô thường. Phải học Kinh Tạng Nikāya mới biết thế nào là thấy vô thường, nghe vô thường, nếu không học thì mình sử dụng tâm thức rất là lãng phí, sử dụng lời nói, suy nghĩ lãng phí. Nếu bất thình lình bị xe tông, mình sẽ chết bất thình lình ở trong sự hoảng loạn, chết không tốt lành. Thế nào là chết không tốt lành? Đức Thế Tôn nói rằng còn tồn chỉ ác pháp, bất thiện pháp chưa tẩy sạch, đó là cái chết không tốt lành của một vị Tỷ-kheo, cho nên khi biết tu thì rất hổ thẹn, nơm nớp lo sợ. Trong Chương Tương Ưng Kapsapa của Ngài Ma Ha Ca Diếp, Đức Phật có nói về nhiệt tâm và sợ hãi rất quan trọng, vì nhiệt tâm và sợ hãi mới đi đến chỗ chánh giác, nếu không có hai điều này sẽ không giác ngộ Niết-bàn. Phải sợ hãi đối với tội lỗi, ác pháp. Những cấu nhiễm của nội tâm, phải thưởng nhìn lại để thấy. Nhiệt tâm đối với sự đoạn trừ, tẩy sạch, diệt tận tham sân si, nhiệt tâm đối sự chấm dứt ác bất thiện pháp.
Chuyên tâm vào Tạng Kinh Nikāya thì sẽ thấy Thánh ngôn, những lời dạy gốc của Đức Phật, nhìn thấy được khổ của bốn đại. Ở các tỉnh Cao Bằng, Sơn La, vùng sát biên giới, vùng núi phía bắc sạt lỡ núi, làm cho 40-50 ngôi nhà bị chôn vùi, hay những người đi khai thác trong mỏ vàng, bị sạt lỡ vùi lấp chết người – tất cả những tin tức đó đều là dữ kiện, dữ liệu, tư liệu để quán chiếu sự nguy hại của tứ đại, để có sự xuất ly ra khỏi nó. Do không chắc chắn được sống bao lâu rồi sẽ ra đi, vì vậy chúng ta phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng đối với già, bệnh, chết.
Sự nhiếp phục đối với dục và tham, sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly khỏi tứ đại – đây là những bí kíp của Chánh Pháp. Nhiếp phục, đoạn tận dục và tham đối với địa giới, thủy giới, địa giới, phong giới. Nhiếp phục được dục tham, đoạn tận được dục tham là do thấy nguy hại của nó. Ví dụ, biết rằng rượu bia, thuốc lá là thứ gây bệnh, chúng ta thấy được sự nguy hại, tác hại, nguy hiểm của nó, rồi mình cố gắng khắc phục, lúc đầu là nhiếp phục, sau đó là đoạn tận. Phải nhận thức được sự nguy hiểm, tác hại thì mới từ bỏ dục tham, nếu chỉ nhìn thấy tiền, sắc đẹp, danh vọng, quyền thế mà không thấy sự nguy hiểm, tác hại, vô thường, sự khổ, biến hoại, thì không thể từ bỏ được, mà mình hướng tới, đi tìm, khao khát nó. Trong Kinh Tạng Nikāya dùng từ khát ái, tức là khao khát, hy vọng, mong chờ, mong muốn, nhiệt não, nóng bức đi tìm dục tham. Sau khi quán chiếu được sự nguy hiểm thì mới có thể xuất ly khỏi ra. Để nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với bốn đại, tất cả hình sắc thì phương pháp quán bất tịnh sẽ giúp cho mình. Cho nên phương pháp quán bất tịnh rất quan trọng, nếu Vị Tỷ-kheo không quán bất tịnh sẽ không nhiếp phục dục và tham.
Quý huynh đệ vào trang linhquyphapan.vn, trong đó có bài “Tầm quan trọng của quán bất tịnh” giảng cho lớp cao đẳng Ni, bài “Quán bất tịnh” giảng tại chùa Hoằng Pháp, bài “Bản chất của thân thể”. Hoặc bài“Quán bất tịnh cùng lời dạy Tứ Niệm Xứ” do Thái Lan làm, các nhà khoa học đưa một xác người thật, cho nó trải qua chín giai đoạn của một tử thi, để mình chứng kiến. Gõ tìm “Xác thân tứ đại số 1”, “Xác thân tứ đại số 2”, hai bài này là giải phẫu xác người thật, một người nam và một người nữ, chúng ta mở lên xem và ngồi thiền, xem hơn 3.000 lần, vừa xem vừa quán, xem 3.600 lần khoảng 10 năm, sau đó hãy đến nói chuyện. Không phải xem 1-2 lần rồi nói “con quán bất tịnh mà chỉ thấy tịnh”, điều đó là đương nhiên, trong khi Đức Thế Tôn tu tập rất lâu, nhưng mình mới tu tập quán vài ngày mà đòi hỏi nhiều thứ thì đó là tham, không chịu kiên trì, nỗ lực, tinh cần, tinh tấn.
Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này Ta chưa như thực thắng tri (abbhannàsim ) như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta chưa được chứng ngộ, chưa chứng tri vô thượng Chánh Đẳng Giác, đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng Samôn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2, Chương III. Tương Ưng Giới, IV. Phẩm Thứ Tư, bài kinh Trước)
Đức Phật nói rằng nếu Ngài chưa như thật thấu suốt trọn vẹn về vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của bốn đại, thì Ngài chưa tuyên bố chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ba trí huệ này là mấu chốt, huynh đệ không biết được vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly thì không thể ra khỏi tứ đại, ra khỏi sắc uẩn. Còn cho thân tứ đại mấy chục ký là tôi, là của tôi, chưa thấy được nó là sắc, chưa thấy nó là tứ đại thì chúng ta vẫn là kẻ vô văn phàm phu, không hơn không kém đối với người ngoài đời. Chúng ta chỉ khác hình thức so với người đời nếu chúng ta không thành tựu trí về tứ đại.
Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này, Ta như thật thắng tri như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời này các Tỷ-kheo, Ta đã chứng ngộ, đã chứng tri vô thượng Chánh Đẳng Giác đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.
Tri và kiến đã khởi lên ở nơi Ta: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Đời sống này là tối hậu, nay không còn tái sanh nữa ". (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2, Chương III. Tương Ưng Giới, IV. Phẩm Thứ Tư, bài kinh Trước)
Khi đã chứng ngộ đến mức này thì tâm bất động, tâm hoàn toàn giải thoát đối với tứ đại, không thấy nó là tôi, là của tôi. Còn lúc trước thì dính chặt với nó, đó gọi là giải thoát. Khi giải thoát rồi, thân tứ đại có bị gì đi nữa thì tâm vẫn bất động, cho nên cứu cánh của người tu là đạt đến tâm bất động. Còn mình bây giờ đụng đến thì có chuyện, đó là do chấp thủ ngũ thủ uẩn, bám chặt vào sắc thủ uẩn, nhập với sắc làm một, chưa mở ra, cứ nhận là mình, là của mình. “Chiếc xe là của tôi, sống chết với xe đó” – đối với vật bên ngoài; “thân này của tôi, đụng đến thì sống chết” – đối với thân này ai đụng tới là có chuyện.
"Bất động là tâm giải thoát của Ta. Đời sống này là tối hậu, nay không còn tái sanh nữa ". Như Minh Thành đã nói, “nhất hướng nhàm chán, từ bỏ ly tham đoạn diệt,” đây là định lý giải thoát. Khi Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán quán chiếu tận cùng về tứ đại, ngũ uẩn, các Ngài một bề nhàm chán đối với tứ đại, ngũ uẩn này, vì thấy nó là vô thường, khổ, biến hoại, thấy nó không phải của mình, mà thấy là ung nhọt. Cho nên các Ngài quán đến tận cùng trí huệ thấu bản chất của ngũ uẩn, không chấp nhận và mang tâm niệm từ bỏ tứ đại, ngũ uẩn. Tức là giống như mình quăng một thùng rác thối, đây đồ ăn hư một cách không tiếc nuối, thì tâm niệm của Đức Phật, các bậc A-la-hán từ bỏ thân tứ đại, năm uẩn cũng giống vậy. Vì vậy, đời sống của các Ngài là đời sống cuối cùng, không có tiếp nối đời sống thứ hai. Tất cả nguyên nhân để làm cho nó tái tục một thân năm uẩn, tứ đại không còn. Điều này hết sức thâm sâu, tất cả thánh phàm phải đảnh lễ. Tại vì hiện tại mình còn ôm chặt thân này, bám chấp, yêu quý thân này, cho nên khi chết thì dục dẫn đi tìm thân mới. Lúc sắp chết mình rất hoảng sợ vì sắp mất thân này, sâu thẳm bên trong thân vô minh, ái dục chưa hết thì nghiệp và tâm thức đẩy đi. Khi đó, dâm dục, ái dục, tham dục mạnh nhất, cho nên cứ hướng vào những nơi dục thì sẽ tiếp tục tái tạo thân tứ đại, ngũ uẩn. Các bậc Nhất lai, Bất lai lúc bình thường thì các Ngài đã quán từ bỏ, nhàm chán, chấm dứt, đoạn diệt, ly tham, không tham muốn đối với thân này, giống như quăng thùng rác thối, không thương tiếc. Còn chúng ta cứ tìm kiếm thân khác nên vẫn tiếp tục trong vòng luân hồi sanh tử. Đây là chỗ thâm sâu, Thái Tử Tất-Đạt-Đa đi đến bốn cửa thành, vì thấy cảnh già, bệnh, chết, nên Ngài muốn tìm con đường chấm dứt cảnh luân hồi sanh tử, không còn già, bệnh, chết. Lúc chết, các vị Bất lai thì sẽ lên Tịnh Cư Thiên, tu đến khi nào tất cả các lậu hoặc được tẩy sạch thì nhập Niết-bàn, gọi là bất lai không trở lại thế giới này nữa. Tất cả các điều kiện thấp kém, hạ liệt của phàm phu các Ngài không còn, các Ngài không còn dục, tham, vô minh nữa.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, có bài kinh Đức Phật ví dụ giống như những đứa trẻ chơi nhà chòi bằng đất sét, ngày nào nó còn thích thú, yêu thích, tham luyến, vui đùa trong đó thì ngày đó căn nhà đất sét vẫn còn, không thể nào chấm dứt; đến khi nào nó nhận thức được mà đập vỡ tung, vỡ nát, tan tành thì lúc đó tất cả đồ chơi không còn. Cũng vậy, đối với các bậc A-la-hán, bậc thành tựu trí huệ thì sẽ không còn tái tục những căn nhà chòi bằng đất sét trong tương lai.
Nhà chòi bằng đất sét là thân tứ đại năm uẩn, đây là trí huệ rất thâm sâu của Phật giáo, những người tu học không dễ nhận thức được. Tu đến mức chấm dứt năm uẩn, không còn điều kiện để tái tục đời sau. Cho nên, Đức Thế Tôn nói đời sống này là tối hậu, nay không còn tái sanh nữa. Như vậy mới giải thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi, đoạn tận tham ái đối với năm uẩn, tứ đại, sắc. Điều này đòi hỏi công phu rất thâm hậu, thâm sâu, Đức Phật gọi là thiền định liên tục không gián đoạn, mới có thể thấy, biết, chứng đắc được trí huệ này.
Mời, quý huynh đệ phát biểu cảm nhận trong quá trình tu học.
Sư thầy 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Con kính thưa giáo thọ sư và cùng toàn thể đại chúng! Đối với con thì bài pháp nào của giáo thọ cũng quan trọng. Thứ nhất, thật sự những bài pháp của thầy giảng con rất chú tâm, tại vì chú tâm sẽ tiếp thu được lời thầy dạy. Đối với bài học hôm nay thì có rất nhiều thứ đáng phải ghi lại để thực hành, con nhớ nhất là câu chuyện của thầy nói về những đứa trẻ xây những căn nhà đất sét. Con hiểu sơ sơ là mình còn xây nhà thì trong tâm còn mơ tưởng, còn xây nên còn yêu thích, đắm nhiễm nó. Cũng giống như bản thân ta, còn thích mặc đẹp nên mua những bộ đẹp, thích ăn ngon nên mua hay nhờ người khác cúng dường để bồi đắp cho thân mình. Đến khi nào cảm thấy những thứ đó là bình thường, có thì dùng, không có thì thôi, như vậy có thể hạn chế tham dục, hiểu sắc thân là vô thường, không để sắc dục lôi cuốn, không để mọi thứ bên ngoài tác động, để cho thân nhẹ nhàng. Cho nên con lấy lời chỉ dạy của thầy làm kim chỉ nam, là lời sách tấn trên bước đường tu học và con luôn hành trì theo lời chỉ dạy đó. Con chúc thầy nhiều sức khỏe và cả lớp nhiều tinh tấn.
Sư thầy 2:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Con kính bạch trên thầy, kính thưa toàn thể đại chúng! Đối với phần học hôm nay, thầy đã dạy cho chúng con, bản thân con cũng có cảm nhận riêng về bài pháp thầy đã dạy. Đối với chúng con, cũng như con là những vị tăng sĩ trẻ tuổi, tuổi mình còn rất xuân, tóc còn rất xanh, do vậy bài học hôm nay đối với con có giá trị rất lớn. Bởi vì những vị ngọt chính từ thân con, khi nhìn một huynh đệ nào đó, con cảm thấy đẹp, nhìn một vị khác giới nào con thấy đẹp, con nói những lời hay, trau chuốt những lời tốt, để được đối diện đối với huynh đệ đẹp, người khác giới đẹp. Thông qua bài học hôm nay, con cảm nhận được những vị ngọt đó, thấy những cái làm con hiện khởi lên sự tham dục của bản thân, để nhận diện được nguy hiểm, đó là sự vô thường. Ngay chính tứ đại bản thân của mỗi người, đẹp hôm nay rồi ngày mai sẽ như đống rác 10 ngày mới đổ, sau đó trở thành úa tàn.
Do vậy bài học hôm nay thầy đã cho con nhận thức về sự vô thường, nguy hiểm của tứ đại, để nhận diện ái dục, tham dục của mình, đâu là nguy hiểm để mình biết được tham dục hiện khởi, để không còn phải vướng vào, không bị khổ đau, không bị những điều đẹp, thân đẹp, lời nói đẹp mà không phải là chắc chắn, thường còn lôi kéo. Do vậy con kính cảm niệm thầy, thầy đã cho con cảm nhận sâu sắc về bài học hôm nay.
Sư thầy 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch thầy giáo thọ, kính bạch đại chúng! Thông qua bài học hôm nay, bản thân cảm thấy được vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly. Hàng ngày, con nghĩ do sự không tu tập chánh niệm tỉnh giác nên chúng ta không cảm thấy được vị ngọt. Đôi lúc nằm mơ, hay cảm thấy yêu, mến những người xung quanh, nhưng mj không biết đó là sự đau khổ. Xuất gia là hướng đến con đường giải thoát giác ngộ, nhưng mình còn tham đắm thì sẽ còn đau khổ. Quán chiếu ở gia đình, thấy cha mẹ, anh chị có gia đình thì rất cực khổ để nuôi sống gia đình, phải chịu những khổ đau giết hại sinh vật, từ đó con thấy vị ngọt trong tình cảm thì ít mà sự đau khổ thì nhiều. Vì vậy Đức Phật dạy chúng ta cần phải xuất ly khỏi sự đau khổ đó./.
QUÁN CHIẾU TỨ ĐẠI 3
(Lòng Tin Bất Động)
Thích Minh Thành
***
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Đại chúng trở về hơi thở, rõ biết ở trước mặt, cảm nhận cảm giác toàn thân, chánh niệm trước mặt, nội tâm tỉnh giác, rõ biết, lưng thẳng, cổ thẳng, đầu thẳng, mắt mở, nhìn xuống về phía trước.
Kính thưa đại chúng! Hôm nay chúng ta qua phần II: “Dầu cho bốn đại có đổi khác, nhưng lòng tin vẫn bất động ở nơi Tam bảo và Thánh giới”.
Sau đây là bài kinh “Bạn Bè Thân Hữu 2”, Tương Ưng Bộ Kinh – tập 5.
Những ai, này các Tỷ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, những ai mà các Ông nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè, thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được các Ông khuyến khích, áp đặt, an trú trong bốn Dự lưu phần. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 5, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, bài kinh Bạn Bè Thân Hữu 2)
Đức Thế Tôn nói rằng, những ai mà mình có lòng thương đối với họ, mình nghĩ rằng những người này cùng một huyết thống với mình như cha mẹ, bà con, anh chị em, bà con cô bác, bạn bè, người thân, thì những đó cần phải khuyến khích, khuyên bảo họ, đặt để họ làm cho họ được an trú trong bốn phần Dự lưu. Bốn phần Dự lưu rất quan trọng, quý huynh đệ phải nắm vững và học thuộc. Bốn Dự lưu phần giúp cho mình dự vào dòng Chánh Pháp, tham dự vào đội ngũ của Thánh hiền, bước vào dòng trí tuệ xuất thế gian, như vậy gọi là bốn Dự lưu phần.
Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú ở trong tịnh tín bất động đối với Phật: “Đây là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 5, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, bài kinh Bạn Bè Thân Hữu 2)
Minh Thành muốn chia sẻ đến các huynh đệ một điều rất quan trọng. Khi đọc kinh tạng, các huynh đệ không thể đọc sơ sài, qua loa, không được đọc giống như đọc báo, đọc truyện, mà huynh đệ cần phải chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, chỗ nào không hiểu thì phải tra cứu và hỏi. Khi tu tập thiền quán phải quán chiếu, đó là cách đọc Kinh Tạng Nikāya và cũng là phương pháp học đạo. Đối với bốn Dự lưu phần, nếu thấu đạt toàn vẹn thì sẽ chứng sơ quả Tu-đà-hoàn.
Tịnh tín bất động là có một niềm tin trong sạch không còn dao động, lay động, động chuyển, không còn bị lung lay đối với Đức Phật. Có rất nhiều nghĩa các huynh đệ về đọc thêm, ở đây chỉ nói nghĩa căn bản. Đầu tiên, phải biết Đức Phật là bậc xứng đáng cho trời người cúng dường, gọi là bậc Ứng Cúng, điều này các huynh đệ có thể đọc trong “Chín ân đức của Phật”, trong các Tạng Kinh Nam Truyền. Chánh Biến Tri là sự thấy biết chân chánh, phổ quát, phổ biến, biến mảng, cùng khắp, hoàn toàn thấu triệt. Minh Hạnh Túc là Đức Phật đầy đủ tam minh: túc mạng minh, thiên nhãn minh và lậu tận minh. Thiện thệ là khéo vượt qua ba dòng thác lũ: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Khéo vượt qua bộc lưu – những dòng xoáy của dục, của hữu và vô minh. Thế Gian Giải là bậc hiểu biết hết tất cả sự vật, việc người ở trong cuộc đời này, thấu triệt hoàn toàn tất cả pháp trên thế gian. Vô Thượng Sĩ là không còn ai hơn nữa. Điều Ngự Trượng Phu là điều phục, chế ngự những người khó điều phục, giống như: Vô Não, Ương Quật Ma La, A Xà Thế, Ma Ha Ca Diếp. Thiên Nhân Sư tức là bậc thầy của trời và người. Phật là bậc tỉnh thức hoàn toàn. Và bậc tôn quý của thế gian gọi là Thế Tôn. Phải có niềm tin không dao động đối với bậc như vậy.
Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú ở trong tịnh tín bất động đối với Pháp:“Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 5, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, bài kinh Bạn Bè Thân Hữu 2)
Hãy khuyến khích cho những người thân, cho cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị em, bạn bè của mình, đặt để họ, làm cho họ đi vào niềm tin không còn dao động đối với Pháp. “Thiết thực hiện tại” được giải thích trong Kinh Tạng là: “Khi nội tâm của ông có tham, ông biết nội tâm của ông có tham; khi nội tâm của ông có sân hận, ông biết nội tâm của ông đang có sân hận; khi nội tâm của ông có si mê, ông biết nội tâm của ông có si mê, như vậy là thiết thực. Và ông biết rằng tham, sân, si làm khổ cho mình, làm khổ cho người và làm khổ cả hai. Nhiếp phục được tham, nhiếp phục được sân, nhiếp phục được si, thì lúc đó không làm khổ cho mình, không làm khổ cho người đó là thiết thực, hiện tại và có hiệu quả tức thời”.
Khi nội tâm có tham thì mình biết và có phương pháp nhiếp phục được tham. Phương pháp nhiếp phục ở đây là quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn một tử thi, niệm tử, quán tưởng vô thường, đó là phương pháp nhiếp phục tham.
Khi nội tâm có sân, có nóng giận thì hãy trải tâm từ. Từ tâm giải thoát là phương pháp nhiếp phục sân. Giải thoát là mở ra, quán chiếu nghĩ đến tình thương, không có lý do gì sân hận người đó, mình thương người đó, tại mình và người đó cùng là tai nạn của vô minh, nạn nhân của phiền não, tham ái, chấp thủ, bản ngã, lầm nhận ngũ uẩn là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi.
Khi thấy nội tâm si mê thì phải phấn chấn, tinh cần giới, dõng mãnh giới, tinh tấn nỗ lực. Dùng Như Lý Tác Ý đánh đuổi nhu nhược, biếng nhác, giải đãi, thụ động. Quán chiếu về cái chết, những người bị tai nạn, người bị bệnh, những cảnh khổ, thì lúc đó mình sẽ tinh tấn, dũng mãnh. Như vậy là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, người trí tự mình sẽ giác hiểu.
Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú ở trong tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 5, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, bài kinh Bạn Bè Thân Hữu 2)
Diệu hạnh là hạnh mầu nhiệm, trực hạnh là hạnh chánh trực. Ứng lý hạnh là hạnh xứng hợp với chân lý với đạo lý. Chơn chánh hạnh là hạnh chân chính, chân thật, ngay thẳng – đó là đệ tử của Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng.
Điều này rất quan trọng nhưng hay bị lầm lẫn. Không phải Tăng là chung hết, mà bốn đôi tám chúng mới được xem là chúng Tăng của Đức Phật, bốn đôi tám chúng mới được xem là Tăng bảo. Sơ quả, Nhị quả, Tam quả, Tứ quả, hướng Sơ quả, hướng Nhị quả, hướng Tam quả, hướng Tứ quả là bốn đôi tám chúng.
Ví dụ như bậc Tu-đà-hoàn, đó là bậc thành tựu Chánh Tri Kiến, thấy xác thân này là ngũ uẩn, không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi. Quán chiếu về tứ đại, quán chiếu về sáu pháp niệm thân: niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn một tử thi – thường quán chiếu sáu phương diện của thân là pháp niệm thân trong Tứ Niệm Xứ.
Người luôn luôn quán chiếu như trên, có tâm nhàm chán, có tâm từ bỏ, có tâm ly tham, không có ham muốn đối với năm uẩn, tứ đại, tuy rằng tập khí, phiền não còn, nhưng thấy được bản chất tứ đại, ngũ uẩn nên bắt đầu có sự nhàm chán, bắt đầu hướng đến từ bỏ, đó là hướng Dự lưu quả, bước vào bốn đôi tám chúng.
Còn dầu cho có ở trong chùa 30 năm, mà không thấy thân này là tứ đại, không thấy thân này là ngũ uẩn, mà thấy thân này là tôi, của tôi, rồi gom góp danh lợi bằng nhiều cách, với nhiều tài sản thì không thể nào liệt vào Tăng bảo. Như vậy làm sao được gọi là đáng tôn kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng chắp tay, là ruộng phước vô thượng của đời, cho nên chưa được kể là Tăng bảo. Điều này rất quan trọng, mình hay bị lầm lẫn, cứ nghĩ rằng cạo đầu, lên giới đài thọ giới thì đã là thành viên của Tăng bảo. Đi trên con đường tu, hướng tới con đường tu thì phải xem lại mình trong Tăng bảo. Nếu chưa từng nghe pháp ngũ uẩn, pháp tứ đại, danh pháp, sắc pháp, chưa từng biết vô ngã, vô thường thì mình vẫn là Vô văn phàm phu, không phải là Đa văn Thánh đệ tử, dầu cho đang trong hình thức là người tu. Nếu luôn luôn nhìn thấy tôi và của tôi to tướng thì mình còn xa ở ngoài cổng chùa, chưa dự vào bốn đôi tám chúng, chưa phải là thành viên của Tăng bảo, chưa phải là bậc đáng chắp tay, đáng tôn trọng, cung kính, cúng dường, chưa phải là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Cho nên người xuất gia phải phấn đấu rất nhiều, không giống như quan niệm trước nay rằng chỉ cần tu một ngày hai thời. Tu theo Đức Phật là phải luôn luôn ở trong tri kiến, làm cho tăng thượng tri kiến chánh trực – đó là chánh tri kiến. Luôn luôn tưới tẩm, nuôi dưỡng, chăm sóc, phát triển cho tới lúc nào thật sự thấy được thân này là tứ đại, năm uẩn, không có tôi, không phải của tôi. Khi xác quyết thấy bất động như thế thì đã Nhập lưu, thẳng tiến đến chánh giác, chắc chắn không còn lui sụt. “Này các Tỷ-kheo, ta bảo đảm đảm chắc chắn với các ông, vị này thẳng tiến đến Chánh giác, chậm nhất là trong bảy đời, đó là bậc dự lưu”.
Hơn thống lãnh cõi đất,
Hơn được sanh cõi trời,
Hơn chủ trì vũ trụ,
Quả Dự Lưu tối thắng.
(Kinh Pháp Cú – Phầm Thế Gian)
Phấn đấu là ở chỗ này, đoạt giải là tại đây, không phải bằng cấp, không phải là trụ trì, không phải kỷ lục chùa lớn nhất Việt Nam, đó là phàm, thế gian pháp. Thành tựu được trí này, hơn là thống lãnh quả đất, hơn làm vua cõi trời, hơn chủ trì vũ trụ – tức là là hơn cả Obama, Donald Trump, Tập Cận Bình. Tất cả những điều đó không có gì bằng với Dự lưu quả, người bước vào Dự lưu quả là Thánh tăng.
Nếu chưa bước Dự lưu, chỉ mới hướng Dự lưu với cái thấy rõ ràng xác quyết, người nào cúng dường cho vị này thì phước lớn hơn mười phương hư không. Phật tử nào hay bất cứ ai cúng dường cho người hướng vào Dự lưu, nhập vào dòng Thánh này thì phước đó không thể nào tưởng tượng, so sánh được. Thành ra học pháp này mới thấy được sự tuyệt diệu, không phải giống như những điều mình hiểu trước đây. Các huynh đệ xem có vào bốn đôi tám chúng chưa?
Dầu cho, này các Tỷ-kheo, bốn đại chủng địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại có đổi khác, nhưng nhất định không có thay đổi trong vị Thánh đệ tử đã thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật. Ở đây, sự đổi khác có nghĩa là: Một Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động như vậy sẽ sanh vào địa ngục, hay vào loài bàng sanh, hay vào hàng ngạ quỷ; sự kiện như vậy không xảy ra. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 5, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, bài kinh Bạn Bè Thân Hữu 2)
Vị nào đã thành tựu niềm tin bất động đối với Phật, Pháp, Tăng, nhưng vị này rơi vào ba đường ác – sự kiện này không thể xảy ra. Người có niềm tin bất động đối với ba ngôi Tam bảo thì không bao giờ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Còn đối với người xuất gia thì chưa chắc địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không rơi vào, có khả năng rơi vào rất lớn. Bây giờ nếu tu không khéo thì rất đáng sợ hãi. Sợ hãi cho những người mượn lớp áo xuất gia để tạo những điều khác. Không phải là Sa môn mà tự xưng là Sa môn, không phải là Phạm hạnh mà tự xưng là Phạm hạnh, như vậy thì ác thú, đọa xứ, khổ xứ là tương lai chắc chắn của những người đó. Trong bài Kinh “Lửa Cháy”, Đức Phật nói về những Tỷ-kheo không giữ gìn giới hạnh nhưng thọ nhận cúng dường. Khi nghe bài kinh đó xong có mấy chục vị hoàn tục và mấy chục vị ói máu tại chỗ, do đó chuyện xuất gia không bao giờ đơn giản. Chư Tổ nói, ở dưới lớp áo này, khi áo cà sa rớt xuống thì nguy hại không thể lường. Nếu không tu tập chơn chánh, không có giới hạnh, thiền định và trí huệ, mất lớp áo cà sa này tức là khi chết sẽ chìm sâu.
Bốn đại có thay đổi nhưng nhất định lòng tin của vị Thánh đệ tử không thay đổi. Thế nào là bốn đại chủng thay đổi? Ví dụ, có những người tu cư sĩ rất nhiệt tâm lo lắng hộ trì Tam bảo, cúng dường từ vật chất, sức lực, đến tinh thần nhưng sau đó gặp một việc nên có ấn tượng không tốt về chư Tăng, sau đó người này bỏ luôn không đi chùa, không hộ pháp cúng dường, thậm chí họ phản cảm. Như vậy là niềm tin chưa bất động, bị lay chuyển. Hoặc có người làm phước, vào chùa tu tập nhưng bị tai nạn, họ đổ thừa “tại sao tôi cúng chùa từ thiện mà lại bị tai nạn”, rồi họ không tu tập, lòng tin bị lung lay. Cũng có những người xuất gia, gặp một vấn đề nào đó nên mất niềm tin rồi ra đời, đó là chưa đạt được niềm tin bất động. Như vậy, niềm tin bất động là dầu cho bốn đại ở ngoài (động đất, tai nạn, biến động, bệnh thậm chí gần như mất mạng) và bốn đại bên trong có đổi khác nhưng niềm tin không dao động, đó là tịnh tính bất động.
Ví dụ, đang tu tập nhưng bị bệnh ung thư, nhưng càng bệnh thì ta càng thấy thân này là vô thường, thân này là ung nhọt, là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, trí càng vững, đó là tịnh tính bất động đối với Phật, Pháp, Tăng. Còn nếu bị bệnh, mà suy nghĩ là “mình hiền lành, tu từ nhỏ đến lớn, làm bao nghiệp thiện, tại sao sanh ra ác nghiệp, như vậy là không đúng nhân quả, vậy thôi bỏ tu ra đời”, đó là không thành tựu tịnh tính bất động.
Bốn đại đổi khác là dầu cho bên ngoài động đất, sóng thần, thiên tai, lũ lụt, nhà sập hay bị đuổi ra khỏi chùa mà mình không dao động; hay thân thể bị què chân, cụt tay, ung thư… thậm chí mất mạng, cũng không thay đổi, đó là tịnh tín bất động. Các huynh đệ hãy xem lại xem mình có niềm tin bao nhiêu đối với Phật, Pháp, Tăng? Làm sao huynh đệ biết rằng trong lớp học của mình có bao nhiêu vị dự vào bốn đôi tám chúng? Những vị tu học đúng theo Kinh Tạng Nikāya là có người dự vào bốn đôi tám chúng, tối thiểu là hướng Dự lưu. Cũng như Hòa thượng Thượng Minh Hạ Châu, không phải bậc bình thường, một mình Ngài dịch hết đại Kinh Tạng Nikāya, mà hầu hết nói về pháp vô ngã, chánh tri kiến. Cho nên cung kính là tối thượng, không nên xem thường.
Chúng ta cũng phải tịnh tín bất động đối với Thánh giới. Như vậy, Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới là đầy đủ bốn chi phần của Dự lưu.
Tiếp theo, chúng ta tìm hiểu Phần III: Đức Phật Chánh giác về bốn đại.
Phần này sẽ giải thích cho chúng ta biết tại sao Đức Phật thành Phật, Ngài giác ngộ điều gì? Ở phần này, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly về bốn đại là ba loại trí huệ rất là quan trọng, cần phải học thuộc lòng. Thông thường khi Đức Phật nói về điều gì hay quán chiếu điều gì, Ngài luôn luôn lấy ba khía cạnh của một vấn đề để quán chiếu, tu tập, chứng ngộ và giảng thuyết. Nói đủ là bảy trí, nói gọn là ba trí, tức là ba khía cạnh của một vấn đề.
Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa thành Chánh Đẳng Giác, khi Ta còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau:
"Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của địa giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của thủy giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của hỏa giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của phong giới?"
Lạc gì, hỷ gì khởi lên, do duyên địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, đó là vị ngọt của chúng. Cái gì vô thường, khổ, biến hoại của địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, đó là nguy hiểm của chúng. Sự nhiếp phục dục và tham (chandaràga), sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới". (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2, Chương III. Tương Ưng Giới, IV. Phẩm Thứ Tư, bài kinh Trước)
Đây là trí huệ để quán chiếu về tứ đại, thuộc lòng những câu này khi quán thì mới biết cách quán, nếu không thuộc lòng thì là “quán gà” chứ không phải quán tưởng trí tuệ.
Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên với đất, nước, gió, lửa tức là vị ngọt của tứ đại. Do duyên nơi tứ đại, khởi lên lạc hỷ gì tức là vui thích, ham muốn, thích thú thì đó là vị ngọt. Ví dụ, khi nhìn thấy đóa hoa, thấy hoa sen được làm rất khéo, đẹp và thích, đó là vị ngọt của tứ đại. Nhìn điều gì mình thấy thích thú, lôi cuốn, hấp dẫn, thích thú thì đó là vị ngọt của tứ đại. Vậy một ngày mình nếm bao nhiêu lần vị ngọt của tứ đại? Vị ngọt thì tràn ngập, chẳng hạn khi nhìn lên các bảng quảng cáo, tivi, báo chí, đó toàn là nhan nhãn những vị ngọt.
Sự nguy hiểm của tứ đại là sự vô thường, khổ, biến hoại, sự nguy hiểm này thông thường bị che đậy. Ví dụ, khi tai nạn giao thông xảy ra thì đắp chiếu lại, bôi mờ dấu vết, luôn luôn che đậy sự nguy hại của tứ đại, sự nguy hiểm và tác hại của tứ đại, nói gọn là của sắc. Chẳng hạn đi vào toilet mà chẳng may trong đó còn lưu lại kỉ niệm của quá khứ thì mình rất là khó chịu, tất cả những thứ đó mình hãy quên, hãy cho nó trôi đi và xóa sạch nó. Sự sống của mình là sự khéo che đậy, mà Đức Thế Tôn được khen ngợi là người phơi bày ra những gì bị che kín. Đó là một trong những câu mà tất cả chư thiên, nhân loại và các vị A-la-hán, Thánh đệ tử tán dương Đức Phật. “Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc”. (Kinh Potaliya, Trung 2, 53). Đây là những câu thường gặp, khi đọc mình lại lướt qua và không biết giá trị của nó, nhưng đó là công đức của Phật.
Cho nên sự nguy hiểm và tác hại của tứ đại là khổ, vô thường và biến hoại, không có một tứ đại nào mà không vô thường. Hôm qua Minh Thành xem chương trình thi tài năng của nước Mỹ, nhìn thấy ông giám khảo ngày xưa mặt đẹp, tướng đẹp nhưng nay đầu lại bạc trắng, đó là sự vô thường đã đến. Còn mình nhiều khi 3-4 ngày phải cạo râu, tóc thì đã bạc, do đó mỗi khi cạo tóc phải quán chiếu đây là nguy hại của tứ đại, là sự vô thường, biến hoại. Mới ngày hôm qua xỉa răng, bị văng cục trám răng, nhưng do huệ quán hơi yếu, nếu mạnh thì mình đã chứng ngộ, vào Thánh quả, do đó phải nhìn thấy sự nguy hại của tứ đại. Các Tỷ-kheo thời Đức Phật khi gặp những chuyện như vậy thì quán chiếu và chứng ngộ rất nhiều, do thường sống trong sự tư duy, quán chiếu, cho nên khi gặp những trường hợp đó xảy ra nơi thân tâm thì họ quán chiếu và thực chứng, chứng ngộ. Cho nên sự vô thường, khổ, biến hoại của tứ đại là sự nguy hại, nguy hiểm.
Xem những tin tức hàng ngày, ta thấy lửa cháy cả khu nhà trọ làm chết 2 người; tai nạn xe chết 13 người, 3 người bị thương nặng, trước khi đó khoảng 30 phút, những người đó không biết mình sắp chết. Khi nghe nói vậy thì chúng ta chỉ gật đầu, nhưng mình không tin, không thấy thật sự về vô thường, nếu thấy được thì mới thành tựu trí huệ. Ví dụ, bây giờ các huynh đệ ngồi đây thì không ai tin bốn giờ sau mình nhập viện. Có cô gái mới 23 tuổi bị án chung thân, có người 18 tuổi bị án tử hình, khi được phỏng vấn, họ nói “tôi không thể nào tưởng tượng nổi mới 18-20 tuổi mà bị chung thân tử hình”. Không bao giờ họ có suy nghĩ đó thì làm sao thành tựu trí huệ, làm sao thấy rõ sự nguy hiểm của sắc thân tứ đại này. Chỉ có bậc Đa văn Thánh đệ tử mới thành tựu trí huệ này. Do đó phải thường thường quán chiếu sự nguy hại của sắc thân tứ đại này, phải thấy sự khổ trong thân.
Huynh đệ suy nghĩ xem lỗ mũi có bao nhiêu là bệnh, lỗ tai cũng có bao nhiêu là bệnh, miệng, thân có bao nhiêu thứ bệnh, đó là sự nguy hại của sắc. Thân này nơi nào cũng có bệnh, như răng hư, ù lỗ tai là thấy khổ rồi, có nhiều người đi máy bay không được hay đi xe không được, phải uống thuốc. Thân có bao nhiêu là bệnh, nhưng mình sống trong vô minh, si mê mà không thấy, chỉ thấy rằng được ăn, được hưởng thụ, đến khi xảy ra chuyện đôi khi cũng không thấy. Chỉ thấy người ta như vậy, mình cũng như vậy, chứ không thành tựu trí huệ. Cho nên, phải quán chiếu, tư duy bằng óc não, tâm thức, chứ không phải tư duy bằng miệng.
Cách đây 3 ngày Minh Thành đi ra Nha Trang, ở Nha Trang 2 ngày giảng 6 thời pháp, mỗi thời pháp 1,5 giờ, trước đó giảng 4 thời với quý huynh đệ, như vậy, tuần rồi trong 3 ngày Minh Thành giảng 10 buổi pháp thoại. Khi nói chuyện cho Hội người mù khiếm thị của Nha Trang, Minh Thành thấy xót xa lắm. Tại vì chưa hiểu nổi khổ của người mù, cho nên tuy chúng ta có đôi mắt nhưng sử dụng hời hợt, rất lãng phí, không đem con mắt này để thực tập, nhìn thấy vô thường.
Minh Thành xem trên tin tức thời sự, ở Đà Lạt có một cô lập quán Tuổi Thanh Xuân, có cô ấy nói và cười, nhưng Minh Thành lại chảy nước mắt, cô nói bằng cách ra dấu tay, cô câm và điếc, mà cô cười vui với những sự vui rất bình thường. Minh Thành thấy thương cho người vô văn phàm phu, họ không biết đó là sự nguy hiểm của sắc thân, họ không nhàm chán, không thấy đó là khổ, đôi khi thấy khổ không biết đường ra. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử rất đặc biệt, khác biệt là họ thành tựu trí huệ, thấy được sự xuất ly, thấy được sự nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt đối với sắc và sự xuất ly đi ra khỏi sắc, đó là trí huệ tối thắng, sự đặc thù của Đa văn Thánh đệ tử.
Trên mạng có tin tức em bé 4 tuổi nhưng bị cha đổ xăng lên người đốt như một quái nhân, trên ti vi có chiếu về một cô bị chồng tẩm xăng đốt, khi quay phim thì che mặt lại, đôi lúc có hé ra phân nửa, nếu gặp ban đêm mình sẽ rất hoảng sợ.
Ở Nha Trang Minh Thành có buổi nói về bài kinh “Xúc Chạm”, Đức Phật nói khổ rất đa dạng, đa chủng, đa loại, rất nhiều phương diện. Còn mình có lỗ tai nhưng không biết học phương pháp nghe vô thường, có con mắt nhưng không học thấy vô thường. Phải học Kinh Tạng Nikāya mới biết thế nào là thấy vô thường, nghe vô thường, nếu không học thì mình sử dụng tâm thức rất là lãng phí, sử dụng lời nói, suy nghĩ lãng phí. Nếu bất thình lình bị xe tông, mình sẽ chết bất thình lình ở trong sự hoảng loạn, chết không tốt lành. Thế nào là chết không tốt lành? Đức Thế Tôn nói rằng còn tồn chỉ ác pháp, bất thiện pháp chưa tẩy sạch, đó là cái chết không tốt lành của một vị Tỷ-kheo, cho nên khi biết tu thì rất hổ thẹn, nơm nớp lo sợ. Trong Chương Tương Ưng Kapsapa của Ngài Ma Ha Ca Diếp, Đức Phật có nói về nhiệt tâm và sợ hãi rất quan trọng, vì nhiệt tâm và sợ hãi mới đi đến chỗ chánh giác, nếu không có hai điều này sẽ không giác ngộ Niết-bàn. Phải sợ hãi đối với tội lỗi, ác pháp. Những cấu nhiễm của nội tâm, phải thưởng nhìn lại để thấy. Nhiệt tâm đối với sự đoạn trừ, tẩy sạch, diệt tận tham sân si, nhiệt tâm đối sự chấm dứt ác bất thiện pháp.
Chuyên tâm vào Tạng Kinh Nikāya thì sẽ thấy Thánh ngôn, những lời dạy gốc của Đức Phật, nhìn thấy được khổ của bốn đại. Ở các tỉnh Cao Bằng, Sơn La, vùng sát biên giới, vùng núi phía bắc sạt lỡ núi, làm cho 40-50 ngôi nhà bị chôn vùi, hay những người đi khai thác trong mỏ vàng, bị sạt lỡ vùi lấp chết người – tất cả những tin tức đó đều là dữ kiện, dữ liệu, tư liệu để quán chiếu sự nguy hại của tứ đại, để có sự xuất ly ra khỏi nó. Do không chắc chắn được sống bao lâu rồi sẽ ra đi, vì vậy chúng ta phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng đối với già, bệnh, chết.
Sự nhiếp phục đối với dục và tham, sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly khỏi tứ đại – đây là những bí kíp của Chánh Pháp. Nhiếp phục, đoạn tận dục và tham đối với địa giới, thủy giới, địa giới, phong giới. Nhiếp phục được dục tham, đoạn tận được dục tham là do thấy nguy hại của nó. Ví dụ, biết rằng rượu bia, thuốc lá là thứ gây bệnh, chúng ta thấy được sự nguy hại, tác hại, nguy hiểm của nó, rồi mình cố gắng khắc phục, lúc đầu là nhiếp phục, sau đó là đoạn tận. Phải nhận thức được sự nguy hiểm, tác hại thì mới từ bỏ dục tham, nếu chỉ nhìn thấy tiền, sắc đẹp, danh vọng, quyền thế mà không thấy sự nguy hiểm, tác hại, vô thường, sự khổ, biến hoại, thì không thể từ bỏ được, mà mình hướng tới, đi tìm, khao khát nó. Trong Kinh Tạng Nikāya dùng từ khát ái, tức là khao khát, hy vọng, mong chờ, mong muốn, nhiệt não, nóng bức đi tìm dục tham. Sau khi quán chiếu được sự nguy hiểm thì mới có thể xuất ly khỏi ra. Để nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với bốn đại, tất cả hình sắc thì phương pháp quán bất tịnh sẽ giúp cho mình. Cho nên phương pháp quán bất tịnh rất quan trọng, nếu Vị Tỷ-kheo không quán bất tịnh sẽ không nhiếp phục dục và tham.
Quý huynh đệ vào trang linhquyphapan.vn, trong đó có bài “Tầm quan trọng của quán bất tịnh” giảng cho lớp cao đẳng Ni, bài “Quán bất tịnh” giảng tại chùa Hoằng Pháp, bài “Bản chất của thân thể”. Hoặc bài“Quán bất tịnh cùng lời dạy Tứ Niệm Xứ” do Thái Lan làm, các nhà khoa học đưa một xác người thật, cho nó trải qua chín giai đoạn của một tử thi, để mình chứng kiến. Gõ tìm “Xác thân tứ đại số 1”, “Xác thân tứ đại số 2”, hai bài này là giải phẫu xác người thật, một người nam và một người nữ, chúng ta mở lên xem và ngồi thiền, xem hơn 3.000 lần, vừa xem vừa quán, xem 3.600 lần khoảng 10 năm, sau đó hãy đến nói chuyện. Không phải xem 1-2 lần rồi nói “con quán bất tịnh mà chỉ thấy tịnh”, điều đó là đương nhiên, trong khi Đức Thế Tôn tu tập rất lâu, nhưng mình mới tu tập quán vài ngày mà đòi hỏi nhiều thứ thì đó là tham, không chịu kiên trì, nỗ lực, tinh cần, tinh tấn.
Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này Ta chưa như thực thắng tri (abbhannàsim ) như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta chưa được chứng ngộ, chưa chứng tri vô thượng Chánh Đẳng Giác, đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng Samôn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2, Chương III. Tương Ưng Giới, IV. Phẩm Thứ Tư, bài kinh Trước)
Đức Phật nói rằng nếu Ngài chưa như thật thấu suốt trọn vẹn về vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của bốn đại, thì Ngài chưa tuyên bố chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ba trí huệ này là mấu chốt, huynh đệ không biết được vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly thì không thể ra khỏi tứ đại, ra khỏi sắc uẩn. Còn cho thân tứ đại mấy chục ký là tôi, là của tôi, chưa thấy được nó là sắc, chưa thấy nó là tứ đại thì chúng ta vẫn là kẻ vô văn phàm phu, không hơn không kém đối với người ngoài đời. Chúng ta chỉ khác hình thức so với người đời nếu chúng ta không thành tựu trí về tứ đại.
Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào đối với bốn giới này, Ta như thật thắng tri như vậy vị ngọt là vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời này các Tỷ-kheo, Ta đã chứng ngộ, đã chứng tri vô thượng Chánh Đẳng Giác đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.
Tri và kiến đã khởi lên ở nơi Ta: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Đời sống này là tối hậu, nay không còn tái sanh nữa ". (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 2, Chương III. Tương Ưng Giới, IV. Phẩm Thứ Tư, bài kinh Trước)
Khi đã chứng ngộ đến mức này thì tâm bất động, tâm hoàn toàn giải thoát đối với tứ đại, không thấy nó là tôi, là của tôi. Còn lúc trước thì dính chặt với nó, đó gọi là giải thoát. Khi giải thoát rồi, thân tứ đại có bị gì đi nữa thì tâm vẫn bất động, cho nên cứu cánh của người tu là đạt đến tâm bất động. Còn mình bây giờ đụng đến thì có chuyện, đó là do chấp thủ ngũ thủ uẩn, bám chặt vào sắc thủ uẩn, nhập với sắc làm một, chưa mở ra, cứ nhận là mình, là của mình. “Chiếc xe là của tôi, sống chết với xe đó” – đối với vật bên ngoài; “thân này của tôi, đụng đến thì sống chết” – đối với thân này ai đụng tới là có chuyện.
"Bất động là tâm giải thoát của Ta. Đời sống này là tối hậu, nay không còn tái sanh nữa ". Như Minh Thành đã nói, “nhất hướng nhàm chán, từ bỏ ly tham đoạn diệt,” đây là định lý giải thoát. Khi Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán quán chiếu tận cùng về tứ đại, ngũ uẩn, các Ngài một bề nhàm chán đối với tứ đại, ngũ uẩn này, vì thấy nó là vô thường, khổ, biến hoại, thấy nó không phải của mình, mà thấy là ung nhọt. Cho nên các Ngài quán đến tận cùng trí huệ thấu bản chất của ngũ uẩn, không chấp nhận và mang tâm niệm từ bỏ tứ đại, ngũ uẩn. Tức là giống như mình quăng một thùng rác thối, đây đồ ăn hư một cách không tiếc nuối, thì tâm niệm của Đức Phật, các bậc A-la-hán từ bỏ thân tứ đại, năm uẩn cũng giống vậy. Vì vậy, đời sống của các Ngài là đời sống cuối cùng, không có tiếp nối đời sống thứ hai. Tất cả nguyên nhân để làm cho nó tái tục một thân năm uẩn, tứ đại không còn. Điều này hết sức thâm sâu, tất cả thánh phàm phải đảnh lễ. Tại vì hiện tại mình còn ôm chặt thân này, bám chấp, yêu quý thân này, cho nên khi chết thì dục dẫn đi tìm thân mới. Lúc sắp chết mình rất hoảng sợ vì sắp mất thân này, sâu thẳm bên trong thân vô minh, ái dục chưa hết thì nghiệp và tâm thức đẩy đi. Khi đó, dâm dục, ái dục, tham dục mạnh nhất, cho nên cứ hướng vào những nơi dục thì sẽ tiếp tục tái tạo thân tứ đại, ngũ uẩn. Các bậc Nhất lai, Bất lai lúc bình thường thì các Ngài đã quán từ bỏ, nhàm chán, chấm dứt, đoạn diệt, ly tham, không tham muốn đối với thân này, giống như quăng thùng rác thối, không thương tiếc. Còn chúng ta cứ tìm kiếm thân khác nên vẫn tiếp tục trong vòng luân hồi sanh tử. Đây là chỗ thâm sâu, Thái Tử Tất-Đạt-Đa đi đến bốn cửa thành, vì thấy cảnh già, bệnh, chết, nên Ngài muốn tìm con đường chấm dứt cảnh luân hồi sanh tử, không còn già, bệnh, chết. Lúc chết, các vị Bất lai thì sẽ lên Tịnh Cư Thiên, tu đến khi nào tất cả các lậu hoặc được tẩy sạch thì nhập Niết-bàn, gọi là bất lai không trở lại thế giới này nữa. Tất cả các điều kiện thấp kém, hạ liệt của phàm phu các Ngài không còn, các Ngài không còn dục, tham, vô minh nữa.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, có bài kinh Đức Phật ví dụ giống như những đứa trẻ chơi nhà chòi bằng đất sét, ngày nào nó còn thích thú, yêu thích, tham luyến, vui đùa trong đó thì ngày đó căn nhà đất sét vẫn còn, không thể nào chấm dứt; đến khi nào nó nhận thức được mà đập vỡ tung, vỡ nát, tan tành thì lúc đó tất cả đồ chơi không còn. Cũng vậy, đối với các bậc A-la-hán, bậc thành tựu trí huệ thì sẽ không còn tái tục những căn nhà chòi bằng đất sét trong tương lai.
Nhà chòi bằng đất sét là thân tứ đại năm uẩn, đây là trí huệ rất thâm sâu của Phật giáo, những người tu học không dễ nhận thức được. Tu đến mức chấm dứt năm uẩn, không còn điều kiện để tái tục đời sau. Cho nên, Đức Thế Tôn nói đời sống này là tối hậu, nay không còn tái sanh nữa. Như vậy mới giải thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi, đoạn tận tham ái đối với năm uẩn, tứ đại, sắc. Điều này đòi hỏi công phu rất thâm hậu, thâm sâu, Đức Phật gọi là thiền định liên tục không gián đoạn, mới có thể thấy, biết, chứng đắc được trí huệ này.
Mời, quý huynh đệ phát biểu cảm nhận trong quá trình tu học.
Sư thầy 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Con kính thưa giáo thọ sư và cùng toàn thể đại chúng! Đối với con thì bài pháp nào của giáo thọ cũng quan trọng. Thứ nhất, thật sự những bài pháp của thầy giảng con rất chú tâm, tại vì chú tâm sẽ tiếp thu được lời thầy dạy. Đối với bài học hôm nay thì có rất nhiều thứ đáng phải ghi lại để thực hành, con nhớ nhất là câu chuyện của thầy nói về những đứa trẻ xây những căn nhà đất sét. Con hiểu sơ sơ là mình còn xây nhà thì trong tâm còn mơ tưởng, còn xây nên còn yêu thích, đắm nhiễm nó. Cũng giống như bản thân ta, còn thích mặc đẹp nên mua những bộ đẹp, thích ăn ngon nên mua hay nhờ người khác cúng dường để bồi đắp cho thân mình. Đến khi nào cảm thấy những thứ đó là bình thường, có thì dùng, không có thì thôi, như vậy có thể hạn chế tham dục, hiểu sắc thân là vô thường, không để sắc dục lôi cuốn, không để mọi thứ bên ngoài tác động, để cho thân nhẹ nhàng. Cho nên con lấy lời chỉ dạy của thầy làm kim chỉ nam, là lời sách tấn trên bước đường tu học và con luôn hành trì theo lời chỉ dạy đó. Con chúc thầy nhiều sức khỏe và cả lớp nhiều tinh tấn.
Sư thầy 2:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Con kính bạch trên thầy, kính thưa toàn thể đại chúng! Đối với phần học hôm nay, thầy đã dạy cho chúng con, bản thân con cũng có cảm nhận riêng về bài pháp thầy đã dạy. Đối với chúng con, cũng như con là những vị tăng sĩ trẻ tuổi, tuổi mình còn rất xuân, tóc còn rất xanh, do vậy bài học hôm nay đối với con có giá trị rất lớn. Bởi vì những vị ngọt chính từ thân con, khi nhìn một huynh đệ nào đó, con cảm thấy đẹp, nhìn một vị khác giới nào con thấy đẹp, con nói những lời hay, trau chuốt những lời tốt, để được đối diện đối với huynh đệ đẹp, người khác giới đẹp. Thông qua bài học hôm nay, con cảm nhận được những vị ngọt đó, thấy những cái làm con hiện khởi lên sự tham dục của bản thân, để nhận diện được nguy hiểm, đó là sự vô thường. Ngay chính tứ đại bản thân của mỗi người, đẹp hôm nay rồi ngày mai sẽ như đống rác 10 ngày mới đổ, sau đó trở thành úa tàn.
Do vậy bài học hôm nay thầy đã cho con nhận thức về sự vô thường, nguy hiểm của tứ đại, để nhận diện ái dục, tham dục của mình, đâu là nguy hiểm để mình biết được tham dục hiện khởi, để không còn phải vướng vào, không bị khổ đau, không bị những điều đẹp, thân đẹp, lời nói đẹp mà không phải là chắc chắn, thường còn lôi kéo. Do vậy con kính cảm niệm thầy, thầy đã cho con cảm nhận sâu sắc về bài học hôm nay.
Sư thầy 3:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch thầy giáo thọ, kính bạch đại chúng! Thông qua bài học hôm nay, bản thân cảm thấy được vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly. Hàng ngày, con nghĩ do sự không tu tập chánh niệm tỉnh giác nên chúng ta không cảm thấy được vị ngọt. Đôi lúc nằm mơ, hay cảm thấy yêu, mến những người xung quanh, nhưng mj không biết đó là sự đau khổ. Xuất gia là hướng đến con đường giải thoát giác ngộ, nhưng mình còn tham đắm thì sẽ còn đau khổ. Quán chiếu ở gia đình, thấy cha mẹ, anh chị có gia đình thì rất cực khổ để nuôi sống gia đình, phải chịu những khổ đau giết hại sinh vật, từ đó con thấy vị ngọt trong tình cảm thì ít mà sự đau khổ thì nhiều. Vì vậy Đức Phật dạy chúng ta cần phải xuất ly khỏi sự đau khổ đó./.