Kinh Nikāya Thiền Quán - Tại Sao Chúng Ta Đi Tu
Kinh Nikāya Thiền Quán
Tại Sao Chúng Ta Đi Tu?
Thích Minh Thành
Ngày 18 tháng 08 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mục đích tu hành PAGEREF _Toc113517029 \h 1
II. Quán chiếu khổ PAGEREF _Toc113517030 \h 3
I. Mục đích tu hành
Kính thưa các bậc hiền trí tăng ni và quý Phật tử. Hôm nay có mấy vị Phật tử mới lên đây tu học đúng không ạ? Hai quý cô có muốn chia sẻ, hay hỏi gì về Pháp không ạ? Mình tu mà mình không thấy khổ là mình không có tu được. Chúng ta niệm bài căn bản trí đầu tiên ạ.
Niệm nguyên nhân luân hồi 1 -kinh trường bộ - bài 16
“Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
Ta và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.”
(Trường Bộ Kinh – bài kinh Đại Bát-Niết-Bàn)
Sau đây là bài kinh “Với Mục Đích Gì?”
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi rất nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Tqhế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo đến hỏi chúng con: “Này chư Hiền, vì mục đích gì, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Này chư Hiền, với mục đích liễu tri đau khổ, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama”. Ðược hỏi như vậy và trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con trả lời đúng với lời nói Thế Tôn, chúng con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, chúng con trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích?
4) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông được hỏi như vậy và trả lời như vậy là các Ông trả lời đúng với lời của Ta, các Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật, các Ông trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích. Này các Tỷ-kheo, do mục đích liễu tri đau khổ mà Phạm hạnh được sống dưới Ta. Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông: “Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri đau khổ này?” Ðược hỏi vậy, thời các Ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Này chư Hiền, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu tri đau khổ này.
5) Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường, thế nào là đạo lộ đưa đến liễu tri đau khổ? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến liễu tri sự đau khổ này.
6) Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Với Mục Đích Gì?)
Với mục đích thấy khổ, hiểu khổ, biết khổ, thấu triệt tất cả hoàn toàn mọi khía cạnh, phương diện, góc độ của khổ đau. Mà các Ông bỏ cha, bỏ mẹ, anh chị em, bỏ gia đình, bỏ tình thân, sắc đẹp, tình yêu, tình thương, tài sản, sự nghiệp, từ giã lục thân quyến thuộc, trong nước mắt đầy mặt, trong sự luyến tiếc, mà các Ông cạo tóc, đắp y, ôm bình bát, làm một người khất sĩ. Vì mong muốn thấy được sự thật tận cùng đó, cho nên chúng tôi sống với đời sống viễn ly, rời xa với mọi sự lòe loẹt của cuộc đời. Thường trú nơi xa vắng, để chiêm nghiệm, thiền quán, thẩm thấu, thấu triệt, thực chứng sự thật về đau khổ của nhãn xúc, sự tiếp xúc của con mắt, của cái nhìn này.
II. Quán chiếu khổ
Do duyên nhãn xúc khởi lên khổ hay vui? Hay không khổ không vui? Vì muốn thấu triệt tận cùng cảm thọ ấy là khổ đau, cho nên chúng tôi đi theo Phật. Con mắt này là khổ đau, là cận thị, viễn thị, loạn thị, khiếm thị. Hồi hôm này, con vô tình nhìn thấy trên màn hình, có chú này bị mù, đi hát rong để kiếm tiền nuôi vợ con, bị người ta gạt đi đến chỗ không có người để lấy hết tiền. Người vợ của chú này cũng bị mù, ở nhà nuôi hai đứa con, chú ca những lời ca đầy bi ai, thống thiết, đau khổ. Nhìn thấy những đứa con lóc nhóc, nước mắt trào ra giống như những người thân thương nhất của mình, giống như cha mẹ của mình. Cận thị, viễn thị, loạn thị, khiếm thị, đui mù, bệnh tật, bệnh hoạn, những trại mù, những làng mù.
Nhưng không phải đợi mù mới là khổ, con mắt còn nguyên vẹn, sáng trưng, trên gương mặt chúng ta cũng đầy rẫy những sự bất an, tại hoạ. Vừa rồi có đám thanh niên nhậu nhẹt, nói qua nói lại với nhau, rồi người này lấy ống điếu đâm vào con mắt của người kia xuyên qua đầu, khi đưa đến bệnh viện thì chết. Thật sự là con mắt này sanh khởi chỉ chú, xuất sanh, xuất hiện, là khổ sanh khởi, tật bệnh có mặt, già chết hiện hữu “Con mắt, này Các tỳ kheo, sự sanh khởi, chỉ chú, xuất hiện, hiện hữu của con mắt là sự sanh khởi của khổ, hiện hữu, chỉ trú, an trú của khổ, là già chết, tai họa, khổ đau xuất hiện”. Chúng ta phải thiền quán, tác ý, phải ngấm cái này vào xương, tủy, tim, máu của mình, không có được quên. Sự có mặt của con mắt này là sự có mặt của mù lòa, đui, chột. Sự có mặt của nhiều bệnh viện, nhiều mắt kính, nhiều thuốc, cần phải liễu tri đau khổ này.
Sự có mặt của các sắc này, cho đến khi nào ta nhìn được căn nhà, chiếc xe, mảnh đất, miếng vườn, tiền tài, tài sản đó là khổ. Mới xảy ra mấy ngày trước, có hai vợ chồng nghi nhau ăn cắp 500.000đ mà đâm chết nhau, mới nghi lấy tiền thôi, mà giết chết luôn. Cho nên chỉ có Thánh trí tuệ Nikāya này, mới soi rọi hết tất cả hết phương diện, khía cạnh, góc độ khổ đau của tứ đại, ngũ uẩn, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư. Chỉ có khổ Thánh trí này mới soi được hết các phương diện, khía cạnh, gọi là liễu tri đau khổ. Rồi có những người lãnh 1 triệu để đi buôn lậu thuốc phiện, cuối cùng lấy 1 triệu đó rồi đổi bằng mạng sống, tử hình, chung thân vì 1 triệu đó. Khổ Thánh trí này phải được thường xuyên tác ý, tư duy, liên tục nghiền ngẫm, thì mới có thể liễu tri được đau khổ. Vì không thấy, không biết bốn sự thật về khổ này mà chúng ta lưu truyền, chìm đắm, trôi nổi, lăn lộn trong 3 đường 6 nẻo này. Chiêm nghiệm thật nhiều mình sẽ thấy, mình sẽ liễu tri đau khổ (mấy vị có bệnh thì ngồi cách xa, giữ khoảng cách với đại chúng), đó là khổ.
Mấy bữa lễ Vu Lan ở Bửu Liên – Sài Gòn, 2,3 ngày không ăn gì hết, bụng cứ lình bình, cứ no hoài. Mười một giờ rưỡi đêm phải đi kinh hành tới mười hai giờ rưỡi đêm, không ăn gì hết mà cũng nằm ợ nữa. Nửa đêm đi kinh hành nhìn thấy nó khổ, có cái bao tử này, hệ tiêu hóa này, cái miệng, cái bụng này, cho nên mới có không tiêu, mới có đầy hơi, nó hành hạ mình phải đi như vầy. Bước ra đường nhìn thấy chạy xe lạn lách, chen với nhau, sân si với nhau. Một là nước ngập, kẹt xe hơn 1 tiếng đồng hồ, không thôi là nắng chói chan, bao nhiêu tia cực tím, chất độc. Mình tập nhìn cái gì cũng thấy khổ ở trong đó, mình mới đi đến sự nhàm chán, không tham muốn nữa, mới từ bỏ. Mình mới không còn hơn thua, tranh giành, sân hận, tham đắm ở trong những thứ vô thường, hư ảo, biến hoại, khổ đau này. Mình phải đưa nó vào trong suy nghĩ, cảm thọ, tưởng, nhận thức của mình. Từng suy nghĩ phải lấy khổ Thánh trí suy nghĩ, từng cảm thọ phải dùng khổ Thánh trí để cảm thọ.
Hôm qua họp bên hội thảo ban Phật pháp trung ương toàn quốc, mình mới thấy sự tu này nó vi diệu lắm. Người ta dọn ra 70,80 món ăn, mình nhìn nó không còn hấp dẫn nữa, như ngày xưa thấy như vậy là thích lắm, mặc tình mà gắp, giờ ăn nửa dĩa mà cái bụng không biết còn tiêu không nữa, nhận thấy một cái cảm thọ không còn nhiệt tình, không còn kích thích nữa. Trong “Tương Ưng Sáu Xứ” Đức Phật nói: “Chư thiên và loài người bị sắc, âm thanh, mùi, vị, bị xúc (những tiếp xúc), hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm kích thích” Mình không tu thì mình nhiệt tình với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, âm. Khi tu rồi thì mình an tịnh, lắng dịu, mình thấy nó khác lắm. Những cái khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn, mình thấy là mình thở dài lắc đầu, có được sự an tịnh, lắng dịu phần nào, mình thấy khổ, mệt mỏi trong đó.
Mình nhìn mấy chục món đồ ăn vậy đó, mình biết rằng người ta mệt, người ta khổ, người ta cực, người ta nhọc nhằn, vất vả lắm, cho nên mình phải nhìn thấy sắc là khổ. Sắc là cái gì? Là căn nhà, ngôi chùa mình ở, chiếc xe mình đi, tài sản mình có, ruộng vườn, đất đai, tiền bạc, xe cộ, quần áo, giày dép. Con mang đôi dép tổ ong xấu xí, cũ sì, con thấy hạnh phúc làm sao và không lo chút nào bị mất dép hết. Mình mới thấy đời sống “ít muốn biết đủ, thiểu dục tri túc” nó thú vị, bình an như thế nào, tuyệt vời lắm. Cái đải mình không có gì, mình không có sợ mất, để đâu cũng không lo, có mất thì thôi bỏ. Để đồ quý, đồ giá trị trong đó, thì đi đâu cũng phải kè kè bên cạnh, đó là sắc, sắc là khổ đó. Mình cứ nghĩ khổ là vì mình bị mất đồ, không phải, đó là một phần thôi, đó mới là một cái cảm thọ của mình thôi. Khổ nó nằm trong cái món đồ đó, một phần nguyên nhân của cái khổ là món đồ giá trị bị mất đó, đó là sắc, là khổ. Giờ có ai cho mình món đồ quý báu, mình cầm cái đó mình nói: “Cái này là khổ tới rồi” như vậy đó, mới là đệ tử của Phật. Nếu mình có sử dụng cho Tam bảo, thì mình làm, còn nếu không thì mình chia sẻ, cúng dường, mình đừng giữ, mình giữ đó mình không tu được. Cho nên đọc vô đây, vô văn phàm phu làm sao hiểu được.
“Này các Tỷ-kheo, sắc là khổ, liễu tri như vậy Phạm Hạnh được sống dưới Đức Thế Tôn.” Mù, không thấy thì đâu biết ở đây có cái chuông đẹp, cái chuông kêu tiếng hay, để mà tham. Điếc thì đâu có nghe, nên không có biết cái tiếng nó hay. Bởi vậy, căn, trần, thức, xúc, thọ đều khổ hết. Chúng ta mới thấy cái khổ đó nó ngấm không? Thấm không? Nó ngấm hết không? Nó đi vô da, rồi đi vào trong thịt, rồi tới xương, thấu vô trong tủy. Như vậy thì nó mới đưa đến hiệu quả của nó là nhàm chán, mới không tham, mới từ bỏ, chứ không thì làm sao mình từ bỏ được? Cái miệng thì nó “bỏ bỏ”, mà mình thấy nó quý, nó đẹp, nó hấp dẫn, thì làm sao mình bỏ? Đây là những pháp quán. Mà thực sự mình nghe, mình chiêm nghiệm, mình quán chiếu, rồi mình thấy đúng. Đức Thế Tôn từng nói: “Xưa và nay, ta chỉ nói có hai điều, khổ và phương pháp diệt khổ”. Chỉ cần mình thực chứng hai điều đó là lậu tận, thấp nhất là Chánh tri kiến, dự lưu.
Con nhìn thấy cái cổng trời ở Linh Quy là khổ, anh em, dì cháu, đập bể đầu với nhau ở dưới chân núi, từ mặt không nhìn nhau, chửi lộn đánh lộn với nhau để giành khách. Con mới về chùa ở dưới dự lễ trai Tăng cúng cho ba mẹ, hai nhóm anh chị em không cúng chung, cha mẹ mới chết, chia tài sản, bây giờ không nhìn mặt, như nước với lửa, tách riêng ra cúng hai ngày, không cúng chung. Tài sản đó có khổ không? Tài sản đó là sắc đó, sắc là khổ. Trong cái bữa đáp từ bữa trai Tăng con không có nói gì nhiều hết, con chỉ nói: “anh em hòa thuận, thương nhau, tha thứ cho nhau, đó là món quà trong mùa hiếu hạnh dâng lên cha mẹ”. Mình phải làm cho cái nhìn của mình nó thâm sâu, nó tế nhị, nhỏ nhiệm tất cả mọi phương diện với khía cạnh, mình nhìn mới thấy, thật sự không có một hành nào là lạc, là vui hết.
Người thành tựu Chánh tri kiến (người thấy đúng về pháp), không thể chấp nhận bất cứ một một hành (sự vận hành trong ngũ uẩn) nào là vui.
Người thành tựu Chánh tri kiến, không thể chấp nhận bất cứ một hành nào là thường (vậy hoài) hết.
Người thành tựu Chánh tri kiến, không chấp nhận bất cứ một cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức hay một món gì ở trên cuộc đời này là tôi, là của tôi.
Người thành tựu Chánh tri kiến, không chấp nhận bất cứ một hình thái nào của vật chất, một cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, tưởng, nhận thức nào là sắc đẹp.
Đó là bậc thành tựu Chánh tri kiến, mình phải hướng tới đó, phải nuôi dưỡng một cái tâm hướng dự lưu, tất cả mọi sự vận hành của ngũ uẩn, không có một cái nào là đẹp, là vui, là tôi, là ta, là thường. Con dùng những từ tiếng Việt bình dị nhất, cho quý vị trực tiếp đi vào pháp. “Như vậy hoài” là thường, mình nói chữ thường mình khó hiểu, mình nói tiếng Việt mình nghĩ cái đó như vậy hoài, đó là suy nghĩ tà kiến. Thí dụ mình nghĩ “sáng nào cũng nghe pháp bình thường, có gì đâu”, đó là tà kiến, ngu si, vô minh. Bất cứ mọi người trong đây, bao gồm cả con, có thể chiều nay hoặc ngày mai chết, bị tai nạn giao thông, nhiễm sốt xuất huyết (hiện mấy chục ngàn ca rồi, Đồng nai kế bên mình là chết mười mấy, hai chục người, gần 20 ngàn ca nhiễm trong một tỉnh thôi), thành ra mình nghĩ “như vậy hoài”, là ngu si, vô minh.
Mình phải nghĩ, tất cả trong ngũ uẩn này sẽ biến động, đổi thay, biến hoại liên tục. Giờ nào mình tu được, mình công quả được, mình làm được, là mình làm hết. Mình đừng có nghĩ rằng “để một hồi tôi mới tu, bây giờ tôi không tu, chút nữa tôi lên bồ đoàn tôi mới tu, một hồi tôi vào thất tôi mới tu”, cách suy nghĩ đó là vô minh. Tu là ngay tại chỗ này, làm gì có một chút nữa, giấy một chút nữa thì sẽ trở thành hiện tại. Thật sự có một giây phút ngay hiện tại bây giờ thôi, ngay giờ phút này mình không tu, tới giây phút hiện tại mình cũng đâu có tu, mình nói “thôi để bữa sau”, rồi tới bữa sau đó mình cũng đâu có tu, mình nói “để tuần sau nữa”, thì mình ý hành nó gạt. Chỉ có giây phút hiện tại, mình tu là chỉ có khoảnh khắc hiện giờ thôi, chứ không có tu 3 năm, 10 năm, 7 năm gì hết, tu khoảnh khắc hiện giờ này nè, chỉ có một khoảnh khắc đó, chấp nhận hay là không chấp nhận thôi. Mình nói lúc đầu “bây giờ con chưa thấy khổ được đâu, từ từ con mới thấy”, thì như vậy là mình đẩy cái Thánh trí huệ đi ra khỏi mình. Một cái ý hành đó là nó ngăn trở Thánh trí, chấp nhận cái phàm tình, rời xa Thánh trí.
“Nhãn thức, nhãn xúc, các cảm thọ khởi lên, vui hay là khổ, hay không vui không khổ, liễu tri cảm thọ ấy là khổ. Cho nên con mới đi tu, Phạm Hạnh sống dưới Đức Thế Tôn. Để thấu suốt tất cả những phương diện, khía cạnh, góc độ của ba cảm thọ là khổ đau, cho nên con mới đi tu.” Mình được ăn ngon, mình gặp được cảnh đẹp hay mình được khen, là mình quên tu, mình không thấy khổ nữa, thì một hồi mình bị chê, là mình chết ngay, một hồi không có đồ ăn, ăn cơm nguội là mình sẽ khổ ngay, phải quán 3 cảm thọ là khổ. Người chân tu, thấy đúng là ba thời đều khổ “Này các Tỷ-kheo, dù cho sắc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội ngoại, thô tế, thắng liệt, xa gần, cần phải như thật quán chiếu thứ đó là vô thường, là khổ đau, trống rỗng, tai họa, bất an”. Cho nên người tu mà không thấy khổ, thì làm sao mà tu, không thể nào tu được hết, tu ở trong nhân, thiên, pháp thôi, chứ không thể tu giải thoát được.
Không phải khi mù mới thấy khổ, mắt sáng như vầy, nhìn một cái dục, tham, ái, sân khởi lên. Ví dụ có cô gái 18 tuổi bên ấn Độ, để chứng tỏ tình yêu của mình, lấy máu của bạn trai nhiễm HIV tiêm vô người mình, rồi suốt đời là phải uống thuốc điều trị. Chúng ta thấy không? Cái dục, cái ái làm cho con người vô minh, ngu si, nó hủy hoại hết. Cho nên con thấy Nikāya sống hàng ngày, đang diễn ra đầy rẫy, cùng khắp trên thế giới. Nó say đắm, say mê, rồi nó ngu si, hôn ám, thế giới này bị khống chế trong dục mê. Chúng ta phải ngấm cái khổ này, ngấm đến tận cùng xương tủy thì mới tu, mới tiến được. Không bao giờ quên cái khổ này, quên là mình phải tác ý, quán chiếu, nhắc nhở ngay. Ngồi đây hiện tại bây giờ là khổ đầy ở dưới hết trơn “có không ạ?” Chứ đâu phải đợi bệnh, đợi chết, mới khổ đâu. “Con dặn mấy người bệnh khẩu trang sao không thấy đeo ạ?”, cái này cũng là cái khổ đó, nhiều cái khổ lắm.
Mắt mù lòa cũng khổ, mù không phải là con mắt đây nó mù, mà nó không nhìn thấy được thọ, tưởng, hành, thức, dục, ái, vô minh, bản ngã. Chữ “liễu tri” là sự thấy biết đầy đủ hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, viên mãn tròn đầy về khổ đau. Chữ “liễu” là trọn vẹn, chữ “tri” là biết. “Liễu tri” là biết một cách thấu đáo, trọn vẹn, tận cùng, đầy đủ, thì đó là sự biết của bậc Thánh, đó là mục đích của mình đi tu, chứ không phải đi tu là để tìm sướng. Mình đặt một cái tựa, cái tên trong tất cả kinh tạng Nikāya, Đức Phật luôn nhấn mạnh về cái khổ. Mình thấy bà cụ già nhất trong đạo tràng mình xem, nhìn mặt có thấy khổ không? Chúng ta để ý đi, tất cả đời sống này mình nhìn vào đi, mình nhìn vô rồi mình thấy cái gì? Nước mắt trong đó không à.
Không những khổ mà người ta khóc, vui người ta cũng chảy nước mắt nữa “chúng ta có thấy không ạ?” Tại vì bản chất của nó là nước mắt, bản chất của nó là khổ. Cho nên cái vui, lạc thọ đó là khổ, nên chảy nước mắt. Cái vui nó không có thật, là vui, mà cái vui ở trong cái khổ. Thí dụ: Mẹ với con thất lạc ba, bốn chục năm, mà tìm gặp lại được, thì thấy như thế nào? Vui không? Hạnh phúc không? Nhưng mà hạnh phúc trong đau khổ. Hai người ôm chằm lấy nhau, nước mắt đầy mặt, nói là vui, nhưng cái vui đó nó nằm trong đau khổ, cho nên nó biểu hiện ra bằng những dòng lệ tận cùng thương đau, chứ thật sự có hạnh phúc gì đâu. Nếu bây giờ mẹ con gặp lại nhau là hạnh phúc, mà đi về một thời gian là sân si, bản ngã nữa, khổ nữa, còn vô minh là còn khổ.
Cho nên con ngồi đây, dịp Vu Lan con cho quý vị ngồi thiền biết ơn, chứ con nhìn thấy khổ Thánh đế không à. Tuy là làm lễ Vu Lan như vậy đó, nhưng con không có nghĩ cái tình ái thường của phàm phu, mà con thấy đó là khổ “đây là khổ, khổ là đây. Thánh chuông vang động, trời mây muôn loài” con thấy những giọt nước mắt của Phật tử, chư Tăng, chư Ni, những giọt nước mắt của chúng con, con thấy là một biển khổ, là một đại khổ uẩn. Chỉ có một vị thôi, là hương vị của khổ đau, đắng cay, của những sự tham, ái, sân hận, vô minh, si mê, hắc ám, bản ngã, hơn thua, giành giật, tranh đấu, đấu đá, của nước mắt, của máu, đầy ngập, sung mãn, là mùi vị của khổ đau. Chúng ta nhìn thấy vợ chồng lạy nhau trong nước mắt, vì bản ngã. Chúng ta nhìn thấy mẹ con, cha con lạy nhau, vì cái ta, cái tôi, vì sự hỗn hào, bất hiếu, bất kính. Chúng ta thấy anh em quỳ lạy nhau, như mới vừa kể đó, gia tài mới chia, cha mẹ mới chết, như nước với lửa, cúng cha mẹ cũng không cúng chung. Chúng ta thấy xót xa, đau khổ cho cuộc đời không? Có phải là dục, tham là gốc rễ của tất cả các pháp? Tất cả các pháp, lấy dục làm căn bản, vì tham những đồng tiền, tài sản.
Ví như hai con chó đang chơi thân, quấn quýt với nhau, mình quăng cục xương cho nó, là cắn nhau, là sủa nhau. Cục xương đó là khổ, cái con mắt để nhìn thấy cục xương đó là khổ, cái sự tiếp xúc với cục xương đó là khổ, cái cảm thọ sanh khởi lên vui sướng, hay là thích thú, cái cảm thọ đó là khổ, chúng ta lấy cái ví dụ đó để nhìn thấy căn, trần, thức, xúc, thọ. Chúng ta thấy rõ không? Cục xương đó là sắc, con mắt đó là sắc, sự thấy đó là nhãn thức, sự tiếp xúc giữa con mắt với cục xương, cái rõ biết đó là nhãn xúc. Sanh khởi lên cảm thọ tham muốn, tranh giành. Đầu tiên là tham, kế đó là sân, tất cả những sự cái vận hành đó là sự vận hành của khổ. Hình ảnh đó là hình ảnh của chúng sanh, là hình ảnh của chúng ta, của hữu tình, của muôn loài. Chỉ một bài kinh này, chúng ta thấy ý là khổ, cái rõ biết được thọ, tưởng, hành đó cũng là khổ. Biết trong đó rồi bắt đầu sanh khởi lên những cái gì toan tính, so đo, ít nhiều, hơn thua, đúng sai, cao thấp, rồi trong đó nó làm việc, nó vận hành trong đó. Sau khi vận hành, cái sản phẩm của nó tạo thành là khổ đau, cái thành phẩm của nó là giành giật, hơn thua, đấu đá khắp thế giới này.
Trong Tương Ưng Bộ kinh, tập II, chúng ta thiền quán “Dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích” khổ Thánh trí, bài kinh Khoảng Ba Mươi.
“Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, Trúc Lâm. Tại đó có ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pa-va, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử, cùng đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pa-va này, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử. Vậy Ta hãy thuyết pháp cho họ như thế nào để ngay tại chỗ ngồi này, tâm của họ được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
– Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, hay là nước trong bốn biển lớn?
– Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích, khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.
- Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các ông đã hiểu Pháp Ta dạy như vậy!
Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là bò, sanh ra làm bò trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là trâu, sanh ra làm trâu trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là cừu, sanh ra làm cừu trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là dê, sanh ra làm dê trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là heo, sanh ra làm heo trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là gia cầm, sanh ra làm gia cầm trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?…
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông làm đạo tặc, làm kẻ trộm làng, bị bắt trong thời gian dài là nhiều chớ không phải là nước trong bốn biển lớn. Dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông làm đạo tặc, ăn cướp đường bị bắt trong thời gian dài là nhiều chớ không phải là nước trong bốn biển lớn. Dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông làm đạo tặc, tư thông vợ người trong thời gian dài chớ không phải là nước trong bốn biển lớn….
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo... là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành...
Thế Tôn nói như vậy, các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được tuyên bố, đối với ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pa-va, tâm các vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập II – bài kinh Khoảng Ba Mươi)
Thật sự là chúng ta quán chiếu, chúng ta thấy rùng rợn, những cái lò mổ, chúng ta đã nhìn thấy trên màn ảnh, và có những người nhìn thấy trực tiếp. Những con bò, súc sanh, thú vật, bị thọc huyết, đập đầu, lột da, xẻo thịt, móc bộ đồ lòng ra, máu lênh láng khắp nhà. Khi thọc huyết vào cổ, máu tươi, máu nóng phún ra lên láng, những tiếng kêu hét, oán khí đầy trời, vì cái miệng ăn của chúng ta, vì những sự tham ăn, dục ăn của chúng ta. Trong những tiếng kêu thảm thiết, đau đớn, quằn quại, uất hận, oán khí đầy trời đó, chúng ta ăn, chúng ta cười, chúng ta sung sướng, rồi chúng ta chê khen. Những huyết canh, những máu của chúng sanh, những tiếng kêu gào thảm thiết, quằn quại, đau đớn, tức tửi, mạng chung đó, chúng ta ăn, nuốt, mổ, giết, nhai, và chúng ta đã bị ăn, nuốt, nhai giống như vậy. Ăn qua ăn lại, nuốt qua nuốt lại, nhai qua nhai lại, lột da, nhồi da xáo thịt qua lại như vậy, trong vô lượng, vô biên kiếp sanh tử, luân hồi này.
Chúng ta thử cộng lại hết những các lò mổ, trên toàn thế giới này, chúng ta biết làm thịt một ngày bao nhiêu con vật? Mỗi một ngày trên toàn cầu lên con số tỷ, một ngày là hàng tỷ con vật chết, một tuần là 7,8 tỷ ở những lò mổ, lò sát sanh. Chúng ta đã từng trải qua những thân tướng như vậy, làm gà, làm vịt, làm trâu, làm bò, làm heo, làm dê, làm nai, làm những gia cầm, những con vật được nuôi trong gia đình. Chúng ta cộng hết máu của các con vật đó lại, thì số lượng đó là như thế nào? Lớn như thế nào? Nhiều như thế nào? Một ngày thôi mà hàng tỷ con vật chết, máu nó đổ ra là bao nhiêu nước, bao nhiêu dòng, bao nhiêu biển máu? Đó cũng là máu của chúng ta, vì vô minh che đậy, vì tham ái trói buộc, chúng ta sung sướng, vui cười, hỉ hả, trong ác nghiệp của mình, trong ác nghiệp của chúng sanh. Vì vô minh, ngu si, chúng ta không biết rằng máu của mình đã đổ ra đầy khắp tứ đại hải dương. Mà giờ này chúng ta cũng còn yêu thích, say đắm, kích thích, bởi những máu thịt tanh hôi của chúng sanh. Thật là đau khổ thay cho chúng ta, cho chúng sanh, hữu tình.
Chúng ta phải đưa những cái này vào những buổi diễn tập thiền quán, đừng có ngồi đó ngủ gục, đừng có ngồi đó không biết làm gì, đừng có ngồi trơ trơ. Hãy đưa những cái buổi này vào những buổi thiền tập, triển khai thiền quán, làm cho mình cảm nhận sâu sắc, cảm động, chấn động thân tâm của mình, để mình thấy sợ hãi ác nghiệp. Đối với các Phật tử, mình từ bỏ sát sanh, mình tập ăn chay trường, đó là sự chứng ngộ của Đức Phật, chính kim khẩu của Ngài nói ra. Từng câu, từng lời, từng chữ còn ghi lại 2.600 năm, được các bậc Thánh Tăng học thuộc lòng và truyền tụng. Những bài này là những bài thiền quán thâm sâu, dài lâu, mãi mãi, đối với những người xuất gia, cư sĩ, Thánh đệ tử của Đức Phật. Chúng ta phải thấy xót xa những kiếp người, hình hài, cái miệng và ác nghiệp sát sanh này. Chúng ta thấy đau đớn, nhức nhói, đau khổ về ác nghiệp của chính mình, về những cái mình làm cho chúng sanh và những cái mình đã chịu đựng. Đức Phật mới nói sơ sơ khi chúng ta rơi vào loài súc sanh, mà máu chúng ta đã đầy tứ đại hải dương rồi đó.
Bây giờ chúng ta bước qua đời làm người đi ăn trộm, làm đạo tặc, đi cướp làng, ăn trộm, ăn cướp, bị đánh vô đầu, bị đập, máu chảy đổ ra. Chúng ta biết Đức Phật nói rất là vắn tắt, chúng ta phải hiểu ra bao nhiêu hình thái của trộm cướp, chúng ta đã làm qua hết. Sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu…chúng ta làm qua vô lượng, vô số, vô tỉ lần. Nếu không biết tu, không biết giữ gìn giới pháp, chúng ta đã làm, ta đang làm và chúng ta sẽ làm, tiếp tục những hậu quả khủng khiếp, ác nghiệp, mà chúng ta đã tạo trong vòng luân hồi oan nghiệt, đau khổ này. Đã rất lâu chúng ta chịu đựng khổ đau, trải qua những thống khổ như vậy đó. Chúng ta phải đổ bao nhiêu máu, đầu rơi, máu đổ như vậy? Chúng ta phải chảy bao nhiêu những dòng nước mắt của tận cùng thương đau? Chúng ta làm cho chúng sanh phải tức tưởi, oan ức, mạng chung. Chúng ta đã làm cho chính mình phải gánh lấy bao nhiêu những hậu quả khủng khiếp, của tội lỗi, ác nghiệp.
Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nghiện ngập, điên đảo trong những chất kích thích, ngu si. Chúng ta đã gây tạo bao nhiêu tội ác, nghiệp ác, tội lỗi? Chúng ta đã chịu đựng tai hoạ, khổ đau, thống khổ. Những ngôi mộ mà chúng ta đã chết, càng ngày càng nhiều thêm, càng lớn lên. Vậy mà chúng ta không biết, chúng ta vẫn mù lòa, điên đảo, điên loạn. Vậy mà giờ này chúng ta vẫn còn giành giật, hơn thua, tranh giành để tạo ác nghiệp, chen lấn với nhau để tạo những tội lỗi, thật là đáng thương, tội nghiệp cho chúng ta. Như vậy là vừa đủ, quá đủ, quá thừa, để chúng ta nhàm chán cái vòng luân hồi đầy rẫy những tham, sân, si, ác độc, tai nạn, hoạn nạn, ách nạn, khổ nạn. Quá đủ để chúng ta ngao ngán, ê chề, gớm ghê, chán chê, nhàm chán, từ bỏ những thứ xấu xa, bẩn thỉu, tồi bại, nhục nhã, thấp hèn, rác rưởi, tanh hôi đó, từ bỏ những tâm tham, sân, si, của thú vật, súc vật, súc sanh, giành giật, ăn nuốt, cấu xé. Vừa đủ cho chúng ta nhàm chán, từ bỏ, thoát ra tất cả những sự vận hành của vô thường, đau khổ, đầy bất an, tai họa này.
“Thế Tôn nói như vậy, các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được tuyên bố, đối với ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pa-va, tâm các vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.” Tin và nhận lời dạy của Thế Tôn, ba mươi vị Tỷ-kheo này đều chứng Thánh quả A-la-hán, sạch tất cả các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
(Phần Phật tử trình pháp)
Tại Sao Chúng Ta Đi Tu?
Thích Minh Thành
Ngày 18 tháng 08 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mục đích tu hành PAGEREF _Toc113517029 \h 1
II. Quán chiếu khổ PAGEREF _Toc113517030 \h 3
I. Mục đích tu hành
Kính thưa các bậc hiền trí tăng ni và quý Phật tử. Hôm nay có mấy vị Phật tử mới lên đây tu học đúng không ạ? Hai quý cô có muốn chia sẻ, hay hỏi gì về Pháp không ạ? Mình tu mà mình không thấy khổ là mình không có tu được. Chúng ta niệm bài căn bản trí đầu tiên ạ.
Niệm nguyên nhân luân hồi 1 -kinh trường bộ - bài 16
“Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
Ta và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.”
(Trường Bộ Kinh – bài kinh Đại Bát-Niết-Bàn)
Sau đây là bài kinh “Với Mục Đích Gì?”
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi rất nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Tqhế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo đến hỏi chúng con: “Này chư Hiền, vì mục đích gì, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Này chư Hiền, với mục đích liễu tri đau khổ, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama”. Ðược hỏi như vậy và trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con trả lời đúng với lời nói Thế Tôn, chúng con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, chúng con trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích?
4) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông được hỏi như vậy và trả lời như vậy là các Ông trả lời đúng với lời của Ta, các Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật, các Ông trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích. Này các Tỷ-kheo, do mục đích liễu tri đau khổ mà Phạm hạnh được sống dưới Ta. Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông: “Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri đau khổ này?” Ðược hỏi vậy, thời các Ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Này chư Hiền, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu tri đau khổ này.
5) Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường, thế nào là đạo lộ đưa đến liễu tri đau khổ? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến liễu tri sự đau khổ này.
6) Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập IV – bài kinh Với Mục Đích Gì?)
Với mục đích thấy khổ, hiểu khổ, biết khổ, thấu triệt tất cả hoàn toàn mọi khía cạnh, phương diện, góc độ của khổ đau. Mà các Ông bỏ cha, bỏ mẹ, anh chị em, bỏ gia đình, bỏ tình thân, sắc đẹp, tình yêu, tình thương, tài sản, sự nghiệp, từ giã lục thân quyến thuộc, trong nước mắt đầy mặt, trong sự luyến tiếc, mà các Ông cạo tóc, đắp y, ôm bình bát, làm một người khất sĩ. Vì mong muốn thấy được sự thật tận cùng đó, cho nên chúng tôi sống với đời sống viễn ly, rời xa với mọi sự lòe loẹt của cuộc đời. Thường trú nơi xa vắng, để chiêm nghiệm, thiền quán, thẩm thấu, thấu triệt, thực chứng sự thật về đau khổ của nhãn xúc, sự tiếp xúc của con mắt, của cái nhìn này.
II. Quán chiếu khổ
Do duyên nhãn xúc khởi lên khổ hay vui? Hay không khổ không vui? Vì muốn thấu triệt tận cùng cảm thọ ấy là khổ đau, cho nên chúng tôi đi theo Phật. Con mắt này là khổ đau, là cận thị, viễn thị, loạn thị, khiếm thị. Hồi hôm này, con vô tình nhìn thấy trên màn hình, có chú này bị mù, đi hát rong để kiếm tiền nuôi vợ con, bị người ta gạt đi đến chỗ không có người để lấy hết tiền. Người vợ của chú này cũng bị mù, ở nhà nuôi hai đứa con, chú ca những lời ca đầy bi ai, thống thiết, đau khổ. Nhìn thấy những đứa con lóc nhóc, nước mắt trào ra giống như những người thân thương nhất của mình, giống như cha mẹ của mình. Cận thị, viễn thị, loạn thị, khiếm thị, đui mù, bệnh tật, bệnh hoạn, những trại mù, những làng mù.
Nhưng không phải đợi mù mới là khổ, con mắt còn nguyên vẹn, sáng trưng, trên gương mặt chúng ta cũng đầy rẫy những sự bất an, tại hoạ. Vừa rồi có đám thanh niên nhậu nhẹt, nói qua nói lại với nhau, rồi người này lấy ống điếu đâm vào con mắt của người kia xuyên qua đầu, khi đưa đến bệnh viện thì chết. Thật sự là con mắt này sanh khởi chỉ chú, xuất sanh, xuất hiện, là khổ sanh khởi, tật bệnh có mặt, già chết hiện hữu “Con mắt, này Các tỳ kheo, sự sanh khởi, chỉ chú, xuất hiện, hiện hữu của con mắt là sự sanh khởi của khổ, hiện hữu, chỉ trú, an trú của khổ, là già chết, tai họa, khổ đau xuất hiện”. Chúng ta phải thiền quán, tác ý, phải ngấm cái này vào xương, tủy, tim, máu của mình, không có được quên. Sự có mặt của con mắt này là sự có mặt của mù lòa, đui, chột. Sự có mặt của nhiều bệnh viện, nhiều mắt kính, nhiều thuốc, cần phải liễu tri đau khổ này.
Sự có mặt của các sắc này, cho đến khi nào ta nhìn được căn nhà, chiếc xe, mảnh đất, miếng vườn, tiền tài, tài sản đó là khổ. Mới xảy ra mấy ngày trước, có hai vợ chồng nghi nhau ăn cắp 500.000đ mà đâm chết nhau, mới nghi lấy tiền thôi, mà giết chết luôn. Cho nên chỉ có Thánh trí tuệ Nikāya này, mới soi rọi hết tất cả hết phương diện, khía cạnh, góc độ khổ đau của tứ đại, ngũ uẩn, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư. Chỉ có khổ Thánh trí này mới soi được hết các phương diện, khía cạnh, gọi là liễu tri đau khổ. Rồi có những người lãnh 1 triệu để đi buôn lậu thuốc phiện, cuối cùng lấy 1 triệu đó rồi đổi bằng mạng sống, tử hình, chung thân vì 1 triệu đó. Khổ Thánh trí này phải được thường xuyên tác ý, tư duy, liên tục nghiền ngẫm, thì mới có thể liễu tri được đau khổ. Vì không thấy, không biết bốn sự thật về khổ này mà chúng ta lưu truyền, chìm đắm, trôi nổi, lăn lộn trong 3 đường 6 nẻo này. Chiêm nghiệm thật nhiều mình sẽ thấy, mình sẽ liễu tri đau khổ (mấy vị có bệnh thì ngồi cách xa, giữ khoảng cách với đại chúng), đó là khổ.
Mấy bữa lễ Vu Lan ở Bửu Liên – Sài Gòn, 2,3 ngày không ăn gì hết, bụng cứ lình bình, cứ no hoài. Mười một giờ rưỡi đêm phải đi kinh hành tới mười hai giờ rưỡi đêm, không ăn gì hết mà cũng nằm ợ nữa. Nửa đêm đi kinh hành nhìn thấy nó khổ, có cái bao tử này, hệ tiêu hóa này, cái miệng, cái bụng này, cho nên mới có không tiêu, mới có đầy hơi, nó hành hạ mình phải đi như vầy. Bước ra đường nhìn thấy chạy xe lạn lách, chen với nhau, sân si với nhau. Một là nước ngập, kẹt xe hơn 1 tiếng đồng hồ, không thôi là nắng chói chan, bao nhiêu tia cực tím, chất độc. Mình tập nhìn cái gì cũng thấy khổ ở trong đó, mình mới đi đến sự nhàm chán, không tham muốn nữa, mới từ bỏ. Mình mới không còn hơn thua, tranh giành, sân hận, tham đắm ở trong những thứ vô thường, hư ảo, biến hoại, khổ đau này. Mình phải đưa nó vào trong suy nghĩ, cảm thọ, tưởng, nhận thức của mình. Từng suy nghĩ phải lấy khổ Thánh trí suy nghĩ, từng cảm thọ phải dùng khổ Thánh trí để cảm thọ.
Hôm qua họp bên hội thảo ban Phật pháp trung ương toàn quốc, mình mới thấy sự tu này nó vi diệu lắm. Người ta dọn ra 70,80 món ăn, mình nhìn nó không còn hấp dẫn nữa, như ngày xưa thấy như vậy là thích lắm, mặc tình mà gắp, giờ ăn nửa dĩa mà cái bụng không biết còn tiêu không nữa, nhận thấy một cái cảm thọ không còn nhiệt tình, không còn kích thích nữa. Trong “Tương Ưng Sáu Xứ” Đức Phật nói: “Chư thiên và loài người bị sắc, âm thanh, mùi, vị, bị xúc (những tiếp xúc), hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm kích thích” Mình không tu thì mình nhiệt tình với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, âm. Khi tu rồi thì mình an tịnh, lắng dịu, mình thấy nó khác lắm. Những cái khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn, mình thấy là mình thở dài lắc đầu, có được sự an tịnh, lắng dịu phần nào, mình thấy khổ, mệt mỏi trong đó.
Mình nhìn mấy chục món đồ ăn vậy đó, mình biết rằng người ta mệt, người ta khổ, người ta cực, người ta nhọc nhằn, vất vả lắm, cho nên mình phải nhìn thấy sắc là khổ. Sắc là cái gì? Là căn nhà, ngôi chùa mình ở, chiếc xe mình đi, tài sản mình có, ruộng vườn, đất đai, tiền bạc, xe cộ, quần áo, giày dép. Con mang đôi dép tổ ong xấu xí, cũ sì, con thấy hạnh phúc làm sao và không lo chút nào bị mất dép hết. Mình mới thấy đời sống “ít muốn biết đủ, thiểu dục tri túc” nó thú vị, bình an như thế nào, tuyệt vời lắm. Cái đải mình không có gì, mình không có sợ mất, để đâu cũng không lo, có mất thì thôi bỏ. Để đồ quý, đồ giá trị trong đó, thì đi đâu cũng phải kè kè bên cạnh, đó là sắc, sắc là khổ đó. Mình cứ nghĩ khổ là vì mình bị mất đồ, không phải, đó là một phần thôi, đó mới là một cái cảm thọ của mình thôi. Khổ nó nằm trong cái món đồ đó, một phần nguyên nhân của cái khổ là món đồ giá trị bị mất đó, đó là sắc, là khổ. Giờ có ai cho mình món đồ quý báu, mình cầm cái đó mình nói: “Cái này là khổ tới rồi” như vậy đó, mới là đệ tử của Phật. Nếu mình có sử dụng cho Tam bảo, thì mình làm, còn nếu không thì mình chia sẻ, cúng dường, mình đừng giữ, mình giữ đó mình không tu được. Cho nên đọc vô đây, vô văn phàm phu làm sao hiểu được.
“Này các Tỷ-kheo, sắc là khổ, liễu tri như vậy Phạm Hạnh được sống dưới Đức Thế Tôn.” Mù, không thấy thì đâu biết ở đây có cái chuông đẹp, cái chuông kêu tiếng hay, để mà tham. Điếc thì đâu có nghe, nên không có biết cái tiếng nó hay. Bởi vậy, căn, trần, thức, xúc, thọ đều khổ hết. Chúng ta mới thấy cái khổ đó nó ngấm không? Thấm không? Nó ngấm hết không? Nó đi vô da, rồi đi vào trong thịt, rồi tới xương, thấu vô trong tủy. Như vậy thì nó mới đưa đến hiệu quả của nó là nhàm chán, mới không tham, mới từ bỏ, chứ không thì làm sao mình từ bỏ được? Cái miệng thì nó “bỏ bỏ”, mà mình thấy nó quý, nó đẹp, nó hấp dẫn, thì làm sao mình bỏ? Đây là những pháp quán. Mà thực sự mình nghe, mình chiêm nghiệm, mình quán chiếu, rồi mình thấy đúng. Đức Thế Tôn từng nói: “Xưa và nay, ta chỉ nói có hai điều, khổ và phương pháp diệt khổ”. Chỉ cần mình thực chứng hai điều đó là lậu tận, thấp nhất là Chánh tri kiến, dự lưu.
Con nhìn thấy cái cổng trời ở Linh Quy là khổ, anh em, dì cháu, đập bể đầu với nhau ở dưới chân núi, từ mặt không nhìn nhau, chửi lộn đánh lộn với nhau để giành khách. Con mới về chùa ở dưới dự lễ trai Tăng cúng cho ba mẹ, hai nhóm anh chị em không cúng chung, cha mẹ mới chết, chia tài sản, bây giờ không nhìn mặt, như nước với lửa, tách riêng ra cúng hai ngày, không cúng chung. Tài sản đó có khổ không? Tài sản đó là sắc đó, sắc là khổ. Trong cái bữa đáp từ bữa trai Tăng con không có nói gì nhiều hết, con chỉ nói: “anh em hòa thuận, thương nhau, tha thứ cho nhau, đó là món quà trong mùa hiếu hạnh dâng lên cha mẹ”. Mình phải làm cho cái nhìn của mình nó thâm sâu, nó tế nhị, nhỏ nhiệm tất cả mọi phương diện với khía cạnh, mình nhìn mới thấy, thật sự không có một hành nào là lạc, là vui hết.
Người thành tựu Chánh tri kiến (người thấy đúng về pháp), không thể chấp nhận bất cứ một một hành (sự vận hành trong ngũ uẩn) nào là vui.
Người thành tựu Chánh tri kiến, không thể chấp nhận bất cứ một hành nào là thường (vậy hoài) hết.
Người thành tựu Chánh tri kiến, không chấp nhận bất cứ một cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức hay một món gì ở trên cuộc đời này là tôi, là của tôi.
Người thành tựu Chánh tri kiến, không chấp nhận bất cứ một hình thái nào của vật chất, một cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, tưởng, nhận thức nào là sắc đẹp.
Đó là bậc thành tựu Chánh tri kiến, mình phải hướng tới đó, phải nuôi dưỡng một cái tâm hướng dự lưu, tất cả mọi sự vận hành của ngũ uẩn, không có một cái nào là đẹp, là vui, là tôi, là ta, là thường. Con dùng những từ tiếng Việt bình dị nhất, cho quý vị trực tiếp đi vào pháp. “Như vậy hoài” là thường, mình nói chữ thường mình khó hiểu, mình nói tiếng Việt mình nghĩ cái đó như vậy hoài, đó là suy nghĩ tà kiến. Thí dụ mình nghĩ “sáng nào cũng nghe pháp bình thường, có gì đâu”, đó là tà kiến, ngu si, vô minh. Bất cứ mọi người trong đây, bao gồm cả con, có thể chiều nay hoặc ngày mai chết, bị tai nạn giao thông, nhiễm sốt xuất huyết (hiện mấy chục ngàn ca rồi, Đồng nai kế bên mình là chết mười mấy, hai chục người, gần 20 ngàn ca nhiễm trong một tỉnh thôi), thành ra mình nghĩ “như vậy hoài”, là ngu si, vô minh.
Mình phải nghĩ, tất cả trong ngũ uẩn này sẽ biến động, đổi thay, biến hoại liên tục. Giờ nào mình tu được, mình công quả được, mình làm được, là mình làm hết. Mình đừng có nghĩ rằng “để một hồi tôi mới tu, bây giờ tôi không tu, chút nữa tôi lên bồ đoàn tôi mới tu, một hồi tôi vào thất tôi mới tu”, cách suy nghĩ đó là vô minh. Tu là ngay tại chỗ này, làm gì có một chút nữa, giấy một chút nữa thì sẽ trở thành hiện tại. Thật sự có một giây phút ngay hiện tại bây giờ thôi, ngay giờ phút này mình không tu, tới giây phút hiện tại mình cũng đâu có tu, mình nói “thôi để bữa sau”, rồi tới bữa sau đó mình cũng đâu có tu, mình nói “để tuần sau nữa”, thì mình ý hành nó gạt. Chỉ có giây phút hiện tại, mình tu là chỉ có khoảnh khắc hiện giờ thôi, chứ không có tu 3 năm, 10 năm, 7 năm gì hết, tu khoảnh khắc hiện giờ này nè, chỉ có một khoảnh khắc đó, chấp nhận hay là không chấp nhận thôi. Mình nói lúc đầu “bây giờ con chưa thấy khổ được đâu, từ từ con mới thấy”, thì như vậy là mình đẩy cái Thánh trí huệ đi ra khỏi mình. Một cái ý hành đó là nó ngăn trở Thánh trí, chấp nhận cái phàm tình, rời xa Thánh trí.
“Nhãn thức, nhãn xúc, các cảm thọ khởi lên, vui hay là khổ, hay không vui không khổ, liễu tri cảm thọ ấy là khổ. Cho nên con mới đi tu, Phạm Hạnh sống dưới Đức Thế Tôn. Để thấu suốt tất cả những phương diện, khía cạnh, góc độ của ba cảm thọ là khổ đau, cho nên con mới đi tu.” Mình được ăn ngon, mình gặp được cảnh đẹp hay mình được khen, là mình quên tu, mình không thấy khổ nữa, thì một hồi mình bị chê, là mình chết ngay, một hồi không có đồ ăn, ăn cơm nguội là mình sẽ khổ ngay, phải quán 3 cảm thọ là khổ. Người chân tu, thấy đúng là ba thời đều khổ “Này các Tỷ-kheo, dù cho sắc quá khứ, hiện tại, vị lai, nội ngoại, thô tế, thắng liệt, xa gần, cần phải như thật quán chiếu thứ đó là vô thường, là khổ đau, trống rỗng, tai họa, bất an”. Cho nên người tu mà không thấy khổ, thì làm sao mà tu, không thể nào tu được hết, tu ở trong nhân, thiên, pháp thôi, chứ không thể tu giải thoát được.
Không phải khi mù mới thấy khổ, mắt sáng như vầy, nhìn một cái dục, tham, ái, sân khởi lên. Ví dụ có cô gái 18 tuổi bên ấn Độ, để chứng tỏ tình yêu của mình, lấy máu của bạn trai nhiễm HIV tiêm vô người mình, rồi suốt đời là phải uống thuốc điều trị. Chúng ta thấy không? Cái dục, cái ái làm cho con người vô minh, ngu si, nó hủy hoại hết. Cho nên con thấy Nikāya sống hàng ngày, đang diễn ra đầy rẫy, cùng khắp trên thế giới. Nó say đắm, say mê, rồi nó ngu si, hôn ám, thế giới này bị khống chế trong dục mê. Chúng ta phải ngấm cái khổ này, ngấm đến tận cùng xương tủy thì mới tu, mới tiến được. Không bao giờ quên cái khổ này, quên là mình phải tác ý, quán chiếu, nhắc nhở ngay. Ngồi đây hiện tại bây giờ là khổ đầy ở dưới hết trơn “có không ạ?” Chứ đâu phải đợi bệnh, đợi chết, mới khổ đâu. “Con dặn mấy người bệnh khẩu trang sao không thấy đeo ạ?”, cái này cũng là cái khổ đó, nhiều cái khổ lắm.
Mắt mù lòa cũng khổ, mù không phải là con mắt đây nó mù, mà nó không nhìn thấy được thọ, tưởng, hành, thức, dục, ái, vô minh, bản ngã. Chữ “liễu tri” là sự thấy biết đầy đủ hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, viên mãn tròn đầy về khổ đau. Chữ “liễu” là trọn vẹn, chữ “tri” là biết. “Liễu tri” là biết một cách thấu đáo, trọn vẹn, tận cùng, đầy đủ, thì đó là sự biết của bậc Thánh, đó là mục đích của mình đi tu, chứ không phải đi tu là để tìm sướng. Mình đặt một cái tựa, cái tên trong tất cả kinh tạng Nikāya, Đức Phật luôn nhấn mạnh về cái khổ. Mình thấy bà cụ già nhất trong đạo tràng mình xem, nhìn mặt có thấy khổ không? Chúng ta để ý đi, tất cả đời sống này mình nhìn vào đi, mình nhìn vô rồi mình thấy cái gì? Nước mắt trong đó không à.
Không những khổ mà người ta khóc, vui người ta cũng chảy nước mắt nữa “chúng ta có thấy không ạ?” Tại vì bản chất của nó là nước mắt, bản chất của nó là khổ. Cho nên cái vui, lạc thọ đó là khổ, nên chảy nước mắt. Cái vui nó không có thật, là vui, mà cái vui ở trong cái khổ. Thí dụ: Mẹ với con thất lạc ba, bốn chục năm, mà tìm gặp lại được, thì thấy như thế nào? Vui không? Hạnh phúc không? Nhưng mà hạnh phúc trong đau khổ. Hai người ôm chằm lấy nhau, nước mắt đầy mặt, nói là vui, nhưng cái vui đó nó nằm trong đau khổ, cho nên nó biểu hiện ra bằng những dòng lệ tận cùng thương đau, chứ thật sự có hạnh phúc gì đâu. Nếu bây giờ mẹ con gặp lại nhau là hạnh phúc, mà đi về một thời gian là sân si, bản ngã nữa, khổ nữa, còn vô minh là còn khổ.
Cho nên con ngồi đây, dịp Vu Lan con cho quý vị ngồi thiền biết ơn, chứ con nhìn thấy khổ Thánh đế không à. Tuy là làm lễ Vu Lan như vậy đó, nhưng con không có nghĩ cái tình ái thường của phàm phu, mà con thấy đó là khổ “đây là khổ, khổ là đây. Thánh chuông vang động, trời mây muôn loài” con thấy những giọt nước mắt của Phật tử, chư Tăng, chư Ni, những giọt nước mắt của chúng con, con thấy là một biển khổ, là một đại khổ uẩn. Chỉ có một vị thôi, là hương vị của khổ đau, đắng cay, của những sự tham, ái, sân hận, vô minh, si mê, hắc ám, bản ngã, hơn thua, giành giật, tranh đấu, đấu đá, của nước mắt, của máu, đầy ngập, sung mãn, là mùi vị của khổ đau. Chúng ta nhìn thấy vợ chồng lạy nhau trong nước mắt, vì bản ngã. Chúng ta nhìn thấy mẹ con, cha con lạy nhau, vì cái ta, cái tôi, vì sự hỗn hào, bất hiếu, bất kính. Chúng ta thấy anh em quỳ lạy nhau, như mới vừa kể đó, gia tài mới chia, cha mẹ mới chết, như nước với lửa, cúng cha mẹ cũng không cúng chung. Chúng ta thấy xót xa, đau khổ cho cuộc đời không? Có phải là dục, tham là gốc rễ của tất cả các pháp? Tất cả các pháp, lấy dục làm căn bản, vì tham những đồng tiền, tài sản.
Ví như hai con chó đang chơi thân, quấn quýt với nhau, mình quăng cục xương cho nó, là cắn nhau, là sủa nhau. Cục xương đó là khổ, cái con mắt để nhìn thấy cục xương đó là khổ, cái sự tiếp xúc với cục xương đó là khổ, cái cảm thọ sanh khởi lên vui sướng, hay là thích thú, cái cảm thọ đó là khổ, chúng ta lấy cái ví dụ đó để nhìn thấy căn, trần, thức, xúc, thọ. Chúng ta thấy rõ không? Cục xương đó là sắc, con mắt đó là sắc, sự thấy đó là nhãn thức, sự tiếp xúc giữa con mắt với cục xương, cái rõ biết đó là nhãn xúc. Sanh khởi lên cảm thọ tham muốn, tranh giành. Đầu tiên là tham, kế đó là sân, tất cả những sự cái vận hành đó là sự vận hành của khổ. Hình ảnh đó là hình ảnh của chúng sanh, là hình ảnh của chúng ta, của hữu tình, của muôn loài. Chỉ một bài kinh này, chúng ta thấy ý là khổ, cái rõ biết được thọ, tưởng, hành đó cũng là khổ. Biết trong đó rồi bắt đầu sanh khởi lên những cái gì toan tính, so đo, ít nhiều, hơn thua, đúng sai, cao thấp, rồi trong đó nó làm việc, nó vận hành trong đó. Sau khi vận hành, cái sản phẩm của nó tạo thành là khổ đau, cái thành phẩm của nó là giành giật, hơn thua, đấu đá khắp thế giới này.
Trong Tương Ưng Bộ kinh, tập II, chúng ta thiền quán “Dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích” khổ Thánh trí, bài kinh Khoảng Ba Mươi.
“Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, Trúc Lâm. Tại đó có ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pa-va, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử, cùng đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pa-va này, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử. Vậy Ta hãy thuyết pháp cho họ như thế nào để ngay tại chỗ ngồi này, tâm của họ được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
– Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, hay là nước trong bốn biển lớn?
– Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích, khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.
- Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các ông đã hiểu Pháp Ta dạy như vậy!
Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là bò, sanh ra làm bò trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là trâu, sanh ra làm trâu trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là cừu, sanh ra làm cừu trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là dê, sanh ra làm dê trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là heo, sanh ra làm heo trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các ông bị thương tích khi các ông là gia cầm, sanh ra làm gia cầm trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?…
Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông làm đạo tặc, làm kẻ trộm làng, bị bắt trong thời gian dài là nhiều chớ không phải là nước trong bốn biển lớn. Dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông làm đạo tặc, ăn cướp đường bị bắt trong thời gian dài là nhiều chớ không phải là nước trong bốn biển lớn. Dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các ông làm đạo tặc, tư thông vợ người trong thời gian dài chớ không phải là nước trong bốn biển lớn….
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo... là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành...
Thế Tôn nói như vậy, các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được tuyên bố, đối với ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pa-va, tâm các vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.”
(Tương Ưng Bộ kinh tập II – bài kinh Khoảng Ba Mươi)
Thật sự là chúng ta quán chiếu, chúng ta thấy rùng rợn, những cái lò mổ, chúng ta đã nhìn thấy trên màn ảnh, và có những người nhìn thấy trực tiếp. Những con bò, súc sanh, thú vật, bị thọc huyết, đập đầu, lột da, xẻo thịt, móc bộ đồ lòng ra, máu lênh láng khắp nhà. Khi thọc huyết vào cổ, máu tươi, máu nóng phún ra lên láng, những tiếng kêu hét, oán khí đầy trời, vì cái miệng ăn của chúng ta, vì những sự tham ăn, dục ăn của chúng ta. Trong những tiếng kêu thảm thiết, đau đớn, quằn quại, uất hận, oán khí đầy trời đó, chúng ta ăn, chúng ta cười, chúng ta sung sướng, rồi chúng ta chê khen. Những huyết canh, những máu của chúng sanh, những tiếng kêu gào thảm thiết, quằn quại, đau đớn, tức tửi, mạng chung đó, chúng ta ăn, nuốt, mổ, giết, nhai, và chúng ta đã bị ăn, nuốt, nhai giống như vậy. Ăn qua ăn lại, nuốt qua nuốt lại, nhai qua nhai lại, lột da, nhồi da xáo thịt qua lại như vậy, trong vô lượng, vô biên kiếp sanh tử, luân hồi này.
Chúng ta thử cộng lại hết những các lò mổ, trên toàn thế giới này, chúng ta biết làm thịt một ngày bao nhiêu con vật? Mỗi một ngày trên toàn cầu lên con số tỷ, một ngày là hàng tỷ con vật chết, một tuần là 7,8 tỷ ở những lò mổ, lò sát sanh. Chúng ta đã từng trải qua những thân tướng như vậy, làm gà, làm vịt, làm trâu, làm bò, làm heo, làm dê, làm nai, làm những gia cầm, những con vật được nuôi trong gia đình. Chúng ta cộng hết máu của các con vật đó lại, thì số lượng đó là như thế nào? Lớn như thế nào? Nhiều như thế nào? Một ngày thôi mà hàng tỷ con vật chết, máu nó đổ ra là bao nhiêu nước, bao nhiêu dòng, bao nhiêu biển máu? Đó cũng là máu của chúng ta, vì vô minh che đậy, vì tham ái trói buộc, chúng ta sung sướng, vui cười, hỉ hả, trong ác nghiệp của mình, trong ác nghiệp của chúng sanh. Vì vô minh, ngu si, chúng ta không biết rằng máu của mình đã đổ ra đầy khắp tứ đại hải dương. Mà giờ này chúng ta cũng còn yêu thích, say đắm, kích thích, bởi những máu thịt tanh hôi của chúng sanh. Thật là đau khổ thay cho chúng ta, cho chúng sanh, hữu tình.
Chúng ta phải đưa những cái này vào những buổi diễn tập thiền quán, đừng có ngồi đó ngủ gục, đừng có ngồi đó không biết làm gì, đừng có ngồi trơ trơ. Hãy đưa những cái buổi này vào những buổi thiền tập, triển khai thiền quán, làm cho mình cảm nhận sâu sắc, cảm động, chấn động thân tâm của mình, để mình thấy sợ hãi ác nghiệp. Đối với các Phật tử, mình từ bỏ sát sanh, mình tập ăn chay trường, đó là sự chứng ngộ của Đức Phật, chính kim khẩu của Ngài nói ra. Từng câu, từng lời, từng chữ còn ghi lại 2.600 năm, được các bậc Thánh Tăng học thuộc lòng và truyền tụng. Những bài này là những bài thiền quán thâm sâu, dài lâu, mãi mãi, đối với những người xuất gia, cư sĩ, Thánh đệ tử của Đức Phật. Chúng ta phải thấy xót xa những kiếp người, hình hài, cái miệng và ác nghiệp sát sanh này. Chúng ta thấy đau đớn, nhức nhói, đau khổ về ác nghiệp của chính mình, về những cái mình làm cho chúng sanh và những cái mình đã chịu đựng. Đức Phật mới nói sơ sơ khi chúng ta rơi vào loài súc sanh, mà máu chúng ta đã đầy tứ đại hải dương rồi đó.
Bây giờ chúng ta bước qua đời làm người đi ăn trộm, làm đạo tặc, đi cướp làng, ăn trộm, ăn cướp, bị đánh vô đầu, bị đập, máu chảy đổ ra. Chúng ta biết Đức Phật nói rất là vắn tắt, chúng ta phải hiểu ra bao nhiêu hình thái của trộm cướp, chúng ta đã làm qua hết. Sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu…chúng ta làm qua vô lượng, vô số, vô tỉ lần. Nếu không biết tu, không biết giữ gìn giới pháp, chúng ta đã làm, ta đang làm và chúng ta sẽ làm, tiếp tục những hậu quả khủng khiếp, ác nghiệp, mà chúng ta đã tạo trong vòng luân hồi oan nghiệt, đau khổ này. Đã rất lâu chúng ta chịu đựng khổ đau, trải qua những thống khổ như vậy đó. Chúng ta phải đổ bao nhiêu máu, đầu rơi, máu đổ như vậy? Chúng ta phải chảy bao nhiêu những dòng nước mắt của tận cùng thương đau? Chúng ta làm cho chúng sanh phải tức tưởi, oan ức, mạng chung. Chúng ta đã làm cho chính mình phải gánh lấy bao nhiêu những hậu quả khủng khiếp, của tội lỗi, ác nghiệp.
Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nghiện ngập, điên đảo trong những chất kích thích, ngu si. Chúng ta đã gây tạo bao nhiêu tội ác, nghiệp ác, tội lỗi? Chúng ta đã chịu đựng tai hoạ, khổ đau, thống khổ. Những ngôi mộ mà chúng ta đã chết, càng ngày càng nhiều thêm, càng lớn lên. Vậy mà chúng ta không biết, chúng ta vẫn mù lòa, điên đảo, điên loạn. Vậy mà giờ này chúng ta vẫn còn giành giật, hơn thua, tranh giành để tạo ác nghiệp, chen lấn với nhau để tạo những tội lỗi, thật là đáng thương, tội nghiệp cho chúng ta. Như vậy là vừa đủ, quá đủ, quá thừa, để chúng ta nhàm chán cái vòng luân hồi đầy rẫy những tham, sân, si, ác độc, tai nạn, hoạn nạn, ách nạn, khổ nạn. Quá đủ để chúng ta ngao ngán, ê chề, gớm ghê, chán chê, nhàm chán, từ bỏ những thứ xấu xa, bẩn thỉu, tồi bại, nhục nhã, thấp hèn, rác rưởi, tanh hôi đó, từ bỏ những tâm tham, sân, si, của thú vật, súc vật, súc sanh, giành giật, ăn nuốt, cấu xé. Vừa đủ cho chúng ta nhàm chán, từ bỏ, thoát ra tất cả những sự vận hành của vô thường, đau khổ, đầy bất an, tai họa này.
“Thế Tôn nói như vậy, các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được tuyên bố, đối với ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pa-va, tâm các vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.” Tin và nhận lời dạy của Thế Tôn, ba mươi vị Tỷ-kheo này đều chứng Thánh quả A-la-hán, sạch tất cả các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
(Phần Phật tử trình pháp)