Thứ Tự Tu Tập 12
Kinh Nikāya Giảng Giải
Thứ Tự Tu Tập 12
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Oan trái PAGEREF _Toc155021040 \h 1
II. Người tu tâm hiền PAGEREF _Toc155021041 \h 4
I. Oan trái
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, ngưỡng bái bạch trên thượng tọa giáo thọ, kính bái bạch chư thiền đường đại chúng. Trước khi vào câu hỏi con kính tri ân thượng tọa, nguyện cầu hồng ân tam bảo gia hộ cho ngài được nhiều sức khỏe và có nhiều bài pháp chia sẻ cho chúng con trên bước đường tu nhân học Phật. Câu hỏi của con là bản thân chúng con khi chọn ngành hoằng pháp này thì con gặp trường hợp những lúc lên pháp tòa, đôi lần con cảm nhận được cảm giác có oan gia trái chủ.
Bình thường lúc ngồi ở dưới cảm thọ đó không có nhưng khi lên pháp tòa có nhiều cái chen ngang dòng suy nghĩ của mình cũng như tác động trên thân. Con nhận ra được điều đó, sau những lần thuyết giảng thì con thực hành pháp lạy Phật, niệm Phật, sám hối, kính bạch thầy nếu con thực hành giống như vậy thì có giảm không? Khi con hướng về những oan gia đó thì nó có giảm bớt những oan trái giữa con với họ không?
Thượng tọa có thể chia sẻ cho con thêm những pháp hành hoặc pháp tu trong những lúc chúng con tiếp xúc hay gặp lại điều đó thì chúng con sẽ có thêm kinh nghiệm hoặc cách để đối diện với nó. Ngoại trừ cái pháp chúng con đang làm bây giờ thì xin thượng tọa vì lòng từ ngài chỉ dạy thêm cho chúng con. Nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Đức Thế Tôn trong Tăng Chi Bộ kinh nói rằng có bốn thứ không thể nghĩ bàn, đó là cảnh giới của chư Phật, cảnh giới của thiền định, cảnh giới của thần thông, sự vận hành của ngũ uẩn và quả dị thục của nghiệp, đây là bốn lãnh vực bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng được.
"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII). Không Thể Nghĩ Ðược)
Quả dị thục nghĩa là khi nghiệp chín muồi rồi trổ ra, mình không nghĩ rằng người đó sẽ bị như vậy, mình không nghĩ rằng mình sẽ gặp trường hợp như vậy. Ngày trước khi chưa vào nghiên cứu tu học Nikāya thì Minh Thành chưa nhận ra được điều này nhưng khi đi vào tu học thì nhận ra rất rõ, mình tu đúng chánh pháp, có sự để tâm thật nhiều, quán sát thật nhiều thì mình sẽ thành tựu rất nhiều loại trí tuệ chứ không đơn thuần như mình nghĩ tu là tụng một ngày hai thời, hiểu sơ sơ giáo lý là được.
Khi mình tu đúng chánh pháp, thực tập pháp hành đúng theo lời Phật thì mình sẽ thành tựu đa dạng trí tuệ, nhiều trí tuệ về nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều lãnh vực, giới vức cho nên khi thấy được những oan gia trái chủ là một loại trí huệ mà mình thành tựu. Ví dụ khi đi lên chùa đó để ở rồi đi học, tự nhiên có một người lúc nào cũng kiếm chuyện với mình, dù mình không làm gì họ nhưng gặp nhau là họ có những lời nói, cử chỉ hoặc trước mặt hoặc sau lưng gây sự, có khi vu oan giá họa cho mình thì đó chính là oan gia trái chủ. Tức là mình không biết tại sao lại như vậy, đó là những món nợ cũ của kiếp trước còn tồn đọng lại, vì vô minh, vì si mê, vì không thấy không biết nên mình không nhìn ra được chủ nợ lớn của mình trong đời trước, sau đó mình mang tâm thái hận thù, muốn trả đũa. Kết cuộc vừa trả nợ vừa vay, nợ cũ chưa trả xong thì nợ mới lại vay thêm nữa, vậy là mình với người đó sẽ gây ra nhiều oan trái, tạo thêm nhiều đắng cay, sanh ra thêm nhiều khổ ải.
Nếu mình tu thì mình có trí tuệ, có sự quán chiếu sâu sắc sự bất thình thường của người này, dù mình không làm gì mà họ cứ gây sự với mình, mình sẽ suy xét thật kĩ nhân quả ba đời, cái nghiệp đã tạo trong quá khứ thì mình biết đây chính là chủ nợ cũ của mình, mình phải chấp nhận và phải có tâm thái như thế nào để trả món nợ này. Ví dụ có người đến đòi nợ 50 triệu thì mình có trả không hay sân si lên? Đương nhiên là mình sân si lên vì "tôi thiếu hồi nào" nhưng khi bình tĩnh lại, suy xét thật kĩ trong quá khứ thì nhớ ra có mượn người này 50 triệu cách đây 20 năm, tâm thái bây giờ với tâm thái lúc đầu bị đòi tiền rất khác nhau.
Cũng vậy, một người thấy được nhân quả, thấy được nghiệp báo, biết được oan gia trái chủ sẽ khác với người không biết, cũng như ví dụ vừa rồi, nhớ và không nhớ, biết và quên. Nếu một người đến đòi nợ mà mình biết "đúng rồi, đây là nợ cũ, người ta đòi là đúng rồi", nếu có thì trả 1 lần, không có thì trả từ từ, không có nữa thì nói cho dễ nghe. Như vậy tâm thái biết mình thiếu nợ sẽ khác với tâm thái của một người vô minh, không biết mình thiếu nợ, đó là trí huệ khác nhau của người biết tu và người không biết tu.
Một người không biết mình thiếu nợ thì người này sẽ phản kháng, sân hận, tức giận, vậy là tạo thêm một món nợ mới, nhưng chúng ta thường không nhớ gì cả "tôi thiếu nợ hồi nào", thậm chí nhớ rồi nhưng không thèm trả, có tiền cũng không trả, như vậy là người nhớ và người quên, người biết và người không biết. Chúng ta sống trong dòng luân hồi này là vô lượng vô số, vô biên vô thỉ kiếp thì chúng ta có biết bao món nợ nhưng vẫn mạnh miệng "tự tôi sống được rồi, tôi không cần ai cả", đây là câu nói của bản ngã, câu nói không có ân nghĩa, ân tình, câu nói phũ phàng. Khi mình quán chiếu kĩ thì mình thiếu nợ rất nhiều mối, mối nào đến đòi trước thì trả trước, mối nào đến đòi sau thì trả sau, còn những mối mình chưa biết thì để đó nhưng phải chuẩn bị tâm thái trả nợ, đó mới là người biết nhân quả, thấy nghiệp báo, đó mới là người hiền trí.
Người này đối với những cái bất như ý đến, đối với những chướng ngại, nghịch duyên, nghịch cảnh đến thì họ có tâm thái chấp nhận, nhẹ nhàng hơn, dễ chịu hơn, đây là chỗ quan trọng, chúng ta sống có nhẹ nhàng không, tâm có an lạc không chính là chỗ này, là sự thấy và biết, chấp nhận và không chấp nhận. Những mối quan hệ mẹ con, cha con, chị em, bạn bè, huynh đệ, thầy trò nếu không biết tu là có rất nhiều món nợ, có khi thầy trò lại làm khổ cho nhau, huynh đệ, tỉ muội làm khổ cho nhau rất nhiều, đó đều là những món nợ cũ và mới. Vấn đề quan trọng là sau khi thấy biết, sau khi quán chiếu, sau khi nhìn nhận ra sự việc thì chúng ta dùng tâm thái nào để tiếp nhận? Chúng ta phải dùng tình thương, dùng từ tâm cho nên vốn liếng của người tu rất quan trọng, nếu không để ý là chúng ta chết dài dài.
II. Người tu tâm hiền
Vốn liếng đầu tiên là "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương", đây là vốn thứ nhất của chúng ta, lúc nào trong cảm giác của chúng ta cũng phải có những cảm thọ này, chúng ta phải thành tựu những cảm giác này trong con người chúng ta, giống như trong túi mình có sẵn bánh kẹo lấy ra cho liền, trong túi lúc nào cũng có tiền nên muốn cho người nghèo là cho.
Còn trong người mình là những cảm giác dao động, sôi động, khó chịu, những cảm giác bực bội thì mình là người nghèo nàn, khốn khổ, một người suy dinh dưỡng tinh thần, mình không phải là người ban phát tình thương mà mình đi xin xỏ tình thương của người khác, suốt ngày mình cứ chờ người này thương, người kia thương, người nọ thương, tại vì mình nghèo, mình thiếu nên mình cứ đi trông ngóng, đợi chờ người này người kia thương mình rồi mình thích thú, khoan khoái. Mình là người nghèo nàn trong cảm giác, nghèo nàn trong nội tâm, còn nếu mình phong phú được sự "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương" thì tuyệt vời vô cùng.
"Vui thay, chúng ta sống,
Không rộn giữa rộn ràng;
Giữa những người rộn ràng,
Ta sống, không rộn ràng"
(Kinh Pháp Cú 15 – Phẩm An Lạc, kệ 199)
Cảm thọ của mình lúc nào cũng là sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, mình phải thành tựu được cảm thọ đó, phải chứng đắc cảm thọ đó, Thánh quả cao mình chưa làm được nhưng những cái này mình có thể làm được.
"Vui thay, chúng ta sống,
Không hận, giữa hận thù!
Giữa những người thù hận,
Ta sống, không hận thù!"
(Kinh Pháp Cú 15 – Phẩm An Lạc, kệ 197)
Vui thay chúng ta sống không khó chịu giữa những người khó chịu, giữa những người khó chịu ta thật là dễ chịu. Vui thay chúng ta sống dễ thương giữa những người ganh ghét, giữa những người ganh ghét ta sống thật dễ thương. Chúng ta phải thành tựu được những cảm giác xúc đó chứ không phải nói ngoài miệng, ví dụ có 3-4 người đang la đứa nhỏ thì mình nhẹ nhàng "mai mốt không làm vậy nữa nha con, thôi mấy chị tha cho nó đi, nó còn nhỏ", mình đem những cảm xúc dễ chịu, dễ thương đến cho đứa trẻ thì nó sẽ biết ơn mình nhiều, nó sẽ quý mình nhiều, nó sẽ có niềm tin vào người xuất gia, đằng này đứa nhỏ mới vào chùa mà 3-4 người đến hùng hổ la mắng thì nó sẽ mất niềm tin đối với tam bảo.
Đó là do nền tảng, gốc rễ mình không thành tựu thì tu cái gì? Trong 16 hơi thở của Đức Phật thì cảm giác toàn thân là để tu sự an tịnh, lắng dịu, hít vào thì dễ chịu, an tịnh thân hành, sau khi thành tựu những cái này thì mình tu tập tâm hiền.
Lúc đầu chưa hiểu thì mình thắc mắc "trông mình chưa hiền hay sao mà phải tu tâm hiền", suy nghĩ đó là hung dữ, nội hàm của chữ "hiền" trong Nikāya rất thâm sâu và rộng lớn, các bậc Thánh Tăng gọi nhau bằng "chư hiền", "hiền giả", "hiền trí", cuối cùng cứu cánh phạm hạnh là "hiền Thánh", vì thế trong đạo tràng Nikāya con gọi các vị cư sĩ là các bậc hiền trí với một ý muốn nhắc nhở mọi người phải thành tựu tâm hiền, phải tu tập tâm hiền. Trong lộ trình tu học thì tâm hiền này phải tu trong 8 tháng, đến hôm nay qua 8 tháng thì con tăng lên 3 năm, mình đừng tưởng mình hiền, thật ra vẫn chưa hiền, ví dụ ở trên đang giảng bài nhưng ở dưới lại mở sách khác ra đọc thì đó cũng là chưa hiền, đó là một cái tâm lang thang, tâm cô hồn, học kinh Nikāya rồi sẽ thấy sự vi tế, sâu sắc trong đó, đó là cái tâm không chấp nhận học pháp, ương ngạnh, tâm không nhu nhuyến, không mềm mại, tâm chưa hiền cho nên thành tựu tâm hiền không phải đơn giản.
Lúc nãy trình pháp mình nói "tôi giận đúng, giận này là vì công việc", đó cũng là tâm chưa hiền. Câu nói "khẩu xà tâm Phật" là sai hoàn toàn, nếu không có ý hành thì làm sao có khẩu hành? Vì khẩu hành là công cụ của ý hành phát ra cho nên có những điều mình nghe thì tưởng là đúng nhưng đó là tưởng trong vô minh.
Con xưng "con" với các thầy các cô là vì con đang tu tập tâm hiền, đây là một trong những pháp tu tập hạ bản ngã xuống, đó chính là pháp hành chứ không phải làm dáng, khách sáo. Khi mình xưng "con" thì tự động sẽ thấy mình nhỏ xuống, khi mình xưng "tôi" thì tự động mình thấy có bản ngã, từ ngày xuất gia đến giờ cực kì hiếm hoi những lần con xưng "tôi", "ta", nếu có xưng thì xưng pháp danh, sau này đi vào dòng pháp Nikāya là thường xưng "con".
Con có dịp ghé qua chùa thầy Pháp Hòa ở Canada, đức hạnh của thầy rất hiền lành, thầy đem đôi dép cho con mà xưng "con" rất ngọt ngào, tự nhiên trong khi tài năng, đức hạnh của thầy nổi danh biết bao người quý kính. Người ta quý kính là vì những đức hạnh đó, còn mình được một chút là "lấy cái đó cho sư cô coi", tất cả những cái đó là bản ngã. Con không bắt buộc nhưng con khuyến khích các vị xuất gia xưng "con", dù cho người đó ngang hàng hay nhỏ hơn cũng không sao, miễn là diệt bản ngã, diệt cái tôi. Mình tu là để diệt cái tôi kia mà nhưng tại sao lại dùng những từ làm cho cái tôi lớn lên?
Có khi ở ngoài gọi con là sư phụ, thượng tọa, ân sư này nọ nhưng bên trong tâm con là hình ảnh một người quỳ mọp xuống lạy người ta, con an trú tâm như nùi giẻ rách để người ta giẫm đạp, đó là pháp tu của ngài Xá-lợi-phất. Để thành tựu tâm hiền phải tu tập 9 pháp của ngài Xá-lợi-phất trong bài kinh "Sau khi an cư" trong Tăng Chi Bộ.
Mỗi lần mình giậm chân vào nùi giẻ thì mình phải nhớ mình chính là cái nùi giẻ này, tâm mình phải an trú như cái nùi giẻ này, không còn địa vị nào trên đời, không còn một cái tôi, một cái ta nào cả, không ngẩn mặt, không vênh váo với ai cả, "nhà ngươi phải làm cái nùi giẻ rách này cho ta", "ta bắt ngươi phải làm cái nùi giẻ rách này cho ta, bây giờ ngươi đi tu rồi nên phải làm cái nùi giẻ rách cho ta", mình ra lệnh cho tâm mình như vậy, bắt nó phải phục tùng, phải nghe lệnh mình, chúng ta về nghe thêm chuyên đề "Tầm quan trọng của tâm hiền trí" trong đó nói về 9 pháp hành của tôn giả Xá-lợi-phất, bậc tôn giả trí tuệ tối thượng, là tướng quân chánh pháp của Đức Phật vì thế tâm hiền này tuyệt đối quan trọng.
Tâm hiền này có khi mình tu đến chết luôn chứ không phải đơn giản vì có khi ở ngoài con người mình nhịn được, nhưng với con ruồi đậu vô mắt hoặc bị muỗi chích rất khó chịu, đang đi mà con chó nhào ra muốn cắn thì mình khó chịu, đang đi mà bị trượt chân trầy trụa là mình tức lên, thành ra tâm mình vẫn còn dữ, chính mình đi không cẩn thận mà mình đổ thừa tại xui này xui nọ, cái tâm hướng ngoại của chúng sanh là vậy.
Sư cô 2: Kính bạch trên thầy, nãy giờ con nghe thầy nói tâm hiền thì con thấy pháp môn tu tâm hiền này rất khó, ví dụ mình hiền nhưng người kế bên làm mình hiền không nổi thì sao thầy? Ví dụ mình đang ngồi ăn cơm mà người kế bên chọt mình làm muỗng cơm văng lên mặt thì lúc đó mình sân lên "chị này kì quá, chị chọt em lên mặt thì biết bao người nhìn", lúc đó mình sân lên rồi nhưng vẫn ráng tập tâm an tịnh, lắng dịu, dằn lại, mình nhịn mà không nói. Lần 1 nhịn, lần 2 không nói nhưng lần thứ 3 giống như muốn bộc phát. Hoặc là mình vui nhưng nghiệp người ta không thích mình thì mình tội cho nghiệp người ta thì có tội không thưa thầy? Mình cứ vô tư, vui vẻ trong khi người ta khó chịu, vậy tâm khó chịu của họ là nghiệp của họ, mình không liên quan gì cả, mình cố gắng hòa đồng, vui vẻ với mọi người nhưng họ lại thấy khó chịu thì đó là do nghiệp của họ chứ không phải do mình làm gì cả.
Sư Phụ:
"Khó nắm giữ, khinh động,
Theo các dục quay cuồng.
Lành thay, điều phục tâm;
Tâm điều, an lạc đến"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 35)
"Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)
Chính vì vậy mình phải ra công dụng hạnh công phu nhiều hơn nữa, thứ nhất là oan gia trái chủ, không phải tự nhiên mà họ làm tới lần thứ 3. Thứ hai là nếu mình thấy không ổn thì phải tránh duyên xúc, xin ngồi chỗ khác, tiếp theo là đừng nghĩ khó tu vì suy nghĩ đó làm cho mình không tu. Mình làm được rất nhiều những điều khó làm như bỏ cha bỏ mẹ đi tu, điều này rất khó mà mình làm được, ăn chay trường khó mà mình làm được, tuổi trẻ thanh xuân mà mình phải nhịn sắc, nhịn dục dù rất khó nhưng mình cũng cố gắng, tại sao nhiều cái khó mình làm được mà cái này mình làm không được.
Đừng suy nghĩ theo chiều tiêu cực, đây là đạo lộ của tất cả các bậc hiền Thánh phải đi qua cho nên bước thứ ba là tu tâm từ, sau đó mới tu tâm từ cho quảng đại và cuối cùng là tu tâm từ vô lượng, khi mình có được tâm từ này thì mình sẽ trở thành người giàu có trong Phật pháp, mình được tâm này thì trở thành tỷ phú trong Phật giáo, mình sẽ không sân hận với những đối tượng đó mà chỉ thấy thương họ thôi.
Từ đâu chúng ta thành tựu tâm từ này? Là vì chúng ta thấy khổ đau, còn nếu không thấy khổ là không thể thành tựu được tâm từ. Mình thấy tấm thân này là khổ, mình thấy tấm thân này mệt mỏi, phiền phức, ăn nhiều cũng mệt, đói cũng mệt, ngồi mãi cũng khó chịu, đi mãi không ngồi được cũng khó chịu, nằm hoài không ngồi dậy được cũng khổ cho nên Đức Thế Tôn nói ngũ uẩn này là gánh nặng.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là gánh nặng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)
Như vậy sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là một đống khổ to lớn, gọi là đại khổ uẩn, Thế Tôn có hai bài kinh là Tiểu kinh khổ uẩn và Đại kinh khổ uẩn. Lúc nào mình quên mình khổ thì mới sân si với người khác, mới hơn thua với người ta, còn lúc mình đang đau khổ, đầy rẫy bệnh tật, nghe báo tin ung thư giai đoạn cuối chỉ sống được 7 ngày nữa thì còn đi gây lộn với người kế bên không? Nghe tin xong là tay chân bủn rủn, nằm một chỗ, ăn không được mà ngủ cũng không xong, tất cả tham, sân, si, bản ngã đều lắng dịu, đó là do thấy khổ nên không còn tham, sân, si nữa, khi mình thấy mình là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã, người đó cũng là nạn nhân của vô minh, tham, sân, si, bản ngã, tất cả chúng ta đều là nạn nhân, quá khổ rồi mới vào chùa vậy mà còn hành hạ nhau, hành tội nhau. Mình phải tác ý như vậy, khi nào quên cái khổ thì tham, sân, si mới sanh khởi, còn nhớ khổ thì tham, sân, si sẽ lắng dịu.
Mình nói "người này cứ kiếm chuyện với tôi", thật ra làm gì có cái tôi? Cái tôi không có thì lấy gì có người kiếm chuyện với tôi? Mình tà kiến, phi như lý tác ý, mình không chịu tác ý đúng theo trí huệ của Phật mà cứ khăng khăng tu theo thực tế nhưng cái thực tế đó là vô minh, là chấp ngã, thực tế là sống với tri kiến phàm phu, Thánh trí huệ của Phật thì để một bên, nói rằng "khó lắm không làm được", "cái này khó lắm không làm được, chỉ có mấy bậc Thánh mới làm được", suy nghĩ đó là ác ma, phải diệt suy nghĩ đó, từ bỏ suy nghĩ đó, mình phải thấy khổ đau là một sự thật lớn.
Hình hài này là khổ, phải mang vác hình hài này là khổ, thấy trời mưa là thấy khổ rồi, không biết có mang áo mưa không, đi về mắc mưa có khi bệnh cảm, còn trời nắng nóng quá cũng khổ vì bị say nắng, chóng mặt, ngoài ra còn trúng độc tham, sân, si nhưng vẫn không thấy khổ, cứ nghĩ là sướng. Cái khổ rành rành trước mắt mà không thấy, nó ở kế bên tai mà không biết cho nên mới gọi là mù lòa, Đức Phật nói tất cả chúng sanh đều mù lòa.
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Mọi thứ đều là khổ mà không nhớ khổ rồi gây sự với nhau, hơn thua nhau, châm chọc nhau, hành hạ, hành xác nhau, bỏ cha bỏ mẹ, cạo đầu vào chùa, thức khuya dậy sớm rồi ganh tỵ từng chút với nhau. Thật là đáng thương! Tội nghiệp vô cùng tội nghiệp! Mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh, không thấy khổ thì làm sao thấm cái khổ, chúng ta chẳng những thấy khổ mà còn phải thấm thía cái khổ, mình nhớ lại những cái chết đau lòng của người thân, nhớ những cảnh sanh ly tử biệt, nhớ những cảnh mình từng sân hận rồi khổ đau, nhớ lại biết bao dòng nước mắt tận cùng thương đau, mình lôi hết cái khổ ra để quán chiếu cho nước mắt đầm đìa để thấm cái khổ, không bao giờ quên, cho đến khi nào nhìn thấy tất cả chúng sanh hữu tình đều hiện lên một chữ khổ to tướng, tất cả đều là đống ngũ uẩn đang khổ đau trước mặt mình và mình là một đống đại khổ uẩn thì đó là mình thể nhập Khổ Thánh Trí, nghĩa là trí huệ của bậc Thánh về sự khổ đau của đời sống này.
Sự xuất hiện của mình trong đời sống này là sự xuất hiện của khổ, sự vận hành của đời sống chúng ta là sự vận hành của khổ, đó là cái nhìn của các bậc Thánh. Mình nghĩ ngồi đây học là khỏe phải không? Thật ra không phải vậy, ngồi như vậy nhưng bên trong tâm có người đang giận, có người đang buồn, có người đang nôn nao muốn về, có người đang mệt mỏi, có người đang mắc tiêu, mắc tiểu phải ráng kiềm chế lại, muốn đi vệ sinh mà không dám, có rất nhiều cái khổ nhưng mình không thấy, ngoài ra còn dục ái, khao khát, thèm thuồng, đòi hỏi, sân hận, bản ngã cộng thêm những nội kết trong tâm, chẳng qua chúng ta lãng quên, bỏ qua, mặc kệ chứ còn khui ra thì bốc mùi, một nội tâm bất tịnh. Trong tâm mình chất chừa toàn là dục, tham, ái, sân si, hơn thua, vô minh, bản ngã, ganh tỵ, đố kỵ… cho nên khi nó bung ra là bốc mùi như nghĩa địa.
"- Này các Tỳ-kheo, có năm nguy hại này trong nghĩa địa. Thế nào là năm?
Bất tịnh, hôi thúi, đáng sợ hãi, trú xứ các phi nhân hung bạo, làm cho quần chúng than khóc.
Này các Tỳ-kheo, có năm nguy hại này trong nghĩa địa" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXV. Phẩm Ác Hành, (IX). Nghĩa Ðịa)
Đức Phật ví dụ người không tu giống như một nghĩa địa dơ bẩn, hôi thối, mọi người tránh xa và trong đó là nơi sợ hãi, cũng như mấy người hay sân si, hơn thua, bản ngã, ghim gút, nói ra lời nào là nhức nhối lời nó, không ai dám lại gần. Một nội tâm như vậy thì thật là đáng thương cho nên mới phải tu tâm từ để thấy thương mọi người, thương mình nhất hạng, kế đó thương những người làm mình khổ, rồi mới thương những người bình thường, thương cả những con chó, con mèo, con ruồi, con muỗi…
Tâm từ của mình lúc đó rộng lớn quảng đại và mình trú trong tâm thương rộng lớn như vậy, từ từ mình tu cho đến tâm từ vô lượng, bất cứ khi nào mình khởi lên là trong nội tâm thấm đẫm một tình thương dào dạt, đó là thành tựu được tâm từ. Khi đã có được tâm này thì có thể hóa giải được hết oan gia trái chủ, bất cứ mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi chốn, đó mới là tâm từ của đạo Phật chứ không như mình nghĩ tâm từ là đi từ thiện, thấy người ăn xin tội nghiệp thì cho tiền, đó mới là tâm thiện lành chứ chưa phải là tâm từ của đạo Phật, tâm từ là phải thấy được Khổ Thánh Đế, từ chỗ thấy được ngũ uẩn này là khổ, tất cả những ngũ uẩn đều khổ đau, đầy rẫy tham, sân, si, bất an, tội lỗi, tình thương đó dạt dào sung mãn cùng khắp mọi nơi thì đó mới là tâm từ và phải an trú trong tâm đó và nhìn tất cả những người xung quanh mình bằng tâm thương đó thì mới gọi là trú được trong tâm từ.
Muốn có được tâm này phải thực tập thường xuyên, tác ý liên tục, nhớ nghĩ hằng ngày hằng giờ. Nhìn ở đâu cũng thấy khổ chứ không phải chỉ nhìn những người ăn xin mới thấy khổ mà nhìn người giàu cũng thấy tội nghiệp, người giàu tham, sân, si còn nhiều hơn người nghèo, người nghèo chỉ cần một ngày 3 bữa cơm là được rồi, còn giàu tỷ đô vẫn chưa hài lòng. Một khi đã có được tâm từ thì tất cả mọi chuyện đều không còn là vấn đề to tát nữa, khi có tâm từ này giống như chúng ta có lá bùa hộ mạng, giống như có bảo bối, giống như mình có gia tài và mình sẽ xử lý mọi việc một cách êm đẹp, nhẹ nhàng, ngọt ngào, mượt mà, hanh thông mọi chuyện, dù cho có những chuyện làm mình rất mệt mỏi nhưng mình vẫn trải được tâm từ, muốn làm được điều này phải tập tâm an tịnh, lắng dịu trước, sau đó tâm hiền và cuối cùng là tâm từ, phải đi theo trình tự này vì mới vào mà muốn tu tâm từ là không thể được.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Thứ Tự Tu Tập 12
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Oan trái PAGEREF _Toc155021040 \h 1
II. Người tu tâm hiền PAGEREF _Toc155021041 \h 4
I. Oan trái
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, ngưỡng bái bạch trên thượng tọa giáo thọ, kính bái bạch chư thiền đường đại chúng. Trước khi vào câu hỏi con kính tri ân thượng tọa, nguyện cầu hồng ân tam bảo gia hộ cho ngài được nhiều sức khỏe và có nhiều bài pháp chia sẻ cho chúng con trên bước đường tu nhân học Phật. Câu hỏi của con là bản thân chúng con khi chọn ngành hoằng pháp này thì con gặp trường hợp những lúc lên pháp tòa, đôi lần con cảm nhận được cảm giác có oan gia trái chủ.
Bình thường lúc ngồi ở dưới cảm thọ đó không có nhưng khi lên pháp tòa có nhiều cái chen ngang dòng suy nghĩ của mình cũng như tác động trên thân. Con nhận ra được điều đó, sau những lần thuyết giảng thì con thực hành pháp lạy Phật, niệm Phật, sám hối, kính bạch thầy nếu con thực hành giống như vậy thì có giảm không? Khi con hướng về những oan gia đó thì nó có giảm bớt những oan trái giữa con với họ không?
Thượng tọa có thể chia sẻ cho con thêm những pháp hành hoặc pháp tu trong những lúc chúng con tiếp xúc hay gặp lại điều đó thì chúng con sẽ có thêm kinh nghiệm hoặc cách để đối diện với nó. Ngoại trừ cái pháp chúng con đang làm bây giờ thì xin thượng tọa vì lòng từ ngài chỉ dạy thêm cho chúng con. Nam mô A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Đức Thế Tôn trong Tăng Chi Bộ kinh nói rằng có bốn thứ không thể nghĩ bàn, đó là cảnh giới của chư Phật, cảnh giới của thiền định, cảnh giới của thần thông, sự vận hành của ngũ uẩn và quả dị thục của nghiệp, đây là bốn lãnh vực bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng được.
"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ" (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII). Không Thể Nghĩ Ðược)
Quả dị thục nghĩa là khi nghiệp chín muồi rồi trổ ra, mình không nghĩ rằng người đó sẽ bị như vậy, mình không nghĩ rằng mình sẽ gặp trường hợp như vậy. Ngày trước khi chưa vào nghiên cứu tu học Nikāya thì Minh Thành chưa nhận ra được điều này nhưng khi đi vào tu học thì nhận ra rất rõ, mình tu đúng chánh pháp, có sự để tâm thật nhiều, quán sát thật nhiều thì mình sẽ thành tựu rất nhiều loại trí tuệ chứ không đơn thuần như mình nghĩ tu là tụng một ngày hai thời, hiểu sơ sơ giáo lý là được.
Khi mình tu đúng chánh pháp, thực tập pháp hành đúng theo lời Phật thì mình sẽ thành tựu đa dạng trí tuệ, nhiều trí tuệ về nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiều lãnh vực, giới vức cho nên khi thấy được những oan gia trái chủ là một loại trí huệ mà mình thành tựu. Ví dụ khi đi lên chùa đó để ở rồi đi học, tự nhiên có một người lúc nào cũng kiếm chuyện với mình, dù mình không làm gì họ nhưng gặp nhau là họ có những lời nói, cử chỉ hoặc trước mặt hoặc sau lưng gây sự, có khi vu oan giá họa cho mình thì đó chính là oan gia trái chủ. Tức là mình không biết tại sao lại như vậy, đó là những món nợ cũ của kiếp trước còn tồn đọng lại, vì vô minh, vì si mê, vì không thấy không biết nên mình không nhìn ra được chủ nợ lớn của mình trong đời trước, sau đó mình mang tâm thái hận thù, muốn trả đũa. Kết cuộc vừa trả nợ vừa vay, nợ cũ chưa trả xong thì nợ mới lại vay thêm nữa, vậy là mình với người đó sẽ gây ra nhiều oan trái, tạo thêm nhiều đắng cay, sanh ra thêm nhiều khổ ải.
Nếu mình tu thì mình có trí tuệ, có sự quán chiếu sâu sắc sự bất thình thường của người này, dù mình không làm gì mà họ cứ gây sự với mình, mình sẽ suy xét thật kĩ nhân quả ba đời, cái nghiệp đã tạo trong quá khứ thì mình biết đây chính là chủ nợ cũ của mình, mình phải chấp nhận và phải có tâm thái như thế nào để trả món nợ này. Ví dụ có người đến đòi nợ 50 triệu thì mình có trả không hay sân si lên? Đương nhiên là mình sân si lên vì "tôi thiếu hồi nào" nhưng khi bình tĩnh lại, suy xét thật kĩ trong quá khứ thì nhớ ra có mượn người này 50 triệu cách đây 20 năm, tâm thái bây giờ với tâm thái lúc đầu bị đòi tiền rất khác nhau.
Cũng vậy, một người thấy được nhân quả, thấy được nghiệp báo, biết được oan gia trái chủ sẽ khác với người không biết, cũng như ví dụ vừa rồi, nhớ và không nhớ, biết và quên. Nếu một người đến đòi nợ mà mình biết "đúng rồi, đây là nợ cũ, người ta đòi là đúng rồi", nếu có thì trả 1 lần, không có thì trả từ từ, không có nữa thì nói cho dễ nghe. Như vậy tâm thái biết mình thiếu nợ sẽ khác với tâm thái của một người vô minh, không biết mình thiếu nợ, đó là trí huệ khác nhau của người biết tu và người không biết tu.
Một người không biết mình thiếu nợ thì người này sẽ phản kháng, sân hận, tức giận, vậy là tạo thêm một món nợ mới, nhưng chúng ta thường không nhớ gì cả "tôi thiếu nợ hồi nào", thậm chí nhớ rồi nhưng không thèm trả, có tiền cũng không trả, như vậy là người nhớ và người quên, người biết và người không biết. Chúng ta sống trong dòng luân hồi này là vô lượng vô số, vô biên vô thỉ kiếp thì chúng ta có biết bao món nợ nhưng vẫn mạnh miệng "tự tôi sống được rồi, tôi không cần ai cả", đây là câu nói của bản ngã, câu nói không có ân nghĩa, ân tình, câu nói phũ phàng. Khi mình quán chiếu kĩ thì mình thiếu nợ rất nhiều mối, mối nào đến đòi trước thì trả trước, mối nào đến đòi sau thì trả sau, còn những mối mình chưa biết thì để đó nhưng phải chuẩn bị tâm thái trả nợ, đó mới là người biết nhân quả, thấy nghiệp báo, đó mới là người hiền trí.
Người này đối với những cái bất như ý đến, đối với những chướng ngại, nghịch duyên, nghịch cảnh đến thì họ có tâm thái chấp nhận, nhẹ nhàng hơn, dễ chịu hơn, đây là chỗ quan trọng, chúng ta sống có nhẹ nhàng không, tâm có an lạc không chính là chỗ này, là sự thấy và biết, chấp nhận và không chấp nhận. Những mối quan hệ mẹ con, cha con, chị em, bạn bè, huynh đệ, thầy trò nếu không biết tu là có rất nhiều món nợ, có khi thầy trò lại làm khổ cho nhau, huynh đệ, tỉ muội làm khổ cho nhau rất nhiều, đó đều là những món nợ cũ và mới. Vấn đề quan trọng là sau khi thấy biết, sau khi quán chiếu, sau khi nhìn nhận ra sự việc thì chúng ta dùng tâm thái nào để tiếp nhận? Chúng ta phải dùng tình thương, dùng từ tâm cho nên vốn liếng của người tu rất quan trọng, nếu không để ý là chúng ta chết dài dài.
II. Người tu tâm hiền
Vốn liếng đầu tiên là "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương", đây là vốn thứ nhất của chúng ta, lúc nào trong cảm giác của chúng ta cũng phải có những cảm thọ này, chúng ta phải thành tựu những cảm giác này trong con người chúng ta, giống như trong túi mình có sẵn bánh kẹo lấy ra cho liền, trong túi lúc nào cũng có tiền nên muốn cho người nghèo là cho.
Còn trong người mình là những cảm giác dao động, sôi động, khó chịu, những cảm giác bực bội thì mình là người nghèo nàn, khốn khổ, một người suy dinh dưỡng tinh thần, mình không phải là người ban phát tình thương mà mình đi xin xỏ tình thương của người khác, suốt ngày mình cứ chờ người này thương, người kia thương, người nọ thương, tại vì mình nghèo, mình thiếu nên mình cứ đi trông ngóng, đợi chờ người này người kia thương mình rồi mình thích thú, khoan khoái. Mình là người nghèo nàn trong cảm giác, nghèo nàn trong nội tâm, còn nếu mình phong phú được sự "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương" thì tuyệt vời vô cùng.
"Vui thay, chúng ta sống,
Không rộn giữa rộn ràng;
Giữa những người rộn ràng,
Ta sống, không rộn ràng"
(Kinh Pháp Cú 15 – Phẩm An Lạc, kệ 199)
Cảm thọ của mình lúc nào cũng là sự an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, mình phải thành tựu được cảm thọ đó, phải chứng đắc cảm thọ đó, Thánh quả cao mình chưa làm được nhưng những cái này mình có thể làm được.
"Vui thay, chúng ta sống,
Không hận, giữa hận thù!
Giữa những người thù hận,
Ta sống, không hận thù!"
(Kinh Pháp Cú 15 – Phẩm An Lạc, kệ 197)
Vui thay chúng ta sống không khó chịu giữa những người khó chịu, giữa những người khó chịu ta thật là dễ chịu. Vui thay chúng ta sống dễ thương giữa những người ganh ghét, giữa những người ganh ghét ta sống thật dễ thương. Chúng ta phải thành tựu được những cảm giác xúc đó chứ không phải nói ngoài miệng, ví dụ có 3-4 người đang la đứa nhỏ thì mình nhẹ nhàng "mai mốt không làm vậy nữa nha con, thôi mấy chị tha cho nó đi, nó còn nhỏ", mình đem những cảm xúc dễ chịu, dễ thương đến cho đứa trẻ thì nó sẽ biết ơn mình nhiều, nó sẽ quý mình nhiều, nó sẽ có niềm tin vào người xuất gia, đằng này đứa nhỏ mới vào chùa mà 3-4 người đến hùng hổ la mắng thì nó sẽ mất niềm tin đối với tam bảo.
Đó là do nền tảng, gốc rễ mình không thành tựu thì tu cái gì? Trong 16 hơi thở của Đức Phật thì cảm giác toàn thân là để tu sự an tịnh, lắng dịu, hít vào thì dễ chịu, an tịnh thân hành, sau khi thành tựu những cái này thì mình tu tập tâm hiền.
Lúc đầu chưa hiểu thì mình thắc mắc "trông mình chưa hiền hay sao mà phải tu tâm hiền", suy nghĩ đó là hung dữ, nội hàm của chữ "hiền" trong Nikāya rất thâm sâu và rộng lớn, các bậc Thánh Tăng gọi nhau bằng "chư hiền", "hiền giả", "hiền trí", cuối cùng cứu cánh phạm hạnh là "hiền Thánh", vì thế trong đạo tràng Nikāya con gọi các vị cư sĩ là các bậc hiền trí với một ý muốn nhắc nhở mọi người phải thành tựu tâm hiền, phải tu tập tâm hiền. Trong lộ trình tu học thì tâm hiền này phải tu trong 8 tháng, đến hôm nay qua 8 tháng thì con tăng lên 3 năm, mình đừng tưởng mình hiền, thật ra vẫn chưa hiền, ví dụ ở trên đang giảng bài nhưng ở dưới lại mở sách khác ra đọc thì đó cũng là chưa hiền, đó là một cái tâm lang thang, tâm cô hồn, học kinh Nikāya rồi sẽ thấy sự vi tế, sâu sắc trong đó, đó là cái tâm không chấp nhận học pháp, ương ngạnh, tâm không nhu nhuyến, không mềm mại, tâm chưa hiền cho nên thành tựu tâm hiền không phải đơn giản.
Lúc nãy trình pháp mình nói "tôi giận đúng, giận này là vì công việc", đó cũng là tâm chưa hiền. Câu nói "khẩu xà tâm Phật" là sai hoàn toàn, nếu không có ý hành thì làm sao có khẩu hành? Vì khẩu hành là công cụ của ý hành phát ra cho nên có những điều mình nghe thì tưởng là đúng nhưng đó là tưởng trong vô minh.
Con xưng "con" với các thầy các cô là vì con đang tu tập tâm hiền, đây là một trong những pháp tu tập hạ bản ngã xuống, đó chính là pháp hành chứ không phải làm dáng, khách sáo. Khi mình xưng "con" thì tự động sẽ thấy mình nhỏ xuống, khi mình xưng "tôi" thì tự động mình thấy có bản ngã, từ ngày xuất gia đến giờ cực kì hiếm hoi những lần con xưng "tôi", "ta", nếu có xưng thì xưng pháp danh, sau này đi vào dòng pháp Nikāya là thường xưng "con".
Con có dịp ghé qua chùa thầy Pháp Hòa ở Canada, đức hạnh của thầy rất hiền lành, thầy đem đôi dép cho con mà xưng "con" rất ngọt ngào, tự nhiên trong khi tài năng, đức hạnh của thầy nổi danh biết bao người quý kính. Người ta quý kính là vì những đức hạnh đó, còn mình được một chút là "lấy cái đó cho sư cô coi", tất cả những cái đó là bản ngã. Con không bắt buộc nhưng con khuyến khích các vị xuất gia xưng "con", dù cho người đó ngang hàng hay nhỏ hơn cũng không sao, miễn là diệt bản ngã, diệt cái tôi. Mình tu là để diệt cái tôi kia mà nhưng tại sao lại dùng những từ làm cho cái tôi lớn lên?
Có khi ở ngoài gọi con là sư phụ, thượng tọa, ân sư này nọ nhưng bên trong tâm con là hình ảnh một người quỳ mọp xuống lạy người ta, con an trú tâm như nùi giẻ rách để người ta giẫm đạp, đó là pháp tu của ngài Xá-lợi-phất. Để thành tựu tâm hiền phải tu tập 9 pháp của ngài Xá-lợi-phất trong bài kinh "Sau khi an cư" trong Tăng Chi Bộ.
Mỗi lần mình giậm chân vào nùi giẻ thì mình phải nhớ mình chính là cái nùi giẻ này, tâm mình phải an trú như cái nùi giẻ này, không còn địa vị nào trên đời, không còn một cái tôi, một cái ta nào cả, không ngẩn mặt, không vênh váo với ai cả, "nhà ngươi phải làm cái nùi giẻ rách này cho ta", "ta bắt ngươi phải làm cái nùi giẻ rách này cho ta, bây giờ ngươi đi tu rồi nên phải làm cái nùi giẻ rách cho ta", mình ra lệnh cho tâm mình như vậy, bắt nó phải phục tùng, phải nghe lệnh mình, chúng ta về nghe thêm chuyên đề "Tầm quan trọng của tâm hiền trí" trong đó nói về 9 pháp hành của tôn giả Xá-lợi-phất, bậc tôn giả trí tuệ tối thượng, là tướng quân chánh pháp của Đức Phật vì thế tâm hiền này tuyệt đối quan trọng.
Tâm hiền này có khi mình tu đến chết luôn chứ không phải đơn giản vì có khi ở ngoài con người mình nhịn được, nhưng với con ruồi đậu vô mắt hoặc bị muỗi chích rất khó chịu, đang đi mà con chó nhào ra muốn cắn thì mình khó chịu, đang đi mà bị trượt chân trầy trụa là mình tức lên, thành ra tâm mình vẫn còn dữ, chính mình đi không cẩn thận mà mình đổ thừa tại xui này xui nọ, cái tâm hướng ngoại của chúng sanh là vậy.
Sư cô 2: Kính bạch trên thầy, nãy giờ con nghe thầy nói tâm hiền thì con thấy pháp môn tu tâm hiền này rất khó, ví dụ mình hiền nhưng người kế bên làm mình hiền không nổi thì sao thầy? Ví dụ mình đang ngồi ăn cơm mà người kế bên chọt mình làm muỗng cơm văng lên mặt thì lúc đó mình sân lên "chị này kì quá, chị chọt em lên mặt thì biết bao người nhìn", lúc đó mình sân lên rồi nhưng vẫn ráng tập tâm an tịnh, lắng dịu, dằn lại, mình nhịn mà không nói. Lần 1 nhịn, lần 2 không nói nhưng lần thứ 3 giống như muốn bộc phát. Hoặc là mình vui nhưng nghiệp người ta không thích mình thì mình tội cho nghiệp người ta thì có tội không thưa thầy? Mình cứ vô tư, vui vẻ trong khi người ta khó chịu, vậy tâm khó chịu của họ là nghiệp của họ, mình không liên quan gì cả, mình cố gắng hòa đồng, vui vẻ với mọi người nhưng họ lại thấy khó chịu thì đó là do nghiệp của họ chứ không phải do mình làm gì cả.
Sư Phụ:
"Khó nắm giữ, khinh động,
Theo các dục quay cuồng.
Lành thay, điều phục tâm;
Tâm điều, an lạc đến"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 35)
"Tâm khó thấy, tế nhị,
Theo các dục quay cuồng.
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến"
(Kinh Pháp Cú 03 – Phẩm Tâm, kệ 36)
Chính vì vậy mình phải ra công dụng hạnh công phu nhiều hơn nữa, thứ nhất là oan gia trái chủ, không phải tự nhiên mà họ làm tới lần thứ 3. Thứ hai là nếu mình thấy không ổn thì phải tránh duyên xúc, xin ngồi chỗ khác, tiếp theo là đừng nghĩ khó tu vì suy nghĩ đó làm cho mình không tu. Mình làm được rất nhiều những điều khó làm như bỏ cha bỏ mẹ đi tu, điều này rất khó mà mình làm được, ăn chay trường khó mà mình làm được, tuổi trẻ thanh xuân mà mình phải nhịn sắc, nhịn dục dù rất khó nhưng mình cũng cố gắng, tại sao nhiều cái khó mình làm được mà cái này mình làm không được.
Đừng suy nghĩ theo chiều tiêu cực, đây là đạo lộ của tất cả các bậc hiền Thánh phải đi qua cho nên bước thứ ba là tu tâm từ, sau đó mới tu tâm từ cho quảng đại và cuối cùng là tu tâm từ vô lượng, khi mình có được tâm từ này thì mình sẽ trở thành người giàu có trong Phật pháp, mình được tâm này thì trở thành tỷ phú trong Phật giáo, mình sẽ không sân hận với những đối tượng đó mà chỉ thấy thương họ thôi.
Từ đâu chúng ta thành tựu tâm từ này? Là vì chúng ta thấy khổ đau, còn nếu không thấy khổ là không thể thành tựu được tâm từ. Mình thấy tấm thân này là khổ, mình thấy tấm thân này mệt mỏi, phiền phức, ăn nhiều cũng mệt, đói cũng mệt, ngồi mãi cũng khó chịu, đi mãi không ngồi được cũng khó chịu, nằm hoài không ngồi dậy được cũng khổ cho nên Đức Thế Tôn nói ngũ uẩn này là gánh nặng.
"Này các Tỳ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là gánh nặng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, dòng họ như thế này. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng!" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng)
Như vậy sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là một đống khổ to lớn, gọi là đại khổ uẩn, Thế Tôn có hai bài kinh là Tiểu kinh khổ uẩn và Đại kinh khổ uẩn. Lúc nào mình quên mình khổ thì mới sân si với người khác, mới hơn thua với người ta, còn lúc mình đang đau khổ, đầy rẫy bệnh tật, nghe báo tin ung thư giai đoạn cuối chỉ sống được 7 ngày nữa thì còn đi gây lộn với người kế bên không? Nghe tin xong là tay chân bủn rủn, nằm một chỗ, ăn không được mà ngủ cũng không xong, tất cả tham, sân, si, bản ngã đều lắng dịu, đó là do thấy khổ nên không còn tham, sân, si nữa, khi mình thấy mình là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã, người đó cũng là nạn nhân của vô minh, tham, sân, si, bản ngã, tất cả chúng ta đều là nạn nhân, quá khổ rồi mới vào chùa vậy mà còn hành hạ nhau, hành tội nhau. Mình phải tác ý như vậy, khi nào quên cái khổ thì tham, sân, si mới sanh khởi, còn nhớ khổ thì tham, sân, si sẽ lắng dịu.
Mình nói "người này cứ kiếm chuyện với tôi", thật ra làm gì có cái tôi? Cái tôi không có thì lấy gì có người kiếm chuyện với tôi? Mình tà kiến, phi như lý tác ý, mình không chịu tác ý đúng theo trí huệ của Phật mà cứ khăng khăng tu theo thực tế nhưng cái thực tế đó là vô minh, là chấp ngã, thực tế là sống với tri kiến phàm phu, Thánh trí huệ của Phật thì để một bên, nói rằng "khó lắm không làm được", "cái này khó lắm không làm được, chỉ có mấy bậc Thánh mới làm được", suy nghĩ đó là ác ma, phải diệt suy nghĩ đó, từ bỏ suy nghĩ đó, mình phải thấy khổ đau là một sự thật lớn.
Hình hài này là khổ, phải mang vác hình hài này là khổ, thấy trời mưa là thấy khổ rồi, không biết có mang áo mưa không, đi về mắc mưa có khi bệnh cảm, còn trời nắng nóng quá cũng khổ vì bị say nắng, chóng mặt, ngoài ra còn trúng độc tham, sân, si nhưng vẫn không thấy khổ, cứ nghĩ là sướng. Cái khổ rành rành trước mắt mà không thấy, nó ở kế bên tai mà không biết cho nên mới gọi là mù lòa, Đức Phật nói tất cả chúng sanh đều mù lòa.
"Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi..." (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Mọi thứ đều là khổ mà không nhớ khổ rồi gây sự với nhau, hơn thua nhau, châm chọc nhau, hành hạ, hành xác nhau, bỏ cha bỏ mẹ, cạo đầu vào chùa, thức khuya dậy sớm rồi ganh tỵ từng chút với nhau. Thật là đáng thương! Tội nghiệp vô cùng tội nghiệp! Mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh, không thấy khổ thì làm sao thấm cái khổ, chúng ta chẳng những thấy khổ mà còn phải thấm thía cái khổ, mình nhớ lại những cái chết đau lòng của người thân, nhớ những cảnh sanh ly tử biệt, nhớ những cảnh mình từng sân hận rồi khổ đau, nhớ lại biết bao dòng nước mắt tận cùng thương đau, mình lôi hết cái khổ ra để quán chiếu cho nước mắt đầm đìa để thấm cái khổ, không bao giờ quên, cho đến khi nào nhìn thấy tất cả chúng sanh hữu tình đều hiện lên một chữ khổ to tướng, tất cả đều là đống ngũ uẩn đang khổ đau trước mặt mình và mình là một đống đại khổ uẩn thì đó là mình thể nhập Khổ Thánh Trí, nghĩa là trí huệ của bậc Thánh về sự khổ đau của đời sống này.
Sự xuất hiện của mình trong đời sống này là sự xuất hiện của khổ, sự vận hành của đời sống chúng ta là sự vận hành của khổ, đó là cái nhìn của các bậc Thánh. Mình nghĩ ngồi đây học là khỏe phải không? Thật ra không phải vậy, ngồi như vậy nhưng bên trong tâm có người đang giận, có người đang buồn, có người đang nôn nao muốn về, có người đang mệt mỏi, có người đang mắc tiêu, mắc tiểu phải ráng kiềm chế lại, muốn đi vệ sinh mà không dám, có rất nhiều cái khổ nhưng mình không thấy, ngoài ra còn dục ái, khao khát, thèm thuồng, đòi hỏi, sân hận, bản ngã cộng thêm những nội kết trong tâm, chẳng qua chúng ta lãng quên, bỏ qua, mặc kệ chứ còn khui ra thì bốc mùi, một nội tâm bất tịnh. Trong tâm mình chất chừa toàn là dục, tham, ái, sân si, hơn thua, vô minh, bản ngã, ganh tỵ, đố kỵ… cho nên khi nó bung ra là bốc mùi như nghĩa địa.
"- Này các Tỳ-kheo, có năm nguy hại này trong nghĩa địa. Thế nào là năm?
Bất tịnh, hôi thúi, đáng sợ hãi, trú xứ các phi nhân hung bạo, làm cho quần chúng than khóc.
Này các Tỳ-kheo, có năm nguy hại này trong nghĩa địa" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XXV. Phẩm Ác Hành, (IX). Nghĩa Ðịa)
Đức Phật ví dụ người không tu giống như một nghĩa địa dơ bẩn, hôi thối, mọi người tránh xa và trong đó là nơi sợ hãi, cũng như mấy người hay sân si, hơn thua, bản ngã, ghim gút, nói ra lời nào là nhức nhối lời nó, không ai dám lại gần. Một nội tâm như vậy thì thật là đáng thương cho nên mới phải tu tâm từ để thấy thương mọi người, thương mình nhất hạng, kế đó thương những người làm mình khổ, rồi mới thương những người bình thường, thương cả những con chó, con mèo, con ruồi, con muỗi…
Tâm từ của mình lúc đó rộng lớn quảng đại và mình trú trong tâm thương rộng lớn như vậy, từ từ mình tu cho đến tâm từ vô lượng, bất cứ khi nào mình khởi lên là trong nội tâm thấm đẫm một tình thương dào dạt, đó là thành tựu được tâm từ. Khi đã có được tâm này thì có thể hóa giải được hết oan gia trái chủ, bất cứ mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi chốn, đó mới là tâm từ của đạo Phật chứ không như mình nghĩ tâm từ là đi từ thiện, thấy người ăn xin tội nghiệp thì cho tiền, đó mới là tâm thiện lành chứ chưa phải là tâm từ của đạo Phật, tâm từ là phải thấy được Khổ Thánh Đế, từ chỗ thấy được ngũ uẩn này là khổ, tất cả những ngũ uẩn đều khổ đau, đầy rẫy tham, sân, si, bất an, tội lỗi, tình thương đó dạt dào sung mãn cùng khắp mọi nơi thì đó mới là tâm từ và phải an trú trong tâm đó và nhìn tất cả những người xung quanh mình bằng tâm thương đó thì mới gọi là trú được trong tâm từ.
Muốn có được tâm này phải thực tập thường xuyên, tác ý liên tục, nhớ nghĩ hằng ngày hằng giờ. Nhìn ở đâu cũng thấy khổ chứ không phải chỉ nhìn những người ăn xin mới thấy khổ mà nhìn người giàu cũng thấy tội nghiệp, người giàu tham, sân, si còn nhiều hơn người nghèo, người nghèo chỉ cần một ngày 3 bữa cơm là được rồi, còn giàu tỷ đô vẫn chưa hài lòng. Một khi đã có được tâm từ thì tất cả mọi chuyện đều không còn là vấn đề to tát nữa, khi có tâm từ này giống như chúng ta có lá bùa hộ mạng, giống như có bảo bối, giống như mình có gia tài và mình sẽ xử lý mọi việc một cách êm đẹp, nhẹ nhàng, ngọt ngào, mượt mà, hanh thông mọi chuyện, dù cho có những chuyện làm mình rất mệt mỏi nhưng mình vẫn trải được tâm từ, muốn làm được điều này phải tập tâm an tịnh, lắng dịu trước, sau đó tâm hiền và cuối cùng là tâm từ, phải đi theo trình tự này vì mới vào mà muốn tu tâm từ là không thể được.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.