Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nuôi dưỡng tâm xuất ly

2026-03-03 00:52:39
Kinh Nikāya Giảng Giải

NUÔI DƯỠNG TÂM XUẤT LY

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Xuất ly – Thánh pháp ấn: PAGEREF _Toc58662384 \h 1

II. Giới thứ nhất: PAGEREF _Toc58662385 \h 1

III. Thầy Pháp An chia sẻ: PAGEREF _Toc58662386 \h 4

IV. Nhất hướng nhàm chán: PAGEREF _Toc58662387 \h 6

V. Giới thứ hai: PAGEREF _Toc58662388 \h 9

VI. Chú sĩ sám hối: PAGEREF _Toc58662389 \h 13

I. Xuất ly – Thánh pháp ấn:

Thật sự là gần đây, như hôm trước con có trình bày, ngay ngày rằm tháng 10 con mới nhìn ra được mình thêm được một bước nữa, càng ngày pháp càng sáng tỏ. Trước đây mình đọc bao nhiêu lần, nghe cả trăm lần ngàn lần mà không để ý thực hành Thánh đạo của Đức Phật là y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ - những câu này là Thánh pháp ấn, nhất hướng nhàm chán, ly tham. Nhất hướng là một bề, một mực, nhưng sự viễn ly ở đây, chúng ta sẽ nhìn mấy góc độ để nhìn thấy vấn đề.

Nói chung chung, người ta thích chỗ ồn ào, đông đúc, màu sắc lòe loẹt. Tại sao ở quận nhất tấc đất tấc vàng, tại sao có những đất bỏ hoang không ai thèm tới ở, cho cũng không ở. Tại sao có một chỗ giàng giật với nhau từng tấc đất? Chỗ đó náo nhiệt, màu sắc, lợi lộc, danh lợi. Bây giờ bước đầu tiên là viễn ly, rời xa phố thị ồn ào náo nhiệt. Hôm trước chúng ta đã học, Đức Phật dạy mình có thân viễn ly, tâm viễn ly. Chúng ta đi tìm chỗ núi rừng yên tĩnh, nhưng có những người ở núi rừng 20, 30, 40 năm. Có ông đó ở trong rừng 40 năm, người ta vô rừng đưa ông ra, ông không biết gì ngoài đây hết. Nhưng ông đâu có giác ngộ, đâu có thành thục trí tuệ.

Thành ra mình biết rằng sự viễn ly ở đây còn tâm viễn ly, mà muốn thực hiện tâm viễn ly thì thân viễn ly là phương tiện giúp cho tâm viễn ly. Mà tâm viễn ly muốn thực hiện được các tâm xa lìa, thoát ra thì tâm viễn ly phải thành tựu Chánh kiến, viên mãn Chánh kiến. Nếu không có Chánh kiến, dù cho có ở trong rừng thì thành người rừng thôi, nếu không nắm được pháp. Thiếu gì người ở trong rừng, thiếu gì người ở trên núi, nhưng mà lên cũng gây lộn rần rần. Nhiều khi là lâm tặc ở trong rừng, sơn tặc thì trên núi. Tại vì sao? Tham, sân, si mà không có một đạo lộ trừ diệt, nhiếp phục, diệt tận thì ở đâu cũng vậy.

II. Giới thứ nhất:

Chính vì vậy, điều ở đây chúng ta không phải là mình bỏ mình chạy hay đi vô rừng ở một mình mà vấn đề là thành tựu, thấy biết viên mãn và đạo lộ tu tập. Vấn đề quan trọng Đức Phật nói là tất cả pháp lấy Chánh kiến dẫn đường nên sự quan trọng ở đây là tu tập Chánh kiến trong giai đoạn đầu của chúng ta. Nuôi dưỡng tâm, rời xa, thoát ra tâm viễn ly. Hãy nuôi dưỡng cái tâm rời xa, thoát ra. Đức Phật dạy bài kinh “Xuất Ly” – Tăng Chi Bộ Kinh, tập 2:

“Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này. Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về dục, tâm không phấn chấn trong các dục, không tịnh tín, không an trú, không quyết định”.

Có 5 giới đưa đến xuất ly này. Thứ nhất là xuất ly khỏi các dục, người tu suy nghĩ về dục, tâm không phấn chấn trong các dục, không đặt lòng tin nơi các dục. Trong đây nói là không tịnh tín mình không hiểu đâu. Đặt lòng tin tức mình tin tưởng dục đó là hạnh phúc, là vui. Khi trong tin mình suy nghĩ về dục nó phấn chấn, mình không đặt niềm tin nơi dục đó là vui, không an trú trong suy nghĩ đó, không quyết định. Quyết định tức mình mê thích nó, thấy thực sự nó là vui, khi trong tâm mình suy nghĩ về dục mình không phấn chấn, không đặt niềm tin, không an trú, không quyết định trong đó.

“Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly” – đây mới là tâm viễn ly. “Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến dục. Và do duyên với dục, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi các dục”. Nên mình thấy lời Đức Phật nói mình nói thực hành trong tâm nhiều hơn.

Có 1, 2 chú cứ đòi vô rừng ở, Minh Thành giảng cái này cho nghe. Không phải mình chỉ chú trọng trong hoàn cảnh, nó chỉ là phụ thôi. Rất nhiều người ở trong rừng, trên núi mà người ta không nắm được pháp cũng không gọi là xuất ly, viễn ly. Thân viễn ly chứ tâm không viễn ly. Cái đầu tiên tức xuất ly dục, khi trong tâm mình suy nghĩ về dục. Dục này rộng lắm, không phải là nam nữ không, nhìn thấy ngôi chùa mình đẹp, mình ưa thích, thỏa mãn, hài lòng. Đó cũng là dục ái, tham.

Đôi dép đẹp, quần áo mới, chiếc xe, gia đình nghĩ đến người thân, cha mẹ, anh chị em. Khi nghĩ đến những cái đó, ái nó sanh khởi lên mình không phấn chấn, không đặt niềm tin nơi đó. Không an trú, không quyết định nơi đó, không nghĩ đó là chỗ cho mình nương dựa được, không nghĩ đó là chỗ an ổn, không nghĩ đó là chỗ cứu cánh, rốt ráo. Nghĩ đó là vô thường, tan hoại, là những pháp khả ái, khả ý, sẽ đổi khác, sẽ biến dị.

Nhưng khi tác ý đến sự viễn ly, mình nhớ Đức Phật dùng từ này: “Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly” – phải tác ý viễn ly. Tác ý sớm muộn gì mình cũng rời xa, phải rời xa, phải vượt ra, từ bỏ. Đối với tất cả mọi thứ phải tác ý viễn ly. Tác ý viễn ly sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tác ý rời xa, tác ý thoát ra, phải tác ý viễn ly dục, sân, xuất ly dục, sân, xuất ly hại, xuất ly khỏi sắc, xuất ly khỏi có thân. Đây là 5 xuất ly, tức xuất ly thân kiến, cho nên những bài kinh này mình phải học, phải tu suốt đời, mình phải nghe, biết và nghiền ngẫm, tác ý, xuất ly khỏi tiếng nhạc đó, đừng để tâm tới tiếng nhạc đó, đừng cảm thọ tiếng nhạc đó, đừng tưởng, đừng nhận thức về tiếng nhạc đó. Mình xuất ly khỏi âm thanh đó, thọ đó, trú trong pháp, mình phải tập xuất ly.

Dù cho nó ở ngay trước mặt mình, mình thực tập xuất ly, nó ngay bên tai mình, mình thực tập xuất ly. Mình có thực tập xuất ly như vậy, sau này có chuyện mình mới xuất ly được. Chứ lúc cuối cùng nằm trên giường bệnh làm sao mình xuất ly. Giờ ở ngoài mình xuất ly không nổi, mà nó xảy ra ngay trong thân lúc đó làm sao mình xuất ly? Cho nên phải thường xuyên tác ý về sự viễn ly, rời bỏ, không có gì đáng cho mình lưu luyến hết, không có gì đáng cho mình ràng buộc, không có gì đáng trói chân mình hết trong cuộc đời này. Tác ý viễn ly, xa rời, rời xa, thoát ra, từ bỏ, nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, hướng đến sự từ bỏ các dục.

Tới bây giờ con mới thấy sự sâu xa của Thánh pháp, thật sự khủng khiếp lắm. Tức tâm của mình hướng lúc nào cũng đi ra khỏi ngũ uẩn. Chính vì vậy đối với sự giành giật, thật sự bây giờ ví dụ lấn đất, lấn đồ chẳng hạn mà mình có tu, mình có tác ý thường, mình không cần khởi sân. Sân không khởi, thành ra mình không cần ráng dằn xuống để cho không sân, không cần, mà là nhàm chán. Sự viễn ly của mình nó mạnh lên thêm nữa, thành ra chỗ này nó đặc biệt. Người ta lấn ranh đất chùa mà mình không sân mà mình tăng thêm sự nhàm chán, viễn ly, xuất ly, thoát ly ra khỏi cái này, ra khỏi thế giới tham dục, tham đắm, ngu si, nghiệp quả, mê muội, tội lỗi này.

Đó là sự đặc biệt của tâm viễn ly, tâm xuất ly mình nuôi lớn tâm viễn ly, xuất ly. Khi nào tâm này mạnh lên rồi thì không còn cái gì làm cho nó khổ đau được nữa, vì tôi có ở đây đâu mà giành giật với ai. Mấy người ở đây thì mấy người giành nhau chứ tôi có ở đâu, sắp sửa đi rồi. Mình phải nuôi lớn tâm viễn ly, tâm xuất ly, tâm xả ly. Bây giờ mình có đi lại một khách sạn hay nhà trọ nào đó ở ngủ một đêm, sáng mai mình đi. Ở đó có 2, 3 người họ giành giật với nhau món đồ gì đó trong khách sạn, mình có nhảy vô đó giành với người ta không? Có không? Tại sao vậy? Đâu phải của mình, mà mình cũng đâu ở chỗ này, chút xíu đi rồi, thầy Pháp An, chỗ này ông thấm không thầy Pháp An? Mời thầy, từ từ cứ nói, đưa micro cho thầy nói cảm thọ này.

III. Thầy Pháp An chia sẻ:

Thầy Pháp An: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa sư phụ, quý thầy và quý sư cô cùng toàn thể quý Phật tử. Sau khi nghe những lời giống như thiền quán của thầy diễn tả về xuất ly và muốn xuất ly hay viễn ly hoặc do 3 cái thân, tâm và ý của mình. Ví dụ bây giờ Pháp An nói về chuyện ra đi của bà Năm – pháp danh Diệu Hiền. Khi Pháp An không có tâm xuất ly, như tình cảm vợ chồng hay tình thân thương với mấy chục năm với nhau làm cho đau khổ. Giờ mình học kinh Nikāya mình thấy vô thường biến đổi, sự giả tạo, sự kết hợp rồi tan rã và hủy hoại. Mình có tâm thiền quán khi bà Năm ra đi, mình cảm thấy rằng nhờ có tâm xuất ly tất cả, rồi tư duy của mình, mình nghiền ngẫm nó như thế nào, tại sao xuất ly và xuất ly được lợi lạc gì. Mình nghiền ngẫm tư duy đó rồi mới thấy thấm trong lòng, đúng là phải xuất ly.

Vì tất cả hợp rồi tan, tan rồi hợp, cứ thế, mãi mãi như vậy nó không có thật. Mình có muốn không xuất ly rồi cũng phải xuất ly. Giống như bà Năm vậy đó, không muốn xuất ly ở thế gian này, muốn ở đây mãi mãi, nhưng đến thời điểm rồi nó phải xuất ly. Cũng như Pháp An vậy, tại sao lên Linh Quy Pháp Ấn này ở hoài không muốn về quê? Mới đầu đòi về quê hoài, sư phụ Minh Thành nói “Ba, ông không về thăm sao?” Lúc đầu còn muốn sau này hết muốn. Vĩnh viễn trong lòng cũng không muốn về dưới nữa. Đó là nói về đạo xuất ly, tại sao mình xuất ly được, đợi một ngày cũng không được nữa. Mình thấy rằng nó là vô thường biến đổi, là giả tạm, nó không có thật. Về ở chỗ đó, mình tư duy rằng mình sẽ đau khổ, ở Linh Quy Pháp Ấn mình sẽ hạnh phúc. Bởi vì Linh Quy Pháp Ấn là niềm vui trong tâm mình, là con đường để mình đi đến sự vinh hoa, an lạc, bình yên, không vướng bận và tâm không bị dao động.

Cho nên mình ra đi là đúng, khi mình tư duy vậy, ý mình quyết định, thành ra không muốn về quê, vì mình tư duy thế rồi, mình về quê là mình đau khổ, rồi có được cái gì đâu. Tất cả đều tạm bợ, giả dối, đâu có thiệt, thân mạng này cũng không thiệt nữa, rồi cũng sẽ ra đi. Cũng như bây giờ Pháp An nói với cô Pháp An hoài: Ba, đến chừng ba đi rồi, nó không còn nữa đâu, đừng có luyến tiếc cái gì. Vật chất, nhà cửa, tiền bạc, ân tình, cái đó là giả tạm, nó tan rồi hợp, bám víu nó làm gì, buông nó ra đi. Rồi tự nhiên mình buông nó được, mình xả được thì không đắm gì nữa. Nó cũng dao động, cũng có ảnh hưởng nhưng chỉ thoáng qua thôi, không còn ở lại trong tâm mình nữa. Từ từ sẽ thấy tâm mình bình an nhẹ nhàng, cũng như Pháp An, mỗi buổi công phu đều tụng Sám Hối Diệt Ngã, mới đầu kêu tụng thì tụng chứ không biết gì hết. Rồi sau bữa đó, tụng thì thấy tâm mình bình yên, lắng dịu. Mình thấy cái diệt ngã này nó ác lắm, nó đưa mình đến chỗ sát phạt lẫn nhau, đi đến chỗ để người ta khi dễ, chê bai mình. Bản ngã này nó ác độc, thành ra bây giờ muốn diệt nó mình phải khiêm nhường, khiêm cung, nhẫn nhịn và hạ thấp mình xuống. Bởi vì mình làm đúng mà người ta chê mình trật mình cũng không mất mát gì hết, mà tâm mình hài hòa vui vẻ thì mình nói: “Thôi kệ, người ta không hiểu, nói mình nói xấu thì kệ người ta, coi như không có gì, tâm mình nghĩ rằng, tư duy mình không làm sai, mình làm đúng”.

Thành ra mình cảm thấy lạy diệt ngã từ từ đưa mình tới chỗ, bản ngã lắng dịu rồi xuống. Như vậy, mỗi câu mình đọc nó thấm vào mình, dần dần mình lạy diệt ngã cũng hiểu được phần nào diệt ngã có lợi như thế nào và bản ngã làm mình đau khổ cỡ nào, bản ngã giết tất cả mọi người trên quả địa cầu này như thế nào. Từ từ tâm mình an nhàn, bình thản. Vì thế, Pháp An cũng nhờ sự dạy dỗ, dẫn dắt của sư phụ và nhờ Thánh Pháp kinh Nikāya này nên Pháp An mỗi ngày cảm thấy mình bình an, an lạc. Ngày mai mình có ra đi cũng biết rằng tất cả là phải vậy, ai cũng phải vậy, Đức Phật cũng vậy. Thế gian này có gì quý giá đâu, chỉ là giả tạm không có thật, nó là nhàm chán, nó là thứ giả. Mình nắm níu nó làm gì, như ở đây chỗ giả làm gì, mình đi chỗ nào cho nó bình yên, an nhàn, tự tại, thoải mái sống mới có ý nghĩa.

Cho nên mình không có ý niệm gì làm hại ai hết, và không có ý niệm muốn giữ cái gì hết. Từ vật chất, cái gì quý giá nhất của vật chất cũng là giả, chỉ có tâm an nhàn, thảnh thơi, an lạc, gặp mọi người đều nở nụ cười vui vẻ với nhau và nụ cười đó ở ngoài thôi nhưng trong tâm rất gần gũi với nhau vì tất cả chúng ta đều đau khổ, vì tất cả chúng ta cũng có một cái tình thương với nhau hết thì có gì mà phải ghét bỏ, hại nhau để làm gì. Thôi vui vẻ sống với nhau đi, rồi mình cũng phải chia tay với nhau chứ không còn ở đây mãi mãi đâu. Cho nên Pháp An mới thấy bây giờ sống hiện tại vậy chứ thấy nó bình an, an thản lắm, không có gì dính mắc trói buộc hết, vì dính mắc trói buộc cũng không được, cũng phải chia tay rồi cũng phải tan rã, rồi không còn gặp lại nữa. Chỉ còn câu Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật cho nó bình yên thôi, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư phụ: Không thích về quê mà thầy có thích ở Linh Quy không? Thầy có thích ở đây không? Thôi, đừng thích, xả luôn. Chỗ này quán sâu vô một lớp nữa, chỗ này cũng là vô thường, tan hoại, hoại diệt, quán chiếu từ bỏ, giả dối, vô thường, tan hoại. Lúc trước mình dừng ở chỗ bỏ cái kia thích ở đây, bây giờ mình tiến sâu vô một bước nữa, chỗ này cũng làm tan nát, hoại diệt, sụp đổ, thân thể này rồi cũng rã rời. Mình quán như vậy là đời sau thầy sẽ là Thánh đệ tử thiên, không trở lại thế giới này nữa.

Bây giờ mình trở lại vấn đề là mình đi tới nhà trọ, khách sạn đó mình ngủ, ở đó người ta giành giật với nhau món đồ không thôi giành cái ranh nhà, ranh đất, tài sản gì đó… mình không nhảy vô, không xen vô, không dự vô. Tại vì đó không phải của mình, hoặc mình cũng không ở đó. Đối với một người mà tâm luôn luôn hướng về xuất ly, tác ý sự viễn ly, nuôi dưỡng sự ly tham, nuôi dưỡng tâm từ bỏ. Thật ra, vị này không cần phải kềm chế xuống cho nó đừng sân, nếu mà tâm này nó mạnh nó sẽ đi ra khỏi tham, sân, si. Vì mình thấy nó thiệt rồi mình mới tham, mình thấy nó là của mình, mình sẽ còn ở đây để hưởng nữa. Còn đối với một người có tâm xuất ly thì sẽ đi ra khỏi những cái đó.

IV. Nhất hướng nhàm chán:

Chính vì vậy, bước tiếp theo của chúng ta, trong thời gian gần đây con mới phát hiện ra thêm một điều những pháp lệnh của Đức Phật hết sức quan trọng – nhất hướng nhàm chán. Những cái này là đề tài thiền quán: nhất hướng nhàm chán, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ. Đây là những pháp lệnh, cũng là những đề mục, mà cũng là mục tiêu của người tu hướng tới. Nhất hướng là một mực, một bề, thuần nhất là một sự nhàm chán trong năm uẩn. Phải hướng tâm mình về chiều hướng đó. Mỗi khi có chuyện gì, huynh đệ, tỷ muội, ví dụ người ta sân lên, mình không cần sân, mình tới tác ý nhàm chán. Người ta tham lên, bản ngã lên, mình không tác ý bản ngã lại, nhàm chán. Xa lìa cái đó, thoát ra. Tuồng này mình đã đóng vô lượng, vô số lần, nhàm chán, rời xa, từ bỏ.

Thường xuyên tác ý, xuất ly tư duy là một trong những Chánh tư duy, đi ra, nhàm chán, rời bỏ, chấm dứt, đoạn tận. Ở cái thất yên ổn, ấm áp, đừng ưa thích nó, tác ý sẽ từ bỏ nó. Vô thường, tan hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Mượn cảnh này tu thôi, đừng ưa thích nó, đừng yêu nó, Pháp Ấn không quan trọng lắm. Khi tác ý đến viễn ly, tâm này phấn chấn trong viễn ly, vui thích viễn ly, ưa thích viễn ly, hoan hỉ viễn ly, sung sướng viễn ly, hạnh phúc trong sự viễn ly, sự tịnh tín, niềm tin mình vững chắc trong viễn ly, được an trú trong viễn ly, quyết định trong sự viễn ly. Tức xác quyết trong tâm, không thể nào đi theo mấy cái đó được nữa hết. Phải rời xa nó, phải thoát ra, phải từ bỏ, phải xác quyết.

Tuy rằng tập khí mình chưa hết, thói quen mình vẫn còn, dục ái mình vẫn còn nhưng thấy biết của mình là xác quyết. Trong tri kiến, trong nhận thức của mình là quyết định, chứ không thôi trong này nó do dự: biết vậy có nên đi tu không hay quay về, có nên tu theo dòng pháp này không hay trở về như lúc trước cho khỏe. Không có, phải xác quyết, đây là con đường độc nhất, không có phương pháp thứ hai, chỉ con đường này mới đưa đến an lạc, hạnh phúc. Cái đó gọi là quyết định, trong tâm ý mình quyết định, xác quyết, đó là tịnh tín. Tới lúc nào nó không còn lay chuyển được là tịnh tín bất động, nhập luôn. Phải xác quyết, chỉ con đường này không có con đường nào khác.

“Đường này đến thế gian,

Đường kia đến Niết bàn,

Tỳ Kheo, đệ tử Phật,

Phải ý thức rõ ràng,

Đừng đắm say thế lợi,

Hãy tu hạnh ly tham.”

Bài kệ số 75 - Kinh Pháp Cú

Đây là đường thế gian, đây là đường Niết –bàn, Tỳ-kheo, đệ tử Phật hãy ý thức rõ ràng con đường của dục, tham, ái là con đường của khổ đau, phiền não, con đường của khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh, của sầu bi, ưu não. Đây là con đường của ly dục, ly tham, của viễn ly, của xuất ly, của xả ly, là con đường của hạnh phúc, bình an, giải thoát. Phải xác quyết, quyết định 100%, tuyệt đối, không lay chuyển, bất động. Giống như Đường Tăng đi thỉnh kinh, dù cho bước tới trước, chết thì chết chứ không thể bước lùi một bước.

Phải xác quyết trong tâm mình như vậy, thà chết trong sự xuất ly, trong pháp chứ không chết nhục nhã, cay đắng, tức tưởi, oan ức trong các dục, không chết hèn hạ, không chết đồi bại, hạ liệt, không chết ngu si, mê muội theo các dục của thế gian. Phải tác ý, siêng năng tác ý. Sự tu của mình đánh vô thọ, tưởng, hành. Tác ý là hành uẩn, lúc đó có cảm giác sanh khởi không? Rồi mình quán chiếu là tưởng uẩn, thực sự trong sự tu mình đầy đủ thọ, tưởng, hành. Nhưng tác ý không thì không đủ nên phải quán tưởng, quán chiếu, rồi sanh ra cảm thọ, cứ làm vậy lặp tới lặp lui hoài tới khi an trú vào đó là thành công. Lúc đầu tác ý là mình tập, nhưng sau sẽ trở thành quen, tự động nó tác ý, riết rồi mình an trú, mình quán tưởng rồi nó ở luôn trong đó. Như vậy là thể nhập Thánh trí.

Lúc đầu mình thấy nó tịnh, tịnh tướng, đẹp đẽ, sạch sẽ, thơm tho, hấp dẫn. Nhưng sau đó tu, mình quán bất tịnh, giữa cái tịnh và bất tịnh nó chiến đấu dữ lắm. Một hồi thấy tịnh, một hồi vô tu thấy bất tịnh, giữa 2 cái này tranh tối tranh sáng với nhau, mình nâng bất tịnh lên, bất tịnh quán thường, tác ý thường, dần dần bất tịnh mạnh hơn cái tịnh. Còn có 30% tịnh mà 70% bất tịnh, mình tưởng, mình quán riết nó lên 80, 90% lên tới 100% rồi nhập vô Thánh trí bất tịnh, phá thân kiến.

Bây giờ thế bất tịnh nó thường xuyên, thường trực, thường trú trong mình, không cần phải quán, nhìn là thấy được bản chất đó, ly tham, nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt, xuất ly. Pháp nào cũng vậy, phải có sự tranh tối tranh sáng, lúc đầu siêng năng tác ý quán chiếu cho đến thể nhập, chứng nhập, thực tập rồi mình thâm nhập, thể nhập, chứng nhập, ngày đêm tác ý. Tâm của vị ấy là khéo làm, khéo tu tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến dục. Đây gọi là khéo làm, chứ không phải làm mấy cái ở ngoài nhiều, làm được cái này Đức Phật gọi là khéo làm. Tức xuất ly khỏi dục.

“Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chi phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còm cảm thọcảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng”.

(Bài kinh Năm Pháp – Tụng phẩm II – Kinh Phúng Tụng – Kinh Trường Bộ Tập II)

Ví dụ, tiếng nhạc lúc nãy mở lên, tâm mình thọ, tưởng, hành của mình có vận hành không? Nhưng mình tập trung, trú tâm vô pháp một hồi, nó mạnh lên, lấn át cái kia mất, giống như không có. Sự tu và xuất ly của mình y chang như vậy, tức nó có nhưng không tác động được mình, giống như không, mình không thọ. Chứ giờ mình chạy đi đâu mà không có âm thanh, không có tiếng này cũng có tiếng kia. Thành ra mình đừng chú trọng vô phần viễn ly ngoài thân nhiều quá mà hãy chú trọng vô phần viễn ly trong tâm. Đây là những bài kinh Đức Phật dạy, 5 sự xuất ly, nên khéo tu tập, khéo giải thoát, khéo tăng trưởng, khéo không liên hệ đến dục.

Khéo giải thoát là khéo đi ra khỏi dục, giải thoát tức là tháo mở nó ra. Ví dụ cái ái gia đình phải khéo tháo mở nó, gọi là khéo làm, khéo tu tập, khéo tăng trưởng. Bạn bè, tình nghĩa, tình cảm gì đó, huynh đệ, cô chú dì, nội ngoại, tất cả mọi thứ phải khéo xuất ly dục, xuất ly ái, khéo không liên hệ đến dục. Không liên hệ đến dục là khéo đó, “Do duyên với dục khởi lên lậu hoặc, não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng”. Tại sao không liên hệ đến dục? Nếu liên hệ đến dục thì khởi lên lậu hoặc, não hại, phiền não, làm hại mình, nguy hại. Nhiệt não là nóng bức, thiêu đốt, làm mình lo âu, sợ hãi. Cho nên không muốn nóng bức, không muốn lo âu, sợ hãi, nhiệt não nên vị ấy giải thoát khỏi dục.

V. Giới thứ hai:

“Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân. Và các lậu hoặc, các tổn hoại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sân hận.

Sự xuất ly thứ 2 là Tỳ-kheo tác ý về sân, tâm không phấn chấn trong sân, không đặt niềm tin nơi sân, không an trú nơi sân, không quyết định trong sân. Khi trong lòng nổi lên sự tức giận ai, tâm không phấn chấn, không chấp nhận cảm thọ sân, không a dua đi theo cảm giác sân đó, không khoái nó, không nhập cuộc với nó, không đi theo sự dẫn dắt của nó. Nhàm chán, không đặt niềm tin và ở trong cảm giác sân hận đó và không quyết định đi theo sân hận đó. Không cho rằng cảm giác sân hận này có thể giải quyết được vấn đề gì cả, nó chỉ làm khổ đau thêm thôi, cho nên ở trong cảm giác đó, không trú trong đó.

Nhưng khi tác ý đến vô sân, tâm liền phấn chấn trong vô sân. Khi tác ý đến sự không sân giận thì tâm phấn chấn. Trong sự không sân hận đó được tịnh tín, được an trú, được quyết định, tin tưởng nơi tâm không sân hận, an trú, trụ trong tâm không sân hận. Quyết định chỗ này là chỗ bình an nên tâm của vị ấy khéo làm, khéo tu tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sân. Phải như vậy, người này tu tập quán tâm trên tâm, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp, có miên mật không, liên tục không, có khít khao không, có thường xuyên thường trực không.

Cho nên mới quán được, còn giờ mình không quán, tới chừng sân nổi lên mình không biết mà hỏi có sân không nói tôi đâu có sân, rõ ràng là có sân mà hỏi nói tôi không giận. Một phần là vô minh, một phần là ngụy biện, phải không? Mình thấy nhiều người, rõ ràng mình hỏi đang giận hả, nói đâu có giận, tôi đâu giận đâu. Vì khi giận lên mà nói mình giận là chịu mình dở, phải không Tự Tâm? Cô đang có cảm xúc hơi bực mình một chút, thầy hỏi bộ cô đang sân hả? Cô nói sao? Nếu lúc trước khi chưa đi vô dòng pháp này, trả lời tôi đâu có giận. Sự thật là có giận, trong bụng đang giận, cái này nhiều lỗi lắm, nói dóc, không thành thật, che đậy, bản ngã, ganh, biết bao nhiêu các pháp trong đó thấy chưa, không quán tâm trên tâm. Mà cái này mình thấy nhiều không, mà mình trong đó có.

Có những trường hợp mình không biết có giận, trường hợp này nhiều lắm, mình không biết nó vô minh. Có nhiều người tính trầm, thọ không bén nhạy, nên người ta làm gì trái ý cũng vậy, người này thấy cũng bình thường. Nhưng mình đừng tưởng người này không sân, không phải. Vì thọ của người này không sắc bén, gọi là phản ứng chậm, nhưng một hồi người này cũng có phản ứng khó chịu nhưng nhẹ hơn người bình thường, với cảm thọ đó bị chai chai. Cái si nó nặng quá.

Nhưng có những trường hợp, có những người hết sức bén nhạy, chỉ cần một câu nói nhẹ bình thường không có gì hết cũng sân lên được. Thành ra có nhiều dạng thức tâm của chúng sanh, nghiệp hết sức vô số kiểu. Nhưng cũng tham, sân, si với bản ngã, vô minh chứ không có gì khác, nó rất nhiều dạng thức, hình thái. Mình đọc kinh sẽ thấy Đức Phật nói rất nhiều dạng thức. Mình nhớ trong Duyên khởi, xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, Đức Phật không nói sân, nhưng thật ra cái ái với sân là hai mặt của mình, hễ có ái là có sân. Mình tưởng đâu sân giận đó là không thủ, không phải, do chấp thủ nên nó mới sân.

Cho nên, “Tâm vị ấy khéo làm, khéo tu tập”. Vậy mà tối ngày người tu đúng theo tinh thần Nikāya là nhìn tâm mình hoài, sáng trưa chiều tối, đầu hôm, nửa đêm, cuối đêm, tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp. Đầu hôm đi kinh hành hoặc trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp. Giữa đêm đi kinh hành hoặc trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp. Hay cuối đêm mới vừa ngủ thức dậy tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp. Tức ngũ cái: dục, tham, sân, hôn trầm, triền miên, trạo hối, hoài nghi, tẩy sạch tâm tư khỏi chướng ngại pháp. Như vậy suốt đêm tu, trừ lúc nằm ngủ quên, thức dậy là tu, liên tục. Suốt ngày dòm chừng trong tâm.

Thấy không, nhiều khi mình xả thiền hay vừa bước ra từ thời pháp lại trở về trạng thái buông lung ngay lập tức, thấy khỏe. Bản dị của nó là bản dị của buông lung, phóng dật. Bây giờ mình bắt nó trở lại bản vị là bản vị trú trong thân, bắt nó ngược trở lại, giống như hồi nãy tịnh và bất tịnh, thay vì buông lung phóng dật thì mình đưa nó qua Chánh Niệm tỉnh giác. Lúc đầu là giằng co, sau từ từ nâng lên, cuối cùng nhập vô Chánh Niệm tỉnh giác là thuần nhất, chỉ còn Chánh Niệm tỉnh giác thôi là thành tựu, không còn thấy buông lung phóng dật nữa.

Lúc đầu hoàn toàn là buông lung phóng dật, kế đến học được pháp, mình biết như vậy là xấu, cái này mới đúng pháp. Như vậy sau đó mình mới tập an trú, tranh tối tranh sáng, năm ăn năm thua, đánh qua đánh lại riết là 5-5, dần dần tới 4-6, 7-3, tới 8-2, 9-1 cuối cùng nhập vô viên mãn, 10 điểm. Lúc đó hoàn toàn phá diệt tân buông lung phóng dật hết. Nếu diệt người đó luôn luôn trú trong trạng thái của thiền định. Đức Thế Tôn lúc nào cũng Na già thiền đại định, lúc nào cũng ở trong trạng thái của thiền, không phải lúc ngài ngồi thiền, mà trong tất cả hoạt động, thi vi, cử chỉ, hành vi của Đức Phật, toàn thể tất cả đều ở trong thiền.

Còn mình tại sao tu không tiến? Vì giờ ngồi thiền lúc đó mình mới thiền, ra khỏi giờ thiền mình nói đây đâu phải giờ thiền. Chính cái hiểu đó làm cho mình tu không tiến, nên tại sao nhiều khi con nhắc mấy thầy mấy chú là vậy đó. Vì mình nghĩ rằng giờ thiền mới thiền, còn giờ không thiền mà thầy, thoải mái đi, tu gì mà căng dữ vậy thầy? Phải không? Không phải, tất cả chỗ, tất cả lúc, tất cả thời gian, khi mình có thiền, có an trú, có Chánh Niệm tỉnh giác thì người đối diện với mình không dám buông lung phóng dật, từ ngang hàng cho đến người cư sĩ. Chính mình buông lung phóng dật nên người ta mới có thể buông lung phóng dật được.

Phật tử lại hòa thượng Trúc Lâm Thanh Từ có dám giỡn hớt không? Lại ông cụ Giảng Đức của mình hồi xưa dám giỡn không? Mấy cụ của mình hồi xưa đó. Ý mình nói tới những người mắt thấy tai mình nghe thôi, chưa nói tới những bậc thiền sư, các bậc Thánh tăng hay Đức Thế Tôn. Các ngài luôn trú trong đó, tại sao mình lại cho phép mình giờ này không phải giờ tu. Ý hành sai lầm đưa đến quan niệm sai lầm. Mình suy nghĩ là cho nó thoải mái, suy nghĩ đó không được, nó là ma, là ác ma. Trú trong pháp mới là an lạc, ra khỏi pháp là hiểm họa, hiểm nguy.

Khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sân, tại sao như vậy? Do sân nổi lên các loại lậu hoặc, não hại, nhiệt não, các vị ấy giải thoát khỏi chúng, không có cảm giác, thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi sân. Mình nhớ, do cái duyên với sân khởi lên các lậu hoặc, những phiền não, những não hại, thiêu đốt, não hại, bức bối, bứt rứt, bực bội, sân hận, vị ấy giải thoát khỏi chúng “không còn cảm thọ cảm giác ấy” – tức không thọ cảm thọ sân, dù cho nó sanh khởi lên, không thọ, không nhận, nó sanh khởi trong tâm mình nhưng mình không chấp nhận nó.

Giống như mấy nhà làm mắt thần. Ở ngoài nhìn vô không thấy người ta nhưng ở trong nhìn ra thấy, người này muốn tiếp hay không tùy ý. Nếu người ta không tiếp thì không cần mở cửa. Cũng vậy, không phải cái gì mình cũng tiếp, cảm thọ nào đến cũng nhận, không nhận, tan biến khỏi tâm, đuổi nó ra, đi ra. Còn mình không tu tập, không quán tâm, không quán thọ như nhà không đóng cửa, ai muốn vô cũng được. Đây gọi là xuất ly khỏi sân.

Hãy nhớ những khẩu quyết, những pháp tịnh của Đức Phật khi mình ngồi thiền, nhất hướng nhàm chán, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Nghiền ngẫm thật kỹ những pháp lệnh, những đề mục đó để thực tập, hành trì. Không có ở đây đâu mà hơn thua với nhau, đâu phải của mình đâu mà giành giật với nhau, phiền não, ganh tị với nhau. Ai muốn giành thì giành, chính vì suy nghĩ này mà mình nhẹ lắm, làm người khách thôi.

Con có thưa với đại chúng trong quyển “Xuất gia toàn tập”, cùng nhau nhắc nhở, con đứng trên cái sân, quán giữa đường - khi con chưa vô dòng pháp này – ngồi đó quán mình là du khách của Linh Quy Pháp Ấn, tâm nhẹ lắm. Đừng nghĩ là của mình, đừng nghĩ là mình, là tự ngã. Hãy hướng đến sự viễn ly, rời xa, từ bỏ, chấm dứt. Có ai ở đây đâu, vài bữa chết hết trơn, có khi trên này sau này thành núi hoang, rừng lạnh, cỏ mọc đầy, nhà sụp đổ. Viễn ly, rời xa, thoát ra, từ bỏ, chấm dứt, không còn hăng hái cho nên giờ con mới thấm thía hai chữa “An tịnh” rất thâm sâu. Chữ “Lắng dịu”, lắng dịu dục tham, đoạn tận khát ái đối với cuộc đời này. Mình tu mình sẽ đi đến chỗ lắng dịu những dục, tham, chấm dứt tất cả những khao khát, thèm muốn, yêu thích đối với thế gian này. Đó là đạo lộ của Niết-bàn, như vậy mình mới đi ra được.

Sự tu hành của mình là đưa đến lắng dịu hoàn toàn tất cả tham sân si, chấm dứt hoàn toàn tất cả mọi khát ái, khao khát, yêu thích trên cuộc đời này.

“Đệ tử Gotama

Không tìm cầu dục lạc

Dù là dục chư thiên

Chỉ ưa thích ái diệt”.

Bài kệ 187 – Kinh Pháp Cú

Này, các Tỳ-kheo, con đường nào, đạo lộ nào, phương pháp tu tập nào đưa đến đoạn tận khát ái, hãy đi trên con đường ấy, hãy đi trên đạo lộ ấy sẽ diệt tận tất cả khổ đau. Chú Sĩ chia sẻ cảm xúc nãy giờ ra sao?

VI. Chú sĩ sám hối:

Chú Sĩ: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa sư phụ, quý thầy và quý sư cô cùng toàn thể quý Phật tử. Kính thưa sư phụ con xin chia sẻ sự cảm nhận qua những lời chia sẻ của sư phụ qua những bài pháp trong sáng hôm nay. Khi mới vào, sư phụ chia sẻ một câu nói về an trú tâm, khi tâm không được an trú trong đề mục thì sẽ buông lung suốt cuộc đời. Câu nói đó khiến con rất cảm động, ngay hiện tại tâm con khi mới vào nghe pháp trạng thái tâm vẫn chưa có sự định tĩnh, vẫn còn tâm bị nhỏ hẹp. Sau những lời chia sẻ của sư phụ, con bắt đầu hướng tâm vào và con thấy rằng nếu tâm mình không có trong một đề mục thì dù cho mình có hộ trì căn ở trước mặt, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân nhưng ý hành bên trong, ý căn bên trong chạy mà mình không kiểm soát được. Đó cũng là buông lung phóng dật và sự Như Lý Tác Ý để an trú tâm rất quan trọng.

Khi sư phụ chia sẻ, qua những lời chia sẻ tận tình của sư phụ, sư phụ hướng tâm đến con, dù thân con ở đây mà tâm con không viễn ly thì con chưa thật sự xuất ly ra khỏi các dục, vẫn còn tham ái, dính mắc đối với quá khứ, gia đình, bạn bè. Con cảm thấy rằng sự tu tập của mình trong thời gian vừa qua, con đã không đặt tâm mình vào mục đích nhất hướng cầu Pháp như lúc con mới bước chân lên đây. Con đã sống trong sự buông lung phóng dật, vẫn còn tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Và khi bị vấp ngã thì lại hối hận, pháp học mà mình không hành chẳng khác gì là một thư viện. Hằng ngày con cứ hướng đến lòng tin bất động đến với Đức Phật, Chánh pháp, chúng tăng và Thánh giới, nhưng thực sự con thấy sự cung kính và chân thật của con chưa đầy đủ, trọn vẹn đối với Đức Phật, Chánh pháp, chúng tăng và Thánh giới. Con vẫn còn tham ái, dính mắc đối với gia đình, người thân của mình, vẫn chưa thật sự thoát ra được những ái dục thường tình của thế gian này. Vẫn chưa thật sự nhất hướng để thoát ra, dù thân ở đây nhưng tâm vẫn còn hướng về người thân, gia đình mình.

Con xin lỗi sư phụ, thời gian vừa qua con đã không có sự cung kính, là một người đệ tử đối với thầy của mình, con không thường xuyên hướng tâm đến sư phụ, dù cho sư phụ có hỏi thăm con vẫn thờ ơ vì đó chính là bản ngã. Ngày hôm nay, sau những lời chia sẻ của sư phụ, con thấy được rằng, dù thân mình ở đây mà mình không có sự viễn ly đối với tâm thì cũng như sư phụ đã chia sẻ một người ở trong rừng rú mấy chục năm ra cũng chỉ là một người phàm phu, không chứng ngộ được gì cả. Con không muốn thời gian của mình trôi qua một cách vô nghĩa nữa, con sẽ cố gắng, tu tập, trước nhất là phải làm một con người chân chánh, sau đó mới nói làm Thánh nhân. Ngay cả tự thân mình còn chưa biết ơn, nhớ ơn đối với những người có công ơn với mình thì làm sao có thể làm những thứ gì cao xa hơn. Ngày hôm nay, con chân thành cảm ơn sư phụ và xin sám hối vì sự cung kính của con không đầy đủ, không biết ơn, nhớ ơn đối với sư phụ đã tận tình chỉ dạy, lo lắng, hỗ trợ cho con trong việc tu học mà con lại không có lòng biết ơn, nhớ ơn đối với sư phụ.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính mong sư phụ tha lỗi cho con vì con vô minh vì con còn đầy dẫy tham dục, tham ái. Đối với gia đình vẫn chưa có sự xuất ly, thoát ra, chưa nhất hướng đi trên con đường này. Đối với những điều con đã tìm, đã phát hiện. Từ nay con sẽ cố gắng làm một người học trò, một người tu hành chân chánh để con có thể gần gũi sư phụ và tiến sâu hơn trong dòng pháp này. Xin sư phụ dẫn dắt cho con, lỗi lầm này là một lỗi lầm để con diệt trừ ly tham và khát ái.

Sư phụ: Chú nhận thức được sự tu tập yếu kém của mình, có sự nhìn nhận trở lại và sám hối. Đây là thiện pháp, là sự tốt lành, chú sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh trong Thánh trí tuệ này, trong Thánh pháp này. Chúng ta tu học dòng pháp này đừng sợ cấu nhiễm, chỉ sợ mình không quyết tâm diệt trừ cấu nhiễm. Cấu nhiễm không đáng sợ, tập khí phiền não không đáng sợ, chỉ sợ mình thoái lui tâm tinh tấn để tẩy sạch các bất thiện pháp và cấu nhiễm. Thành ra mình vững tâm đó thì sẽ thành công, dù cho mình té xuống bao nhiêu lần cũng không sợ, chỉ sợ không đứng lên đi tiếp. Té, ngã, trợt không sợ, chỉ sợ không chịu đứng dậy tiếp tục đi, nhớ kỹ điều này thì chúng ta sẽ đến. Chị Oanh hổm rày tu có an ổn không?

Chị Oanh: Dạ, con cung kính bạch trên sư phụ, trên quý thầy và quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Thưa sư phụ, thời gian sau giờ nghe pháp sáng nay và quán chiếu lại thời gian tu tập, con thấy tâm mình còn nhiều cấu uế rất bẩn, không an trú trong hạnh, không phóng dật. Khi đọc kinh, ngồi thiền con thấy mình còn bị buông lung phóng dật, lúc thì hôn trầm, khi thì có sự chán, không tác ý mạnh mẽ. Khi nào con tác ý, tinh tấn thì lúc đó con thấy hoan hỉ, còn nhiều lúc thấy để tâm buông lơi, lúc đó con bị chướng ngại pháp chi phối khiến cho con rất mệt mỏi, khổ sở. Con thật xấu hổ khi mình thân viễn ly tâm lại chưa được viễn ly, lại bị dính mắc với dục, tham, ái, chấp thủ, chỗ ngồi, chỗ đứng, chỗ ăn, chỗ ngủ, hay bị dính mắc chỗ này chỗ kia.

Khi tâm hướng đến viễn ly thì tâm rất hoan hỉ, còn mỗi lần chấp thủ, dính mắc là con rất mệt mỏi, rất khổ, lúc sân hận lại đi theo nó, khó chịu, nói những lời nói làm cho bạn đồng tu phải buồn lòng, nói trong bản ngã, trong sân si. Những lúc như vậy, khi nhìn lại, quán chiếu con thấy rất nhục nhã, rất khổ sở, con tự đặt ra mục tiêu là mỗi ngày phải ghi chép lại nhật ký tu học tội lỗi của mình. Nếu nhìn thấy rác nhiều thì lúc đó, ngày đó mình an trú trong pháp, không bị buông lung phóng dật, còn nếu ngày nào rác thấy ít, chắc chắn ngày hôm đó con đã buông lung phóng dật rất nhiều. Con xin lỗi sư phụ, xin sám hối với tất cả đại chúng vì bỏ hết tất cả để theo mục đích tu tập giải thoát của chính mình mà tu tập còn yếu kém, còn đầy dục, tham, ái, chấp thủ, dính mắc, còn đầy sân hận, bản ngã, ta đây. Bài pháp hôm nay con xin tri ân đến sư phụ, con có một cảm thọ rất ngọt ngào, hoan hỉ. Dạ con xin được đảnh lễ, sám hối vì sự tu tập còn yếu kém và nhiều rác bẩn còn trong tâm này.

Sư phụ: Đại chúng nhớ là chúng ta đang chăm sóc một đứa bé, chỉ cần mình lơ đễnh nó sẽ lọt xuống hồ, xuống vực thẳm, nó té ngã, hoặc bị thương hoặc là sẽ chết. Tâm của mình là tâm của một đứa trẻ thơ, cần phải được chăm sóc thường xuyên, liên tục và dòm ngó nó. Đừng rời mắt khỏi nó, luôn luôn lúc nào cũng phải ý đến nó, sự động chuyển của các suy nghĩ, các cảm thọ, các sự xuất hiện của những hình bóng, tập khí, của những dục tưởng, dục tầm, dục tư, những suy nghĩ về sân hận, chiều hướng của bản ngã. Phải luôn luôn dòm ngó nó, trông chừng nó, đề phòng nó, canh chừng cẩn thận.

Mình hãy quán chiếu tâm mình là một đứa trẻ thơ 2, 3 tuổi, chỉ cần buông lơi là nó sẽ lọt hồ, rơi xuống vực, sẽ té ngã, thậm chí là sẽ chết. Mình sẽ chết cái tâm còn Thánh pháp, Thánh đạo của mình. Tâm mình trong dòng pháp này nó mới là một đứa trẻ thơ, các chú thấy không, còn rất yếu kém, đừng rời khỏi mắt, hằng ngày phải tác ý hàng trăm lần. Nửa đêm giật mình thức dậy cũng phải tác ý liền, đầu hôm phải tác ý, cuối đêm phải tác ý, sáng, trưa, chiều đều tác ý, bất cứ lúc nào cũng nhìn lại bên trong để tác ý, huấn luyện, rèn luyện tâm thức của mình.

Một đứa trẻ nói không nghe lời, không hiểu biết, làm theo dục, làm theo tập khí, làm theo nghiệp, bắt nó, áp đặt nó đi vào trong trí huệ, vào giới luật, vào trong uy nghi, thiền định. Phải rất nhiều sự nỗ lực, không tu chơi chơi, qua loa, tu cho có, tu cho rồi mà tu bằng tất cả tấm lòng, làm tận cùng khả năng của mình có thể làm được, dù có chết cũng chết trong pháp này. Thề với lòng là không buông bỏ, nếu chết thì chết trên con đường này. Mình đâu thể nào tu sơ sơ, qua loa cho có hình thức được, cha mẹ, ông bà cô bác mình ở nhà, đàn na tín thí, những người ân nghĩa, ân tình với mình ở nhà, ai cho phép mình vô đây tu chơi chơi, qua loa, buông thả, buông lung, phóng túng, ai cho phép mình?

Tác ý như vậy, nghiêm túc, nghiêm khắc với chính mình. Chính vì những cái suy nghĩ: không sao đâu, từ từ cũng được, mình tuổi còn trẻ, tu vầy là tốt lắm rồi. Những suy nghĩ đó làm cho mình không thăng tiến được, làm cho mình dừng lại, thoái thân. Phải tác ý, nghe pháp, ngoài giờ nghe pháp là tác ý, thiền định, quán chiếu. Đừng bao giờ để cho nó đi ra khỏi pháp. Khổ luyện, nghiêm khắc, rèn luyện, huấn luyện, tôi luyện thọ, tưởng, hành của mình. Đừng bao giờ để cho nó đi ra khỏi pháp, không có bàn nói chuyện đời, thế gian gì hết, tuyệt đối.

Tập từ từ sẽ quen, không ngồi lại bàn chuyện nhà, chuyện mẹ con, anh em, bà nội, cháu gì hết. Nó sanh khởi lên nói mày chết đi, đoạn tận, diệt tận, viễn ly, xuất ly, từ từ sẽ quen. Từ từ những lời nói, suy nghĩ của mình là pháp, không có gì ngoài pháp, cho đến toàn thân của mình là pháp. Phải làm, làm cùng tận khả năng của mình. Thành ra chọn con đường tu phải tu cho tới chứ không suy nghĩ nửa chừng, phải liều mạng tu với tinh thần liệt sĩ quyết tử. Vận dụng và khơi nguồn sức mạnh từ bên trong, làm cho mình mạnh mẽ lên, oai dũng lên, hùng lực lên, ngồi lên bồ đoàn vững mạnh, sáng tỏ, hùng tráng, tinh anh, tinh minh.

./.