Kinh NIKAYA Giảng Giải - Năm Nơi Cư Trú An Ổn
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dẫn nhập: PAGEREF _Toc47345684 \h 1
II. Trú ẩn an ổn: PAGEREF _Toc47345685 \h 2
III. Chân xác về tâm từ: PAGEREF _Toc47345686 \h 3
IV. Quán chiếu tham – sân – si, bản ngã: PAGEREF _Toc47345687 \h 6
V. Tu tập giới: PAGEREF _Toc47345688 \h 13
VI. Chánh Tri Kiến: PAGEREF _Toc47345689 \h 19
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI – NĂM NƠI CƯ TRÚ AN ỔN
-Thích Minh Thành-
I. Dẫn nhập:
Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân. Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào, bình an.
Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tìm hiểu về năm nơi cư trú an ổn, năm chỗ mà mình ở đó được an lạc, an bình, tâm được an tịnh, an vui, an ổn. Trong nghi lễ Phật giáo chúng ta, có nghi thức cầu an, đó chỉ là mong cầu kết quả thôi, muốn an ổn phải thực tập năm điều này. Đời sống chúng ta không biết tu tập, không biết thực hành Chánh pháp là một chuỗi dài của sự bất an. Chúng ta bất an ở trong lời nói, khi mình nói xong câu chuyện đó rồi về tâm mình bất an. Khi mình nghe câu chuyện đó, lòng mình bất an. Mình thấy người đó, gặp người đó, giao tiếp mình cảm thấy tâm của mình không được bình an. Mình làm một chuyện gì đó thì mình bị dao động, lo lắng, sợ hãi trong suy nghĩ của mình cũng bất an. Suy nghĩ về một người, món đồ vật, công việc nào đó là mình bị lo sợ. Nên đời sống không biết thực tập là một chuỗi dài của sự bất an, có an mới lạc, không an không thể lạc. Cho nên mấy phút đầu tiên, chúng ta luôn luôn thực tập trước khi học, là thực tập sự an tịnh và lắng dịu thân tâm. Xin thưa đại chúng, những bài chúng ta học toàn là những pháp hành, chứ không phải chỉ là kiến thức, lý thuyết suông, chữ nghĩa thôi. Chúng ta phải thực tập thường nhật năm nơi cư trú an ổn này,
II. Trú ẩn an ổn:
Đức thế tôn truyền trao cho chúng ta trong Tăng Chi Bộ kinh tập 2 bài kinh An Ổn Trú. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XI. Phẩm An Ổn Trú, Bài kinh An Ổn Trú).
“Này các Tỷ-kheo, có năm an ổn trú này, Thế nào là năm?
Này các Tỷ-kheo, an trú từ thân nghiệp đối với đồng phạm hạnh, cả với trước mặt và sau lưng”.
Chúng ta phải tìm hiểu kỹ các bản kinh, có những bài kinh khác Đức Phật nói đầy đủ hơn nữa.
“An trú từ thân nghiệp đối với đồng phạm hạnh trước mặt hoặc sau lưng”.
Thế nào gọi là an trú từ thân nghiệp? Thân nghiệp là những hành động của thân. Rồi an trú từ khẩu nghiệp, an trú từ ý nghiệp. Chữ “từ” ở đây, cái này chưa dịch hết ra ngữ văn của Hán Việt, tức là an trú nơi hành động từ bi, lời nói từ bi, tình thương và cái suy nghĩ tình thương đối với các bạn đồng tu, huynh đệ gọi là các bậc đồng phạm hạnh. Danh từ trong kinh Nikāya chúng ta phải nắm vững, mình làm quen vì sau này sẽ gặp thường lắm. Các bậc “đồng phạm hạnh”, “phạm hạnh” là cái hạnh thanh tịnh của đời sống xuất gia, một đời sống trong sạch, thanh tịnh, cao thượng, thánh thiện gọi là phạm hạnh. Chúng ta an trú, chữ “an trú” ở đây có nghĩa là ở yên trong đó, trú là cư trú, an là yên, là mình thường ở trong một hành động của tình thương.
III. Chân xác về tâm từ:
Cái này nói thì đơn giản nhưng thật sự nó sâu sắc lắm. Mỗi hành động của mình xuất phát từ tình thương. Chữ “từ” ở đây có nghĩa là từ bi, từ bi này thâm sâu lắm, không giống như mình hiểu. Bình thường mình nghĩ mình thương người đó, mình cho người đó ăn, đó không phải từ bi mà là ái. Từ bi của đạo Phật hết sức thâm sâu, nếu chưa thành tựu Chánh Tri Kiến thì mình không biết được từ bi. Mình bị lẫn lộn “ái” với “từ”. Đại đa số cái mình gọi là “từ” đó là “ái”, làm sao phân biệt được “ái” và “từ”? Cho đến khi nào mình nhìn thấy đây là cái thân ngũ uẩn, vô thường, bất tịnh, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, là đống máu mủ ruột gan, phèo phổi. Khi mình thấy được mình đang an trú trong cái tưởng của bộ xương, tưởng của phình trương, rạn nứt rỉ chảy chính giai đoạn của một tử thi, một cái tưởng của giòi ăn. Mình nhìn thấy được đây chỉ là một đống sắc uẩn, ngũ uẩn tứ đại vô thường nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, bất tịnh, trống rỗng. Và ở trong này những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức đầy dẫy những tham dục, ái, sân, si, vô minh, bản ngã. Nhìn thấy xót thương cho chính mình trong vô lượng kiếp sanh tử vừa qua, mình sống trong đêm dài của vô minh, tham ái, chấp thủ.
Mình thấy được như vậy rồi, mình xót xa, đau đớn, nước mắt tràn trụa ra đầy mặt, xót thương chính mình trong vòng luân hồi, thì cái đó mới gọi là thương mình. Thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc ở trong ngũ uẩn, tham, sân, si, bản ngã. Thấy được những cảm giác mà nó thúc giục, đòi hỏi, khao khát, chinh phục, xâm chiếm thân tâm của mình. Mình nhìn thấy mình là một kẻ nô lệ cho khát ái, cho sân hận, một kẻ đầy tớ cho bản ngã, mình thấy mình thương mình, xót xa cho mình, đau đớn và cay đắng cho cuộc đời vô minh và tham ái của chính mình. Nước mắt mình trào tuôn ra một cảm giác sâu sắc, chấn động, rúng động, rung động thân tâm của mình, thấy được như vậy mình mới gọi là thương mình.
Sau đó, mình thấy được những đối tượng chung quanh mà họ làm cho mình khổ đau, họ hại mình, chỉ trích, mắng chửi mình, làm cho mình khổ. Những người chung quanh, mình nhìn thấy tất cả ở đây là những đống vô minh, tham, sân, si và bản ngã. Tất cả chúng sanh đều là “kiền thiền nghạch” trong biển khổ, trong đêm dài. Mình phát khởi một tình thương thì cái đó mới gọi là từ bi của đạo Phật, còn cái mình thương mình cho ăn, cho uống này nọ kia thì không phải, đó là ái không phải từ bi. Ngay cả khi làm từ thiện đó là thể hiện lòng từ bi, nhưng chưa thành tựu Chánh Tri Kiến thì đó vẫn nằm trong phạm vi của phước báo nhỏ hẹp, chưa phải là đại bi của Phật giáo.
Từ bi của Phật giáo không phải thương người đi ăn xin, vô gia cư, lang thang không nhà cửa, mà thương luôn những người đại gia giàu có, quyền quý, cũng thấy xót thương cho họ, họ cũng đang dục tham, đau khổ, thiếu thốn và khát khao. Từ bi của đạo Phật không phải thương những người nghèo cùng, tật nguyền, bò lết quếch sảm, cùi hủi, tâm thần mà từ bi của đạo Phật là thương luôn những người minh tinh điện ảnh, người đẹp, hoa hậu vẫn đáng thương xót, họ vẫn đầy dẫy những tham, sân, si và đau khổ.
Từ bi của đạo Phật không phải chỉ thương những người bệnh nan y nằm một chỗ mười mấy hai chục năm, điên khùng bị xích mười tám năm, không mặc quần áo, mà từ bi của đạo Phật còn thương luôn những người lực lưỡng sáu múi, thể hình, cử tạ nổi tiếng toàn cầu, vẫn là những người đáng thương. Từ bi của đạo Phật nó thâm sâu, phải thành tựu Thánh Tri Kiến, Chánh Tri Kiến, thấy đúng thì mới có thể thương đúng được.
Người ta gọi đơn giản là hiểu mới thương. Cái hiểu này là cái hiểu của bậc thánh gọi là Thánh tri kiến, sự thấy biết của bậc thánh. Trước nay mình gọi là mình từ bi, mình là ái, một chút tình thương, là phước thôi. Khi nào thành tựu Chánh Kiến thì mới có một từ bi thật sự, Chánh Kiến mình thấy được mình là nạn nhân của tham, sân, si, vô minh và khát ái, thì lúc đó mới bắt đầu có sự từ bi, mới biết thương mình một cách đúng đắn. Còn bây giờ gọi là thương mình, mình cho mình ăn đồ ngon, cho mình mặc đồ đẹp, cho mình chỗ ở ngon lành, không phải, đó là ái, thân kiến, kiến chấp về thân. Mình chưa biết cách thương mình đâu, mình hại mình nhiều hơn là thương mình.
Nên chúng ta còn phải tu học nhiều lắm nữa, chúng ta đang hãm hại, hành hạ chúng ta rất nhiều trong những cảm giác thiêu đốt thân tâm này. Chúng ta tự làm cho mình khổ, tự dằn vặt, giày xéo mình, tự tàn phá thân tâm của chính mình, làm cho mình khổ, làm cho người ở chung của mình khổ, tại vì chúng ta không biết chúng ta vô minh, chất chứa những thứ mà nó gây ra đau khổ. Chúng ta lại mong muốn đi tìm cái niềm vui, tìm hoài tìm không được, tại vì bên trong của mình chất chứa những cảm giác tham ái, chấp thủ, ta đây, hơn thua, ganh tị, đố kỵ, so đo, sự nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ mọn, nhỏ nhặt, nhỏ nhít, nhỏ bé làm cho chúng ta đau khổ.
Chúng ta làm cho những người thân thương nhất của mình đau khổ. Ngoài đời chúng ta làm cho cha mẹ, anh em của mình đau khổ. Vào chùa chúng ta làm cho huynh đệ, thầy đau khổ, và chúng ta cũng khổ đau. Chúng ta mỗi ngày đều tự thiêu đốt mình trong những cảm giác bực bội, buồn bực. Chúng ta gọi là thương mình ư? Chúng ta còn chưa hiểu biết được ở trong thân tâm mình nó là cái gì, suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, suốt năm, suốt đời của chúng ta là hướng ngoại, chạy ra bên ngoài đi tìm cái này tìm cái kia. Tìm được thì dính mắc, tìm không được thì đau khổ, tìm được rồi đâu phải sướng đâu, nó có cái khổ của được, tìm không được có cái khổ của không được, đã mất rồi có cái khổ của đã mất rồi.
IV. Quán chiếu tham – sân – si, bản ngã:
Chúng ta là những nạn nhân của tai nạn bởi những sự thúc giục bên trong. Cho nên ngày hôm nay, Đức Phật dạy mình đi tìm về chỗ an ổn, phải luôn luôn khởi lòng từ, từ tâm tình thương ở trong suy nghĩ, sanh khởi tình thương ở trong mỗi lời nói, hành động của mình. Suy nghĩ làm sao để gọi là an trú ý nghiệp từ bi. Ví dụ huynh đệ của mình lỡ nói một câu hay làm gì đó mình giận, buồn, mình không giận mà mình thương. Tại sao mình buồn, tại sao mình giận, tại vì mình cho đó là xúc phạm cái tôi của mình. Mình là nạn nhân của bản ngã, nạn nhân của sân hận, nạn nhân của phiền não và người kia, huynh đệ tỷ muội của mình cũng là nạn nhân của bản ngã, phiền não, sân hận và chúng ta cùng là nạn nhân “Chúng ta đang bị thiêu đốt, chúng ta còn đánh chửi với nhau làm gì? Chúng ta đang bị đốt, đốt cháy tim, gan, phèo phổi, thì chúng ta còn hơn thua, ganh tị, thị phi, dành phần đúng, phần phải với nhau để làm gì? Thương cho ta quá đi, thương cho mày quá đi. Mày đi tu để mày bản ngã, mày hơn thua, sân hận, ganh tị trong chùa, mày có nhục không? Mày vô nhìn gương đi, nhìn bản mặt của mày có giống người tu hay là không? Bản mặt sân hận, hừng hực, gương mặt đổi màu đó, đáng thương cho mày quá”.
Chúng ta dào dạt một cảm xúc thương chính mình và thương cho người làm mình khổ, người làm cho mình sân hận thì cái thương đó mới là từ bi. Thương đó gọi là “an trú từ ý nghiệp đối với các đồng phạm hạnh trước mặt hoặc là sau lưng” và khi mình thương, mình tác ý, suy nghĩ như vậy bằng Thánh trí tuệ, bằng sự thấy biết sâu sắc của Chánh Tri Kiến thì cái thương, cái thấy, cái nghĩ, cái nhìn nhận thâm sâu đó sẽ phá tan đi cảm thọ, sân hận, bực tức ở bên trong thân tâm và nó giải tỏa cảm thọ, cảm giác đó luôn, chứ nó không chất chứa.
Còn cái thương mà mình ráng để thương, ở trong bụng mình giận vô cùng mà ở ngoài thì khác, nhưng trong này là lửa than. Thì cái đó tích tụ ở trong cảm thọ lâu ngày, dài tháng người ta gọi nhất quá tam. Tại vì nó chỉ từ ngoài mặt, ở trên miệng nhưng trong ý không có từ, không có bi, như vậy lâu ngày là tức nước vỡ bờ, là lựu đạn nổ, không thôi chỉ thêm một giọt nước cũng tràn ra, làm gì có một giọt nước mà tràn cái chum, tại vì nó chất chứa lâu ngày do cái thọ.
Cho nên sự tu tập này hóa giải ở bên trong cảm thọ, tức là mình bứng gốc rễ nó lên quăng đi, chứ không phải mé cành, chặt cây mà còn cái gốc lại thì “cái gốc chưa hạ vẫn bền ái, tiền biên chưa nhổ thì khổ này vẫn sanh hoài”. Sự tu tập này là bứng gốc cảm thọ, sân hận không còn gốc rễ, không làm nó sanh khởi trở lại trong tương lai, diệt tận ở trong mầm mống của cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, đó là sự thâm sâu của thiền quán, của như lý tác ý, của tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ.
Lúc nãy Minh Thành mới đưa ra cho các huynh đệ một phương diện quán chiếu thôi, còn rất nhiều phương diện quán chiếu, để cho mình dập tắt sân hận. Ví dụ như mình nổi sân lên mình nói “mẹ của mày ở nhà đang bệnh nặng kìa, cha của mày đang đi làm thuê vác mướn kìa, bà con dòng họ của mày đang chờ đợi sự tu hành của mày đó, mày có biết hay là không? Hỡi cái tâm vô minh sân hận si mê kia, mày tỉnh ra đi. Tỉnh”.
Đánh thẳng như vậy nó mới tan biến cảm thọ, hóa giải cảm xúc, giải phóng cảm giác, đó là sự thiện xảo trong tu tập thiền quán. Còn nếu không, mình cứ thường thường để im đó thì không bao giờ mình giải tỏa được cảm xúc đó hết. Mình cứ chất chứa mỗi ngày chút chút, lần thứ nhất không sao, lần thứ hai cũng ráng kiềm được, tới lần thứ ba nó bung ra.
Cho nên đây gọi là “an trú từ ý nghiệp đối với các đồng phạm hạnh trước mặt hoặc sau lưng” như vậy mới có thể trước mặt và sau lưng được. Tức là một nỗi niềm xót thương, bi hận, tràn ngập hết trong thân tâm của mình, vừa thương cho mình, thương cho người. Mình nhìn lại cảm giác của mình “nhà ngươi thật là đáng thương, thật là đáng thương cho nhà ngươi, sân hận như vậy vô lượng, vô số, vô biên kiếp rồi mà chưa vừa lòng hay sao mà giận hoài vậy? sân hoài vậy? đốt cháy để làm cái gì?”. Xin thưa đại chúng, sự tu của chúng ta đại đa số là như lý tác ý hết nha, đây là như lý tác ý đó, tức là tác động tâm ý bằng Thánh trí huệ, tác động tâm ý đúng với chân lý, là mình phải giáo huấn, rèn luyện những cảm giác cứng đầu, cứng cổ, ác bất thiện pháp, sân hận, tham dục, bản ngã đó.
Mình phải dạy dỗ, huấn luyện, giáo huấn nó chứ cứ để im re như vậy thì mình tu một trăm năm, tham, sân, si, bản ngã, cũng như vậy. Phải giáo dục, dạy dỗ để cho cảm giác của mình hiền thiện, hiền lành, hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền đức mới đi đến chỗ hiền thánh. Chúng ta thấy từ bi là phải như vậy, mình mà không từ bi với mình thì mình từ bi với ai. Mình để cho thân tâm, cảm giác của mình trong này nó tàn phá mình. Mình đâu có lòng an ổn đâu, tâm của mình đâu có an ổn, cảm giác của mình đâu có an tịnh, ngồi lại nói nói mà nó bung ra cái miệng “Ui cha ơi, nó bốc ra cái mùi, nói xấu người này, người kia người nọ, họ trật hết trơn hết trọi” giống như ta là quan xử tội, quan tòa, chánh án, thẩm phán vậy đó, ai cũng trật hết trơn, sai hết trội.
Cái bản ngã thì siêu to khổng lồ, tu mà vậy đó, cho nên sự thương của mình phải nhìn thấy được mình đáng thương thì mới gọi là thương mình, thương mình tức là thấy được mình là người đáng thương. Đừng vội thương ai hết, lo thương mình đi, mình là người đáng thương nhất trong cuộc đời này. Mình chưa biết thương mình thì làm sao mình thương được ai. Nhìn lại nội tâm của mình xem nhục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, hơn thua, ganh tị từ chút từ chút, chạm tới một chút xíu là sân si, sừng sổ lên, hất hất cái mặt lên, ưỡn cái ngực lên, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, giương giương tự đắc, nhục quá đi, quá là nhục. Mình nói với cái tâm mình đó “thiệt là thương cho mày, ta thương cho nhà mi quá đi, hỡi cái tâm hoang vu này, cái tâm hôn ám, si mê này”.
Mình ngồi mình phải thiền quán như vậy, ngồi thiền mình phải tác ý như vậy, mà tác ý cho đến độ nước mắt tràn ra, mình khóc thảm thiết, khóc ngọt ngào, khóc mà mình phải thét lên “nhớ đóng cửa phòng lại trước” thì như vậy mới sanh khởi được trí huệ. Chứ không mình cứ trơ trơ là chưa, tu đi sẽ thấy nó sanh cảm thọ dữ lắm, nó sẽ làm rúng động thân tâm của mình. Cái đó là những cảm xúc của thánh trí bắt đầu khởi động trong thân tâm của mình, mình thấy mình thương mình thương vô cùng.
Mỗi khi mình giận lên, mỗi khi mình dục lên mình thấy mình nhục, thấy thương cho mình lắm. Mỗi khi mình sanh khởi bản ngã lên, mình về mình dập đầu sám hối, mình thấy “trời ơi là trời sao mình ngu quá trời, quá đất, mày ngu vừa vừa phải phải thôi, đồ ngu, ăn cháo lú”. “Tối ngày mày cứ sanh bản ngã lên hoài, tối ngày cứ ta đây, hất cái mặt lên, ưỡn cái ngực lên để mày làm cái gì vậy?” mình phải tác ý như vậy thì mới dạy dỗ được, còn không thôi mình tu càng lâu bản ngã càng cao.
Mình để ý đi, mới vô chùa, chưa cạo tóc mình kêu bằng con thì “dạ dạ” vui vẻ. Còn bây giờ thọ giới rồi, năm năm, ba năm, Tỷ-kheo lại, có cô nào đó lại kêu “con con lại đây bà kêu coi” thì “tôi là sư cô sao kêu bằng con”. Thấy chưa, tu cả cuộc đời để được cái bản ngã, tu cả cuộc đời để cái tôi nó lớn lên. Như vậy thì tu làm cái gì? Đau đớn, cay đắng, xót xa cho một cuộc đời tu, tu càng lâu thì bản ngã càng cao. Nếu mà mình cứ nhìn người nào mà bản ngã to lớn là không có thành tựu gì hết. Tu đúng Chánh pháp thì bản ngã càng ngày càng hạ thấp xuống, cái đó là chuẩn thước đo của Thánh trí tuệ. Cái dục, tham phải được nhiếp phục, cái sân si phải giảm bớt, đó là chuẩn mực pháp ấn của chư Phật.
Cứ đo tham, sân, si và bản ngã, nếu mà nó được nhiếp phục thì đó là đúng, bất cứ làm cái gì ở trong cuộc đời này mà những cái đó nó sanh khởi ngày càng lớn lên thì “thôi tẩu hỏa nhập ma” rồi. Không có lấy sự nghiệp ở bên ngoài để làm thước đo được, phải lấy cái dục, tham, sân, si, bản ngã coi được nhiếp phục hay chưa, giảm bớt hay chưa, lấy đó làm chuẩn mực thước đo pháp ấn, dấu ấn của Chánh pháp là ở chỗ đó. Cái tâm mà mình nhìn lại mình thấy “ờ, ngày xưa gặp cái gì mình cũng tham cũng thích, giờ tự nhiên nó bớt rồi. Người ta nói gì đó mình dễ sân hận lên, giờ tự nhiên mình thấy nó giảm dần. Cái tôi của mình nhiều khi bị chỉ trích, bây giờ cũng lắng dịu, yên tịnh, thấy nó cũng giảm đỡ đỡ hơn ngày xưa, lúc nào nó cũng cúi cúi xuống chứ không có hất lên”. Cái đó là biết tu có kết quả, cho nên bài này tại sao Minh Thành nói thật kỹ vì không nói kỹ mình không biết từ bi là gì, rồi mình ứng dụng cái này mình làm không thành công.
Như vậy nãy giờ nói để cho mình bắt đầu sanh khởi ra được trí tuệ, sau đó mình mới có từ bi, hiểu rồi mình mới thương, hiểu mình, thương mình trước rồi mới thương người được. Như vậy mình thấy “ ờ huynh, đệ, sư tỷ, sư muội, cha mẹ của mình và những người chung quanh. Mình gặp, mình tràn ngập một tình thương, họ là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã hết. Như vậy thì mình bị đốt, người kia cũng bị đốt, hai người bị cháy, rồi đi gây lộn với nhau, cái này thật bi thương mà còn cộng thêm một chữ thê thảm nữa. Bấy nhiêu đó chưa đủ hay sao? đốt như vậy còn chưa đủ sao bây giờ còn đánh lộn với nhau nữa hả?” Nên mình thấy mình thương mình, rồi mình thương người làm mình giận “thương thiệt là thương, thương ơi là thương thương vô cùng thương, thương sao là thương, thương hết chỗ nói, cái thương không còn gì ở trên đời này có thể nói được nữa, ta thương vì nó ngu quá trời ngu cho nên mình thương” như vậy thì cái đó mới gọi là “an trú từ ý nghiệp”.
Chính cái thương đó khi mình nói chuyện mình không có sân hận với người làm cho mình giận mình nữa “Thôi sư tỷ ơi, mình là nạn nhân hết thôi giận nhau làm chi, em thấy em xấu hổ lắm, em xin lỗi, em sám hối sư tỷ, nếu mà không được thì thôi em quỳ xuống em lạy sư tỷ, sư tỷ hoan hỉ cho em” đắp y vào, quỳ xuống lạy chân thành tha thiết, chứ không phải giỡn chơi, chân thành tha thiết nhiếp phục cái bản ngã, hóa giải cái sân hận. Quỳ xuống lạy đàng hoàng tại chỗ “em xin lỗi, em thấy em bản ngã, em thấy em sân si, sai quấy. Em là nhỏ mà em hỗn hào, em quỳ xuống em lạy sư tỷ, sư tỷ tha thứ cho em” nếu mà lạy như vậy thì sư tỷ phục lăn, sư tỷ sẽ thấy xấu hổ, nhục. Bây giờ nó là muội mình, là em mình, nó vào tu sau, mình sân hận rõ ràng mà nó quỳ xuống nó sám hối thì mình, quá nhục phải không? Chắc chắn, mình sẽ nhiếp phục được người đó luôn. Đó là sức mạnh của từ bi, gọi là “pháp lực bất tư nghì, từ bi vô chướng ngại”.
Tu như vậy đó, chứ không phải đọc suôn qua đường đâu, mà phải đem thực dụng ở chỗ sân si đó. Thực dụng ngay chỗ nó đang xảy ra sự việc chứ không phải nói trên môi, đọc trên Chánh điện thôi. Phải thực hiện, thực tập đem nó vào đời sống sinh hoạt. Nếu bình thường mình không có sự tu tập, tác ý, sự hành trì thì đụng tới chuyện đó, mình không bao giờ tác ý nỗi. Phải huân tập thường xuyên, thường ngày, thường luôn, thường hằng, thường nhật, thường trực, thường thường như vậy, thì tới lúc sân hận mình mới đủ sức để có thể hóa giải được cảm giác, cảm thọ, cảm xúc đó.
Chúng ta thấy sự tu tập nó thiện xảo, khéo léo đến mức độ nào chưa, đây là Chánh pháp nó như vậy đó, đôi khi mình nói ra bằng lời từ bi, tình thương, bằng hành động là mình quỳ lạy nó, cái đó là “an trú từ thân nghiệp đối với các đồng phạm hạnh cả trước mặt và sau lưng”. Minh Thành chỉ ví dụ cho đại chúng một ví dụ đó thôi là trong ý nghĩ, lời nói, hành động đó nó thể hiện “ Ba nghiệp từ hoà” là suy nghĩ, lời nói, hành động hòa hợp, cung kính, từ bi, tình thương. Làm theo như vậy không an ổn mới lạ, đây là chỗ an ổn trú ẩn. An như vậy thì từ sau huynh đệ gặp nhau, sư tỷ đó phục, kính nể sư muội này, thì làm gì có chuyện gì nữa. Nếu mà lần sau có chuyện nữa thì làm nữa, quỳ lạy nữa “em lạy sư tỷ, em sai rồi, em bản ngã” mình nói như vậy là bà sư tỷ bà nhột chết luôn đó chứ. Mà mình không cố ý đâm chọc ai, mình nói mình, nhưng mà người kia sẽ nhột.
Tại vì đều giống hệt với nhau, chứ có gì đâu mà khác, ngồi ở đây toàn là những đống tham, sân, si, vô minh, bản ngã hoạt động. Hễ hết cái đó tức là nhập thánh, sự tu hành của mình có bấy nhiêu đó thôi, mình nhìn lại ngũ uẩn, nhìn lại thân tâm, cảm giác, nghĩ tưởng của mình. Phát giác, phát hiện ra những cái dục, tham, ái, sân, si, bản ngã trong đó, rồi nhiếp phục nó, hóa giải nó, tẩy sạch, đoạn tận nó, chừng nào nó hết là lậu tận, thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Chứ sự tu của mình hoàn toàn không hướng ra ngoài cầu xin ai hết, không có. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không có dạy như vậy, không có cầu xin ai hết
“Này các Tỷ-kheo, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Thắp đuốc lên với Chánh pháp. Hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ có nương tựa với một cái gì khác. Hãy dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa. Thế nào là Chánh pháp? Quán thân ở trên thân, quán thọ ở trên thọ, quán tâm ở trên tâm, quán pháp ở trên các pháp”.
Luôn luôn nhìn lại thân thể, hành vi, oai nghi, cử chỉ của mình. Luôn luôn nhìn lại những cảm giác ở bên trong, luôn luôn nhìn lại nội tâm xem nó có tham, sân, si, bản ngã hay không. Nếu có mình phải nhiếp phục, đánh gục, tẩy sạch nó. Luôn luôn nhìn lại bên trong xem nó có thiện pháp không? Có trí huệ từ bi hỷ xả không? Nếu có, mình cứ phát huy, phát triển. Làm cho nó quảng đại. Làm cho nó thành căn cứ địa, thành cổ xe. Làm cho nó an trú vững chắc. Đó là Tứ Niệm Xứ. Nhìn lại thân thể, nhìn lại cảm giác, nhìn lại nội tâm, nhìn lại sự vật vận hành ở bên trong nội tâm là ác bất thiện pháp, thì diệt nó, là thiện pháp thì làm cho nó tăng trưởng, phát triển, quảng đại, lớn mạnh, đó là Tứ Niệm Xứ, Chánh pháp, tối thượng pháp.
V. Tu tập giới:
Cái đó không chịu lo tu, mà tối ngày cứ hướng ở ngoài làm gì? Làm cái chùa cho đẹp, trồng cái cây cho đẹp để làm gì? Mất hết thời gian, chánh sự phế bỏ hết trơn. Rồi cuối cùng tu lâu năm mà nhìn lại một tấm thân đầy dẫy tham, sân, si, tham ái. Đau đớn cho một đời sống tu hành cay đắng, đáng thương. Chỗ cư trú an ổn thứ tư là:
“Đối với các giới không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị nhiễm ô, không bị quế nhiễm, đem lại giải thoát được người trí tán tháng, không bị chấp thủ để đưa đến thiền định. Vị ấy sống thành tựu các giới như vậy đối với các đồng phạm hạnh trước mặt và sau lưng”
Đây là chỗ cư trú an ổn thứ tư là giới. Thật sự nếu mà nói về cái này thì chúng ta nhục nhã xấu hổ lắm, chúng ta thiếu sót về oai nghi, phòng hộ, hộ trì căn rất nhiều.
Người tu thật sự thời Đức Phật không phải như vậy, bây giờ chúng ta làm trái ngược hết sức nhiều, mà tự thân hành giả không biết. Tại vì học không đến nơi đến chốn, không uống nước tận nguồn, không biết cái nào đúng sai, mình cứ tưởng đâu người kia như vậy thì mình như vậy là được rồi, vì nó là cái sai phổ biến, sai nghiêm trọng. Nếu người tha thiết tu hành phải tự kiểm soát giới đức, giới hạnh, giới luật, giới pháp, giới tướng, giới thể của chính mình thì mới được. Mình phải cảm thấy nhục nhã và xấu hổ đối với những gì mình chưa thực hiện được, thì mình mới có cơ hội tăng thượng, tăng tiến, tiến lên ở trong pháp và luật của Như Lai.
Chẳng hạn như người xuất gia tuyệt đối không được kinh doanh, nhưng chúng ta thấy bây giờ phổ biến trong các chùa. Tại sao vậy? Tại sao người xuất ra không kinh doanh? Tại vì cái ăn, cái mặc của mình người ta cúng hết rồi. Tại sao mình đi làm kinh doanh và từ đâu nó phát xuất ra cái này? Chúng ta phải xét cho thật sâu sắc, thật kỹ. Minh Thành chị gợi ý một chút nhỏ thôi, nói ít hiểu nhiều, cái đó nó phát xuất ra từ cái tâm gì? Tại vì sao ăn mình có ăn, mặc mình có mặc, ở mình có ở, mình thiếu cái gì mà đi làm cái đó? Nếu mình làm cho cái đó, từ từ mình sẽ bị thế tục hóa.
Chúng ta nhìn thấy bây giờ du lịch tâm linh nhiều lắm, đi ra nước ngoài đi vô mấy cái chùa mà chùa nào cũng mua vé, thậm chí là đánh chuông cũng phải bỏ tiền, biến những chỗ chùa chiền thành những chỗ lợi nhuận, doanh thu. Nên mình phải hiểu một cách sâu sắc ở trong giới pháp, còn nếu mình không có Chánh Tri Kiến, Chánh pháp nhãn, tuệ nhãn, đạo nhãn, pháp nhãn, mình không có quyết trạch được thì đời tư của mình bị thế tục hóa, mình không biết gì hết. Tại vì những cái đưa ra nó tương ứng với những cái dục, tham, ái của mình, nên mình đi vô nó dễ ợt, mình đi vô lúc nào không hay. Giống như con ruồi bay lại tô mật và nó chết ở trong đó. Nếu mình không có học Thánh pháp thì mình chết tức, chết tưởi, chết oan chết ức, chết không kịp nói, chết không kịp trối, chết mà không biết vì sao mình chết, mình đoạ địa ngục cũng không biết vì sao mình đọa địa ngục, mình rơi vô ngạ quỷ súc sanh mình cũng không biết tại sao mình bị vậy nữa.
Mình không có thành tựu Thánh tri kiến, Chánh Tri Kiến, Chánh pháp nhãn, mình không biết cái nào là đúng sai, là chuẩn tắc của pháp và luật của Như Lai. Người xuất gia của mình tuyệt đối không kinh doanh mà đây là cũng là hiến chương của giáo hội. Đó là nói cái bên ngoài thôi, còn nói cái tự thân của mình, coi như sai trái nhiều lắm. Nói một chuyện đơn giản thôi là cái đi, đứng, ánh nhìn, cách nói chuyện, cử chỉ của mình cũng không đúng với oai nghi và học pháp của người tu theo kinh tạng Nikāya, thì làm gì mình đi đến thiền định được.
Mình vô ngồi, nhưng mình không có thiền định được, mình không có hộ trì căn, mắt nhìn láo liếc, miệng nói tía lia, thân thì dao động lăn xăn, ngồi thiền một chút thôi là thấy khó chịu, bứt rứt lắm , đó là kiết sử, là sự trói buộc trong thân tâm của mình, nó không cho mình yên, an định. Một trong những kiết sử trong ngũ cái là trạo hối, tức là một sự trạo cử và hối hận, hối tiếc, tại sao mình ngồi thiền không được? những điều mình làm sai phạm làm trong tâm của mình hối tiếc, hối hận, tâm của mình bất an. Giới viên mãn thì Chánh kiến mới viên mãn, tâm mới định. Chính vì vậy, cái giới của mình không có viên mãn, nên mình tu tập thiền định nó không định, mà định không có thì làm gì có tuệ. Chúng ta cứ làm ăn, buôn bán, lời lỗ, vô ngồi thiền thì ngồi nổi không? Ngồi tính lời lỗ “Cha, bữa nay mấy bịch bánh, mấy bịch tàu hũ chiên sả ớt bán hôm nay lời bao nhiêu? Tổ chức đi hành hương mấy chục người vé bao nhiêu” thất bại lớn.
Nếu nói đúng theo giới luật của Phật trong kinh Nikāya thì người tu cao thượng, cao quý lắm, không có làm những chuyện bình thường mà luôn luôn tăng thượng giới, định và tuệ. Sống ở chỗ xa vắng, thực hành giới hạnh thiền định và trí tuệ để tiêu diệt cội gốc của khổ đau. Làm chỗ nương tựa cho nhân thiên, thầy của trời và người, không phải chuyện đơn giản, không giống như mình quan niệm bây giờ, sự tu của mình bây giờ là không phải.
Ai muốn có tâm học hỏi phải đặt tâm vô tìm đọc giới luật ở trong tạng kinh Nikāya, trong luật tạng, nghiên cứu thật kỹ, thậm chí cái nhìn cũng không được cái nhìn nữa “không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng” mình học rồi. Những nguyên nhân gì mà làm cho dục, tham, sân, si, sanh khởi lên là mình phải nhiếp phục, trừ diệt những nguyên nhân đó. Thành ra, nếu đúng theo giới luật rất là tin nghiêm, sâu sắc, tế nhị.
Chẳng hạn như, mình vừa đi mình vừa nói chuyện, quay qua quay lại, đã không được, không có hộ trì căn. Khi nói là chuyện gì cần nói, đáng nói, quan trọng mới nói, chứ không phải muốn nói là nói, nếu muốn nói là nói cái đó là dục nói, mình không nhiếp phục được. Nếu tu về cái này thì nó thâm sâu lắm, hay lắm, mà tu như vậy mới chứng thánh quả. Còn tu như mình là chứng quả a-la-hán ở ngoài chợ lớn đó. Không có để ý gì hết, xả láng sáng về sớm, không có nhiếp phục thân tâm, không có hộ trì Chánh niệm tỉnh giác, không có hộ trì căn. Con mắt phải như thế nào, bước đi phải như thế nào, khi nói chuyện phải như thế nào, nhất cử nhất động của mình
“Này các Tỷ-kheo, khi đi tuệ tri rõ biết mình đang đi, khi đứng rõ biết mình đang đứng, khi nằm đang biết đang nằm, khi ngồi rõ biết đang ngồi. Cúi, ngước, co, dũi, nói, nín, rõ biết hết. Đắp y, Tăng và lê, ôm bình bát tất cả đều phải rõ biết không lúc nào không biết”.
Mình tu mà đúng như vậy không phát sanh thiền định trí huệ là chuyện đó không thể xảy ra. Mình đâu có làm theo lời Phật đâu, mình làm theo tập khí của mình, thí dụ nghe nói vậy là “Chậc, khó quá vậy thôi tu từ từ thôi” đó là gì nói vậy? Ác ma, dục, tham nó nói, buông lung phóng dật trong ý hành của mình nó nói. Nó không muốn mình giải thoát, nó muốn xiềng xích mình ở trong tam giới, nó không cho mình giải thoát, những ý hành đó mình phải phát hiện ra, phải nhiếp phục, diệt tận nó “mày không muốn cho tao tu phải không? mày muốn tao sao trầm luân sanh tử mãi mãi phải không? Mày muốn tao buông lung phóng dật hoài phải không? Mày muốn tao tu trên hình thức, màu sắc, bề ngoài thôi phải không?”
Mình phải diệt được những ý nghĩ ác bất thiện pháp, ngăn chặn sự tăng thượng giới, định, tuệ của mình. Ví dụ chiều mà đói quá, mình nói theo kiểu của mình thì mình dùng cái gì nhẹ mà mình cảm thấy xấu hổ. Hay là mình lỡ nói lời gì mình thấy lời hồi nãy là không có Chánh niệm, mình thấy xấu hổ, mình đi sám hối, tức là mình thường xuyên thường trực nhìn lại cảm thọ, oai nghi, hành động, cử chỉ của mình. Nếu mà một người tu kỹ như vậy, thì làm sao giới hạnh không tăng thượng.
Ở đây “giới không bị bể vụn, sứt mẻ, ô nhiễm, quế nhiễm”. Riêng phần giới này nó quan trọng lắm, Minh Thành đi qua bên trung tâm thiền quốc tế của ngài Asanya ở bên Thái Lan, ở trong rừng chỗ đó có ba mươi mấy bốn chục vị sư, mà đa số là người Châu âu, người Mỹ, người Đức... Trên ba chục quốc gia, mỗi người một nước khác nhau, người nào cũng cao một mét tám, một mét chín. Sáng đi khất thực về ăn một bữa , một người ở một cái cốc, vô đó im phăng phắt, im lặng giống như chỗ không có người, ba mươi mấy nước mà có ba mươi mấy bốn chục người thôi, yên lặng, thanh tịnh. Sáng Minh Thành đi khất thực chung với các sư mà đau chân khủng khiếp, đạp lên đá, lên sỏi cũng phải đạp thôi. Mà mấy ổng đi nhanh lắm, một bước của ổng bằng hai bước của mình. Ôm cái bình bát mình đi theo, mà đến khi đau cái chân như vậy tức cảm giác khó chịu sanh khởi lên, Minh Thành tác ý “suốt cuộc đời tu của mày đi có một lần mà mày đau, trong khi các sư người ta mỗi ngày mỗi đi như vậy, mày chết đi, biết nhục không?” Quyết tâm Chánh niệm, tiếp tục ôm bình bát đi, nhiếp phục cảm thọ. Mình đi có một bữa thôi cho mình thấm thía, mình thấy được, sự tu học theo Đức Phật riêng phần giới thôi là cả một vấn đề không phải đơn giản.
Sự tu học ngày nay của chúng ta nó còn xa lắm, rất xa. Nói vậy để mình thấy được rằng mình phải cố gắng cầu tiến chứ đừng hài lòng, mình tưởng đâu mình như vậy là được rồi, không có, không phải “Người ta ngày ăn có một bữa thôi, mỗi người có một cái cốc riêng, suốt ngày chỉ thiền định, nghe kinh pháp thiền định”. Cho nên trọng tâm ở đây, chúng ta muốn nói vấn đề là sự luôn luôn quay về để kiểm tra, kiểm soát thân tâm, hành vi, ngôn ngữ của mình. Đối chiếu với cái giới “Ba la đề mộc xoa” mình đã thọ, những cái oai nghi mình đã học, những cái hộ trì căn hôm trước Minh Thành đã chia sẻ rồi, những cái đó hết sức căn bản và quan trọng. Cái đó là phải tự thân mỗi người cố gắng, chứ không thể ai mà nhắc mình hoài được, mình phải cố gắng vì chính mình, thành tựu là thành tựu cho mình chứ không cho ai đâu.
Phần oai nghi giới hạnh là hết sức quan trọng, nếu cái đó không có, thì coi như cái cây không có vỏ, vỏ ngoài của phạm hạnh không có, thì cái ruột bên trong không thể nào có được, cái lõi càng không có. Sau này mình sẽ học bài kinh “ Lõi cây”, mình phải cố gắng hổ thẹn, tàm quý những cái gì còn sơ xót, chưa được tốt mình phải biết khắc phục, điều chỉnh, hoàn thiện trong giới, thì chỗ đó là chỗ an ổn của mình. Còn nếu cái giới của mình bị bể vụn, sức mẻ, ô nhiễm, quế nhiễm thì thật khó khăn, làm sao mình đi vào được Thánh trí huệ. Cái tâm bất an, ngồi lại đủ thứ chuyện, bao nhiêu hình ảnh dục xâm chiếm ở trong cái tưởng của mình, những cảm giác bên trong nó quậy mình thì làm sao mình ngồi yên, làm sao mình đi vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Làm sao mình khai triển được thiền quán Thánh trí tuệ để mình phá được khối vô minh uẩn to lớn như vậy đang xâm chiếm thân tâm của mình. Cho nên cái giới là hết sức quan trọng, cố gắng để ý thật nhiều trong cái giới này. Những bài hôm trước Minh Thành nhắc rồi cho nên hôm nay Minh Thành không nói nhiều nữa.
VI. Chánh Tri Kiến:
Cái thứ năm cho chúng ta là:
“Đối với tri kiến này, thuộc bậc thánh đưa đến xuất ly được người thực hành chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Vị ấy sống thành tựu tri kiến như vậy đối với các đồng phạm hạnh trước mặt và sau lưng. Này các Tỷ-kheo năm pháp này là năm an ổn trú. Năm nơi cư trú an ổn của người xuất gia”.
Tri kiến này là sự thấy biết về ngũ uẩn, vô ngã, sắc này không phải tôi không phải của tôi. Những cảm giác, nghĩ tưởng này không phải tôi không phải của tôi. Đó là vô thường, là tan hoại, hoại diệt, duyên sanh. Ngay cả nhận thức, rõ biết này là do nghiệp dục, tập khí mà cái biết của mình, thấy mình, biết mình cho rằng “tôi tận mắt chứng kiến, tôi thấy vậy đó đó” mà nó trật lắc à. Tại vì mình thấy theo cái nghiệp theo cái dục, thấy theo vô minh chứ không phải mình thấy bằng Thánh trí huệ. Chừng nào mình thành tựu Chánh Tri Kiến thì cái biết nó mới chính xác đối với các pháp. Còn giờ mình biết, mình cho là “ờ, tôi biết như vậy” thì cái biết đó là vô minh, tham ái, nghiệp, tập khí. Nên phải thành tựu được Thánh trí về năm uẩn. Thánh trí về lậu hoặc, cái đó mới gọi là cái biết Chơn chánh mới đưa đến xuất ly, diệt tận đau khổ.
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dẫn nhập: PAGEREF _Toc47345684 \h 1
II. Trú ẩn an ổn: PAGEREF _Toc47345685 \h 2
III. Chân xác về tâm từ: PAGEREF _Toc47345686 \h 3
IV. Quán chiếu tham – sân – si, bản ngã: PAGEREF _Toc47345687 \h 6
V. Tu tập giới: PAGEREF _Toc47345688 \h 13
VI. Chánh Tri Kiến: PAGEREF _Toc47345689 \h 19
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI – NĂM NƠI CƯ TRÚ AN ỔN
-Thích Minh Thành-
I. Dẫn nhập:
Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân. Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu, an tịnh, dễ chịu, ngọt ngào, bình an.
Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tìm hiểu về năm nơi cư trú an ổn, năm chỗ mà mình ở đó được an lạc, an bình, tâm được an tịnh, an vui, an ổn. Trong nghi lễ Phật giáo chúng ta, có nghi thức cầu an, đó chỉ là mong cầu kết quả thôi, muốn an ổn phải thực tập năm điều này. Đời sống chúng ta không biết tu tập, không biết thực hành Chánh pháp là một chuỗi dài của sự bất an. Chúng ta bất an ở trong lời nói, khi mình nói xong câu chuyện đó rồi về tâm mình bất an. Khi mình nghe câu chuyện đó, lòng mình bất an. Mình thấy người đó, gặp người đó, giao tiếp mình cảm thấy tâm của mình không được bình an. Mình làm một chuyện gì đó thì mình bị dao động, lo lắng, sợ hãi trong suy nghĩ của mình cũng bất an. Suy nghĩ về một người, món đồ vật, công việc nào đó là mình bị lo sợ. Nên đời sống không biết thực tập là một chuỗi dài của sự bất an, có an mới lạc, không an không thể lạc. Cho nên mấy phút đầu tiên, chúng ta luôn luôn thực tập trước khi học, là thực tập sự an tịnh và lắng dịu thân tâm. Xin thưa đại chúng, những bài chúng ta học toàn là những pháp hành, chứ không phải chỉ là kiến thức, lý thuyết suông, chữ nghĩa thôi. Chúng ta phải thực tập thường nhật năm nơi cư trú an ổn này,
II. Trú ẩn an ổn:
Đức thế tôn truyền trao cho chúng ta trong Tăng Chi Bộ kinh tập 2 bài kinh An Ổn Trú. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XI. Phẩm An Ổn Trú, Bài kinh An Ổn Trú).
“Này các Tỷ-kheo, có năm an ổn trú này, Thế nào là năm?
Này các Tỷ-kheo, an trú từ thân nghiệp đối với đồng phạm hạnh, cả với trước mặt và sau lưng”.
Chúng ta phải tìm hiểu kỹ các bản kinh, có những bài kinh khác Đức Phật nói đầy đủ hơn nữa.
“An trú từ thân nghiệp đối với đồng phạm hạnh trước mặt hoặc sau lưng”.
Thế nào gọi là an trú từ thân nghiệp? Thân nghiệp là những hành động của thân. Rồi an trú từ khẩu nghiệp, an trú từ ý nghiệp. Chữ “từ” ở đây, cái này chưa dịch hết ra ngữ văn của Hán Việt, tức là an trú nơi hành động từ bi, lời nói từ bi, tình thương và cái suy nghĩ tình thương đối với các bạn đồng tu, huynh đệ gọi là các bậc đồng phạm hạnh. Danh từ trong kinh Nikāya chúng ta phải nắm vững, mình làm quen vì sau này sẽ gặp thường lắm. Các bậc “đồng phạm hạnh”, “phạm hạnh” là cái hạnh thanh tịnh của đời sống xuất gia, một đời sống trong sạch, thanh tịnh, cao thượng, thánh thiện gọi là phạm hạnh. Chúng ta an trú, chữ “an trú” ở đây có nghĩa là ở yên trong đó, trú là cư trú, an là yên, là mình thường ở trong một hành động của tình thương.
III. Chân xác về tâm từ:
Cái này nói thì đơn giản nhưng thật sự nó sâu sắc lắm. Mỗi hành động của mình xuất phát từ tình thương. Chữ “từ” ở đây có nghĩa là từ bi, từ bi này thâm sâu lắm, không giống như mình hiểu. Bình thường mình nghĩ mình thương người đó, mình cho người đó ăn, đó không phải từ bi mà là ái. Từ bi của đạo Phật hết sức thâm sâu, nếu chưa thành tựu Chánh Tri Kiến thì mình không biết được từ bi. Mình bị lẫn lộn “ái” với “từ”. Đại đa số cái mình gọi là “từ” đó là “ái”, làm sao phân biệt được “ái” và “từ”? Cho đến khi nào mình nhìn thấy đây là cái thân ngũ uẩn, vô thường, bất tịnh, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, là đống máu mủ ruột gan, phèo phổi. Khi mình thấy được mình đang an trú trong cái tưởng của bộ xương, tưởng của phình trương, rạn nứt rỉ chảy chính giai đoạn của một tử thi, một cái tưởng của giòi ăn. Mình nhìn thấy được đây chỉ là một đống sắc uẩn, ngũ uẩn tứ đại vô thường nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, bất tịnh, trống rỗng. Và ở trong này những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức đầy dẫy những tham dục, ái, sân, si, vô minh, bản ngã. Nhìn thấy xót thương cho chính mình trong vô lượng kiếp sanh tử vừa qua, mình sống trong đêm dài của vô minh, tham ái, chấp thủ.
Mình thấy được như vậy rồi, mình xót xa, đau đớn, nước mắt tràn trụa ra đầy mặt, xót thương chính mình trong vòng luân hồi, thì cái đó mới gọi là thương mình. Thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc ở trong ngũ uẩn, tham, sân, si, bản ngã. Thấy được những cảm giác mà nó thúc giục, đòi hỏi, khao khát, chinh phục, xâm chiếm thân tâm của mình. Mình nhìn thấy mình là một kẻ nô lệ cho khát ái, cho sân hận, một kẻ đầy tớ cho bản ngã, mình thấy mình thương mình, xót xa cho mình, đau đớn và cay đắng cho cuộc đời vô minh và tham ái của chính mình. Nước mắt mình trào tuôn ra một cảm giác sâu sắc, chấn động, rúng động, rung động thân tâm của mình, thấy được như vậy mình mới gọi là thương mình.
Sau đó, mình thấy được những đối tượng chung quanh mà họ làm cho mình khổ đau, họ hại mình, chỉ trích, mắng chửi mình, làm cho mình khổ. Những người chung quanh, mình nhìn thấy tất cả ở đây là những đống vô minh, tham, sân, si và bản ngã. Tất cả chúng sanh đều là “kiền thiền nghạch” trong biển khổ, trong đêm dài. Mình phát khởi một tình thương thì cái đó mới gọi là từ bi của đạo Phật, còn cái mình thương mình cho ăn, cho uống này nọ kia thì không phải, đó là ái không phải từ bi. Ngay cả khi làm từ thiện đó là thể hiện lòng từ bi, nhưng chưa thành tựu Chánh Tri Kiến thì đó vẫn nằm trong phạm vi của phước báo nhỏ hẹp, chưa phải là đại bi của Phật giáo.
Từ bi của Phật giáo không phải thương người đi ăn xin, vô gia cư, lang thang không nhà cửa, mà thương luôn những người đại gia giàu có, quyền quý, cũng thấy xót thương cho họ, họ cũng đang dục tham, đau khổ, thiếu thốn và khát khao. Từ bi của đạo Phật không phải thương những người nghèo cùng, tật nguyền, bò lết quếch sảm, cùi hủi, tâm thần mà từ bi của đạo Phật là thương luôn những người minh tinh điện ảnh, người đẹp, hoa hậu vẫn đáng thương xót, họ vẫn đầy dẫy những tham, sân, si và đau khổ.
Từ bi của đạo Phật không phải chỉ thương những người bệnh nan y nằm một chỗ mười mấy hai chục năm, điên khùng bị xích mười tám năm, không mặc quần áo, mà từ bi của đạo Phật còn thương luôn những người lực lưỡng sáu múi, thể hình, cử tạ nổi tiếng toàn cầu, vẫn là những người đáng thương. Từ bi của đạo Phật nó thâm sâu, phải thành tựu Thánh Tri Kiến, Chánh Tri Kiến, thấy đúng thì mới có thể thương đúng được.
Người ta gọi đơn giản là hiểu mới thương. Cái hiểu này là cái hiểu của bậc thánh gọi là Thánh tri kiến, sự thấy biết của bậc thánh. Trước nay mình gọi là mình từ bi, mình là ái, một chút tình thương, là phước thôi. Khi nào thành tựu Chánh Kiến thì mới có một từ bi thật sự, Chánh Kiến mình thấy được mình là nạn nhân của tham, sân, si, vô minh và khát ái, thì lúc đó mới bắt đầu có sự từ bi, mới biết thương mình một cách đúng đắn. Còn bây giờ gọi là thương mình, mình cho mình ăn đồ ngon, cho mình mặc đồ đẹp, cho mình chỗ ở ngon lành, không phải, đó là ái, thân kiến, kiến chấp về thân. Mình chưa biết cách thương mình đâu, mình hại mình nhiều hơn là thương mình.
Nên chúng ta còn phải tu học nhiều lắm nữa, chúng ta đang hãm hại, hành hạ chúng ta rất nhiều trong những cảm giác thiêu đốt thân tâm này. Chúng ta tự làm cho mình khổ, tự dằn vặt, giày xéo mình, tự tàn phá thân tâm của chính mình, làm cho mình khổ, làm cho người ở chung của mình khổ, tại vì chúng ta không biết chúng ta vô minh, chất chứa những thứ mà nó gây ra đau khổ. Chúng ta lại mong muốn đi tìm cái niềm vui, tìm hoài tìm không được, tại vì bên trong của mình chất chứa những cảm giác tham ái, chấp thủ, ta đây, hơn thua, ganh tị, đố kỵ, so đo, sự nhỏ hẹp, nhỏ nhoi, nhỏ mọn, nhỏ nhặt, nhỏ nhít, nhỏ bé làm cho chúng ta đau khổ.
Chúng ta làm cho những người thân thương nhất của mình đau khổ. Ngoài đời chúng ta làm cho cha mẹ, anh em của mình đau khổ. Vào chùa chúng ta làm cho huynh đệ, thầy đau khổ, và chúng ta cũng khổ đau. Chúng ta mỗi ngày đều tự thiêu đốt mình trong những cảm giác bực bội, buồn bực. Chúng ta gọi là thương mình ư? Chúng ta còn chưa hiểu biết được ở trong thân tâm mình nó là cái gì, suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, suốt năm, suốt đời của chúng ta là hướng ngoại, chạy ra bên ngoài đi tìm cái này tìm cái kia. Tìm được thì dính mắc, tìm không được thì đau khổ, tìm được rồi đâu phải sướng đâu, nó có cái khổ của được, tìm không được có cái khổ của không được, đã mất rồi có cái khổ của đã mất rồi.
IV. Quán chiếu tham – sân – si, bản ngã:
Chúng ta là những nạn nhân của tai nạn bởi những sự thúc giục bên trong. Cho nên ngày hôm nay, Đức Phật dạy mình đi tìm về chỗ an ổn, phải luôn luôn khởi lòng từ, từ tâm tình thương ở trong suy nghĩ, sanh khởi tình thương ở trong mỗi lời nói, hành động của mình. Suy nghĩ làm sao để gọi là an trú ý nghiệp từ bi. Ví dụ huynh đệ của mình lỡ nói một câu hay làm gì đó mình giận, buồn, mình không giận mà mình thương. Tại sao mình buồn, tại sao mình giận, tại vì mình cho đó là xúc phạm cái tôi của mình. Mình là nạn nhân của bản ngã, nạn nhân của sân hận, nạn nhân của phiền não và người kia, huynh đệ tỷ muội của mình cũng là nạn nhân của bản ngã, phiền não, sân hận và chúng ta cùng là nạn nhân “Chúng ta đang bị thiêu đốt, chúng ta còn đánh chửi với nhau làm gì? Chúng ta đang bị đốt, đốt cháy tim, gan, phèo phổi, thì chúng ta còn hơn thua, ganh tị, thị phi, dành phần đúng, phần phải với nhau để làm gì? Thương cho ta quá đi, thương cho mày quá đi. Mày đi tu để mày bản ngã, mày hơn thua, sân hận, ganh tị trong chùa, mày có nhục không? Mày vô nhìn gương đi, nhìn bản mặt của mày có giống người tu hay là không? Bản mặt sân hận, hừng hực, gương mặt đổi màu đó, đáng thương cho mày quá”.
Chúng ta dào dạt một cảm xúc thương chính mình và thương cho người làm mình khổ, người làm cho mình sân hận thì cái thương đó mới là từ bi. Thương đó gọi là “an trú từ ý nghiệp đối với các đồng phạm hạnh trước mặt hoặc là sau lưng” và khi mình thương, mình tác ý, suy nghĩ như vậy bằng Thánh trí tuệ, bằng sự thấy biết sâu sắc của Chánh Tri Kiến thì cái thương, cái thấy, cái nghĩ, cái nhìn nhận thâm sâu đó sẽ phá tan đi cảm thọ, sân hận, bực tức ở bên trong thân tâm và nó giải tỏa cảm thọ, cảm giác đó luôn, chứ nó không chất chứa.
Còn cái thương mà mình ráng để thương, ở trong bụng mình giận vô cùng mà ở ngoài thì khác, nhưng trong này là lửa than. Thì cái đó tích tụ ở trong cảm thọ lâu ngày, dài tháng người ta gọi nhất quá tam. Tại vì nó chỉ từ ngoài mặt, ở trên miệng nhưng trong ý không có từ, không có bi, như vậy lâu ngày là tức nước vỡ bờ, là lựu đạn nổ, không thôi chỉ thêm một giọt nước cũng tràn ra, làm gì có một giọt nước mà tràn cái chum, tại vì nó chất chứa lâu ngày do cái thọ.
Cho nên sự tu tập này hóa giải ở bên trong cảm thọ, tức là mình bứng gốc rễ nó lên quăng đi, chứ không phải mé cành, chặt cây mà còn cái gốc lại thì “cái gốc chưa hạ vẫn bền ái, tiền biên chưa nhổ thì khổ này vẫn sanh hoài”. Sự tu tập này là bứng gốc cảm thọ, sân hận không còn gốc rễ, không làm nó sanh khởi trở lại trong tương lai, diệt tận ở trong mầm mống của cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, đó là sự thâm sâu của thiền quán, của như lý tác ý, của tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ.
Lúc nãy Minh Thành mới đưa ra cho các huynh đệ một phương diện quán chiếu thôi, còn rất nhiều phương diện quán chiếu, để cho mình dập tắt sân hận. Ví dụ như mình nổi sân lên mình nói “mẹ của mày ở nhà đang bệnh nặng kìa, cha của mày đang đi làm thuê vác mướn kìa, bà con dòng họ của mày đang chờ đợi sự tu hành của mày đó, mày có biết hay là không? Hỡi cái tâm vô minh sân hận si mê kia, mày tỉnh ra đi. Tỉnh”.
Đánh thẳng như vậy nó mới tan biến cảm thọ, hóa giải cảm xúc, giải phóng cảm giác, đó là sự thiện xảo trong tu tập thiền quán. Còn nếu không, mình cứ thường thường để im đó thì không bao giờ mình giải tỏa được cảm xúc đó hết. Mình cứ chất chứa mỗi ngày chút chút, lần thứ nhất không sao, lần thứ hai cũng ráng kiềm được, tới lần thứ ba nó bung ra.
Cho nên đây gọi là “an trú từ ý nghiệp đối với các đồng phạm hạnh trước mặt hoặc sau lưng” như vậy mới có thể trước mặt và sau lưng được. Tức là một nỗi niềm xót thương, bi hận, tràn ngập hết trong thân tâm của mình, vừa thương cho mình, thương cho người. Mình nhìn lại cảm giác của mình “nhà ngươi thật là đáng thương, thật là đáng thương cho nhà ngươi, sân hận như vậy vô lượng, vô số, vô biên kiếp rồi mà chưa vừa lòng hay sao mà giận hoài vậy? sân hoài vậy? đốt cháy để làm cái gì?”. Xin thưa đại chúng, sự tu của chúng ta đại đa số là như lý tác ý hết nha, đây là như lý tác ý đó, tức là tác động tâm ý bằng Thánh trí huệ, tác động tâm ý đúng với chân lý, là mình phải giáo huấn, rèn luyện những cảm giác cứng đầu, cứng cổ, ác bất thiện pháp, sân hận, tham dục, bản ngã đó.
Mình phải dạy dỗ, huấn luyện, giáo huấn nó chứ cứ để im re như vậy thì mình tu một trăm năm, tham, sân, si, bản ngã, cũng như vậy. Phải giáo dục, dạy dỗ để cho cảm giác của mình hiền thiện, hiền lành, hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền đức mới đi đến chỗ hiền thánh. Chúng ta thấy từ bi là phải như vậy, mình mà không từ bi với mình thì mình từ bi với ai. Mình để cho thân tâm, cảm giác của mình trong này nó tàn phá mình. Mình đâu có lòng an ổn đâu, tâm của mình đâu có an ổn, cảm giác của mình đâu có an tịnh, ngồi lại nói nói mà nó bung ra cái miệng “Ui cha ơi, nó bốc ra cái mùi, nói xấu người này, người kia người nọ, họ trật hết trơn hết trọi” giống như ta là quan xử tội, quan tòa, chánh án, thẩm phán vậy đó, ai cũng trật hết trơn, sai hết trội.
Cái bản ngã thì siêu to khổng lồ, tu mà vậy đó, cho nên sự thương của mình phải nhìn thấy được mình đáng thương thì mới gọi là thương mình, thương mình tức là thấy được mình là người đáng thương. Đừng vội thương ai hết, lo thương mình đi, mình là người đáng thương nhất trong cuộc đời này. Mình chưa biết thương mình thì làm sao mình thương được ai. Nhìn lại nội tâm của mình xem nhục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, hơn thua, ganh tị từ chút từ chút, chạm tới một chút xíu là sân si, sừng sổ lên, hất hất cái mặt lên, ưỡn cái ngực lên, khen mình chê người, cống cao ngã mạn, giương giương tự đắc, nhục quá đi, quá là nhục. Mình nói với cái tâm mình đó “thiệt là thương cho mày, ta thương cho nhà mi quá đi, hỡi cái tâm hoang vu này, cái tâm hôn ám, si mê này”.
Mình ngồi mình phải thiền quán như vậy, ngồi thiền mình phải tác ý như vậy, mà tác ý cho đến độ nước mắt tràn ra, mình khóc thảm thiết, khóc ngọt ngào, khóc mà mình phải thét lên “nhớ đóng cửa phòng lại trước” thì như vậy mới sanh khởi được trí huệ. Chứ không mình cứ trơ trơ là chưa, tu đi sẽ thấy nó sanh cảm thọ dữ lắm, nó sẽ làm rúng động thân tâm của mình. Cái đó là những cảm xúc của thánh trí bắt đầu khởi động trong thân tâm của mình, mình thấy mình thương mình thương vô cùng.
Mỗi khi mình giận lên, mỗi khi mình dục lên mình thấy mình nhục, thấy thương cho mình lắm. Mỗi khi mình sanh khởi bản ngã lên, mình về mình dập đầu sám hối, mình thấy “trời ơi là trời sao mình ngu quá trời, quá đất, mày ngu vừa vừa phải phải thôi, đồ ngu, ăn cháo lú”. “Tối ngày mày cứ sanh bản ngã lên hoài, tối ngày cứ ta đây, hất cái mặt lên, ưỡn cái ngực lên để mày làm cái gì vậy?” mình phải tác ý như vậy thì mới dạy dỗ được, còn không thôi mình tu càng lâu bản ngã càng cao.
Mình để ý đi, mới vô chùa, chưa cạo tóc mình kêu bằng con thì “dạ dạ” vui vẻ. Còn bây giờ thọ giới rồi, năm năm, ba năm, Tỷ-kheo lại, có cô nào đó lại kêu “con con lại đây bà kêu coi” thì “tôi là sư cô sao kêu bằng con”. Thấy chưa, tu cả cuộc đời để được cái bản ngã, tu cả cuộc đời để cái tôi nó lớn lên. Như vậy thì tu làm cái gì? Đau đớn, cay đắng, xót xa cho một cuộc đời tu, tu càng lâu thì bản ngã càng cao. Nếu mà mình cứ nhìn người nào mà bản ngã to lớn là không có thành tựu gì hết. Tu đúng Chánh pháp thì bản ngã càng ngày càng hạ thấp xuống, cái đó là chuẩn thước đo của Thánh trí tuệ. Cái dục, tham phải được nhiếp phục, cái sân si phải giảm bớt, đó là chuẩn mực pháp ấn của chư Phật.
Cứ đo tham, sân, si và bản ngã, nếu mà nó được nhiếp phục thì đó là đúng, bất cứ làm cái gì ở trong cuộc đời này mà những cái đó nó sanh khởi ngày càng lớn lên thì “thôi tẩu hỏa nhập ma” rồi. Không có lấy sự nghiệp ở bên ngoài để làm thước đo được, phải lấy cái dục, tham, sân, si, bản ngã coi được nhiếp phục hay chưa, giảm bớt hay chưa, lấy đó làm chuẩn mực thước đo pháp ấn, dấu ấn của Chánh pháp là ở chỗ đó. Cái tâm mà mình nhìn lại mình thấy “ờ, ngày xưa gặp cái gì mình cũng tham cũng thích, giờ tự nhiên nó bớt rồi. Người ta nói gì đó mình dễ sân hận lên, giờ tự nhiên mình thấy nó giảm dần. Cái tôi của mình nhiều khi bị chỉ trích, bây giờ cũng lắng dịu, yên tịnh, thấy nó cũng giảm đỡ đỡ hơn ngày xưa, lúc nào nó cũng cúi cúi xuống chứ không có hất lên”. Cái đó là biết tu có kết quả, cho nên bài này tại sao Minh Thành nói thật kỹ vì không nói kỹ mình không biết từ bi là gì, rồi mình ứng dụng cái này mình làm không thành công.
Như vậy nãy giờ nói để cho mình bắt đầu sanh khởi ra được trí tuệ, sau đó mình mới có từ bi, hiểu rồi mình mới thương, hiểu mình, thương mình trước rồi mới thương người được. Như vậy mình thấy “ ờ huynh, đệ, sư tỷ, sư muội, cha mẹ của mình và những người chung quanh. Mình gặp, mình tràn ngập một tình thương, họ là nạn nhân của tham, sân, si, bản ngã hết. Như vậy thì mình bị đốt, người kia cũng bị đốt, hai người bị cháy, rồi đi gây lộn với nhau, cái này thật bi thương mà còn cộng thêm một chữ thê thảm nữa. Bấy nhiêu đó chưa đủ hay sao? đốt như vậy còn chưa đủ sao bây giờ còn đánh lộn với nhau nữa hả?” Nên mình thấy mình thương mình, rồi mình thương người làm mình giận “thương thiệt là thương, thương ơi là thương thương vô cùng thương, thương sao là thương, thương hết chỗ nói, cái thương không còn gì ở trên đời này có thể nói được nữa, ta thương vì nó ngu quá trời ngu cho nên mình thương” như vậy thì cái đó mới gọi là “an trú từ ý nghiệp”.
Chính cái thương đó khi mình nói chuyện mình không có sân hận với người làm cho mình giận mình nữa “Thôi sư tỷ ơi, mình là nạn nhân hết thôi giận nhau làm chi, em thấy em xấu hổ lắm, em xin lỗi, em sám hối sư tỷ, nếu mà không được thì thôi em quỳ xuống em lạy sư tỷ, sư tỷ hoan hỉ cho em” đắp y vào, quỳ xuống lạy chân thành tha thiết, chứ không phải giỡn chơi, chân thành tha thiết nhiếp phục cái bản ngã, hóa giải cái sân hận. Quỳ xuống lạy đàng hoàng tại chỗ “em xin lỗi, em thấy em bản ngã, em thấy em sân si, sai quấy. Em là nhỏ mà em hỗn hào, em quỳ xuống em lạy sư tỷ, sư tỷ tha thứ cho em” nếu mà lạy như vậy thì sư tỷ phục lăn, sư tỷ sẽ thấy xấu hổ, nhục. Bây giờ nó là muội mình, là em mình, nó vào tu sau, mình sân hận rõ ràng mà nó quỳ xuống nó sám hối thì mình, quá nhục phải không? Chắc chắn, mình sẽ nhiếp phục được người đó luôn. Đó là sức mạnh của từ bi, gọi là “pháp lực bất tư nghì, từ bi vô chướng ngại”.
Tu như vậy đó, chứ không phải đọc suôn qua đường đâu, mà phải đem thực dụng ở chỗ sân si đó. Thực dụng ngay chỗ nó đang xảy ra sự việc chứ không phải nói trên môi, đọc trên Chánh điện thôi. Phải thực hiện, thực tập đem nó vào đời sống sinh hoạt. Nếu bình thường mình không có sự tu tập, tác ý, sự hành trì thì đụng tới chuyện đó, mình không bao giờ tác ý nỗi. Phải huân tập thường xuyên, thường ngày, thường luôn, thường hằng, thường nhật, thường trực, thường thường như vậy, thì tới lúc sân hận mình mới đủ sức để có thể hóa giải được cảm giác, cảm thọ, cảm xúc đó.
Chúng ta thấy sự tu tập nó thiện xảo, khéo léo đến mức độ nào chưa, đây là Chánh pháp nó như vậy đó, đôi khi mình nói ra bằng lời từ bi, tình thương, bằng hành động là mình quỳ lạy nó, cái đó là “an trú từ thân nghiệp đối với các đồng phạm hạnh cả trước mặt và sau lưng”. Minh Thành chỉ ví dụ cho đại chúng một ví dụ đó thôi là trong ý nghĩ, lời nói, hành động đó nó thể hiện “ Ba nghiệp từ hoà” là suy nghĩ, lời nói, hành động hòa hợp, cung kính, từ bi, tình thương. Làm theo như vậy không an ổn mới lạ, đây là chỗ an ổn trú ẩn. An như vậy thì từ sau huynh đệ gặp nhau, sư tỷ đó phục, kính nể sư muội này, thì làm gì có chuyện gì nữa. Nếu mà lần sau có chuyện nữa thì làm nữa, quỳ lạy nữa “em lạy sư tỷ, em sai rồi, em bản ngã” mình nói như vậy là bà sư tỷ bà nhột chết luôn đó chứ. Mà mình không cố ý đâm chọc ai, mình nói mình, nhưng mà người kia sẽ nhột.
Tại vì đều giống hệt với nhau, chứ có gì đâu mà khác, ngồi ở đây toàn là những đống tham, sân, si, vô minh, bản ngã hoạt động. Hễ hết cái đó tức là nhập thánh, sự tu hành của mình có bấy nhiêu đó thôi, mình nhìn lại ngũ uẩn, nhìn lại thân tâm, cảm giác, nghĩ tưởng của mình. Phát giác, phát hiện ra những cái dục, tham, ái, sân, si, bản ngã trong đó, rồi nhiếp phục nó, hóa giải nó, tẩy sạch, đoạn tận nó, chừng nào nó hết là lậu tận, thành tựu cứu cánh phạm hạnh. Chứ sự tu của mình hoàn toàn không hướng ra ngoài cầu xin ai hết, không có. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không có dạy như vậy, không có cầu xin ai hết
“Này các Tỷ-kheo, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Thắp đuốc lên với Chánh pháp. Hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ có nương tựa với một cái gì khác. Hãy dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa. Thế nào là Chánh pháp? Quán thân ở trên thân, quán thọ ở trên thọ, quán tâm ở trên tâm, quán pháp ở trên các pháp”.
Luôn luôn nhìn lại thân thể, hành vi, oai nghi, cử chỉ của mình. Luôn luôn nhìn lại những cảm giác ở bên trong, luôn luôn nhìn lại nội tâm xem nó có tham, sân, si, bản ngã hay không. Nếu có mình phải nhiếp phục, đánh gục, tẩy sạch nó. Luôn luôn nhìn lại bên trong xem nó có thiện pháp không? Có trí huệ từ bi hỷ xả không? Nếu có, mình cứ phát huy, phát triển. Làm cho nó quảng đại. Làm cho nó thành căn cứ địa, thành cổ xe. Làm cho nó an trú vững chắc. Đó là Tứ Niệm Xứ. Nhìn lại thân thể, nhìn lại cảm giác, nhìn lại nội tâm, nhìn lại sự vật vận hành ở bên trong nội tâm là ác bất thiện pháp, thì diệt nó, là thiện pháp thì làm cho nó tăng trưởng, phát triển, quảng đại, lớn mạnh, đó là Tứ Niệm Xứ, Chánh pháp, tối thượng pháp.
V. Tu tập giới:
Cái đó không chịu lo tu, mà tối ngày cứ hướng ở ngoài làm gì? Làm cái chùa cho đẹp, trồng cái cây cho đẹp để làm gì? Mất hết thời gian, chánh sự phế bỏ hết trơn. Rồi cuối cùng tu lâu năm mà nhìn lại một tấm thân đầy dẫy tham, sân, si, tham ái. Đau đớn cho một đời sống tu hành cay đắng, đáng thương. Chỗ cư trú an ổn thứ tư là:
“Đối với các giới không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị nhiễm ô, không bị quế nhiễm, đem lại giải thoát được người trí tán tháng, không bị chấp thủ để đưa đến thiền định. Vị ấy sống thành tựu các giới như vậy đối với các đồng phạm hạnh trước mặt và sau lưng”
Đây là chỗ cư trú an ổn thứ tư là giới. Thật sự nếu mà nói về cái này thì chúng ta nhục nhã xấu hổ lắm, chúng ta thiếu sót về oai nghi, phòng hộ, hộ trì căn rất nhiều.
Người tu thật sự thời Đức Phật không phải như vậy, bây giờ chúng ta làm trái ngược hết sức nhiều, mà tự thân hành giả không biết. Tại vì học không đến nơi đến chốn, không uống nước tận nguồn, không biết cái nào đúng sai, mình cứ tưởng đâu người kia như vậy thì mình như vậy là được rồi, vì nó là cái sai phổ biến, sai nghiêm trọng. Nếu người tha thiết tu hành phải tự kiểm soát giới đức, giới hạnh, giới luật, giới pháp, giới tướng, giới thể của chính mình thì mới được. Mình phải cảm thấy nhục nhã và xấu hổ đối với những gì mình chưa thực hiện được, thì mình mới có cơ hội tăng thượng, tăng tiến, tiến lên ở trong pháp và luật của Như Lai.
Chẳng hạn như người xuất gia tuyệt đối không được kinh doanh, nhưng chúng ta thấy bây giờ phổ biến trong các chùa. Tại sao vậy? Tại sao người xuất ra không kinh doanh? Tại vì cái ăn, cái mặc của mình người ta cúng hết rồi. Tại sao mình đi làm kinh doanh và từ đâu nó phát xuất ra cái này? Chúng ta phải xét cho thật sâu sắc, thật kỹ. Minh Thành chị gợi ý một chút nhỏ thôi, nói ít hiểu nhiều, cái đó nó phát xuất ra từ cái tâm gì? Tại vì sao ăn mình có ăn, mặc mình có mặc, ở mình có ở, mình thiếu cái gì mà đi làm cái đó? Nếu mình làm cho cái đó, từ từ mình sẽ bị thế tục hóa.
Chúng ta nhìn thấy bây giờ du lịch tâm linh nhiều lắm, đi ra nước ngoài đi vô mấy cái chùa mà chùa nào cũng mua vé, thậm chí là đánh chuông cũng phải bỏ tiền, biến những chỗ chùa chiền thành những chỗ lợi nhuận, doanh thu. Nên mình phải hiểu một cách sâu sắc ở trong giới pháp, còn nếu mình không có Chánh Tri Kiến, Chánh pháp nhãn, tuệ nhãn, đạo nhãn, pháp nhãn, mình không có quyết trạch được thì đời tư của mình bị thế tục hóa, mình không biết gì hết. Tại vì những cái đưa ra nó tương ứng với những cái dục, tham, ái của mình, nên mình đi vô nó dễ ợt, mình đi vô lúc nào không hay. Giống như con ruồi bay lại tô mật và nó chết ở trong đó. Nếu mình không có học Thánh pháp thì mình chết tức, chết tưởi, chết oan chết ức, chết không kịp nói, chết không kịp trối, chết mà không biết vì sao mình chết, mình đoạ địa ngục cũng không biết vì sao mình đọa địa ngục, mình rơi vô ngạ quỷ súc sanh mình cũng không biết tại sao mình bị vậy nữa.
Mình không có thành tựu Thánh tri kiến, Chánh Tri Kiến, Chánh pháp nhãn, mình không biết cái nào là đúng sai, là chuẩn tắc của pháp và luật của Như Lai. Người xuất gia của mình tuyệt đối không kinh doanh mà đây là cũng là hiến chương của giáo hội. Đó là nói cái bên ngoài thôi, còn nói cái tự thân của mình, coi như sai trái nhiều lắm. Nói một chuyện đơn giản thôi là cái đi, đứng, ánh nhìn, cách nói chuyện, cử chỉ của mình cũng không đúng với oai nghi và học pháp của người tu theo kinh tạng Nikāya, thì làm gì mình đi đến thiền định được.
Mình vô ngồi, nhưng mình không có thiền định được, mình không có hộ trì căn, mắt nhìn láo liếc, miệng nói tía lia, thân thì dao động lăn xăn, ngồi thiền một chút thôi là thấy khó chịu, bứt rứt lắm , đó là kiết sử, là sự trói buộc trong thân tâm của mình, nó không cho mình yên, an định. Một trong những kiết sử trong ngũ cái là trạo hối, tức là một sự trạo cử và hối hận, hối tiếc, tại sao mình ngồi thiền không được? những điều mình làm sai phạm làm trong tâm của mình hối tiếc, hối hận, tâm của mình bất an. Giới viên mãn thì Chánh kiến mới viên mãn, tâm mới định. Chính vì vậy, cái giới của mình không có viên mãn, nên mình tu tập thiền định nó không định, mà định không có thì làm gì có tuệ. Chúng ta cứ làm ăn, buôn bán, lời lỗ, vô ngồi thiền thì ngồi nổi không? Ngồi tính lời lỗ “Cha, bữa nay mấy bịch bánh, mấy bịch tàu hũ chiên sả ớt bán hôm nay lời bao nhiêu? Tổ chức đi hành hương mấy chục người vé bao nhiêu” thất bại lớn.
Nếu nói đúng theo giới luật của Phật trong kinh Nikāya thì người tu cao thượng, cao quý lắm, không có làm những chuyện bình thường mà luôn luôn tăng thượng giới, định và tuệ. Sống ở chỗ xa vắng, thực hành giới hạnh thiền định và trí tuệ để tiêu diệt cội gốc của khổ đau. Làm chỗ nương tựa cho nhân thiên, thầy của trời và người, không phải chuyện đơn giản, không giống như mình quan niệm bây giờ, sự tu của mình bây giờ là không phải.
Ai muốn có tâm học hỏi phải đặt tâm vô tìm đọc giới luật ở trong tạng kinh Nikāya, trong luật tạng, nghiên cứu thật kỹ, thậm chí cái nhìn cũng không được cái nhìn nữa “không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng” mình học rồi. Những nguyên nhân gì mà làm cho dục, tham, sân, si, sanh khởi lên là mình phải nhiếp phục, trừ diệt những nguyên nhân đó. Thành ra, nếu đúng theo giới luật rất là tin nghiêm, sâu sắc, tế nhị.
Chẳng hạn như, mình vừa đi mình vừa nói chuyện, quay qua quay lại, đã không được, không có hộ trì căn. Khi nói là chuyện gì cần nói, đáng nói, quan trọng mới nói, chứ không phải muốn nói là nói, nếu muốn nói là nói cái đó là dục nói, mình không nhiếp phục được. Nếu tu về cái này thì nó thâm sâu lắm, hay lắm, mà tu như vậy mới chứng thánh quả. Còn tu như mình là chứng quả a-la-hán ở ngoài chợ lớn đó. Không có để ý gì hết, xả láng sáng về sớm, không có nhiếp phục thân tâm, không có hộ trì Chánh niệm tỉnh giác, không có hộ trì căn. Con mắt phải như thế nào, bước đi phải như thế nào, khi nói chuyện phải như thế nào, nhất cử nhất động của mình
“Này các Tỷ-kheo, khi đi tuệ tri rõ biết mình đang đi, khi đứng rõ biết mình đang đứng, khi nằm đang biết đang nằm, khi ngồi rõ biết đang ngồi. Cúi, ngước, co, dũi, nói, nín, rõ biết hết. Đắp y, Tăng và lê, ôm bình bát tất cả đều phải rõ biết không lúc nào không biết”.
Mình tu mà đúng như vậy không phát sanh thiền định trí huệ là chuyện đó không thể xảy ra. Mình đâu có làm theo lời Phật đâu, mình làm theo tập khí của mình, thí dụ nghe nói vậy là “Chậc, khó quá vậy thôi tu từ từ thôi” đó là gì nói vậy? Ác ma, dục, tham nó nói, buông lung phóng dật trong ý hành của mình nó nói. Nó không muốn mình giải thoát, nó muốn xiềng xích mình ở trong tam giới, nó không cho mình giải thoát, những ý hành đó mình phải phát hiện ra, phải nhiếp phục, diệt tận nó “mày không muốn cho tao tu phải không? mày muốn tao sao trầm luân sanh tử mãi mãi phải không? Mày muốn tao buông lung phóng dật hoài phải không? Mày muốn tao tu trên hình thức, màu sắc, bề ngoài thôi phải không?”
Mình phải diệt được những ý nghĩ ác bất thiện pháp, ngăn chặn sự tăng thượng giới, định, tuệ của mình. Ví dụ chiều mà đói quá, mình nói theo kiểu của mình thì mình dùng cái gì nhẹ mà mình cảm thấy xấu hổ. Hay là mình lỡ nói lời gì mình thấy lời hồi nãy là không có Chánh niệm, mình thấy xấu hổ, mình đi sám hối, tức là mình thường xuyên thường trực nhìn lại cảm thọ, oai nghi, hành động, cử chỉ của mình. Nếu mà một người tu kỹ như vậy, thì làm sao giới hạnh không tăng thượng.
Ở đây “giới không bị bể vụn, sứt mẻ, ô nhiễm, quế nhiễm”. Riêng phần giới này nó quan trọng lắm, Minh Thành đi qua bên trung tâm thiền quốc tế của ngài Asanya ở bên Thái Lan, ở trong rừng chỗ đó có ba mươi mấy bốn chục vị sư, mà đa số là người Châu âu, người Mỹ, người Đức... Trên ba chục quốc gia, mỗi người một nước khác nhau, người nào cũng cao một mét tám, một mét chín. Sáng đi khất thực về ăn một bữa , một người ở một cái cốc, vô đó im phăng phắt, im lặng giống như chỗ không có người, ba mươi mấy nước mà có ba mươi mấy bốn chục người thôi, yên lặng, thanh tịnh. Sáng Minh Thành đi khất thực chung với các sư mà đau chân khủng khiếp, đạp lên đá, lên sỏi cũng phải đạp thôi. Mà mấy ổng đi nhanh lắm, một bước của ổng bằng hai bước của mình. Ôm cái bình bát mình đi theo, mà đến khi đau cái chân như vậy tức cảm giác khó chịu sanh khởi lên, Minh Thành tác ý “suốt cuộc đời tu của mày đi có một lần mà mày đau, trong khi các sư người ta mỗi ngày mỗi đi như vậy, mày chết đi, biết nhục không?” Quyết tâm Chánh niệm, tiếp tục ôm bình bát đi, nhiếp phục cảm thọ. Mình đi có một bữa thôi cho mình thấm thía, mình thấy được, sự tu học theo Đức Phật riêng phần giới thôi là cả một vấn đề không phải đơn giản.
Sự tu học ngày nay của chúng ta nó còn xa lắm, rất xa. Nói vậy để mình thấy được rằng mình phải cố gắng cầu tiến chứ đừng hài lòng, mình tưởng đâu mình như vậy là được rồi, không có, không phải “Người ta ngày ăn có một bữa thôi, mỗi người có một cái cốc riêng, suốt ngày chỉ thiền định, nghe kinh pháp thiền định”. Cho nên trọng tâm ở đây, chúng ta muốn nói vấn đề là sự luôn luôn quay về để kiểm tra, kiểm soát thân tâm, hành vi, ngôn ngữ của mình. Đối chiếu với cái giới “Ba la đề mộc xoa” mình đã thọ, những cái oai nghi mình đã học, những cái hộ trì căn hôm trước Minh Thành đã chia sẻ rồi, những cái đó hết sức căn bản và quan trọng. Cái đó là phải tự thân mỗi người cố gắng, chứ không thể ai mà nhắc mình hoài được, mình phải cố gắng vì chính mình, thành tựu là thành tựu cho mình chứ không cho ai đâu.
Phần oai nghi giới hạnh là hết sức quan trọng, nếu cái đó không có, thì coi như cái cây không có vỏ, vỏ ngoài của phạm hạnh không có, thì cái ruột bên trong không thể nào có được, cái lõi càng không có. Sau này mình sẽ học bài kinh “ Lõi cây”, mình phải cố gắng hổ thẹn, tàm quý những cái gì còn sơ xót, chưa được tốt mình phải biết khắc phục, điều chỉnh, hoàn thiện trong giới, thì chỗ đó là chỗ an ổn của mình. Còn nếu cái giới của mình bị bể vụn, sức mẻ, ô nhiễm, quế nhiễm thì thật khó khăn, làm sao mình đi vào được Thánh trí huệ. Cái tâm bất an, ngồi lại đủ thứ chuyện, bao nhiêu hình ảnh dục xâm chiếm ở trong cái tưởng của mình, những cảm giác bên trong nó quậy mình thì làm sao mình ngồi yên, làm sao mình đi vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Làm sao mình khai triển được thiền quán Thánh trí tuệ để mình phá được khối vô minh uẩn to lớn như vậy đang xâm chiếm thân tâm của mình. Cho nên cái giới là hết sức quan trọng, cố gắng để ý thật nhiều trong cái giới này. Những bài hôm trước Minh Thành nhắc rồi cho nên hôm nay Minh Thành không nói nhiều nữa.
VI. Chánh Tri Kiến:
Cái thứ năm cho chúng ta là:
“Đối với tri kiến này, thuộc bậc thánh đưa đến xuất ly được người thực hành chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Vị ấy sống thành tựu tri kiến như vậy đối với các đồng phạm hạnh trước mặt và sau lưng. Này các Tỷ-kheo năm pháp này là năm an ổn trú. Năm nơi cư trú an ổn của người xuất gia”.
Tri kiến này là sự thấy biết về ngũ uẩn, vô ngã, sắc này không phải tôi không phải của tôi. Những cảm giác, nghĩ tưởng này không phải tôi không phải của tôi. Đó là vô thường, là tan hoại, hoại diệt, duyên sanh. Ngay cả nhận thức, rõ biết này là do nghiệp dục, tập khí mà cái biết của mình, thấy mình, biết mình cho rằng “tôi tận mắt chứng kiến, tôi thấy vậy đó đó” mà nó trật lắc à. Tại vì mình thấy theo cái nghiệp theo cái dục, thấy theo vô minh chứ không phải mình thấy bằng Thánh trí huệ. Chừng nào mình thành tựu Chánh Tri Kiến thì cái biết nó mới chính xác đối với các pháp. Còn giờ mình biết, mình cho là “ờ, tôi biết như vậy” thì cái biết đó là vô minh, tham ái, nghiệp, tập khí. Nên phải thành tựu được Thánh trí về năm uẩn. Thánh trí về lậu hoặc, cái đó mới gọi là cái biết Chơn chánh mới đưa đến xuất ly, diệt tận đau khổ.