Tinh Hoa NIKAYA - Thực Tập Trầm Lặng - Vô Minh Là Gì - Nhớ Khổ Thánh Trí - Hiếu Hạnh Cao Thượng
Tinh Hoa Nikāya
THỰC TẬP TRẦM LẶNG
VÔ MINH LÀ GÌ
NHỚ KHỔ THÁNH TRÍ
HIẾU HẠNH CAO THƯỢNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực tập an tịnh, trầm lặng PAGEREF _Toc97571260 \h 1
II.Vô minh là gì PAGEREF _Toc97571261 \h 2
III.Quán chiếu Khổ thánh trí PAGEREF _Toc97571262 \h 5
IV.Thắp đèn trí tuệ PAGEREF _Toc97571263 \h 8
Thực tập an tịnh, trầm lặng
Các bậc Chánh Đẳng Giác là những vị đạt được sự an tịnh và trầm lặng, thế nên, là người Phật tử, là đệ tử của bậc Thánh thì chúng ta đừng bao giờ quên bốn chữ “an tịnh” và “trầm lặng”. Phải luôn luôn niệm thầm trong tâm, dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra bên ngoài thì bên trong vẫn cố gắng an trú trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu và trầm lặng. Con đường tu hành của chúng ta để đi được đến sự cứu cánh là nhờ vào bốn chữ này. Nghĩa là chúng ta sẽ đi đến chỗ sắc thân được an tịnh; các cảm thọ hoàn toàn lắng dịu; mọi hình bóng trong tâm đều yên ắng; mọi suy nghĩ của các hành đều yên lặng, an tịnh và thức được trong sáng. Chính vì vậy, sự ồn ào, lăng xăng là điều đại kỵ trong thiền môn. Chúng ta là người thực tập, học tập, thực hành sự an tịnh và trầm lặng, dù cho nhà cháy, dầu cho nước trôi, dầu xảy ra những biến cố lớn cho bản thân hay người xung quanh thì mình phải có được cảm thọ an tịnh. Đây là công phu đòi hỏi được thực tập hằng ngày, có như vậy thì khi hữu sự mình mới vững trú được. Thường xuyên thực tâp: “Niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu – Niệm ngũ uẩn này không phải ta” để an trú trong cảm thọ an tịnh, trầm mặc.
Khi Minh Thành nhìn thấy đại chúng giữ được sự an tịnh thì cảm thấy rất hoan hỷ, còn lúc nào thấy mọi người lăng xăng, ồn ào thì buồn trong lòng mà không nói. Bởi lẽ, nếu bình thường không có chuyện gì mà mình rộn ràng, tất bật như vậy thì lúc có bất trắc, đột ngột xảy đến mình sẽ bấn loạn, hỗn loạn, rối loạn đến nhường nào. Trong thời gian gần đây, mỗi khi bắt đầu chia sẻ pháp, Minh Thành đều thưa và gọi quý thầy, quý cô và đại chúng là: “Những vị đang đi trên con đường an tịnh, trầm lặng”, đây là một sự tác ý, nhắc nhở chúng ta cùng nhau ghi nhớ sự thực tập tối quan trọng trong đạo tràng Nikāya.
Trong thời Đức Phật, vua A-xà-thế vì phạm tội giết cha nên muốn đi tìm một bậc Đạo sư để sám hối. Sau khi tìm hiểu kỹ thì Ngài được một vị đại thần dẫn đến chỗ Đức Thế Tôn. Khi đi vào tịnh xá, vua giật mình, hoảng sợ và hỏi:
“-- Này khanh Jīvaka, ngươi phản ta chăng? Này khanh Jīvaka, ngươi lường gạt ta chăng? Này khanh Jīvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này, gần một ngàn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
-- Tâu Đại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài! Tâu Đại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù! Tâu Đại vương, hãy đi thẳng tới! Tâu Đại vương, hãy đi thẳng tới chỗ kia, trong căn nhà tròn, chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng”. (Kinh Trường Bộ, Kinh Sa-môn quả)
Khi đi vào trong, nhà vua bất ngờ khi thấy Đức Thế Tôn ngồi sừng sững bất động và Thánh chúng, gồm hơn một ngàn vị Tỷ-kheo ngồi im phăng phắc, hoàn toàn an tịnh, trầm lặng. Ngay tại thời điểm đó, Vua A-xà-thế phát khởi lòng tin sâu sắc dù rằng Đức Thế Tôn chưa nói gì. Đây là một trong những bài kinh sống trong pháp hành. Đức Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo và những người tu phải cố gắng thực hành hai việc khi gặp nhau: một là sự im lặng của bậc Thánh, tức thiền định và thứ hai là nói đúng Chánh Pháp, tức là sự chia sẻ pháp.
Vô minh là gì
Còn Phật tử chúng ta đi chùa nhiều năm, tu học nhiều khoá mà kết quả không nhiều là do mình gặp nhau toàn nói chuyện thế gian, hỏi han những chuyện phàm phu, tầm thường mà không hỏi pháp, chia sẻ pháp. Mỗi lần gặp nhau là nói chuyện, suy nghĩ, hành động trong vô minh, trong sự thúc giục, mê muội của các dục. Tất cả mọi cảm thọ, cảm giác, cảm xúc, nhận thức, thấy biết lúc đó đều trong vô minh và như vậy khiến cho chúng ta không thể đi đến chỗ chấm dứt khổ đau. Ngày qua ngày, chúng ta cứ sống, suy nghĩ, nói chuyện trong vô minh mà không biết là do mình chưa thành tựu được minh kiến. Hơn thế nữa, có khi ngồi nghe pháp nhưng mình cũng nghe trong vô minh, nghe trong tâm u mê, mắt nhìn chỗ này chỗ kia, suy nghĩ về việc này việc nọ.
Chúng ta đáng thương lắm mà không biết rằng mình đáng thương. Mình cứ sống vô tư như một đứa trẻ thơ, như con nai rừng tung tăng chạy nhảy mà không biết rằng phía sau có cọp, sói, sư tử đang rình rập. Chúng ta không biết từng ngày, từng giờ trôi qua là những hiểm nguy, tai hoạ luôn tiềm ẩn bên trong lẫn bên ngoài, ở khắp mọi nơi xung quanh mình. Thế mà chúng ta vẫn sống trong sự quên lãng, sống trong sự vô tư, thất niệm, dại khờ. Chúng ta là những kẻ mù loà, không có mắt, sống trong bóng đêm, quờ quạng giữa trời đêm. Giả sử có mắt thì lại không có ánh sáng, bao trùm thế giới này là bóng đêm, bao trùm cả địa cầu này là bóng tối, vậy mà chúng ta cứ thích thú, vui sướng, hân hoan. Nghĩ tưởng, suy tưởng, nhận thức, nói, làm, tạo nghiệp, nhận quả báo khổ đau trong vô minh. Khi quả báo tới thì chúng ta than trời, trách đất, oán đời, hận người. Chúng ta đáng thương lắm, rất là đáng thương! Chúng sanh đáng thương thay!
Chúng ta không thấy khổ, chỉ cần một chút vui vẻ, lạc thọ là chúng ta quên hết. Qua mấy chục bài kinh về vô minh, Đức Phật giải thích, phân tích, trình bày, hiển thị, khai thị, hiển lộ cho chúng ta thấy nhiều góc độ, khía cạnh, thế nào là vô minh, vô minh như thế nào, làm sao để chấm dứt, phá vỡ, xuyên thủng, diệt tận vô minh. Lúc nào chúng ta quên khổ đau là lúc đó chúng ta vô minh. Lúc nào chúng ta nhìn cuộc sống này là vui thích, khi đó chúng ta vô minh. Nhìn lại xem trong một ngày chúng ta vô minh bao nhiêu thời gian. Chỉ cần mấy đoá hoa nở là chúng ta quên hết, bao nhiêu trí tuệ, bao nhiêu kiến thức học Phật pháp quên hết, Thánh tri kiến rớt mất hết. Chúng ta còn khổ dài dài, nước mắt dài dài, luân hồi dài dài nếu không thành tựu được trí tuệ về khổ. Chúng ta quên, quên sự thật, quên thực tại, sống trong ảo tưởng.
Có nhiều bài kinh Đức Phật đã định nghĩa rõ ràng về “minh” và “vô minh”:
Trong bài kinh “Phân Biệt”, Đức Phật đã tuyên bố: “Này các Tỷ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh.” (Tương Ưng Bộ Kinh II, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, I. Phẩm Phật-Đà, bài kinh Phân Biệt)
Trong bài kinh “Minh” và bài kinh “Vô Minh”, Đức Thế Tôn cũng đã tuyên thuyết rằng:
--“Minh, minh”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, như thế nào là minh? Cho đến như thế nào, một người là minh?
-- Ở đây, này Tỷ-kheo, bậc Đa văn Thánh đệ tử biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt
…biết rõ thọ … biết rõ tưởng … biết rõ hành … biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.
Này Tỷ kheo, đây gọi là minh. Và cho đến như vậy, một người là minh. (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, bài kinh Minh)
--“Vô minh, vô minh”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, như thế nào là vô minh? Cho đến như thế nào, một người là vô minh?
-- Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không biết rõ sắc, không biết rõ sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt
… không biết rõ thọ … không biết rõ tưởng … không biết rõ hành … không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.
Này Tỷ kheo, đây gọi là vô minh. Và cho đến như vậy, một người là vô minh. (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, bài kinh Vô Minh)
Qua đó chúng ta thấy rằng, trong Tương Ưng Bộ Kinh II, phần Tương Ưng Nhân Duyên, bài kinh “Phân Biệt”, Đức Thế Tôn định nghĩa “vô minh là không thấy được Tứ Thánh Đế”; còn trong bài kinh “Vô Minh”, Tương Ưng Bộ Kinh III, Đức Thế Tôn định nghĩa “vô minh là không thấy biết được ngũ uẩn, không thấy được nhân quả sanh diệt của ngũ uẩn”. Vậy, hai điểm này có khác nhau không? Nếu chúng ta nhìn theo góc độ nghiên cứu bình thường thì sẽ thấy là khác nhau, nhưng thật sự là không khác.
Ngoài ra, trong bài kinh “Khổ Pháp”, Đức Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, sắc thủ uẩn là khổ, thọ thủ uẩn là khổ, tưởng thủ uẩn là khổ, hành thủ uẩn là khổ, thức thủ uẩn là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ.” (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, IV. Phẩm Rắn Độc, bài kinh Khổ Pháp). Như vậy, vô minh còn có nghĩa là không thấy biết về năm uẩn và năm uẩn là khổ pháp. Chúng ta thường gặp cụm từ “Đây là khổ” trong kinh Nikāya, mình cần hiểu chữ “đây” nghĩa là ngũ uẩn, gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Một bậc Đa văn Thánh đệ tử đọc nhiều kinh tạng sẽ thấy được nhiều góc độ, khía cạnh của vô minh. Mỗi một lần đọc thêm bài kinh khác là làm sáng tỏ thêm cho bài kinh mình đã học trước đó.
Như vậy, ai không thấy sắc này là khổ, người đó là vô minh. Không thấy được thân người, tài sản, cảnh vật và mọi thứ xung quanh đều là khổ thì người đó vô minh, tối tăm, mê muội.
Quán chiếu Khổ thánh trí
Chúng ta cần nhìn thấy được thân xác này, đời sống này, cảm giác này sanh khởi hoài, đòi hỏi hoài, khao khát, tìm kiếm, bức xúc, bực bội, hơn thua, sân si hoài. Đồng thời thấy được những nghĩ tưởng, tư tưởng, suy tư, hình bóng, thấy biết, nhận thức đưa đến bực bội, đúng sai, thị phi là khổ đau. Khi thấy biết như vậy là minh, còn không là vô minh.
Khi thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là khổ đau thì đó không phải là trí tuệ của phàm phu mà là trí tuệ của bậc Thánh. Vì vậy, công cuộc tu này là đem sự thấy biết của phàm phu đưa vào tri kiến của bậc Thánh, lấy cái thức đưa vào trí, vào tuệ, để an trú trong trí tuệ của bậc Thánh. Đó là chúng ta tu tập thức uẩn mỗi ngày, đòi hỏi mình phải tập dần dần, tập trong mọi lúc, không chỉ lúc nghe pháp, ngồi thiền mà cả những lúc sinh hoạt thường nhật, suy nghĩ, nói chuyện, làm việc bình thường.
Bên cạnh đó, cần tu tập suy nghĩ, tác ý theo chiều của sự thật, của chân lý, không theo tình cảm của phàm phu. Như vậy, chúng ta không chỉ làm lắng dịu cảm thọ, tác ý những ý hành mà còn phải tu trong thức uẩn, chuyển thức thành trí. Khi thấy điều gì, biết điều gì, nghe điều gì, cảm nhận điều gì, thức tri cái gì đều phải đưa vào tri kiến, trí tuệ của bậc Thánh, của Đức Thế Tôn truyền trao cho mình. Chúng ta đã luân hồi, sanh tử bao nhiêu kiếp sống chỉ bởi những thấy biết thông thường, những tình cảm, cảm xúc phàm phu, những nghĩ, tưởng thấp hèn, hạ liệt. Chính vì vậy, phải phá đổ, phá tan, phá vỡ những sai lầm đó để chuyển vào sự thấy biết của bậc Thánh, của Thánh trí, của Tuệ giác, như vậy thì chúng ta mới phá được vô minh.
Hơn nữa, sự tu này không chỉ đọc kinh, học kinh mà còn phải ứng dụng, liên hệ, áp dụng pháp vào đời sống. Có một vị Sư được Minh Thành xuất gia, vào dịp Tết có đến thăm và nói: “Người nào hiểu pháp mới hiểu Sư phụ, người nào thấy pháp mới thấy được Sư phụ”. Minh Thành rất xúc động khi nghe Thầy ấy chia sẻ như vậy, vì cả trái tim, cả sinh mạng, cả đời sống của Minh Thành là cầu pháp, thực hành pháp, truyền trao pháp. Với một người không hiểu, không thấy pháp dù cho đang bên cạnh thì cũng giống như ở rất xa Minh Thành. Ngược lại, một người thấy pháp, có thực hành pháp thì dù cho ở xa nửa vòng Trái Đất thì chẳng khác gì đang gần nhau và cùng gặp nhau với sự tương thông, tương cảm trong sự thật tối thượng của Chánh Pháp. Cho nên, không hiểu pháp làm sao hiểu được Minh Thành. Không thấy pháp làm sao thấy được Minh Thành. Không thực hành pháp làm sao làm việc cùng với Minh Thành. Không sống trong pháp làm sao cùng sống được với Minh Thành. Bởi từng hơi thở, lời nói, hành động, suy nghĩ, cảm thọ của Minh Thành là pháp. Toàn bộ đời sống, sinh mạng của Minh Thành là pháp.
Đức Thế Tôn đã nói như sau: “Ai thấy được lý Duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp người đó thấy được lý Duyên khởi”. (Trung Bộ Kinh, 27. Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi). Trong đó, lý duyên khởi là tính chất chấp vá, kết hợp, vay mượn, lắp ráp, nương dựa của tất cả thân, tâm và thế giới. Cùng với tính chất trống rỗng, trống không, trống trơn của vạn vật, tính vô thường, khổ đau của của mọi sự vận hành trên cuộc đời này.
Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh.
(Kinh Pháp Cú, Phẩm Đạo)
Do thấy biết tất cả sự vận hành là trống không, vô ngã, trí tuệ nhìn nên sẽ phát sanh sự nhàm chán đối với những thứ trống rỗng, trống không, vô tình, vô nghĩa, đây chính là con đường thanh tịnh. Ai thấy được sự thật của cuộc đời này thì vị đó thấy được Đức Phật, không thấy được sự thật thì dù có ở kế bên tượng Phật cũng chỉ thấy giả tướng, hình tượng vô thường mà thôi. Cho nên chính những người đệ tử, bỏ gia đình, cạo tóc theo Minh Thành, nhưng không hiểu pháp thì cũng là xa vạn dặm, đối diện mà chẳng có tương phùng.
Chúng ta chẳng là ai cả, thân tâm này chỉ là một đống thịt, máu, xương, da ở bên ngoài, còn bên trong chất chứa đầy tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Dần dần tấm thân này đi đến cạn kiệt, diệt tận, cùng với những dục, tham, ái ngày đêm sanh khởi, vận hành để tìm lấy khổ, tạo khổ và tiếp tục hành trình của khổ đau. Chúng ta phải thấy rằng, không có ai ở đây cả! Không có một tự ngã nào! Tất cả chỉ là những đống dục, tham, ái, vô minh, bản ngã đang ngày đêm chế tác ra đau khổ, hành hạ, hành tội, làm khổ mình và người khác. Cuối cùng, đời sống này chỉ đầy nước mắt, lo lắng, bất an, sợ hãi và khổ sầu.
Như lầu sò chợ bể
Như bọt nước trôi sông
Nếu nhìn đời như thế
Thần chết sẽ nản lòng.
(Kinh Pháp cú, Phẩm Thế Gian)
Trong biển khổ mênh mông này, chúng ta chỉ là những đống bọt nước trôi nổi, thăng trầm; là những đống bọt rực lửa, đầy tham, sân, si, ngã mạn, vô minh, chỉ biết sống trong sự đấu đá, cạnh tranh, tranh giành, chiến tranh. Bồng bềnh, trôi nổi trên biển khổ của cuộc đời này là những đống bọt, chùm bọt, hòn bọt đang làm khổ, làm hại chính mình và người khác. Những đống bọt vô thường, tạm bợ này đang chuốc thù hận, oán hờn cho nhau.
Thật sự đáng thương cho đời sống quờ quạng giữa trời đêm này! Chúng ta nói chuyện với cha, với mẹ bằng những lời nói của bản ngã; nói với thầy bằng sự hơn thua; nói với huynh đệ bằng những lời ta đây, phải trái; cư xử giữa vợ chồng bằng những hành động tổn thương, làm cho nhau đau đớn, dày vò, làm cho nhau tức tưởi, khổ sầu. Tất cả những điều đó đều do vô minh chi phối.
Chúng ta thật sự đáng thương! Tất cả mọi suy nghĩ, lời nói, hành động chỉ để thoả mãn cái tôi, cái ta và làm hả dạ cho cảm giác sân hận. Sau đó dù phải vào tù, thậm chí phải chết hay sống trong hối hận, day dứt car đời cũng cam chịu. Chúng ta chỉ là những đống cảm giác sân hận, vô minh, bản ngã, giành giựt, tranh đấu. Chúng ta không nhìn thấy được những dòng nước mắt đã tuôn chảy, mà vẫn vỗ ngực, xưng tên như một bao rác đầy hôi thối. Vậy mà cứ tự vỗ vào ngực để phô trương bản ngã, lớn giọng nói “ta đây”. Những bao rác này bốc lên mùi ganh tỵ, tật đố, xảo trá, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ mọn, tham lam, gian trá, xảo nguỵ, xảo quyệt, mưu mô. Đầy rẫy trong thân tâm này toàn là rác bẩn, cấu nhiễm và bất tịnh. Vậy mà mỗi khi gặp chuyện không vừa ý là phình trương lên bản ngã, vỗ vào ngực và hỏi “biết tôi là ai không?”. Sự vô minh, đau khổ, sai lầm của chúng ta và hữu tình chúng sanh thật sự không thể diễn tả, thậm chí khi vào chùa rồi mà vẫn ta đây, bản ngã càng thêm nhiều. Cho nên nói, cái khổ lớn nhất trong tất cả cái khổ là không biết mình khổ. Cái vô minh sâu dày nhất trong tất cả các vô minh là không biết mình vô minh.
Người ngu nghĩ mình ngu
Nhờ vậy thành có trí
Người ngu tưởng có trí
Thật xứng gọi chí ngu.
(Kinh Pháp Cú, Phẩm Ngu)
Ngu ở đây tức là vô minh. Ngu muội mà biết là mình đang ngu muội thì ngay lúc đó mình trở thành người có trí. Ngược lại, mình ngu mà cho là mình có trí thì Đức Thế Tôn gọi đây là “chí ngu”, tức là tột cùng của sự ngu muội, chính là đại vô minh. Vô minh mà biết mình vô minh, nhờ vậy trở thành tuệ trí; vô minh mà cho mình tuệ trí, thật gọi là đại vô minh. Phải học về vô minh cho thật kỹ để biết được sự vô minh của mình ở mức độ nào và lúc đó chúng ta mới đạt được minh trí. Bằng không, lúc bình thường, gặp người khác đang sân hận, bực bội thì mình thấy ngay là họ vô minh. Thế nhưng, đến lúc mình đang vô minh, bản ngã, nếu có người đến nhắc rằng mình vô minh, bản ngã thì khi đó sự vô minh lại càng phình ra thêm, bản ngã lại càng trương ra thêm.
Thắp đèn trí tuệ
Cho nên, hằng ngày phải tụng, đọc những lời Thánh ngôn, rồi chiêm nghiệm thật nhiều. Mặc dù thường xuyên cùng nhau nhắc nhở, nghiền ngẫm đến thấm thía vô cùng nhưng lúc buông ra là chúng ta lại sống với vô minh. Nếu không chú tâm, chăm chỉ chiêm nghiệm, thiền quán, lễ lạy sám hối diệt ngã hằng ngày thì vô minh này sẽ dẫn dắt chúng ta tới địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, đi vào những thân cọp, sói, rắn, bò, mèo, chó. Nếu mình không nhìn ngó, dò xét, quản thúc, giáo dục, dạy dỗ thân tâm này, không chẻ cái đầu đầy si mê, vô minh ra thì nó sẽ dẫn dắt mình vào chảo dầu sôi, vào biển lửa, lên núi đao, xuống vực sâu, vào hố than hừng.
Mỗi ngày trôi qua, phải luôn luôn tha thiết, ưu tư, da diết, lo lắng, sợ hãi vì vô thường, bất trắc, đột biến, đột quỵ, đột tử có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chỉ trong mấy ngày Tết đã có hơn ba trăm người chết và bị thương. Hằng ngày, có hàng vạn người nhiễm dịch bệnh. Hằng ngày trên thế giới có bao nhiêu người đã chết, phải đi vào lò thiêu, vậy mà chúng ta không để tâm đến và cứ sống trong sự lãng quên, thất niệm, si mê, si ám, bóng tối, mù loà, bóng đêm và nhận lấy toàn đau khổ.
Vì vậy, chúng ta hãy mở mắt ra, thắp đèn lên, cho mặt trời chiếu rọi rực rỡ, soi sáng vào tất cả mọi ngách của thân, tâm. Mọi cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức đều phải đưa Khổ Thánh Trí chiếu soi vào. Phải biết thương mình, đừng làm hại chính mình.
Đừng tạo thêm oan trái,
Đừng tạo thêm đắng cay
Đừng tạo nên khổ ải
Cho kiếp người của nhau.
(Cửa Vào Bất Tử)
Hãy nhìn cho thật sâu sắc và tác ý mỗi ngày, còn một hơi thở này là mình còn tu, còn thực hành công phu; còn một hơi thở này là mình còn làm công quả; một ngày thức dậy còn được thấy ánh sáng bình minh là mình còn vun trồng phước huệ, gieo bồi, tích tụ công đức; còn một ngày được sống là mình còn nuôi dưỡng, tưới tẩm Khổ Thánh Trí trong cuộc đời này. Nếu một ngày kia dù có bất thình lình, bất chợt, bất trắc, bất thường, đột ngột, đột biến, đột tử mà phải ra đi, từ bỏ mạng sống này thì chúng ta cũng mỉm cười hài lòng. Bỡi lẽ, cả cuộc đời này, không giây phút nào mà ta không quán chiếu về sự thật của thân, tâm; không có khoảnh khắc nào ta lơ đễnh trong sự nhận diện ngũ uẩn. Cả cuộc đời ta đã đem tất cả thời gian, sinh mạng vun trồng phước huệ; cả cuộc đời ta đã chất chứa, tích tụ công đức và bây giờ ta bỏ chiếc áo cũ này ra đi, thay bằng chiếc áo mới, ta bước lên những cảnh giới hiền thiện, hiền thánh của bậc Thánh đệ tử. Khi đó, ta có thể nhẹ nhàng nở một nụ cười bình an.
Chúng ta hãy nỗ lực tu tập như vậy, đừng để mình phải từ giã cõi đời này trong sự hối hận, hối tiếc muộn màng. Hãy sống tròn bổn phận, sống đẹp với đời, diệt tham sân si, thoát ly ngũ uẩn. Tất cả chúng ta thật sự có đầy đủ phước báu và vô cùng hạnh phúc vì mỗi buổi sáng đều được tưới tẩm bằng sự vang ngân của Thánh pháp trên non thiêng núi thánh này. Những sự thật về đời sống này được trùng tuyên, tuyên thuyết, hiển lộ để đón chào một ngày mới và chúng ta đều được tắm mình, gội rửa trong Thánh trí tuệ, trong tri kiến của bậc Thánh vào mỗi buổi sớm mai.
./.
THỰC TẬP TRẦM LẶNG
VÔ MINH LÀ GÌ
NHỚ KHỔ THÁNH TRÍ
HIẾU HẠNH CAO THƯỢNG
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực tập an tịnh, trầm lặng PAGEREF _Toc97571260 \h 1
II.Vô minh là gì PAGEREF _Toc97571261 \h 2
III.Quán chiếu Khổ thánh trí PAGEREF _Toc97571262 \h 5
IV.Thắp đèn trí tuệ PAGEREF _Toc97571263 \h 8
Thực tập an tịnh, trầm lặng
Các bậc Chánh Đẳng Giác là những vị đạt được sự an tịnh và trầm lặng, thế nên, là người Phật tử, là đệ tử của bậc Thánh thì chúng ta đừng bao giờ quên bốn chữ “an tịnh” và “trầm lặng”. Phải luôn luôn niệm thầm trong tâm, dù cho bất cứ chuyện gì xảy ra bên ngoài thì bên trong vẫn cố gắng an trú trong cảm thọ an tịnh, lắng dịu và trầm lặng. Con đường tu hành của chúng ta để đi được đến sự cứu cánh là nhờ vào bốn chữ này. Nghĩa là chúng ta sẽ đi đến chỗ sắc thân được an tịnh; các cảm thọ hoàn toàn lắng dịu; mọi hình bóng trong tâm đều yên ắng; mọi suy nghĩ của các hành đều yên lặng, an tịnh và thức được trong sáng. Chính vì vậy, sự ồn ào, lăng xăng là điều đại kỵ trong thiền môn. Chúng ta là người thực tập, học tập, thực hành sự an tịnh và trầm lặng, dù cho nhà cháy, dầu cho nước trôi, dầu xảy ra những biến cố lớn cho bản thân hay người xung quanh thì mình phải có được cảm thọ an tịnh. Đây là công phu đòi hỏi được thực tập hằng ngày, có như vậy thì khi hữu sự mình mới vững trú được. Thường xuyên thực tâp: “Niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu – Niệm ngũ uẩn này không phải ta” để an trú trong cảm thọ an tịnh, trầm mặc.
Khi Minh Thành nhìn thấy đại chúng giữ được sự an tịnh thì cảm thấy rất hoan hỷ, còn lúc nào thấy mọi người lăng xăng, ồn ào thì buồn trong lòng mà không nói. Bởi lẽ, nếu bình thường không có chuyện gì mà mình rộn ràng, tất bật như vậy thì lúc có bất trắc, đột ngột xảy đến mình sẽ bấn loạn, hỗn loạn, rối loạn đến nhường nào. Trong thời gian gần đây, mỗi khi bắt đầu chia sẻ pháp, Minh Thành đều thưa và gọi quý thầy, quý cô và đại chúng là: “Những vị đang đi trên con đường an tịnh, trầm lặng”, đây là một sự tác ý, nhắc nhở chúng ta cùng nhau ghi nhớ sự thực tập tối quan trọng trong đạo tràng Nikāya.
Trong thời Đức Phật, vua A-xà-thế vì phạm tội giết cha nên muốn đi tìm một bậc Đạo sư để sám hối. Sau khi tìm hiểu kỹ thì Ngài được một vị đại thần dẫn đến chỗ Đức Thế Tôn. Khi đi vào tịnh xá, vua giật mình, hoảng sợ và hỏi:
“-- Này khanh Jīvaka, ngươi phản ta chăng? Này khanh Jīvaka, ngươi lường gạt ta chăng? Này khanh Jīvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này, gần một ngàn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
-- Tâu Đại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài! Tâu Đại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù! Tâu Đại vương, hãy đi thẳng tới! Tâu Đại vương, hãy đi thẳng tới chỗ kia, trong căn nhà tròn, chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng”. (Kinh Trường Bộ, Kinh Sa-môn quả)
Khi đi vào trong, nhà vua bất ngờ khi thấy Đức Thế Tôn ngồi sừng sững bất động và Thánh chúng, gồm hơn một ngàn vị Tỷ-kheo ngồi im phăng phắc, hoàn toàn an tịnh, trầm lặng. Ngay tại thời điểm đó, Vua A-xà-thế phát khởi lòng tin sâu sắc dù rằng Đức Thế Tôn chưa nói gì. Đây là một trong những bài kinh sống trong pháp hành. Đức Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo và những người tu phải cố gắng thực hành hai việc khi gặp nhau: một là sự im lặng của bậc Thánh, tức thiền định và thứ hai là nói đúng Chánh Pháp, tức là sự chia sẻ pháp.
Vô minh là gì
Còn Phật tử chúng ta đi chùa nhiều năm, tu học nhiều khoá mà kết quả không nhiều là do mình gặp nhau toàn nói chuyện thế gian, hỏi han những chuyện phàm phu, tầm thường mà không hỏi pháp, chia sẻ pháp. Mỗi lần gặp nhau là nói chuyện, suy nghĩ, hành động trong vô minh, trong sự thúc giục, mê muội của các dục. Tất cả mọi cảm thọ, cảm giác, cảm xúc, nhận thức, thấy biết lúc đó đều trong vô minh và như vậy khiến cho chúng ta không thể đi đến chỗ chấm dứt khổ đau. Ngày qua ngày, chúng ta cứ sống, suy nghĩ, nói chuyện trong vô minh mà không biết là do mình chưa thành tựu được minh kiến. Hơn thế nữa, có khi ngồi nghe pháp nhưng mình cũng nghe trong vô minh, nghe trong tâm u mê, mắt nhìn chỗ này chỗ kia, suy nghĩ về việc này việc nọ.
Chúng ta đáng thương lắm mà không biết rằng mình đáng thương. Mình cứ sống vô tư như một đứa trẻ thơ, như con nai rừng tung tăng chạy nhảy mà không biết rằng phía sau có cọp, sói, sư tử đang rình rập. Chúng ta không biết từng ngày, từng giờ trôi qua là những hiểm nguy, tai hoạ luôn tiềm ẩn bên trong lẫn bên ngoài, ở khắp mọi nơi xung quanh mình. Thế mà chúng ta vẫn sống trong sự quên lãng, sống trong sự vô tư, thất niệm, dại khờ. Chúng ta là những kẻ mù loà, không có mắt, sống trong bóng đêm, quờ quạng giữa trời đêm. Giả sử có mắt thì lại không có ánh sáng, bao trùm thế giới này là bóng đêm, bao trùm cả địa cầu này là bóng tối, vậy mà chúng ta cứ thích thú, vui sướng, hân hoan. Nghĩ tưởng, suy tưởng, nhận thức, nói, làm, tạo nghiệp, nhận quả báo khổ đau trong vô minh. Khi quả báo tới thì chúng ta than trời, trách đất, oán đời, hận người. Chúng ta đáng thương lắm, rất là đáng thương! Chúng sanh đáng thương thay!
Chúng ta không thấy khổ, chỉ cần một chút vui vẻ, lạc thọ là chúng ta quên hết. Qua mấy chục bài kinh về vô minh, Đức Phật giải thích, phân tích, trình bày, hiển thị, khai thị, hiển lộ cho chúng ta thấy nhiều góc độ, khía cạnh, thế nào là vô minh, vô minh như thế nào, làm sao để chấm dứt, phá vỡ, xuyên thủng, diệt tận vô minh. Lúc nào chúng ta quên khổ đau là lúc đó chúng ta vô minh. Lúc nào chúng ta nhìn cuộc sống này là vui thích, khi đó chúng ta vô minh. Nhìn lại xem trong một ngày chúng ta vô minh bao nhiêu thời gian. Chỉ cần mấy đoá hoa nở là chúng ta quên hết, bao nhiêu trí tuệ, bao nhiêu kiến thức học Phật pháp quên hết, Thánh tri kiến rớt mất hết. Chúng ta còn khổ dài dài, nước mắt dài dài, luân hồi dài dài nếu không thành tựu được trí tuệ về khổ. Chúng ta quên, quên sự thật, quên thực tại, sống trong ảo tưởng.
Có nhiều bài kinh Đức Phật đã định nghĩa rõ ràng về “minh” và “vô minh”:
Trong bài kinh “Phân Biệt”, Đức Phật đã tuyên bố: “Này các Tỷ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô minh.” (Tương Ưng Bộ Kinh II, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, I. Phẩm Phật-Đà, bài kinh Phân Biệt)
Trong bài kinh “Minh” và bài kinh “Vô Minh”, Đức Thế Tôn cũng đã tuyên thuyết rằng:
--“Minh, minh”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, như thế nào là minh? Cho đến như thế nào, một người là minh?
-- Ở đây, này Tỷ-kheo, bậc Đa văn Thánh đệ tử biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt
…biết rõ thọ … biết rõ tưởng … biết rõ hành … biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.
Này Tỷ kheo, đây gọi là minh. Và cho đến như vậy, một người là minh. (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, bài kinh Minh)
--“Vô minh, vô minh”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, như thế nào là vô minh? Cho đến như thế nào, một người là vô minh?
-- Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không biết rõ sắc, không biết rõ sắc tập khởi, không biết rõ sắc đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt
… không biết rõ thọ … không biết rõ tưởng … không biết rõ hành … không biết rõ thức, không biết rõ thức tập khởi, không biết rõ thức đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt.
Này Tỷ kheo, đây gọi là vô minh. Và cho đến như vậy, một người là vô minh. (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, bài kinh Vô Minh)
Qua đó chúng ta thấy rằng, trong Tương Ưng Bộ Kinh II, phần Tương Ưng Nhân Duyên, bài kinh “Phân Biệt”, Đức Thế Tôn định nghĩa “vô minh là không thấy được Tứ Thánh Đế”; còn trong bài kinh “Vô Minh”, Tương Ưng Bộ Kinh III, Đức Thế Tôn định nghĩa “vô minh là không thấy biết được ngũ uẩn, không thấy được nhân quả sanh diệt của ngũ uẩn”. Vậy, hai điểm này có khác nhau không? Nếu chúng ta nhìn theo góc độ nghiên cứu bình thường thì sẽ thấy là khác nhau, nhưng thật sự là không khác.
Ngoài ra, trong bài kinh “Khổ Pháp”, Đức Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, sắc thủ uẩn là khổ, thọ thủ uẩn là khổ, tưởng thủ uẩn là khổ, hành thủ uẩn là khổ, thức thủ uẩn là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ.” (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, IV. Phẩm Rắn Độc, bài kinh Khổ Pháp). Như vậy, vô minh còn có nghĩa là không thấy biết về năm uẩn và năm uẩn là khổ pháp. Chúng ta thường gặp cụm từ “Đây là khổ” trong kinh Nikāya, mình cần hiểu chữ “đây” nghĩa là ngũ uẩn, gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Một bậc Đa văn Thánh đệ tử đọc nhiều kinh tạng sẽ thấy được nhiều góc độ, khía cạnh của vô minh. Mỗi một lần đọc thêm bài kinh khác là làm sáng tỏ thêm cho bài kinh mình đã học trước đó.
Như vậy, ai không thấy sắc này là khổ, người đó là vô minh. Không thấy được thân người, tài sản, cảnh vật và mọi thứ xung quanh đều là khổ thì người đó vô minh, tối tăm, mê muội.
Quán chiếu Khổ thánh trí
Chúng ta cần nhìn thấy được thân xác này, đời sống này, cảm giác này sanh khởi hoài, đòi hỏi hoài, khao khát, tìm kiếm, bức xúc, bực bội, hơn thua, sân si hoài. Đồng thời thấy được những nghĩ tưởng, tư tưởng, suy tư, hình bóng, thấy biết, nhận thức đưa đến bực bội, đúng sai, thị phi là khổ đau. Khi thấy biết như vậy là minh, còn không là vô minh.
Khi thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là khổ đau thì đó không phải là trí tuệ của phàm phu mà là trí tuệ của bậc Thánh. Vì vậy, công cuộc tu này là đem sự thấy biết của phàm phu đưa vào tri kiến của bậc Thánh, lấy cái thức đưa vào trí, vào tuệ, để an trú trong trí tuệ của bậc Thánh. Đó là chúng ta tu tập thức uẩn mỗi ngày, đòi hỏi mình phải tập dần dần, tập trong mọi lúc, không chỉ lúc nghe pháp, ngồi thiền mà cả những lúc sinh hoạt thường nhật, suy nghĩ, nói chuyện, làm việc bình thường.
Bên cạnh đó, cần tu tập suy nghĩ, tác ý theo chiều của sự thật, của chân lý, không theo tình cảm của phàm phu. Như vậy, chúng ta không chỉ làm lắng dịu cảm thọ, tác ý những ý hành mà còn phải tu trong thức uẩn, chuyển thức thành trí. Khi thấy điều gì, biết điều gì, nghe điều gì, cảm nhận điều gì, thức tri cái gì đều phải đưa vào tri kiến, trí tuệ của bậc Thánh, của Đức Thế Tôn truyền trao cho mình. Chúng ta đã luân hồi, sanh tử bao nhiêu kiếp sống chỉ bởi những thấy biết thông thường, những tình cảm, cảm xúc phàm phu, những nghĩ, tưởng thấp hèn, hạ liệt. Chính vì vậy, phải phá đổ, phá tan, phá vỡ những sai lầm đó để chuyển vào sự thấy biết của bậc Thánh, của Thánh trí, của Tuệ giác, như vậy thì chúng ta mới phá được vô minh.
Hơn nữa, sự tu này không chỉ đọc kinh, học kinh mà còn phải ứng dụng, liên hệ, áp dụng pháp vào đời sống. Có một vị Sư được Minh Thành xuất gia, vào dịp Tết có đến thăm và nói: “Người nào hiểu pháp mới hiểu Sư phụ, người nào thấy pháp mới thấy được Sư phụ”. Minh Thành rất xúc động khi nghe Thầy ấy chia sẻ như vậy, vì cả trái tim, cả sinh mạng, cả đời sống của Minh Thành là cầu pháp, thực hành pháp, truyền trao pháp. Với một người không hiểu, không thấy pháp dù cho đang bên cạnh thì cũng giống như ở rất xa Minh Thành. Ngược lại, một người thấy pháp, có thực hành pháp thì dù cho ở xa nửa vòng Trái Đất thì chẳng khác gì đang gần nhau và cùng gặp nhau với sự tương thông, tương cảm trong sự thật tối thượng của Chánh Pháp. Cho nên, không hiểu pháp làm sao hiểu được Minh Thành. Không thấy pháp làm sao thấy được Minh Thành. Không thực hành pháp làm sao làm việc cùng với Minh Thành. Không sống trong pháp làm sao cùng sống được với Minh Thành. Bởi từng hơi thở, lời nói, hành động, suy nghĩ, cảm thọ của Minh Thành là pháp. Toàn bộ đời sống, sinh mạng của Minh Thành là pháp.
Đức Thế Tôn đã nói như sau: “Ai thấy được lý Duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp người đó thấy được lý Duyên khởi”. (Trung Bộ Kinh, 27. Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi). Trong đó, lý duyên khởi là tính chất chấp vá, kết hợp, vay mượn, lắp ráp, nương dựa của tất cả thân, tâm và thế giới. Cùng với tính chất trống rỗng, trống không, trống trơn của vạn vật, tính vô thường, khổ đau của của mọi sự vận hành trên cuộc đời này.
Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh.
(Kinh Pháp Cú, Phẩm Đạo)
Do thấy biết tất cả sự vận hành là trống không, vô ngã, trí tuệ nhìn nên sẽ phát sanh sự nhàm chán đối với những thứ trống rỗng, trống không, vô tình, vô nghĩa, đây chính là con đường thanh tịnh. Ai thấy được sự thật của cuộc đời này thì vị đó thấy được Đức Phật, không thấy được sự thật thì dù có ở kế bên tượng Phật cũng chỉ thấy giả tướng, hình tượng vô thường mà thôi. Cho nên chính những người đệ tử, bỏ gia đình, cạo tóc theo Minh Thành, nhưng không hiểu pháp thì cũng là xa vạn dặm, đối diện mà chẳng có tương phùng.
Chúng ta chẳng là ai cả, thân tâm này chỉ là một đống thịt, máu, xương, da ở bên ngoài, còn bên trong chất chứa đầy tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Dần dần tấm thân này đi đến cạn kiệt, diệt tận, cùng với những dục, tham, ái ngày đêm sanh khởi, vận hành để tìm lấy khổ, tạo khổ và tiếp tục hành trình của khổ đau. Chúng ta phải thấy rằng, không có ai ở đây cả! Không có một tự ngã nào! Tất cả chỉ là những đống dục, tham, ái, vô minh, bản ngã đang ngày đêm chế tác ra đau khổ, hành hạ, hành tội, làm khổ mình và người khác. Cuối cùng, đời sống này chỉ đầy nước mắt, lo lắng, bất an, sợ hãi và khổ sầu.
Như lầu sò chợ bể
Như bọt nước trôi sông
Nếu nhìn đời như thế
Thần chết sẽ nản lòng.
(Kinh Pháp cú, Phẩm Thế Gian)
Trong biển khổ mênh mông này, chúng ta chỉ là những đống bọt nước trôi nổi, thăng trầm; là những đống bọt rực lửa, đầy tham, sân, si, ngã mạn, vô minh, chỉ biết sống trong sự đấu đá, cạnh tranh, tranh giành, chiến tranh. Bồng bềnh, trôi nổi trên biển khổ của cuộc đời này là những đống bọt, chùm bọt, hòn bọt đang làm khổ, làm hại chính mình và người khác. Những đống bọt vô thường, tạm bợ này đang chuốc thù hận, oán hờn cho nhau.
Thật sự đáng thương cho đời sống quờ quạng giữa trời đêm này! Chúng ta nói chuyện với cha, với mẹ bằng những lời nói của bản ngã; nói với thầy bằng sự hơn thua; nói với huynh đệ bằng những lời ta đây, phải trái; cư xử giữa vợ chồng bằng những hành động tổn thương, làm cho nhau đau đớn, dày vò, làm cho nhau tức tưởi, khổ sầu. Tất cả những điều đó đều do vô minh chi phối.
Chúng ta thật sự đáng thương! Tất cả mọi suy nghĩ, lời nói, hành động chỉ để thoả mãn cái tôi, cái ta và làm hả dạ cho cảm giác sân hận. Sau đó dù phải vào tù, thậm chí phải chết hay sống trong hối hận, day dứt car đời cũng cam chịu. Chúng ta chỉ là những đống cảm giác sân hận, vô minh, bản ngã, giành giựt, tranh đấu. Chúng ta không nhìn thấy được những dòng nước mắt đã tuôn chảy, mà vẫn vỗ ngực, xưng tên như một bao rác đầy hôi thối. Vậy mà cứ tự vỗ vào ngực để phô trương bản ngã, lớn giọng nói “ta đây”. Những bao rác này bốc lên mùi ganh tỵ, tật đố, xảo trá, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ mọn, tham lam, gian trá, xảo nguỵ, xảo quyệt, mưu mô. Đầy rẫy trong thân tâm này toàn là rác bẩn, cấu nhiễm và bất tịnh. Vậy mà mỗi khi gặp chuyện không vừa ý là phình trương lên bản ngã, vỗ vào ngực và hỏi “biết tôi là ai không?”. Sự vô minh, đau khổ, sai lầm của chúng ta và hữu tình chúng sanh thật sự không thể diễn tả, thậm chí khi vào chùa rồi mà vẫn ta đây, bản ngã càng thêm nhiều. Cho nên nói, cái khổ lớn nhất trong tất cả cái khổ là không biết mình khổ. Cái vô minh sâu dày nhất trong tất cả các vô minh là không biết mình vô minh.
Người ngu nghĩ mình ngu
Nhờ vậy thành có trí
Người ngu tưởng có trí
Thật xứng gọi chí ngu.
(Kinh Pháp Cú, Phẩm Ngu)
Ngu ở đây tức là vô minh. Ngu muội mà biết là mình đang ngu muội thì ngay lúc đó mình trở thành người có trí. Ngược lại, mình ngu mà cho là mình có trí thì Đức Thế Tôn gọi đây là “chí ngu”, tức là tột cùng của sự ngu muội, chính là đại vô minh. Vô minh mà biết mình vô minh, nhờ vậy trở thành tuệ trí; vô minh mà cho mình tuệ trí, thật gọi là đại vô minh. Phải học về vô minh cho thật kỹ để biết được sự vô minh của mình ở mức độ nào và lúc đó chúng ta mới đạt được minh trí. Bằng không, lúc bình thường, gặp người khác đang sân hận, bực bội thì mình thấy ngay là họ vô minh. Thế nhưng, đến lúc mình đang vô minh, bản ngã, nếu có người đến nhắc rằng mình vô minh, bản ngã thì khi đó sự vô minh lại càng phình ra thêm, bản ngã lại càng trương ra thêm.
Thắp đèn trí tuệ
Cho nên, hằng ngày phải tụng, đọc những lời Thánh ngôn, rồi chiêm nghiệm thật nhiều. Mặc dù thường xuyên cùng nhau nhắc nhở, nghiền ngẫm đến thấm thía vô cùng nhưng lúc buông ra là chúng ta lại sống với vô minh. Nếu không chú tâm, chăm chỉ chiêm nghiệm, thiền quán, lễ lạy sám hối diệt ngã hằng ngày thì vô minh này sẽ dẫn dắt chúng ta tới địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, đi vào những thân cọp, sói, rắn, bò, mèo, chó. Nếu mình không nhìn ngó, dò xét, quản thúc, giáo dục, dạy dỗ thân tâm này, không chẻ cái đầu đầy si mê, vô minh ra thì nó sẽ dẫn dắt mình vào chảo dầu sôi, vào biển lửa, lên núi đao, xuống vực sâu, vào hố than hừng.
Mỗi ngày trôi qua, phải luôn luôn tha thiết, ưu tư, da diết, lo lắng, sợ hãi vì vô thường, bất trắc, đột biến, đột quỵ, đột tử có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Chỉ trong mấy ngày Tết đã có hơn ba trăm người chết và bị thương. Hằng ngày, có hàng vạn người nhiễm dịch bệnh. Hằng ngày trên thế giới có bao nhiêu người đã chết, phải đi vào lò thiêu, vậy mà chúng ta không để tâm đến và cứ sống trong sự lãng quên, thất niệm, si mê, si ám, bóng tối, mù loà, bóng đêm và nhận lấy toàn đau khổ.
Vì vậy, chúng ta hãy mở mắt ra, thắp đèn lên, cho mặt trời chiếu rọi rực rỡ, soi sáng vào tất cả mọi ngách của thân, tâm. Mọi cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức đều phải đưa Khổ Thánh Trí chiếu soi vào. Phải biết thương mình, đừng làm hại chính mình.
Đừng tạo thêm oan trái,
Đừng tạo thêm đắng cay
Đừng tạo nên khổ ải
Cho kiếp người của nhau.
(Cửa Vào Bất Tử)
Hãy nhìn cho thật sâu sắc và tác ý mỗi ngày, còn một hơi thở này là mình còn tu, còn thực hành công phu; còn một hơi thở này là mình còn làm công quả; một ngày thức dậy còn được thấy ánh sáng bình minh là mình còn vun trồng phước huệ, gieo bồi, tích tụ công đức; còn một ngày được sống là mình còn nuôi dưỡng, tưới tẩm Khổ Thánh Trí trong cuộc đời này. Nếu một ngày kia dù có bất thình lình, bất chợt, bất trắc, bất thường, đột ngột, đột biến, đột tử mà phải ra đi, từ bỏ mạng sống này thì chúng ta cũng mỉm cười hài lòng. Bỡi lẽ, cả cuộc đời này, không giây phút nào mà ta không quán chiếu về sự thật của thân, tâm; không có khoảnh khắc nào ta lơ đễnh trong sự nhận diện ngũ uẩn. Cả cuộc đời ta đã đem tất cả thời gian, sinh mạng vun trồng phước huệ; cả cuộc đời ta đã chất chứa, tích tụ công đức và bây giờ ta bỏ chiếc áo cũ này ra đi, thay bằng chiếc áo mới, ta bước lên những cảnh giới hiền thiện, hiền thánh của bậc Thánh đệ tử. Khi đó, ta có thể nhẹ nhàng nở một nụ cười bình an.
Chúng ta hãy nỗ lực tu tập như vậy, đừng để mình phải từ giã cõi đời này trong sự hối hận, hối tiếc muộn màng. Hãy sống tròn bổn phận, sống đẹp với đời, diệt tham sân si, thoát ly ngũ uẩn. Tất cả chúng ta thật sự có đầy đủ phước báu và vô cùng hạnh phúc vì mỗi buổi sáng đều được tưới tẩm bằng sự vang ngân của Thánh pháp trên non thiêng núi thánh này. Những sự thật về đời sống này được trùng tuyên, tuyên thuyết, hiển lộ để đón chào một ngày mới và chúng ta đều được tắm mình, gội rửa trong Thánh trí tuệ, trong tri kiến của bậc Thánh vào mỗi buổi sớm mai.
./.