Tương Ưng KOSALA 2 - Đế Vương & Pháp Vương - Ai Bảo Vệ Mình
Kinh Nikāya Giảng Giải
TƯƠNG ƯNG KOSALA 2
ĐẾ VƯƠNG & PHÁP VƯƠNG
AI BẢO VỆ MÌNH?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tự bảo vệ mình PAGEREF _Toc113978592 \h 1
II. Thiện và bất thiện PAGEREF _Toc113978593 \h 3
III. Chánh Niệm PAGEREF _Toc113978594 \h 9
IV. Bố thí PAGEREF _Toc113978595 \h 10
V. Ly dục – ly tham PAGEREF _Toc113978596 \h 13
I. Tự bảo vệ mình
Hiện tại tình hình dịch bệnh rất nghiêm trọng, có nhiều quý thầy, quý cô nhiễm bệnh, thậm chí có người đã qua đời. Thật sự rất xót xa cho nên chúng ta cần tinh cần tu học trong các thiện pháp, vững tâm lo lắng để tu chứ không phải sợ hãi rồi dao động. Khi sắt gặp nam châm sẽ bị lực hấp dẫn hút dính vào nhau, tất cả đều là nghiệp quả của chúng sanh, chỉ có phước báo mới cứu được mình, chỉ có chính mình mới bảo hộ được mình.
"Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con đang ngồi yên tịnh một mình, tư tưởng này khởi lên nơi con: Ðối với những ai, tự ngã được bảo vệ? Ðối với những ai, tự ngã không được bảo vệ? Và rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau:
'Những ai thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, những người ấy không bảo vệ tự ngã. Dầu cho họ được tượng binh bảo vệ, hay được mã binh bảo vệ, hay được xa binh bảo vệ, hay được bộ binh bảo vệ; đối với những người ấy, tự ngã không được bảo vệ. Vì cớ sao? Vì sự bảo vệ như vậy là bảo vệ ở ngoài, không phải sự bảo vệ bên trong. Cho nên đối với những người ấy, tự ngã không được bảo vệ.
Và những ai thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, những người ấy bảo vệ tự ngã. Dầu cho họ không được tượng binh bảo vệ, hay không được mã binh bảo vệ, hay không được xa binh bảo vệ, hay không được bộ binh bảo vệ; đối với những người ấy, tự ngã được bảo vệ. Vì cớ sao? Vì sự bảo vệ như vậy là sự bảo vệ bên trong, không phải sự bảo vệ ở ngoài. Cho nên đối với những người ấy, tự ngã được bảo vệ'.
Lành thay bảo vệ thân!
Lành thay bảo vệ lời!
Lành thay bảo vệ ý!
Lành thay tổng bảo vệ!
Kẻ liêm sỉ bảo vệ,
Tổng quát và cùng khắp,
Vị ấy có tên gọi,
Là vị được bảo vệ".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Tự Bảo Hộ)
Chúng ta thường nghĩ là do Phật trời, chư thiên hay ai đó gia hộ, cứu độ, phù hộ, giúp đỡ mình nhưng hôm nay chúng ta được nghe chính bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nói cho biết người được bảo vệ là người như thế nào, vì thế cái nghĩ của mình theo phàm phu thường tình nên thường không đúng, như vậy bài kinh này gọi là Tự bảo hộ, Đức Phật kết luận rằng "Vị ấy có tên gọi, Là vị được bảo vệ".
Như thế nào gọi là vị được bảo vệ, vị được gia hộ, được quý nhân ủng hộ? Quý nhân là những người quyền quý có khả năng lớn, có thế lực, tiền của. Vua Ba-tư-nặc ngồi yên tịnh một mình suy nghĩ đối với những ai mà chính họ được bảo vệ và đối với những ai chính họ không được bảo vệ, những ai có ba khẩu đều ác là những người đó không tự bảo vệ được cho chính họ, xuyên suốt trong tạng kinh Nikāya đều nói về thiện và bất thiện. Người nào có suy nghĩ ác, miệng nói lời ác, thân làm hành động ác thì những người đó sẽ không bảo vệ được chính họ dù cho họ "được tượng binh bảo vệ, hay được mã binh bảo vệ, hay được xa binh bảo vệ, hay được bộ binh bảo vệ".
Tượng binh là quân lính ngồi trên voi, mã binh là quân lính ngồi trên ngựa, xa binh là binh lính ngồi trên xe, bộ binh là binh lính chạy bộ, bốn loại binh chủng này có theo bảo vệ nhưng chính họ cũng không được bảo vệ vì đó chỉ là sự bảo vệ ở bên ngoài chứ không được bảo vệ bên trong. Đây là những gì vua nói nên đều tầm cỡ to lớn, dù cho có được hàng hàng lớp lớp tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh bảo vệ nhưng tự thân người đó suy nghĩ ác, nói lời ác, hành động ác thì cũng không được bảo vệ, cho dù người đó có là đại tướng quân nhưng có hành động ác vẫn bị giết như thường, sống không có tình nghĩa mà chỉ lợi dụng thuộc hạ rồi đàn áp, bóc lột thì cũng có ngày bị làm phản, cho nên vua Ba-tư-nặc đã nói "sự bảo vệ như vậy là bảo vệ ở ngoài, không phải sự bảo vệ bên trong", chỉ có nghiệp là người thân bên cạnh mình, mà nghiệp là những suy nghĩ, nói năng, hành động.
Ngược lại những ai thân làm thiện, miệng nói thiện, suy nghĩ thiện thì người đó sẽ bảo vệ chính họ dù cho không được tượng binh, mã binh, xa binh hay bộ binh bảo vệ, đó là sự bảo vệ bên trong chứ không phải sự bảo vệ bên ngoài. Mình làm chủ mà vênh váo, hống hách, kêu căng thì người làm thuê cho mình không thương mến, quý trọng mình, đã từng có vụ án người làm thuê giết hết cả năm mạng người trong nhà người chủ vì thường xuyên bị người chủ la mắng, đánh đập, tức nước vỡ bờ nên người thanh niên mới ngoài hai mươi đã giết chết cả nhà người chủ, cho nên chính lời nói ác, hành động ác, ý nghĩ ác, sự kiêu căng, hách dịch, ta đây, ỷ mình là chủ giàu có rồi đè đầu cưỡi cổ người ta đã hủy hoại họ chứ không phải người làm thuê hủy hoại người chủ, đây là chỗ sâu sắc.
Bình thường mình cứ nghĩ người kia giết hại người nọ, người kia đâm chém người nọ, nếu người chủ đối xử công bằng, quan tâm, lo lắng, yêu thương, bao dung, tha thứ thì làm sao xảy ra vụ án mạng khủng khiếp đó, vì thế những ai thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, những người ấy sẽ bảo vệ chính họ, ở trong nhà vợ chồng với nhau mà nói chuyện một chút là cự cãi, nói móc nhau thì gia đình sẽ bất an, đau khổ, nhất là trong thời điểm này nếu không biết tu là sân hận, bức xúc, bực bội, đó là họ không biết tự bảo vệ họ, không biết tự yêu thương chính họ.
Những ý nghĩ, lời nói, hành động của mình sẽ thể hiện sự yêu thương của mình, nếu nói lành, nói thiện, nói từ ái, ấp áp, ngọt ngào, dịu dàng, êm ái thì cái đó chính là yêu thương mình, yêu thương những người thân xung quanh, bảo vệ mình, bảo vệ những người thân trong gia đình mình. Đối với ba hành thiện là nói thiện, làm thiện, nghĩ thiện và ba hành ác là nói ác, làm ác, nghĩ ác này được Đức Phật ví dụ cách xa nhau như bờ biển này với bờ biển kia, cách xa nhau như trời với đất.
II. Thiện và bất thiện
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn sự việc này, rất xa, rất xa với nhau. Thế nào là bốn?
Trời và đất, này các Tỳ-kheo, là sự việc thứ nhứt rất xa, rất xa với nhau.
Bờ biển bên này, này các Tỳ-kheo với bờ biển bên kia, là sự việc thứ hai rất xa, rất xa với nhau.
Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các Tỳ-kheo, đến chỗ mặt trời lặn xuống, là sự việc thứ ba rất xa, rất xa với nhau.
Pháp của hạng người bất thiện, này các Tỳ-kheo, với pháp của hạng người thiện, là sự việc thứ tư rất xa, rất xa với nhau.
Này các Tỳ-kheo, đây là bốn sự việc rất xa, rất xa với nhau này".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (VII). Rất Xa Xăm)
Cái thiện và ác không đơn giản như mình nghĩ, chỉ với một ý nghĩ thôi là đã tự hủy hoại mình, tự nhận chìm mình xuống vũng sình lầy, làm sụp đổ hết tất cả sự nghiệp hoặc đạo nghiệp, một lời nói thôi làm tan vỡ, tan nát mọi thứ, một hành động không tỉnh giác chánh niệm làm đổ vỡ tất cả. Một người yêu thương muốn quan tâm, chăm sóc, chỉ dạy mà mình không biết trân trọng, mình bản ngã, ta đây, khó chịu rồi người ta không chỉ dạy nữa là mình mất đi cơ hội của hiền Thánh chứ không chỉ là cơ hội bình thường, chính tự thân người đó cũng không hề hay biết vì thế để nhìn thấy thiện và bất thiện là cả một trí tuệ thâm sâu chứ không đơn giản như mình biết vì Thánh trí ngũ uẩn rất sâu sắc.
"Lang thang trong sanh tử,
Lành dữ chẳng tỏ tường,
Mượn nghiệp hiền, nghiệp thiện
Làm chỗ để náo nương".
(Cửa vào bất tử)
Muốn tỏ tường được thiện hay bất thiện thì phải thành tựu chánh tri kiến, mà chánh tri kiến trong kinh Nikāya có hai cấp độ, một là chánh tri kiến hữu vi (hữu lậu) và hai là chánh tri kiến vô vi (vô lậu). Chánh kiến hữu lậu là phân biệt được nhân quả thiện ác và nghiệp báo, người này rành rẽ cái nào thiện, cái nào bất thiện, đó là bậc chánh tri kiến của thế gian, là bậc hiền nhân. Chánh tri kiến vô lậu là thấy được ngũ uẩn, tính chất vô thường, khổ, vô ngã, tan nát, biến hoại và hướng đến sự nhàm chán, rời xa, đó là chánh kiến vô lậu của bậc Thánh.
Khi nhìn thấy sự vận hành của nhân quả, thấy cấu trúc, dị thục của nhân quả, thấy được bộ máy, định lý, kiến tạo, vận hành, diễn biến, nhân quả hệ của nó thì đó là chánh kiến của bậc hữu lậu, thấy tới đó là đã thành tựu bậc hiền nhân, người nào thấy được như vậy, tu tập như vậy thì người này không rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Còn vị nhìn thấy ngũ uẩn, thấy tính chất vô thường, hủy hoại, tan nát và thấy bằng tri kiến thành tựu thì đó là cái chánh tri kiến vô lậu của bậc Thánh, bậc hiền trong Phật giáo đa số là vô văn phàm phu, câu nói "lành dữ chẳng tỏ tường" nhằm ám chỉ vô văn phàm phu nhưng đừng nghĩ vô văn phàm phu là những người không biết tu, còn biết tu là không phải vô văn phàm phu, hình thức bề ngoài không quan trọng nhưng tri kiến bên trong mới quyết định là bậc phàm, hiền hay Thánh. Vì thế để nhìn thấy nhân quả hệ, sự vận hành của nhân quả nghiệp báo, thiện ác thật sự là cả một sự tu học sâu sắc, quán chiếu, thiền tập liên tục.
"Do nhân không hiền thiện
Nên quả phải khổ đau
Thế mà trong đau khổ
Ta luôn hỏi vì sao.
Thương cho ta đau khổ
Mà chẳng hiểu vì sao
Thương cho ta bất hạnh
Mà chẳng biết vì sao".
(Cửa vào bất tử)
Biết bao câu hỏi tự đặt ra "tại sao tôi lại khổ", "tại sao tôi phải lâm vào tình cảnh này", "số tôi tại sao lại khổ quá vậy"… Thật sự là do chính ta tạo hết nhưng chúng ta lại chẳng biết gì cả vì thế mới có câu "lành dữ chẳng tỏ tường". Khi khổ là than trời trách đất, than thân trách phận, hận đời hận người, chúng ta đổ thừa lung tung nhưng đối với người thành tựu chánh kiến nhân quả họ sẽ không trách móc bất kì ai cả, tâm người này bình an chứ không lo lắng, sợ hãi, thấy được nhân quả nghiệp báo là không còn sợ gì nữa, còn sợ hãi là còn chưa hiểu nhân quả nghiệp báo, chưa thành tựu chánh kiến về nhân quả, về nghiệp báo.
Lành thay bảo vệ thân!
Lành thay bảo vệ lời!
Lành thay bảo vệ ý!
Lành thay tổng bảo vệ!
Kẻ liêm sỉ bảo vệ,
Tổng quát và cùng khắp,
Vị ấy có tên gọi,
Là vị được bảo vệ".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Tự Bảo Hộ)
Trở lại câu hỏi ban đầu, ai là quý nhân, ai là người cứu độ cho mình? Chỉ có nghiệp thiện mới bảo vệ mình, nói cách khác là phước báo của mình, còn người hại mình chính là tội lỗi, nghiệp ác. Bình thường mình có đồ là chia sẻ cho hàng xóm, nhà có đám tiệc là mời mọi người qua, người ta có hữu sự là mình qua giúp, đến khi mình có chuyện người ta sẽ qua giúp lại, thậm chí mình chưa mở lời là người ta đã qua rồi, đó là tự mình giúp mình, nhìn bề ngoài thấy hàng xóm giúp nhưng thật sự chính mình giúp mình, lúc bình thường mình đối xử tốt lành, quan tâm mọi người, lúc mình có hữu sự người ta giúp lại, đó là sự đáp trả lại của thiện nghiệp mình đã làm từ trước.
Nếu bình thường ai sống mặc ai, người ta có khó khổ, tai họa, đói nghèo mình cũng không quan tâm, đến khi mình có chuyện sẽ không ai giúp lại mình, đó là tự mình làm khổ mình. Đây là chỗ sâu sắc, phải nhìn thấy mọi thứ đều xuất phát từ bản thân mình, nói rộng đến chư thiên cũng vậy, nhiều người nghĩ rằng đó là Bồ-tát nhưng thực tế đó là chư thiên gia hộ nhưng cũng phải phải tự nhiên được chư thiên gia hộ, mình và vị chư thiên đó trong đời trước đã từng có sự qua lại giúp đỡ lẫn nhau cho nên bây giờ vị chư thiên đó đến vì cái nghiệp lành quá khứ của mình đã giúp đỡ họ, cũng giống như hàng xóm giúp đỡ nhau, đó gọi là quý nhân giúp đỡ, được chư thiên bảo hộ, chính là phước nghiệp của mình, những thiện nghiệp, từ tâm, bi tâm, chính những thiện pháp đó đáp đền, đền trả lại cho mình.
Tuy nhiên có những trường hợp mình bị ăn cắp, ăn trộm, bị đánh đập, chửi rủa, thậm chí giết mình, ở trên là trả ơn còn giờ là đến đòi nợ mình, tất cả những việc đòi-trả đều từ nghiệp mà ra, mà nghiệp chính là những suy nghĩ, lời nói, hành động. Dịch bệnh cũng vậy, trong nhà năm người mà ba người nhiễm còn hai người kia không bị, đó là do nghiệp quả của họ, những ân oán, oan gia trái chủ với những chúng sanh nhỏ li ti mắt thường không thấy được, những chúng sanh đến đó đòi nợ những ác nghiệp trong quá khứ và nếu mình không thiếu nợ thì không sợ bị đòi nợ, có thiếu cũng không né tránh được cho nên cẩn thận với thông điệp 5K của bộ y tế nhưng khi nghiệp đến thì chạy cũng không khỏi, còn không có nghiệp thì sẽ không tới mình, cứ an tâm tu học, hành đạo, căn nhà đã cửa chốt then cài kĩ lưỡng thì làm sao người lạ vào nhà được, còn giờ nhà cửa mở toang hoang thì dù là con nít hay mèo chó gì cũng vào nhà được, cho nên:
"Lành thay bảo vệ thân!
Lành thay bảo vệ lời!
Lành thay bảo vệ ý!
Lành thay tổng bảo vệ!"
Vì thế sự phòng hộ, hộ trì, giữ gìn thân – miệng – ý là tuyệt đối quan trọng, cái đó Đức Phật gọi là thiện tai, thiện tai, nghĩa là lành thay, lành thay, hạnh phúc thay, an lạc thay, quý báu thay sự bảo vệ thân – miệng – ý, quán sát mỗi suy nghĩ, kiểm tra mỗi lời nói, soi rọi mỗi việc làm hành động, đó là mình tự bảo vệ chính mình, cũng là quý nhân giúp đỡ, chư thiên gia hộ, là Bồ-tát độ trì chứ không phải tự động có người giúp mình. Nhà vua đã nói "sự bảo vệ như vậy là sự bảo vệ bên trong, không phải sự bảo vệ ở ngoài", không phải phước lành ở bên ngoài, không phải người khác đến bảo vệ mình, cũng như ví dụ hàng xóm, phải tự mình có những lời nói, hành động quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ người ta trong lúc nguy cấp, đó là sự từ ái, tình thương cho nên khi có hữu sự thì những thiện lành đó, từ ái đó sẽ được đáp trả trở lại.
"Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình".
(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu, kệ 02)
Người xưa có câu "thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình, tam thế nhân quả, tuần hoàn bất thất", nghĩa là quả báo những điều xấu như bóng theo hình và nhân quả ba đời vẫn không mất. Không phải tự nhiên người nào cũng được yêu thương, lo lắng mà mình không được, phải xem lại thân – khẩu – ý của mình, hoặc như chỗ đó ai cũng bị bệnh ngoại trừ mình, cái đó không phải do may mắn mà do phước lành của họ, còn cái kia là do nghiệp ác của họ. Một đứa trẻ sơ sinh nằm ngủ chẳng mau bị rắn hổ mang bò vào cắn chết, đó là oan gia trái chủ đến để đòi nợ, không ai bảo vệ được bản thân.
Minh Thành ở trong thất đọc kinh trên ghế thì bất ngờ cái ghế bị sụp xuống, chỗ nào cũng có thể tiềm ẩn tai họa, nguy hiểm, vô thường, những lúc bình thường phải chuẩn bị để khi xảy ra hữu sự mới có sự bình tâm, những suy nghĩ, lời nói, hành động thiện lành chính là quý nhân của mình. Trên đời này không có ai tự động đem tiền đến cho mình, không ai tự nhiên giúp mình mà đó là sự đáp đền, trả nợ, còn lại là đến đòi nợ nhưng ai đến trả nợ là mình thích thú, vui vẻ, còn người đến đòi nợ là mình sân si, bực bội, tức giận tạo thêm nghiệp mới, khi nghiệp cũ đến đòi nợ không những mình không trả mà còn trả đũa thẳng tay thế là tạo thêm nghiệp mới.
Đang ngồi nghe pháp mà bị muỗi chích là giật mình sân hận rồi đập muỗi, không thì mua cây vợt điện bắt muỗi, thế là tạo thêm nghiệp mới, ngay đó mình phải thấy mình đang bị đòi nợ, những việc nhỏ này mình phải để ý để khi có chuyện lớn đến mình sẽ biết đó là chủ nợ của mình. Phải rất chánh niệm và tỉnh giác, dùng tâm từ nhẫn để hóa giải nghiệp, hóa giải oan gia trái chủ, điều này rất quan trọng vì nếu không biết ai là chủ nợ, ai là con nợ sẽ rất nguy hiểm, mình thiếu thì giờ người ta đến đòi thôi, vì mình mù, tâm mờ tối không phân biệt được ai là chủ nợ, ai là con nợ nên mình làm rối mọi thứ, thiếu nợ bị đòi không những không trả mà còn chửi người ta, đánh người ta, người ta phản kháng lại thì mình than trời "sao tôi khổ quá vầy nè".
Ông trời không làm mình khổ, mình thiếu nợ bị đòi rồi mình không trả mà còn chửi lại người ta, kéo người đến đánh người ta thì người ta phải chống trả lại thôi, đó là hình ảnh có thực ngoài đời cũng là hình ảnh để chúng ta hiểu sâu sắc cách hành xử khi nghiệp quả đến với mình, cách hành xử của vô minh, ngu si, bản ngã là không trả nợ mà còn phản ứng lại, nhưng đó lại là cách mà chúng ta thường thấy, thường hành động.
III. Chánh Niệm
Có người lại gây sự, kiếm chuyện là mình bực bội, sân hận, mình làm đủ thứ chuyện mà không biết đang bị chủ nợ đến đòi nợ, vì thế cần khéo bảo vệ thân, bảo vệ lời, bảo vệ ý, bảo vệ như vậy là tự bảo vệ chính mình, ba mẹ, anh em, cô dì, chú bác thân tộc cũng chỉ là ở bên ngoài nhưng cái thật sự bảo vệ mình chính là thân – khẩu – ý của mình vì khi mình nói ra không ai ngăn mình lại được, khi mình đánh người ta thì ông bà đến cũng can không kịp, khi làm gì, đi đâu cũng phải cẩn trọng với suy nghĩ, lời nói, hành động, cũng phải có sự chánh niệm và tỉnh giác, đó là sự bảo vệ tối thượng trong tất cả sự bảo vệ, không có bất kì tượng binh, xa binh, mã binh hay bộ binh nào bảo vệ được ngoại trừ chánh niệm và tỉnh giác chiếu soi năm uẩn, chỉ có cái này mới bảo vệ được mình. Có một pháp đưa vào bất tử, đưa vào an toàn, đưa mình đến gặp quý nhân, chân nhân, hiền nhân, Thánh nhân, đưa mình đến an lạc tối thượng là luôn tỉnh giác chiếu soi năm uẩn.
"Có một Pháp dẫn vào Bất Tử
Có một Con đường đến Vô Sanh
Có một Phương cách Thoát Luân Hồi
'Tâm Tỉnh Giác Chiếu Soi Năm Uẩn'"
(Cửa vào bất tử)
Đó chính là sự bảo vệ tối thượng, mình đừng nghĩ có con chó dữ là bảo vệ được mình, có trường hợp giống chó dữ quay lại cắn chủ nhân, khi không có trí tuệ sẽ hại chính mình vì mình cứ nghĩ nó giúp mình nhưng lại hại mình, có người mua rồng Nam Mỹ về nuôi, cũng có người nuôi cọp trong nhà bị cọp vồ chết, đó là chính ý nghĩ muốn nuôi những con vật đó làm họ mất mạng và nghiệp quả khiến cho họ phải nghĩ như vậy, oan gia trái chủ với con thú đó khiến họ suy nghĩ, hành động như vậy và cuối cùng người chủ chết dưới răng và móng vuốt của những con thú mà họ nuôi cho nên Đức Phật nói quả dị thục của nghiệp là bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng được, nếu người nào suy nghĩ thì người đó có thể bị điên loạn.
"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII). Không Thể Nghĩ Ðược)
Nếu không có chảnh niệm tỉnh giác nhìn thấy những thọ; tưởng; hành đó sẽ rất nguy hiểm, chính những lời nói, suy nghĩ, hành động thiện sẽ bảo vệ mình. Bình thường cha mẹ, anh em, cô bác, dì dượng kề cận vậy mà đến khi người thân qua đời chỉ có duy nhất mình họ, không có ai kề bên, không thể vào chăm sóc, không thể nhìn mặt nhau lần cuối vì dịch bệnh truyền nhiễm, chỉ chờ đến khi nhận được hủ cốt người thân, vì thế trong giây phút cuối cùng tự mình phải chịu một mình cho nên dù có hay không có cha mẹ, anh em, chị em thì tự bản thân mình phải cố gắng tu học, cố gắng thực tập pháp, cố gắng làm phước để khi đối diện sống chết mình có thể làm chủ bản thân vì lúc đó không có ai ngoài bản thân mình, mình ra đi trong lẻ loi, cô độc một mình, chỉ có nghiệp bên cạnh.
IV. Bố thí
Có hai vợ chồng già ở với nhau vì con cái lớn ra riêng hết rồi, đến khi chồng mất thì người vợ ngủ không được, hỏi ra mới biết lý do mất ngủ là do sợ ma, chưa chết là chồng thân thương vậy mà chết đi lại sợ chồng thành ma, vì vậy biết thương mình là phải biết tu, biết thương bản thân là biết nói lời lành, làm lành, nghĩ lành, biết thương bản thân là biết tích lũy các phước báo công đức, siêng năng tu phước huệ, người thí vật, người thí pháp.
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Niềm vui nho nhỏ cứ đem cho
Có người thí vật, người thí pháp
Cái gì thí được, cứ đem cho…
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Những lời hòa ái cứ đem cho
Cho lời an ổn, lời an lạc
Người an, ta ổn, xin hiểu cho!
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Tấm lòng từ ái cứ đem cho
Một ngày nào đó, thôi ngưng thở
Giấc mộng tan rồi, chớ vấn vương!
(Cửa vào bất tử)
Đừng làm biếng mà phải siêng năng tu phước huệ, siêng năng hành trì pháp, siêng năng lạy sám hối, siêng năng thiền quán, siêng năng học pháp nghe kinh, siêng năng san sẻ, sớt chia, bố thí, cúng dường vì lúc chết đi không ai theo mình cả, giả sử dù cho không sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm nhưng được chết cùng năm, cùng tháng, cùng ngay, tốt lành đến mức đó nhưng khi chết đi vẫn không đi chung vì nghiệp của người nào người đó nhận, cái nghiệp tương ứng cảnh giới nào thì đi vào cảnh giới đó, không phải nằm chết chung kề cạnh nhau là đi chung với nhau, bây giờ còn anh em, vợ chồng, ba mẹ chứ đến khi tắt thở là đường ai nấy đi, không còn thân quen gì nữa, "có chết thì chết một mình chứ đừng kêu tôi đi chung", cho nên sự thật cuộc đời này rất bạc bẽo, phũ phàng, cầm trên tay hủ cốt về thờ hoặc đem vào chùa, không thì rải xuống sông, xuống biển cho gió thổi bay đi là kết thúc mọi thứ.
Lủi thủi trong sanh tử
Đến đi chỉ một mình
Ngoái lại nhìn sau trước
Nghiệp, bạn đường của ta.
(Cửa vào bất tử)
Những gì chúng ta đã từng làm, từng tu tập sẽ đi theo mình, phước trí nhị nghiêm, phước huệ song tu, bi trí song vận, nếu không chính mình sẽ hại mình. Trong thời điểm này giống như Đức Phật ví dụ nhà đang cháy, người thông minh sẽ lấy đồ quý ra, tức là đi bố thí, làm nhiều phước chừng nào càng quý chừng đó, tu tập nhiều trí huệ, vun bồi nhiều công đức. Những người có phước đức khi ra đi đều an lành mỉm cười vì người ta đi đến cảnh giới tốt đẹp, giống như thay áo cũ có được chiếc áo mới, còn một người khi chết không biết đi về đâu, bỏ áo cũ ra không có áo mới mặc, đó là loại quỷ đói vất vơ vất vưởng nên họ hoảng hốt, bàng hoàng vì họ biết khổ tới nơi rồi.
"Ở tại Sàvatthi.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con đang ngồi yên tịnh một mình, tư tưởng này khởi lên nơi con:'Ít thay là những người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào lại có thể không bị lôi cuốn, không bị chìm đắm, không bị say mê trong các dục và không có những hành vi không tốt đẹp đối với các người khác. Trái lại, thật là nhiều thay, những người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào, có thể bị lôi cuốn, bị chìm đắm, bị say mê trong các dục và có những hành vi không tốt đẹp đối với các người khác'".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Thiểu Số)
Khi nhà vua đến thì Đức Thế Tôn thường để nhà vua nói nhiều hơn, nhà vua nói rằng ngay trong đời này những người giàu có, có nhiều tài sản thì họ thường bị lôi cuốn và chìm đắm trong các dục, họ sẽ có những hành động không tốt đẹp với người khác, có rất ít người ở trong hoàn cảnh giàu có, sung túc mà không bị lôi cuốn trong các dục và có hành động tốt với người khác. Đây là những điều nhà vua chiêm nghiệm vì vua đã chứng kiến rất nhiều trường hợp như vậy xảy ra, phần lớn những người có danh vọng, địa vị, tiền bạc đều bị lôi cuốn trong các dục, chìm đắm trong các dục và hành xử không tốt đẹp với người khác.
V. Ly dục – ly tham
Nhiều người giàu có không bao giờ muốn lại gần người ăn xin lang thang, một người đẹp không bao giờ chơi chung với người vừa nghèo vừa xấu, họ phải chơi với những người ngang hàng, ngang bằng với họ, dân gian có câu "giàu đổi bạn, sang đổi vợ" chính là nói lên việc bị say mê trong các dục, bị chìm đắm, bị lôi cuốn trong các dục. Nghĩ lại mình cũng phải cảm ơn hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu, bệnh tật vì như vậy sẽ dễ tu hơn sinh ra trong nhà giàu có, đầy đủ, khỏe mạnh.
"-- Thật sự là vậy, thưa Ðại vương. Thật sự là vậy, thưa Ðại vương. Ít thay là những người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào, lại có thể không bị lôi cuốn, không bị chìm đắm, không bị say mê trong các dục và không có những hành vi không tốt đẹp đối với người khác. Trái lại, thật là nhiều thay những người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào, có thể bị lôi cuốn, bị chìm đắm, bị say mê trong các dục và có những hành vi không tốt đẹp đối với các người khác".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Thiểu Số)
Gần đây có những tin chấn động, những minh tinh điện ảnh, ca sĩ nổi tiếng toàn thế giới ở Hàn Quốc bị rơi vào những vụ án nghiêm trọng làm thân bại danh liệt, tù tội, những người có danh tiếng, giàu có, sắc đẹp rất dễ bị chìm đắm trong các dục.
"Loài người bị đắm say,
Trong tài sản, trong dục,
Họ tham lam, điên dại,
Trong các dục ở đời,
Không ý thức rõ ràng,
Ðã quá độ say mê,
Chẳng khác gì con nai,
Không thấy đặt bẫy sập,
Về sau họ khổ đau,
Chịu quả báo ác nghiệp".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Thiểu Số)
Tại sao Đức Thế Tôn và các vị tổ sư khuyến khích nên tu phước huệ song song với nhau? Vì chỉ có làm phước mà không có trí huệ thì khi phước đức trổ ra dễ bị lôi cuốn, dễ bị say đắm trong cái phước của chính mình tạo ra, còn nếu có huệ thì chính cái phước đó sẽ là tư lương hỗ trợ cho mình tu tập trí tuệ, nếu không có tuệ thì chính cái phước sẽ quay lại làm hại, làm mình sa đọa, cho nên mọi người thường nói tu phước mà không tu huệ là tai họa ở đời thứ ba vì đời thứ nhất làm phước, đời thứ hai hưởng phước, đến đời thứ ba bị đọa thì gọi là tai họa trong đời thứ ba.
Tất cả những việc làm phước của bậc Đa văn Thánh đệ tử đều hướng về trí tuệ, hướng về giải thoát, hướng về sự thành tựu chánh kiến, tất cả cái làm phước để chứng đắc trí tuệ thấy được sự thật vô thường của đời sống này, tất cả cái làm thiện để thấy được cái khổ đau của đời sống này, tất cả cái làm lành, làm thiện để mong cầu chứng đắc trí tuệ thấy sự trống không, trống rỗng, vô ngã của thân tâm ngũ uẩn này, đó gọi là công đức của vô vi, cũng là làm phước nhưng đây là phước của vô vi, còn phước kia là phước hữu lậu nghĩa là làm phước, làm thiện để mong cầu đời sau được hưởng phước, còn ở đây cũng làm phước nhưng mong nhìn thấy bản chất của tất cả thế giới là khổ đau, vô thường, trống rỗng, là tan hoại, cho nên trong kinh nói rằng không dự phần vào tất cả thế giới.
- "Thấy được sáu lợi ích, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành. Thế nào là sáu?
Trong tất cả thế giới, tôi sẽ không dự phần vào trong ấy;
Cái gì tạo ra cái "tôi" trong tôi sẽ được chận đứng;
Cái gì tạo ra cái "của tôi" trong tôi sẽ được chận đứng;
Tôi sẽ thành tựu trí;
Không cùng chia sẻ với người khác;
Nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được tôi khéo thấy.
Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành".
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, (IX). Không Có Hạn Chế (3))
Không dự vào nghĩa là xuất ly, viễn ly, làm tất cả việc phước nhưng không mong cầu có một tự ngã hưởng phước đó, làm tất cả việc phước để hướng về Niết-bàn, tâm hướng cầu tịch tịnh. Vì thế cái phước rất quan trọng nhưng cái phước này nhờ trí tuệ dẫn đạo, còn nếu chỉ tu trí huệ mà không có phước sẽ bị chướng ngại cản trở, cực kì khó tu hoặc thậm chí tu không được vì cái phước là nền tảng chuẩn bị để giúp cho mình thành tựu trí tuệ. Chướng ngại không tu được nghĩa là mới lên chùa tu học đã nghe mẹ bệnh nặng phải về lo, mới tu một thời gian nghe tin gia đình phá sản nợ nần chồng chất nên phải về kiếm tiền phụ gia đình, đó là do thiếu phước dẫn đến việc bị cản trở không tu được, đó là lý do mọi người thường nói phước huệ song tu.
"Loài người bị đắm say,
Trong tài sản, trong dục,
Họ tham lam, điên dại,
Trong các dục ở đời",
Đức Phật dùng các từ "đắm say", " tham lam", "điên dại", những từ này rất sâu sắc nên cần thiền quán, chiêm nghiệm. Lòng tham lam đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc không bao giờ dừng nghỉ được mà sẽ tham muốn vô cùng vô tận. Chúng sanh cứ say mê, chìm đắm trong đó, thậm chí đến mức độ điên dại, cô gái mới ngoài hai mươi đã nằm lăn lộn trong ống cống nước đen ngòm, dơ bẩn vì bị ngáo đá, đó là dục điên cuồng, thân thể lành lặn có biết bao thú vui để cảm nhận vậy mà lại chọn con đường nghiện ngập không lối thoát, hủy hoại sức khỏe, tương lai nhưng hiện giờ những thứ gây nghiện đó lại tràn ngập thế giới, có những người xin tu vì trước đây họ bị nghiện nên giờ muốn tránh xa khỏi nó, những thứ đó hành hạ họ suốt đời trong điên dại.
Thước đo của sự tu hành chúng ta hiện giờ chính là sự ly dục, càng ly dục nhiều chừng nào thì càng gần đến Niết-bàn chừng đó, phải ly dục, ly tham đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc, có nhiều người lên núi chỉ muốn tu vài ngày thôi chứ không ở lâu được vì thèm được ăn ngon, muốn tiếp xúc với sắc đẹp cho nên nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham chính là đạo lộ của bậc Thánh vì ái dục là căn bản của khổ đau.
"Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già và chết đến với loài sinh vật".
(Trung Bộ Kinh, 1. Kinh Pháp Môn Căn Bản)
Bây giờ tu là muốn hết khổ, muốn xa lìa khổ thì diệt khổ được mức độ nào sẽ giảm khổ ở mức độ đó. Ngày xưa là điên dại hoàn toàn trong dục, giống như con nai vô tư không biết bị sập bẫy, bây giờ biết tu giảm còn 70%, nghe pháp, ngồi thiền, quán chiếu còn 50% nghĩa là mình bớt được 50 phần khổ, giảm bớt từ từ, giảm càng nhiều thì càng gần Niết-bàn chừng đó. Còn giờ ở trên núi an lành tu học không muốn mà cứ xuống núi đi chợ, mua đồ, rồi lỡ dính dịch bệnh thì không những hại bản thân mà còn hại hết đại chúng, đó là sự thúc giục muốn tiếp xúc, muốn là đi chứ không hề có sự suy nghĩ đắn đo, thời điểm này là như thế nào, mức độ nguy hiểm ra sao, không những nguy hiểm cho tự thân mình mà còn cho cả đại chúng.
Thang đánh giá trong sự tu học chính là việc lìa xa đối với năm dục trưởng dưỡng, lấy điều này làm thước đo trong tu hành, còn đam mê, say đắm với sắc nhiều không, còn thích nghe nhạc (thanh) không, lên xe taxi mà tài xế mở nhạc trữ tình thì mình thọ nhận luôn hay khéo léo nói tài xế tắt nhạc, ngoài ra còn mùi vị thức ăn, cho nên tu giỏi hay dở, sâu hay cạn phải lấy cái này làm thước đo, còn nặng nề trong cái ăn không, còn yêu thích những âm thanh du dương, khả lạc, khả hỷ, khả ái ở đời không, còn ham thích sắc đẹp không, còn mong muốn sự tiếp xúc không.
Cho nên phải cung kính, kính trọng đối với những vị nhập thất dài lâu một mình trong rừng núi, phải nhiếp phục được cái xúc thì các vị ấy mới ở lâu được, nếu không nhiếp phục được năm dục trưởng dưỡng thì không thể ở nơi xa vắng để tu hành, không thể độc cư ly dục được, chỉ bao nhiêu đây cũng đáng để mình cung kính chắp tay đảnh lễ, cúng dường. Chúng sanh bị đắm say, si mê, điên dại trong năm dục trưởng dưỡng này, đang dịch bệnh mà đi thăm bệnh, tổ chức sinh nhật, đám tiệc… vậy là lây bệnh cho nhiều người, ngoài ra còn sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái.
Pháp ái là sự ưa thích những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm, phải có chánh kiến mới lìa được sáu ái, có thể lìa những cái bên ngoài nhưng đến những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm thì rất khó khăn để từ bỏ, phải có sự nhận diện ngũ uẩn sâu sắc mới viễn ly từ từ. Mình đang niệm thọ, niệm thí, niệm thiên là mình đem những thọ; tưởng; hành của thiện pháp nhằm đánh đuổi những thọ; tưởng; hành của bất thiện pháp, cho đến khi thiện pháp viên mãn cùng cực thì thể nhập Thánh trí tuệ bất tử.
Nếu còn bất thiện thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó sẽ giày vò làm mình trạo hối không ngồi thiền được, khi đã thuần thiện thì tâm sẽ an lạc, không bị trạo hối, không còn nhớ người này sân người kia, khi thiện pháp đã viên mãn thì siêu việt thiện ác, nếu xả ly luôn thiện pháp thì tâm đạt đến bất động giải thoát, nhưng trước khi đi đến bước cuối cùng đó phải tu tập thiện pháp cho viên mãn, trắng như vỏ ốc, nghĩa là nhìn trong tâm không còn điểm đen nào nữa, giải tỏa tất cả những thọ; tưởng; hành ác bất thiện pháp, tham, sân, si, vô minh, bản ngã hoàn toàn không còn nữa, như vậy tâm bình an, hoan hỉ, an lạc sẽ đi vào các tầng thiền, cộng với trí tuệ triển khai thiền quán về Thánh trí ngũ uẩn là nhập Thánh.
Còn bây giờ vào ngồi thiền là trong tâm còn rất nhiều tham, sân, si, vô minh, bản ngã, ác bất thiện pháp, sân hận, thương yêu, thù hằn, ganh tỵ thì làm sao vào chỉ – quán – định – tuệ cho nên phải dọn dẹp những thứ rác bẩn, cấu uế này để đưa nghiệp trắng vào, vì thế mới phải niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên, niệm hơi thở, niệm tử, niệm tịch tịnh Niết-bàn, những cái này nhằm thay thế cho nghiệp đen trong nội tâm, cho đến khi những suy nghĩ, cảm thọ chỉ thuần là thiện pháp thì tâm an lạc, hỷ lạc, không còn ray rứt, giày xéo nữa thì mới đi vào các tầng thiền, tối thiểu cũng được Sơ thiền, từ chỗ này mới triển khai thiền quán thâm sâu về trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã của ngũ uẩn, về ung nhọt, ung bướu, mũi tên rồi tâm xả ly, viễn ly, xuất ly.
Vì vậy khi chúng sanh không thấy không biết đạo lộ được Đức Phật chỉ dạy sẽ giống như con nai không thấy cái bẫy, cả cuộc đời lao vào truy tìm năm dục trưởng dưỡng, cho nên mục đích tối thượng của đời sống tu hành là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, sự viễn ly đối với tham dục, cứ làm từng chút một cho đến hoàn toàn viễn ly là đại thành công, mục đích cứu cánh, lấy đó làm thước đo. Chúng ta cứ tác ý bất tịnh, nhàm chán, xa lìa để tránh xa từ từ đối với năm dục trưởng dưỡng, càng tránh xa nhiều chừng nào thì sự tu càng gần đến chỗ ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Người đời nếu không biết sẽ sập bẫy, lún sâu vào thì càng về sau khổ đau càng chồng chất chịu quả báo ác nghiệp, chết rồi đời sau sanh ra cũng sẽ chạy theo năm dục, tất cả thế giới đều chạy theo năm dục này ngoại trừ người tu, bậc Đa văn Thánh đệ tử, còn càng xa lìa nhiều chừng nào thì sự thành công, sự trưởng thành của mình trong tuệ giác càng lớn mạnh chừng đó. Thế Tôn khoác tấm vải cũ, đầu trần chân đất ôm bình bát, đó chính là phạm hạnh ly dục, tất cả sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp đều không làm cho ngài tham muốn, dính mắc, ngài hoàn toàn tự tại đối với tất cả năm dục trưởng dưỡng, đối với sáu ái, đối với căn – trần – thức , đối với cả thế giới, không có một cái gì có thể buộc chân ngài được, đó là bậc ly tham đối với năm thủ uẩn, đoạn tận khổ đau. Mình thích thú đối với điện thoại, suốt ngày cầm ngắm nó, bây giờ nếu điện thoại hư hoặc bị ăn cắp thì phiền não, đau khổ, còn giờ không ưa thích, không mong muốn, chỉ lo tu tập thì không còn khổ nữa, ngũ uẩn này cũng như điện thoại, không ham thích, khoan khoái, mong muốn nữa thì không còn khổ, cho nên đạo lộ của Thế Tôn rất rõ ràng, hãy dựa vào đó mà tu tập.
Hôm nay chúng ta tiếp tục học về Tương Ưng Kosala – Đế Vương và Pháp Vương, chúng ta nghe bài kinh Tự bảo hộ và Thiểu số, nói về tự bảo hộ chính mình và nói về dục làm chúng sanh đau khổ, sự tu hành của chúng ta là xả dục ly tham đối với năm dục trưởng dưỡng. Chúc cho tất cả chư Tăng Ni và quý Phật tử có được sự hỷ lạc trong pháp, tự khéo bảo hộ mình bằng phước lành, bằng nghiệp lành, bằng những ý nghĩ, lời nói, hành động lành, đem đến an lạc cho hiện tại và tương lai.
./.
TƯƠNG ƯNG KOSALA 2
ĐẾ VƯƠNG & PHÁP VƯƠNG
AI BẢO VỆ MÌNH?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tự bảo vệ mình PAGEREF _Toc113978592 \h 1
II. Thiện và bất thiện PAGEREF _Toc113978593 \h 3
III. Chánh Niệm PAGEREF _Toc113978594 \h 9
IV. Bố thí PAGEREF _Toc113978595 \h 10
V. Ly dục – ly tham PAGEREF _Toc113978596 \h 13
I. Tự bảo vệ mình
Hiện tại tình hình dịch bệnh rất nghiêm trọng, có nhiều quý thầy, quý cô nhiễm bệnh, thậm chí có người đã qua đời. Thật sự rất xót xa cho nên chúng ta cần tinh cần tu học trong các thiện pháp, vững tâm lo lắng để tu chứ không phải sợ hãi rồi dao động. Khi sắt gặp nam châm sẽ bị lực hấp dẫn hút dính vào nhau, tất cả đều là nghiệp quả của chúng sanh, chỉ có phước báo mới cứu được mình, chỉ có chính mình mới bảo hộ được mình.
"Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con đang ngồi yên tịnh một mình, tư tưởng này khởi lên nơi con: Ðối với những ai, tự ngã được bảo vệ? Ðối với những ai, tự ngã không được bảo vệ? Và rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau:
'Những ai thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, những người ấy không bảo vệ tự ngã. Dầu cho họ được tượng binh bảo vệ, hay được mã binh bảo vệ, hay được xa binh bảo vệ, hay được bộ binh bảo vệ; đối với những người ấy, tự ngã không được bảo vệ. Vì cớ sao? Vì sự bảo vệ như vậy là bảo vệ ở ngoài, không phải sự bảo vệ bên trong. Cho nên đối với những người ấy, tự ngã không được bảo vệ.
Và những ai thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, những người ấy bảo vệ tự ngã. Dầu cho họ không được tượng binh bảo vệ, hay không được mã binh bảo vệ, hay không được xa binh bảo vệ, hay không được bộ binh bảo vệ; đối với những người ấy, tự ngã được bảo vệ. Vì cớ sao? Vì sự bảo vệ như vậy là sự bảo vệ bên trong, không phải sự bảo vệ ở ngoài. Cho nên đối với những người ấy, tự ngã được bảo vệ'.
Lành thay bảo vệ thân!
Lành thay bảo vệ lời!
Lành thay bảo vệ ý!
Lành thay tổng bảo vệ!
Kẻ liêm sỉ bảo vệ,
Tổng quát và cùng khắp,
Vị ấy có tên gọi,
Là vị được bảo vệ".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Tự Bảo Hộ)
Chúng ta thường nghĩ là do Phật trời, chư thiên hay ai đó gia hộ, cứu độ, phù hộ, giúp đỡ mình nhưng hôm nay chúng ta được nghe chính bậc Chánh Đẳng Chánh Giác nói cho biết người được bảo vệ là người như thế nào, vì thế cái nghĩ của mình theo phàm phu thường tình nên thường không đúng, như vậy bài kinh này gọi là Tự bảo hộ, Đức Phật kết luận rằng "Vị ấy có tên gọi, Là vị được bảo vệ".
Như thế nào gọi là vị được bảo vệ, vị được gia hộ, được quý nhân ủng hộ? Quý nhân là những người quyền quý có khả năng lớn, có thế lực, tiền của. Vua Ba-tư-nặc ngồi yên tịnh một mình suy nghĩ đối với những ai mà chính họ được bảo vệ và đối với những ai chính họ không được bảo vệ, những ai có ba khẩu đều ác là những người đó không tự bảo vệ được cho chính họ, xuyên suốt trong tạng kinh Nikāya đều nói về thiện và bất thiện. Người nào có suy nghĩ ác, miệng nói lời ác, thân làm hành động ác thì những người đó sẽ không bảo vệ được chính họ dù cho họ "được tượng binh bảo vệ, hay được mã binh bảo vệ, hay được xa binh bảo vệ, hay được bộ binh bảo vệ".
Tượng binh là quân lính ngồi trên voi, mã binh là quân lính ngồi trên ngựa, xa binh là binh lính ngồi trên xe, bộ binh là binh lính chạy bộ, bốn loại binh chủng này có theo bảo vệ nhưng chính họ cũng không được bảo vệ vì đó chỉ là sự bảo vệ ở bên ngoài chứ không được bảo vệ bên trong. Đây là những gì vua nói nên đều tầm cỡ to lớn, dù cho có được hàng hàng lớp lớp tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh bảo vệ nhưng tự thân người đó suy nghĩ ác, nói lời ác, hành động ác thì cũng không được bảo vệ, cho dù người đó có là đại tướng quân nhưng có hành động ác vẫn bị giết như thường, sống không có tình nghĩa mà chỉ lợi dụng thuộc hạ rồi đàn áp, bóc lột thì cũng có ngày bị làm phản, cho nên vua Ba-tư-nặc đã nói "sự bảo vệ như vậy là bảo vệ ở ngoài, không phải sự bảo vệ bên trong", chỉ có nghiệp là người thân bên cạnh mình, mà nghiệp là những suy nghĩ, nói năng, hành động.
Ngược lại những ai thân làm thiện, miệng nói thiện, suy nghĩ thiện thì người đó sẽ bảo vệ chính họ dù cho không được tượng binh, mã binh, xa binh hay bộ binh bảo vệ, đó là sự bảo vệ bên trong chứ không phải sự bảo vệ bên ngoài. Mình làm chủ mà vênh váo, hống hách, kêu căng thì người làm thuê cho mình không thương mến, quý trọng mình, đã từng có vụ án người làm thuê giết hết cả năm mạng người trong nhà người chủ vì thường xuyên bị người chủ la mắng, đánh đập, tức nước vỡ bờ nên người thanh niên mới ngoài hai mươi đã giết chết cả nhà người chủ, cho nên chính lời nói ác, hành động ác, ý nghĩ ác, sự kiêu căng, hách dịch, ta đây, ỷ mình là chủ giàu có rồi đè đầu cưỡi cổ người ta đã hủy hoại họ chứ không phải người làm thuê hủy hoại người chủ, đây là chỗ sâu sắc.
Bình thường mình cứ nghĩ người kia giết hại người nọ, người kia đâm chém người nọ, nếu người chủ đối xử công bằng, quan tâm, lo lắng, yêu thương, bao dung, tha thứ thì làm sao xảy ra vụ án mạng khủng khiếp đó, vì thế những ai thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, những người ấy sẽ bảo vệ chính họ, ở trong nhà vợ chồng với nhau mà nói chuyện một chút là cự cãi, nói móc nhau thì gia đình sẽ bất an, đau khổ, nhất là trong thời điểm này nếu không biết tu là sân hận, bức xúc, bực bội, đó là họ không biết tự bảo vệ họ, không biết tự yêu thương chính họ.
Những ý nghĩ, lời nói, hành động của mình sẽ thể hiện sự yêu thương của mình, nếu nói lành, nói thiện, nói từ ái, ấp áp, ngọt ngào, dịu dàng, êm ái thì cái đó chính là yêu thương mình, yêu thương những người thân xung quanh, bảo vệ mình, bảo vệ những người thân trong gia đình mình. Đối với ba hành thiện là nói thiện, làm thiện, nghĩ thiện và ba hành ác là nói ác, làm ác, nghĩ ác này được Đức Phật ví dụ cách xa nhau như bờ biển này với bờ biển kia, cách xa nhau như trời với đất.
II. Thiện và bất thiện
"- Này các Tỳ-kheo, có bốn sự việc này, rất xa, rất xa với nhau. Thế nào là bốn?
Trời và đất, này các Tỳ-kheo, là sự việc thứ nhứt rất xa, rất xa với nhau.
Bờ biển bên này, này các Tỳ-kheo với bờ biển bên kia, là sự việc thứ hai rất xa, rất xa với nhau.
Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các Tỳ-kheo, đến chỗ mặt trời lặn xuống, là sự việc thứ ba rất xa, rất xa với nhau.
Pháp của hạng người bất thiện, này các Tỳ-kheo, với pháp của hạng người thiện, là sự việc thứ tư rất xa, rất xa với nhau.
Này các Tỳ-kheo, đây là bốn sự việc rất xa, rất xa với nhau này".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (VII). Rất Xa Xăm)
Cái thiện và ác không đơn giản như mình nghĩ, chỉ với một ý nghĩ thôi là đã tự hủy hoại mình, tự nhận chìm mình xuống vũng sình lầy, làm sụp đổ hết tất cả sự nghiệp hoặc đạo nghiệp, một lời nói thôi làm tan vỡ, tan nát mọi thứ, một hành động không tỉnh giác chánh niệm làm đổ vỡ tất cả. Một người yêu thương muốn quan tâm, chăm sóc, chỉ dạy mà mình không biết trân trọng, mình bản ngã, ta đây, khó chịu rồi người ta không chỉ dạy nữa là mình mất đi cơ hội của hiền Thánh chứ không chỉ là cơ hội bình thường, chính tự thân người đó cũng không hề hay biết vì thế để nhìn thấy thiện và bất thiện là cả một trí tuệ thâm sâu chứ không đơn giản như mình biết vì Thánh trí ngũ uẩn rất sâu sắc.
"Lang thang trong sanh tử,
Lành dữ chẳng tỏ tường,
Mượn nghiệp hiền, nghiệp thiện
Làm chỗ để náo nương".
(Cửa vào bất tử)
Muốn tỏ tường được thiện hay bất thiện thì phải thành tựu chánh tri kiến, mà chánh tri kiến trong kinh Nikāya có hai cấp độ, một là chánh tri kiến hữu vi (hữu lậu) và hai là chánh tri kiến vô vi (vô lậu). Chánh kiến hữu lậu là phân biệt được nhân quả thiện ác và nghiệp báo, người này rành rẽ cái nào thiện, cái nào bất thiện, đó là bậc chánh tri kiến của thế gian, là bậc hiền nhân. Chánh tri kiến vô lậu là thấy được ngũ uẩn, tính chất vô thường, khổ, vô ngã, tan nát, biến hoại và hướng đến sự nhàm chán, rời xa, đó là chánh kiến vô lậu của bậc Thánh.
Khi nhìn thấy sự vận hành của nhân quả, thấy cấu trúc, dị thục của nhân quả, thấy được bộ máy, định lý, kiến tạo, vận hành, diễn biến, nhân quả hệ của nó thì đó là chánh kiến của bậc hữu lậu, thấy tới đó là đã thành tựu bậc hiền nhân, người nào thấy được như vậy, tu tập như vậy thì người này không rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Còn vị nhìn thấy ngũ uẩn, thấy tính chất vô thường, hủy hoại, tan nát và thấy bằng tri kiến thành tựu thì đó là cái chánh tri kiến vô lậu của bậc Thánh, bậc hiền trong Phật giáo đa số là vô văn phàm phu, câu nói "lành dữ chẳng tỏ tường" nhằm ám chỉ vô văn phàm phu nhưng đừng nghĩ vô văn phàm phu là những người không biết tu, còn biết tu là không phải vô văn phàm phu, hình thức bề ngoài không quan trọng nhưng tri kiến bên trong mới quyết định là bậc phàm, hiền hay Thánh. Vì thế để nhìn thấy nhân quả hệ, sự vận hành của nhân quả nghiệp báo, thiện ác thật sự là cả một sự tu học sâu sắc, quán chiếu, thiền tập liên tục.
"Do nhân không hiền thiện
Nên quả phải khổ đau
Thế mà trong đau khổ
Ta luôn hỏi vì sao.
Thương cho ta đau khổ
Mà chẳng hiểu vì sao
Thương cho ta bất hạnh
Mà chẳng biết vì sao".
(Cửa vào bất tử)
Biết bao câu hỏi tự đặt ra "tại sao tôi lại khổ", "tại sao tôi phải lâm vào tình cảnh này", "số tôi tại sao lại khổ quá vậy"… Thật sự là do chính ta tạo hết nhưng chúng ta lại chẳng biết gì cả vì thế mới có câu "lành dữ chẳng tỏ tường". Khi khổ là than trời trách đất, than thân trách phận, hận đời hận người, chúng ta đổ thừa lung tung nhưng đối với người thành tựu chánh kiến nhân quả họ sẽ không trách móc bất kì ai cả, tâm người này bình an chứ không lo lắng, sợ hãi, thấy được nhân quả nghiệp báo là không còn sợ gì nữa, còn sợ hãi là còn chưa hiểu nhân quả nghiệp báo, chưa thành tựu chánh kiến về nhân quả, về nghiệp báo.
Lành thay bảo vệ thân!
Lành thay bảo vệ lời!
Lành thay bảo vệ ý!
Lành thay tổng bảo vệ!
Kẻ liêm sỉ bảo vệ,
Tổng quát và cùng khắp,
Vị ấy có tên gọi,
Là vị được bảo vệ".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Tự Bảo Hộ)
Trở lại câu hỏi ban đầu, ai là quý nhân, ai là người cứu độ cho mình? Chỉ có nghiệp thiện mới bảo vệ mình, nói cách khác là phước báo của mình, còn người hại mình chính là tội lỗi, nghiệp ác. Bình thường mình có đồ là chia sẻ cho hàng xóm, nhà có đám tiệc là mời mọi người qua, người ta có hữu sự là mình qua giúp, đến khi mình có chuyện người ta sẽ qua giúp lại, thậm chí mình chưa mở lời là người ta đã qua rồi, đó là tự mình giúp mình, nhìn bề ngoài thấy hàng xóm giúp nhưng thật sự chính mình giúp mình, lúc bình thường mình đối xử tốt lành, quan tâm mọi người, lúc mình có hữu sự người ta giúp lại, đó là sự đáp trả lại của thiện nghiệp mình đã làm từ trước.
Nếu bình thường ai sống mặc ai, người ta có khó khổ, tai họa, đói nghèo mình cũng không quan tâm, đến khi mình có chuyện sẽ không ai giúp lại mình, đó là tự mình làm khổ mình. Đây là chỗ sâu sắc, phải nhìn thấy mọi thứ đều xuất phát từ bản thân mình, nói rộng đến chư thiên cũng vậy, nhiều người nghĩ rằng đó là Bồ-tát nhưng thực tế đó là chư thiên gia hộ nhưng cũng phải phải tự nhiên được chư thiên gia hộ, mình và vị chư thiên đó trong đời trước đã từng có sự qua lại giúp đỡ lẫn nhau cho nên bây giờ vị chư thiên đó đến vì cái nghiệp lành quá khứ của mình đã giúp đỡ họ, cũng giống như hàng xóm giúp đỡ nhau, đó gọi là quý nhân giúp đỡ, được chư thiên bảo hộ, chính là phước nghiệp của mình, những thiện nghiệp, từ tâm, bi tâm, chính những thiện pháp đó đáp đền, đền trả lại cho mình.
Tuy nhiên có những trường hợp mình bị ăn cắp, ăn trộm, bị đánh đập, chửi rủa, thậm chí giết mình, ở trên là trả ơn còn giờ là đến đòi nợ mình, tất cả những việc đòi-trả đều từ nghiệp mà ra, mà nghiệp chính là những suy nghĩ, lời nói, hành động. Dịch bệnh cũng vậy, trong nhà năm người mà ba người nhiễm còn hai người kia không bị, đó là do nghiệp quả của họ, những ân oán, oan gia trái chủ với những chúng sanh nhỏ li ti mắt thường không thấy được, những chúng sanh đến đó đòi nợ những ác nghiệp trong quá khứ và nếu mình không thiếu nợ thì không sợ bị đòi nợ, có thiếu cũng không né tránh được cho nên cẩn thận với thông điệp 5K của bộ y tế nhưng khi nghiệp đến thì chạy cũng không khỏi, còn không có nghiệp thì sẽ không tới mình, cứ an tâm tu học, hành đạo, căn nhà đã cửa chốt then cài kĩ lưỡng thì làm sao người lạ vào nhà được, còn giờ nhà cửa mở toang hoang thì dù là con nít hay mèo chó gì cũng vào nhà được, cho nên:
"Lành thay bảo vệ thân!
Lành thay bảo vệ lời!
Lành thay bảo vệ ý!
Lành thay tổng bảo vệ!"
Vì thế sự phòng hộ, hộ trì, giữ gìn thân – miệng – ý là tuyệt đối quan trọng, cái đó Đức Phật gọi là thiện tai, thiện tai, nghĩa là lành thay, lành thay, hạnh phúc thay, an lạc thay, quý báu thay sự bảo vệ thân – miệng – ý, quán sát mỗi suy nghĩ, kiểm tra mỗi lời nói, soi rọi mỗi việc làm hành động, đó là mình tự bảo vệ chính mình, cũng là quý nhân giúp đỡ, chư thiên gia hộ, là Bồ-tát độ trì chứ không phải tự động có người giúp mình. Nhà vua đã nói "sự bảo vệ như vậy là sự bảo vệ bên trong, không phải sự bảo vệ ở ngoài", không phải phước lành ở bên ngoài, không phải người khác đến bảo vệ mình, cũng như ví dụ hàng xóm, phải tự mình có những lời nói, hành động quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ người ta trong lúc nguy cấp, đó là sự từ ái, tình thương cho nên khi có hữu sự thì những thiện lành đó, từ ái đó sẽ được đáp trả trở lại.
"Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình".
(Kinh Pháp Cú 01 – Phẩm Song Yếu, kệ 02)
Người xưa có câu "thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình, tam thế nhân quả, tuần hoàn bất thất", nghĩa là quả báo những điều xấu như bóng theo hình và nhân quả ba đời vẫn không mất. Không phải tự nhiên người nào cũng được yêu thương, lo lắng mà mình không được, phải xem lại thân – khẩu – ý của mình, hoặc như chỗ đó ai cũng bị bệnh ngoại trừ mình, cái đó không phải do may mắn mà do phước lành của họ, còn cái kia là do nghiệp ác của họ. Một đứa trẻ sơ sinh nằm ngủ chẳng mau bị rắn hổ mang bò vào cắn chết, đó là oan gia trái chủ đến để đòi nợ, không ai bảo vệ được bản thân.
Minh Thành ở trong thất đọc kinh trên ghế thì bất ngờ cái ghế bị sụp xuống, chỗ nào cũng có thể tiềm ẩn tai họa, nguy hiểm, vô thường, những lúc bình thường phải chuẩn bị để khi xảy ra hữu sự mới có sự bình tâm, những suy nghĩ, lời nói, hành động thiện lành chính là quý nhân của mình. Trên đời này không có ai tự động đem tiền đến cho mình, không ai tự nhiên giúp mình mà đó là sự đáp đền, trả nợ, còn lại là đến đòi nợ nhưng ai đến trả nợ là mình thích thú, vui vẻ, còn người đến đòi nợ là mình sân si, bực bội, tức giận tạo thêm nghiệp mới, khi nghiệp cũ đến đòi nợ không những mình không trả mà còn trả đũa thẳng tay thế là tạo thêm nghiệp mới.
Đang ngồi nghe pháp mà bị muỗi chích là giật mình sân hận rồi đập muỗi, không thì mua cây vợt điện bắt muỗi, thế là tạo thêm nghiệp mới, ngay đó mình phải thấy mình đang bị đòi nợ, những việc nhỏ này mình phải để ý để khi có chuyện lớn đến mình sẽ biết đó là chủ nợ của mình. Phải rất chánh niệm và tỉnh giác, dùng tâm từ nhẫn để hóa giải nghiệp, hóa giải oan gia trái chủ, điều này rất quan trọng vì nếu không biết ai là chủ nợ, ai là con nợ sẽ rất nguy hiểm, mình thiếu thì giờ người ta đến đòi thôi, vì mình mù, tâm mờ tối không phân biệt được ai là chủ nợ, ai là con nợ nên mình làm rối mọi thứ, thiếu nợ bị đòi không những không trả mà còn chửi người ta, đánh người ta, người ta phản kháng lại thì mình than trời "sao tôi khổ quá vầy nè".
Ông trời không làm mình khổ, mình thiếu nợ bị đòi rồi mình không trả mà còn chửi lại người ta, kéo người đến đánh người ta thì người ta phải chống trả lại thôi, đó là hình ảnh có thực ngoài đời cũng là hình ảnh để chúng ta hiểu sâu sắc cách hành xử khi nghiệp quả đến với mình, cách hành xử của vô minh, ngu si, bản ngã là không trả nợ mà còn phản ứng lại, nhưng đó lại là cách mà chúng ta thường thấy, thường hành động.
III. Chánh Niệm
Có người lại gây sự, kiếm chuyện là mình bực bội, sân hận, mình làm đủ thứ chuyện mà không biết đang bị chủ nợ đến đòi nợ, vì thế cần khéo bảo vệ thân, bảo vệ lời, bảo vệ ý, bảo vệ như vậy là tự bảo vệ chính mình, ba mẹ, anh em, cô dì, chú bác thân tộc cũng chỉ là ở bên ngoài nhưng cái thật sự bảo vệ mình chính là thân – khẩu – ý của mình vì khi mình nói ra không ai ngăn mình lại được, khi mình đánh người ta thì ông bà đến cũng can không kịp, khi làm gì, đi đâu cũng phải cẩn trọng với suy nghĩ, lời nói, hành động, cũng phải có sự chánh niệm và tỉnh giác, đó là sự bảo vệ tối thượng trong tất cả sự bảo vệ, không có bất kì tượng binh, xa binh, mã binh hay bộ binh nào bảo vệ được ngoại trừ chánh niệm và tỉnh giác chiếu soi năm uẩn, chỉ có cái này mới bảo vệ được mình. Có một pháp đưa vào bất tử, đưa vào an toàn, đưa mình đến gặp quý nhân, chân nhân, hiền nhân, Thánh nhân, đưa mình đến an lạc tối thượng là luôn tỉnh giác chiếu soi năm uẩn.
"Có một Pháp dẫn vào Bất Tử
Có một Con đường đến Vô Sanh
Có một Phương cách Thoát Luân Hồi
'Tâm Tỉnh Giác Chiếu Soi Năm Uẩn'"
(Cửa vào bất tử)
Đó chính là sự bảo vệ tối thượng, mình đừng nghĩ có con chó dữ là bảo vệ được mình, có trường hợp giống chó dữ quay lại cắn chủ nhân, khi không có trí tuệ sẽ hại chính mình vì mình cứ nghĩ nó giúp mình nhưng lại hại mình, có người mua rồng Nam Mỹ về nuôi, cũng có người nuôi cọp trong nhà bị cọp vồ chết, đó là chính ý nghĩ muốn nuôi những con vật đó làm họ mất mạng và nghiệp quả khiến cho họ phải nghĩ như vậy, oan gia trái chủ với con thú đó khiến họ suy nghĩ, hành động như vậy và cuối cùng người chủ chết dưới răng và móng vuốt của những con thú mà họ nuôi cho nên Đức Phật nói quả dị thục của nghiệp là bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng được, nếu người nào suy nghĩ thì người đó có thể bị điên loạn.
"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.
Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.
Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ".
(Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII). Không Thể Nghĩ Ðược)
Nếu không có chảnh niệm tỉnh giác nhìn thấy những thọ; tưởng; hành đó sẽ rất nguy hiểm, chính những lời nói, suy nghĩ, hành động thiện sẽ bảo vệ mình. Bình thường cha mẹ, anh em, cô bác, dì dượng kề cận vậy mà đến khi người thân qua đời chỉ có duy nhất mình họ, không có ai kề bên, không thể vào chăm sóc, không thể nhìn mặt nhau lần cuối vì dịch bệnh truyền nhiễm, chỉ chờ đến khi nhận được hủ cốt người thân, vì thế trong giây phút cuối cùng tự mình phải chịu một mình cho nên dù có hay không có cha mẹ, anh em, chị em thì tự bản thân mình phải cố gắng tu học, cố gắng thực tập pháp, cố gắng làm phước để khi đối diện sống chết mình có thể làm chủ bản thân vì lúc đó không có ai ngoài bản thân mình, mình ra đi trong lẻ loi, cô độc một mình, chỉ có nghiệp bên cạnh.
IV. Bố thí
Có hai vợ chồng già ở với nhau vì con cái lớn ra riêng hết rồi, đến khi chồng mất thì người vợ ngủ không được, hỏi ra mới biết lý do mất ngủ là do sợ ma, chưa chết là chồng thân thương vậy mà chết đi lại sợ chồng thành ma, vì vậy biết thương mình là phải biết tu, biết thương bản thân là biết nói lời lành, làm lành, nghĩ lành, biết thương bản thân là biết tích lũy các phước báo công đức, siêng năng tu phước huệ, người thí vật, người thí pháp.
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Niềm vui nho nhỏ cứ đem cho
Có người thí vật, người thí pháp
Cái gì thí được, cứ đem cho…
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Những lời hòa ái cứ đem cho
Cho lời an ổn, lời an lạc
Người an, ta ổn, xin hiểu cho!
Xin hãy cứ cho, hãy cứ cho!
Tấm lòng từ ái cứ đem cho
Một ngày nào đó, thôi ngưng thở
Giấc mộng tan rồi, chớ vấn vương!
(Cửa vào bất tử)
Đừng làm biếng mà phải siêng năng tu phước huệ, siêng năng hành trì pháp, siêng năng lạy sám hối, siêng năng thiền quán, siêng năng học pháp nghe kinh, siêng năng san sẻ, sớt chia, bố thí, cúng dường vì lúc chết đi không ai theo mình cả, giả sử dù cho không sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm nhưng được chết cùng năm, cùng tháng, cùng ngay, tốt lành đến mức đó nhưng khi chết đi vẫn không đi chung vì nghiệp của người nào người đó nhận, cái nghiệp tương ứng cảnh giới nào thì đi vào cảnh giới đó, không phải nằm chết chung kề cạnh nhau là đi chung với nhau, bây giờ còn anh em, vợ chồng, ba mẹ chứ đến khi tắt thở là đường ai nấy đi, không còn thân quen gì nữa, "có chết thì chết một mình chứ đừng kêu tôi đi chung", cho nên sự thật cuộc đời này rất bạc bẽo, phũ phàng, cầm trên tay hủ cốt về thờ hoặc đem vào chùa, không thì rải xuống sông, xuống biển cho gió thổi bay đi là kết thúc mọi thứ.
Lủi thủi trong sanh tử
Đến đi chỉ một mình
Ngoái lại nhìn sau trước
Nghiệp, bạn đường của ta.
(Cửa vào bất tử)
Những gì chúng ta đã từng làm, từng tu tập sẽ đi theo mình, phước trí nhị nghiêm, phước huệ song tu, bi trí song vận, nếu không chính mình sẽ hại mình. Trong thời điểm này giống như Đức Phật ví dụ nhà đang cháy, người thông minh sẽ lấy đồ quý ra, tức là đi bố thí, làm nhiều phước chừng nào càng quý chừng đó, tu tập nhiều trí huệ, vun bồi nhiều công đức. Những người có phước đức khi ra đi đều an lành mỉm cười vì người ta đi đến cảnh giới tốt đẹp, giống như thay áo cũ có được chiếc áo mới, còn một người khi chết không biết đi về đâu, bỏ áo cũ ra không có áo mới mặc, đó là loại quỷ đói vất vơ vất vưởng nên họ hoảng hốt, bàng hoàng vì họ biết khổ tới nơi rồi.
"Ở tại Sàvatthi.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con đang ngồi yên tịnh một mình, tư tưởng này khởi lên nơi con:'Ít thay là những người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào lại có thể không bị lôi cuốn, không bị chìm đắm, không bị say mê trong các dục và không có những hành vi không tốt đẹp đối với các người khác. Trái lại, thật là nhiều thay, những người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào, có thể bị lôi cuốn, bị chìm đắm, bị say mê trong các dục và có những hành vi không tốt đẹp đối với các người khác'".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Thiểu Số)
Khi nhà vua đến thì Đức Thế Tôn thường để nhà vua nói nhiều hơn, nhà vua nói rằng ngay trong đời này những người giàu có, có nhiều tài sản thì họ thường bị lôi cuốn và chìm đắm trong các dục, họ sẽ có những hành động không tốt đẹp với người khác, có rất ít người ở trong hoàn cảnh giàu có, sung túc mà không bị lôi cuốn trong các dục và có hành động tốt với người khác. Đây là những điều nhà vua chiêm nghiệm vì vua đã chứng kiến rất nhiều trường hợp như vậy xảy ra, phần lớn những người có danh vọng, địa vị, tiền bạc đều bị lôi cuốn trong các dục, chìm đắm trong các dục và hành xử không tốt đẹp với người khác.
V. Ly dục – ly tham
Nhiều người giàu có không bao giờ muốn lại gần người ăn xin lang thang, một người đẹp không bao giờ chơi chung với người vừa nghèo vừa xấu, họ phải chơi với những người ngang hàng, ngang bằng với họ, dân gian có câu "giàu đổi bạn, sang đổi vợ" chính là nói lên việc bị say mê trong các dục, bị chìm đắm, bị lôi cuốn trong các dục. Nghĩ lại mình cũng phải cảm ơn hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu, bệnh tật vì như vậy sẽ dễ tu hơn sinh ra trong nhà giàu có, đầy đủ, khỏe mạnh.
"-- Thật sự là vậy, thưa Ðại vương. Thật sự là vậy, thưa Ðại vương. Ít thay là những người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào, lại có thể không bị lôi cuốn, không bị chìm đắm, không bị say mê trong các dục và không có những hành vi không tốt đẹp đối với người khác. Trái lại, thật là nhiều thay những người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào, có thể bị lôi cuốn, bị chìm đắm, bị say mê trong các dục và có những hành vi không tốt đẹp đối với các người khác".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Thiểu Số)
Gần đây có những tin chấn động, những minh tinh điện ảnh, ca sĩ nổi tiếng toàn thế giới ở Hàn Quốc bị rơi vào những vụ án nghiêm trọng làm thân bại danh liệt, tù tội, những người có danh tiếng, giàu có, sắc đẹp rất dễ bị chìm đắm trong các dục.
"Loài người bị đắm say,
Trong tài sản, trong dục,
Họ tham lam, điên dại,
Trong các dục ở đời,
Không ý thức rõ ràng,
Ðã quá độ say mê,
Chẳng khác gì con nai,
Không thấy đặt bẫy sập,
Về sau họ khổ đau,
Chịu quả báo ác nghiệp".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Thiểu Số)
Tại sao Đức Thế Tôn và các vị tổ sư khuyến khích nên tu phước huệ song song với nhau? Vì chỉ có làm phước mà không có trí huệ thì khi phước đức trổ ra dễ bị lôi cuốn, dễ bị say đắm trong cái phước của chính mình tạo ra, còn nếu có huệ thì chính cái phước đó sẽ là tư lương hỗ trợ cho mình tu tập trí tuệ, nếu không có tuệ thì chính cái phước sẽ quay lại làm hại, làm mình sa đọa, cho nên mọi người thường nói tu phước mà không tu huệ là tai họa ở đời thứ ba vì đời thứ nhất làm phước, đời thứ hai hưởng phước, đến đời thứ ba bị đọa thì gọi là tai họa trong đời thứ ba.
Tất cả những việc làm phước của bậc Đa văn Thánh đệ tử đều hướng về trí tuệ, hướng về giải thoát, hướng về sự thành tựu chánh kiến, tất cả cái làm phước để chứng đắc trí tuệ thấy được sự thật vô thường của đời sống này, tất cả cái làm thiện để thấy được cái khổ đau của đời sống này, tất cả cái làm lành, làm thiện để mong cầu chứng đắc trí tuệ thấy sự trống không, trống rỗng, vô ngã của thân tâm ngũ uẩn này, đó gọi là công đức của vô vi, cũng là làm phước nhưng đây là phước của vô vi, còn phước kia là phước hữu lậu nghĩa là làm phước, làm thiện để mong cầu đời sau được hưởng phước, còn ở đây cũng làm phước nhưng mong nhìn thấy bản chất của tất cả thế giới là khổ đau, vô thường, trống rỗng, là tan hoại, cho nên trong kinh nói rằng không dự phần vào tất cả thế giới.
- "Thấy được sáu lợi ích, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành. Thế nào là sáu?
Trong tất cả thế giới, tôi sẽ không dự phần vào trong ấy;
Cái gì tạo ra cái "tôi" trong tôi sẽ được chận đứng;
Cái gì tạo ra cái "của tôi" trong tôi sẽ được chận đứng;
Tôi sẽ thành tựu trí;
Không cùng chia sẻ với người khác;
Nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được tôi khéo thấy.
Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỳ-kheo, thật là vừa đủ để Tỳ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành".
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, X. Phẩm Lợi Ích, (IX). Không Có Hạn Chế (3))
Không dự vào nghĩa là xuất ly, viễn ly, làm tất cả việc phước nhưng không mong cầu có một tự ngã hưởng phước đó, làm tất cả việc phước để hướng về Niết-bàn, tâm hướng cầu tịch tịnh. Vì thế cái phước rất quan trọng nhưng cái phước này nhờ trí tuệ dẫn đạo, còn nếu chỉ tu trí huệ mà không có phước sẽ bị chướng ngại cản trở, cực kì khó tu hoặc thậm chí tu không được vì cái phước là nền tảng chuẩn bị để giúp cho mình thành tựu trí tuệ. Chướng ngại không tu được nghĩa là mới lên chùa tu học đã nghe mẹ bệnh nặng phải về lo, mới tu một thời gian nghe tin gia đình phá sản nợ nần chồng chất nên phải về kiếm tiền phụ gia đình, đó là do thiếu phước dẫn đến việc bị cản trở không tu được, đó là lý do mọi người thường nói phước huệ song tu.
"Loài người bị đắm say,
Trong tài sản, trong dục,
Họ tham lam, điên dại,
Trong các dục ở đời",
Đức Phật dùng các từ "đắm say", " tham lam", "điên dại", những từ này rất sâu sắc nên cần thiền quán, chiêm nghiệm. Lòng tham lam đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc không bao giờ dừng nghỉ được mà sẽ tham muốn vô cùng vô tận. Chúng sanh cứ say mê, chìm đắm trong đó, thậm chí đến mức độ điên dại, cô gái mới ngoài hai mươi đã nằm lăn lộn trong ống cống nước đen ngòm, dơ bẩn vì bị ngáo đá, đó là dục điên cuồng, thân thể lành lặn có biết bao thú vui để cảm nhận vậy mà lại chọn con đường nghiện ngập không lối thoát, hủy hoại sức khỏe, tương lai nhưng hiện giờ những thứ gây nghiện đó lại tràn ngập thế giới, có những người xin tu vì trước đây họ bị nghiện nên giờ muốn tránh xa khỏi nó, những thứ đó hành hạ họ suốt đời trong điên dại.
Thước đo của sự tu hành chúng ta hiện giờ chính là sự ly dục, càng ly dục nhiều chừng nào thì càng gần đến Niết-bàn chừng đó, phải ly dục, ly tham đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc, có nhiều người lên núi chỉ muốn tu vài ngày thôi chứ không ở lâu được vì thèm được ăn ngon, muốn tiếp xúc với sắc đẹp cho nên nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham chính là đạo lộ của bậc Thánh vì ái dục là căn bản của khổ đau.
"Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già và chết đến với loài sinh vật".
(Trung Bộ Kinh, 1. Kinh Pháp Môn Căn Bản)
Bây giờ tu là muốn hết khổ, muốn xa lìa khổ thì diệt khổ được mức độ nào sẽ giảm khổ ở mức độ đó. Ngày xưa là điên dại hoàn toàn trong dục, giống như con nai vô tư không biết bị sập bẫy, bây giờ biết tu giảm còn 70%, nghe pháp, ngồi thiền, quán chiếu còn 50% nghĩa là mình bớt được 50 phần khổ, giảm bớt từ từ, giảm càng nhiều thì càng gần Niết-bàn chừng đó. Còn giờ ở trên núi an lành tu học không muốn mà cứ xuống núi đi chợ, mua đồ, rồi lỡ dính dịch bệnh thì không những hại bản thân mà còn hại hết đại chúng, đó là sự thúc giục muốn tiếp xúc, muốn là đi chứ không hề có sự suy nghĩ đắn đo, thời điểm này là như thế nào, mức độ nguy hiểm ra sao, không những nguy hiểm cho tự thân mình mà còn cho cả đại chúng.
Thang đánh giá trong sự tu học chính là việc lìa xa đối với năm dục trưởng dưỡng, lấy điều này làm thước đo trong tu hành, còn đam mê, say đắm với sắc nhiều không, còn thích nghe nhạc (thanh) không, lên xe taxi mà tài xế mở nhạc trữ tình thì mình thọ nhận luôn hay khéo léo nói tài xế tắt nhạc, ngoài ra còn mùi vị thức ăn, cho nên tu giỏi hay dở, sâu hay cạn phải lấy cái này làm thước đo, còn nặng nề trong cái ăn không, còn yêu thích những âm thanh du dương, khả lạc, khả hỷ, khả ái ở đời không, còn ham thích sắc đẹp không, còn mong muốn sự tiếp xúc không.
Cho nên phải cung kính, kính trọng đối với những vị nhập thất dài lâu một mình trong rừng núi, phải nhiếp phục được cái xúc thì các vị ấy mới ở lâu được, nếu không nhiếp phục được năm dục trưởng dưỡng thì không thể ở nơi xa vắng để tu hành, không thể độc cư ly dục được, chỉ bao nhiêu đây cũng đáng để mình cung kính chắp tay đảnh lễ, cúng dường. Chúng sanh bị đắm say, si mê, điên dại trong năm dục trưởng dưỡng này, đang dịch bệnh mà đi thăm bệnh, tổ chức sinh nhật, đám tiệc… vậy là lây bệnh cho nhiều người, ngoài ra còn sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái.
Pháp ái là sự ưa thích những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm, phải có chánh kiến mới lìa được sáu ái, có thể lìa những cái bên ngoài nhưng đến những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm thì rất khó khăn để từ bỏ, phải có sự nhận diện ngũ uẩn sâu sắc mới viễn ly từ từ. Mình đang niệm thọ, niệm thí, niệm thiên là mình đem những thọ; tưởng; hành của thiện pháp nhằm đánh đuổi những thọ; tưởng; hành của bất thiện pháp, cho đến khi thiện pháp viên mãn cùng cực thì thể nhập Thánh trí tuệ bất tử.
Nếu còn bất thiện thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó sẽ giày vò làm mình trạo hối không ngồi thiền được, khi đã thuần thiện thì tâm sẽ an lạc, không bị trạo hối, không còn nhớ người này sân người kia, khi thiện pháp đã viên mãn thì siêu việt thiện ác, nếu xả ly luôn thiện pháp thì tâm đạt đến bất động giải thoát, nhưng trước khi đi đến bước cuối cùng đó phải tu tập thiện pháp cho viên mãn, trắng như vỏ ốc, nghĩa là nhìn trong tâm không còn điểm đen nào nữa, giải tỏa tất cả những thọ; tưởng; hành ác bất thiện pháp, tham, sân, si, vô minh, bản ngã hoàn toàn không còn nữa, như vậy tâm bình an, hoan hỉ, an lạc sẽ đi vào các tầng thiền, cộng với trí tuệ triển khai thiền quán về Thánh trí ngũ uẩn là nhập Thánh.
Còn bây giờ vào ngồi thiền là trong tâm còn rất nhiều tham, sân, si, vô minh, bản ngã, ác bất thiện pháp, sân hận, thương yêu, thù hằn, ganh tỵ thì làm sao vào chỉ – quán – định – tuệ cho nên phải dọn dẹp những thứ rác bẩn, cấu uế này để đưa nghiệp trắng vào, vì thế mới phải niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên, niệm hơi thở, niệm tử, niệm tịch tịnh Niết-bàn, những cái này nhằm thay thế cho nghiệp đen trong nội tâm, cho đến khi những suy nghĩ, cảm thọ chỉ thuần là thiện pháp thì tâm an lạc, hỷ lạc, không còn ray rứt, giày xéo nữa thì mới đi vào các tầng thiền, tối thiểu cũng được Sơ thiền, từ chỗ này mới triển khai thiền quán thâm sâu về trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã của ngũ uẩn, về ung nhọt, ung bướu, mũi tên rồi tâm xả ly, viễn ly, xuất ly.
Vì vậy khi chúng sanh không thấy không biết đạo lộ được Đức Phật chỉ dạy sẽ giống như con nai không thấy cái bẫy, cả cuộc đời lao vào truy tìm năm dục trưởng dưỡng, cho nên mục đích tối thượng của đời sống tu hành là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, sự viễn ly đối với tham dục, cứ làm từng chút một cho đến hoàn toàn viễn ly là đại thành công, mục đích cứu cánh, lấy đó làm thước đo. Chúng ta cứ tác ý bất tịnh, nhàm chán, xa lìa để tránh xa từ từ đối với năm dục trưởng dưỡng, càng tránh xa nhiều chừng nào thì sự tu càng gần đến chỗ ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Người đời nếu không biết sẽ sập bẫy, lún sâu vào thì càng về sau khổ đau càng chồng chất chịu quả báo ác nghiệp, chết rồi đời sau sanh ra cũng sẽ chạy theo năm dục, tất cả thế giới đều chạy theo năm dục này ngoại trừ người tu, bậc Đa văn Thánh đệ tử, còn càng xa lìa nhiều chừng nào thì sự thành công, sự trưởng thành của mình trong tuệ giác càng lớn mạnh chừng đó. Thế Tôn khoác tấm vải cũ, đầu trần chân đất ôm bình bát, đó chính là phạm hạnh ly dục, tất cả sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp đều không làm cho ngài tham muốn, dính mắc, ngài hoàn toàn tự tại đối với tất cả năm dục trưởng dưỡng, đối với sáu ái, đối với căn – trần – thức , đối với cả thế giới, không có một cái gì có thể buộc chân ngài được, đó là bậc ly tham đối với năm thủ uẩn, đoạn tận khổ đau. Mình thích thú đối với điện thoại, suốt ngày cầm ngắm nó, bây giờ nếu điện thoại hư hoặc bị ăn cắp thì phiền não, đau khổ, còn giờ không ưa thích, không mong muốn, chỉ lo tu tập thì không còn khổ nữa, ngũ uẩn này cũng như điện thoại, không ham thích, khoan khoái, mong muốn nữa thì không còn khổ, cho nên đạo lộ của Thế Tôn rất rõ ràng, hãy dựa vào đó mà tu tập.
Hôm nay chúng ta tiếp tục học về Tương Ưng Kosala – Đế Vương và Pháp Vương, chúng ta nghe bài kinh Tự bảo hộ và Thiểu số, nói về tự bảo hộ chính mình và nói về dục làm chúng sanh đau khổ, sự tu hành của chúng ta là xả dục ly tham đối với năm dục trưởng dưỡng. Chúc cho tất cả chư Tăng Ni và quý Phật tử có được sự hỷ lạc trong pháp, tự khéo bảo hộ mình bằng phước lành, bằng nghiệp lành, bằng những ý nghĩ, lời nói, hành động lành, đem đến an lạc cho hiện tại và tương lai.
./.