Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng Sáu Xứ 6 Chấp thủ và cái bị chấp thủ

2026-03-03 00:52:40
Tương Ưng Sáu Xứ 6 - Chấp Thủ & Cái Bị Chấp Thủ

-THÍCH MINH THÀNH-

Rõ biết ở trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận trời đất bao la nơi này, xuyên thủng hết tất cả tường vách chướng ngại vật, cảm nhận không gian trời đất bao la, thênh thang. Cảm nhận an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Bình an thật là bình an, tịnh lạc ôi là tịnh lạc, nở nhẹ một nụ cười trên môi, hỷ lạc là giây phút này, hạnh phúc là khoảnh khắc này, thật dễ chịu làm sao, dễ chịu làm sao. Vui thay chúng ta sống an tịnh giữa những sự lăn xăn, tất bật. Mầu nhiệm là khoảnh khắc này, thiêng liêng là giờ phút này, hiếm có khó gặp là chân diệu pháp này. Mỉm cười nhẹ lên, đừng nhắm mắt. Minh Thành xin nhắc quý vị, khi ngồi phải cảm giác toàn thân, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai của mình phải thả lỏng. Phải học thuộc bài sau đây và ba pháp phải nắm thật vững:“Cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc A La Hán Chánh đẳng giác. Cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng. Cúi đầu đảnh lễ bốn đôi tám bậc Hiền Thánh Tăng, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Cúi đầu đảnh lễ Thánh giới tối thượng. Cúi đầu đảnh lễ bốn Dự Lưu phần, con nguyện đời này quyết chắc nhập lưu”.

Xin thưa đại chúng, khi mà Minh Thành tu học theo tinh thần kinh Nikaya, để hết tâm của mình vào trong pháp học và pháp hành thì mỗi một ngày, mỗi một tháng, mỗi một quý, ba bốn tháng, thì Minh Thành thấy là tâm cung kính của mình đối với Đức Phật, đối với giáo pháp càng ngày càng kiên cố, bất động và mình thấy sự chứng ngộ của Đức Phật là siêu kỉ lục trong ngàn ngàn, vạn vạn thế giới. Chúng ta học tu lần lần thì chúng ta sẽ thấy không phải như cái hiểu đơn sơ, cạn cợt của chúng ta trước nay. Minh Thành đang chia sẻ cho đại chúng nội viện của Linh Quy Pháp Ấn về Tương Ưng Sáu Xứ hết sức thâm sâu, có những lúc Minh Thành đọc kinh mà nước mắt tràn ra. Tràn ra trong sự biết ơn, tri ơn vô tận, vô hạn đối với Đức Phật và đối với Thánh trí-chánh pháp của Ngài. Từng tế bào rúng động, chấn động giống như một cơn địa chấn của thâm tâm, rung chuyển hết tất cả sắc, thọ, tưởng, hành thức. Vô minh, chấp thủ và những khát ái của mình cũng bị rúng chuyển, động chuyển, chấn động. Hôm nay, Minh Thành muốn tiếp tục phần Tương Ưng Sáu Xứ, hôm trước chúng ta có học một buổi về Con rùa-Linh Quy pháp môn, bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về chấp thủ, khổ và tuệ tri.

Chúng ta thường hay nghe về chữ chấp, chấp thủ nhưng mà chúng ta nghe một cách chung chung, không rõ rành, hôm nay chúng ta sẽ được Đức Phật dạy mình rất là minh bạch và cụ thể. “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về các pháp bị chấp thủ và chấp thủ. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị chấp thủ, và thế nào là chấp thủ? Mắt, này các Tỷ-kheo, là pháp bị chấp thủ. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, ở đấy là chấp thủ”. Quý vị phải phân biệt hai chỗ này, một cái là chấp thủ, một cái là bị chấp thủ. Con mắt là cái bị chấp thủ, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi, cái miệng, cái thân cũng là cái bị chấp thủ. Như vậy chúng ta thấy được chấp thủ và bị chấp thủ là gì chưa? Bị chấp thủ là cái thân này, còn cái chấp thủ là dục và tham. Mà chấp thủ là gì? Chấp là cầm, nắm; thủ là chắc, chặt, như vậy chấp thủ tức là nắm, cầm chắc, chặt không có buông ra. Chỉ có một câu như vậy thôi mà rất sâu xa và vi diệu. Mình thêm một bài về chấp thủ nữa “Này các Tỷ-kheo, do có mặt cái gì, do chấp thủ cái gì khởi lên nội lạc, nội khổ? Do mắt có mặt, do chấp thủ mắt nên khởi lên nội lạc, nội khổ. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy”. Nội lạc, nội khổ là khổ vui ở bên trong. Như vậy, chỗ hết sức là thâm sâu của nguồn gốc khổ, nguyên nhân sanh khởi ra tất cả đau khổ, ở đây là nói một cách khác thôi chứ nó vẫn là năm uẩn. Như vậy, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là thuộc uẩn gì, là sắc uẩn. Sự tham ái đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sự tham này, cái dục này, cái ái này, sự bấu vào, bám vào, nắm vào, nắm chặt vào đó gọi là chấp thủ, hễ nắm chặt vào cái nào thì cái đó là cái bị chấp thủ. Lấy một thí dụ từ ở ngoài vào cho quý vị dễ hiểu, gần đây có câu chuyện hết sức đau lòng, chấn động. Hai anh em ruột, nhà ở cạnh nhau được cha mẹ để lại cho mảnh đất mà lại giành nhau có 0,5m thôi, vì nửa mét đất mà người anh đã chém chết người thân của mình: em ruột mình, cháu mình, em vợ. Giết người giống như giết gà, giết vịt, mình mẫy, mặt mũi đầy máu. Mà khi đi đến cơ quan lại khoe, lại kể một cách bình thản giống như đang khoe chiến tích mà không thấy run sợ, không thấy hoảng sợ, không thấy kinh sợ, không thấy khiếp sợ. Vì vậy, sau khi quý vị học bài học này thì quý vị sẽ nhìn ra được cái gì là cái bị chấp thủ, cái gì là chấp thủ? Minh Thành cho quý vị thực tập từ trong kinh, nhưng vì trong kinh rất súc tích, cho nên quý vị phải đem cái này để nhìn ra cuộc sống hiện thực thì quý vị mới thấy rõ cái pháp, chứ không thôi quý vị đọc thì sẽ không thấy. Nửa mét đất đó là cái gì? Là cái bị chấp thủ; còn lòng dục, tham và ái đối với miếng đất đó là chấp thủ. Như vậy từ chỗ chấp thủ này mà đã làm tất cả khổ. Miếng đất từ đó giờ vẫn nằm ở đó, nó đâu xúi ai chém, xúi ai giết, xúi ai đâm nhưng mà do sự chấp thủ và không phải chỉ đợi tới nửa mét mà chừng một gang tay thôi cũng có thể xảy ra những chuyện hết sức đau lòng. Rồi trong việc giành khách, giật khách với nhau cũng xảy ra những chuyện hết sức đau lòng, có khi là dẫn đến án mạng, như giành khách đi xe ôm, giành khách buôn bán và có người có thể vì một trăm ngàn, năm chục ngàn mà phải vào tù chung thân hoặc là tử hình. Xảy ra án mạng trên một tờ giấy tiền đó, có không quý vị? Như vậy trong trường hợp đó cái gì là chấp thủ, cái gì là bị chấp thủ? Tờ tiền đó là bị chấp thủ, còn tâm mà ham dục, tham, ái thì đó là chấp thủ. Từ một điều này quý vị phải nhìn ra hết tất cả là ở trong đời sống của mình chứ không phải là ở trong giấy, mực nữa. Như vậy đã nói xong chuyện ở ngoài, bây giờ tới mình, mình hãy khai đi, khai ra, khai hết ra đây, mình khổ với cái gì nhiều thì mình biết là mình chấp thủ với cái đó nhiều. Có người thì thích xe, có người thì thích nhà, có người thì mê đất, có người thì ham tiền, rồi có người thì thích đẹp mà gọi là hoa hậu dao kéo. Mình nghe là mình muốn rụng rời, hoa hậu mà là dao kéo, vì cái đẹp đó, vì ưa cái đẹp đó, vì thích cái đẹp đó, vì muốn cái đẹp đó, vì ái cái đẹp đó mà sẵn sàng chịu đau đớn, khổ sở, thậm chí không phải đau một chút đó thôi mà là đau suốt cuộc đời. Có những người tới nỗi không dám đi ra đường, do một khi những chất trong người mình nó đổ ra một cách đau đớn, khổ sở, khủng khiếp thì khi ấy mình không giống người bình thường nữa mà giống như một dị nhân. Bây giờ quý vị chỉ bị một cái gì chút xíu thôi, thí dụ bị lọt thứ gì đó vô lỗ mũi, lỗ tai và nó ở trong đó luôn đi ra không được thì quý vị khó chịu không, nói chi đến việc đổ những thứ đó vô trong người rồi nó ở chung với mình mười năm, hai chục, ba chục năm, ớn không? Nhưng tại sao người ta lại thấy đó là hạnh phúc, tất cả đều do chấp thủ vô cái đẹp đó. Cho nên có rất nhiều sự chấp thủ và chúng ta đau khổ vì chúng nhưng mà lại lấy khổ làm vui mới là chết. Tưởng đâu cái đó là vui, nghĩ rằng cái đó là vui nhưng sau này thì hối hận. Có nhiều người đi xăm, xăm đã rồi thì xóa, đau đớn lắm. Đó là nói vòng ngoài, bây giờ nói từ từ vào trong chỗ hết sức là thâm sâu. Mình cho rằng con mắt này là tôi, là của tôi; lỗ tai này là tôi, là của tôi; lỗ mũi này, cái miệng này, cái mặt này là tôi, là của tôi. Mỗi buổi sáng mình nhìn vô gương chớp chớp con mắt, ngày xưa con mắt hai mí rất đẹp, bây giờ mắt một mí cũng đẹp theo kiểu Hàn Quốc, khi nhìn gương mình thấy hài lòng, thỏa mãn, thích thú, mình thấy thương thương con mắt này, thấy con mắt này cũng được lắm quý vị có như vậy không, khai thật đi đừng chối. Ai đụng vô con mắt là biết liền, mà đừng nói là đụng vô, mới đứng xa mà liếc một cái là thấy liền. Ở bên trong sâu thẩm nhận thức của mình bám rất là chặt vào sáu căn này dù nó chính là chi tiết của sắc uẩn, vì thế có những người nói sắc uẩn, nói tứ đại thì họ không thấy nhưng nói rõ là con mắt, lỗ tai, cái miệng thì họ thấy. Đức Phật có rất nhiều khía cạnh, góc độ để Ngài đánh sập, đánh vỡ, đánh tan, đánh nát hết tất cả những cái chấp thủ nhưng mà bằng nhiều hình thế, nhiều hình thái và nhiều góc độ để đánh phá vô sắc uẩn. Cho nên đây là cách chi tiết cụ thể hơn về phá sắc uẩn, phá lòng chấp thủ, tham ái đối với chấp uẩn. Lỗ tai, lỗ mũi, cái miệng, nói chung là sáng mình thức dậy nhìn vô gương là thấy một gương mặt, thấy cái bóng soi vô mặt gương thì lúc đó thọ, tưởng, hành của mình như thế nào? Đây là thực tế đó, không cần phải lên thiền đường đâu, sáng vừa thức dậy là mình rửa mặt rồi mình ngắm mặt mốc của mình trong gương thì lúc đó cảm giác nghĩ tưởng nó vận hành, sanh khởi như thế nào trong suy nghĩ của mình là điều hết sức vi tế. Minh Thành nói trường hợp rất sau đây thực tế để quý vị tu, bình thường cảm thấy thích thích gương mặt này, gương mặt này là tôi, là của tôi, nhưng hôm nay nhìn vào gương thì thấy nó nổi lên một cái mụn bọc to bằng ngón cái thì cảm giác, nghĩ tưởng của mình như thế nào? Mình sẽ nghĩ tôi bị xấu rồi, và mình không thích điều này chút nào hết, cảm giác của mình là khó chịu; tưởng của mình là đi ra đường người ta nhìn, người ta chê mình; hành của mình nói rằng bữa nay mình ở nhà mấy ngày luôn, chừng nào nó xẹp xuống mình mới đi ra đường. Và những cảm giác, nghĩ tưởng sâu sắc trong thọ, tưởng, hành của mình là cái mặt mình bị xấu, và mặt này là mặt của tôi. Quý vị thấy sâu sắc chưa? Mà còn suy nghĩ như vậy là còn sầu, bi, khổ, ưu não tại vì cái mặt này nó sẽ tàn tạ và rã rời, như vậy ngay lúc đó mình phải Như lý tác ý, phải suy nghĩ như thế nào? Con mắt này là đất, nước, gió, lửa; lỗ tai này, lỗ mũi này, gương mặt này khi lột lớp da ra bên trong là cái gì, phải nhìn xuyên thủng qua lớp da đó để thấy được thực tướng của sắc uẩn. Nếu mà lột lớp da này ra rồi thì còn vẻ đẹp này nữa chăng? Tại sao chỉ có một lớp da phủ lên đây thôi là mình chấp thủ, mình tham đắm, mình ưa thích, mình đam mê, mình dính mắc, mình bấu chặt, bám chặt vô đây? Và bây giờ từ chỗ ở trong suy nghĩ, trong nhận thức, trong cảm giác, trong cái tưởng như vậy thì khi mình gặp một ai mà người ta nói câu “mặt chị nhìn xấu xí quá” thì lúc đó sân nổi lên liền vì bên trong là một sự chấp thủ. Cho nên quý vị mới thấy nguyên nhân vì sao mình có tham, sân, quý vị nhìn cho sâu sắc điều này. Tại sao mình nghe một lời chê là mình bực lên, tại sao mình nghe một lời khen ngợi là mình vui thích, khoan khoái. Gốc rễ sâu xa của nó Đức Phật nói là do chấp thủ mắt cho nên khởi lên nội lạc, nội khổ; chấp thủ tai, mũi, lưỡi, thân, ý nên khởi lên vui và khổ ở bên trong. Chấp thủ là mình cho đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, còn cái suy nghĩ, nhận thức, cái nhìn mà không phải là tôi, không phải là của tôi, nó chỉ là tứ đại thì cái này là mình mới nghe và suy nghĩ chút đỉnh. Cho nên bây giờ trong sự tu học của chúng ta tại sao phải nghe pháp nhiều, đa văn Thánh đệ tử, tại sao mình phải tác ý nhiều, vì có nghe nhiều mình mới loại được những suy nghĩ trước kia của chấp thủ, vô minh. Nếu mình không nghe, thì mình vẫn ở ngay vị trí cũ là vị trí vô minh và khát ái đối với năm thủ uẩn, đó là vị trí cũ muôn đời, ngàn kiếp, chín ngàn tỷ năm rồi. Mình vô minh, mình không biết năm thủ uẩn, mình không thấy được sự khát ái, sự chấp thủ đối với năm uẩn là đưa đến khổ đau cho nên mình sẽ vẫn ở vị trí cũ nếu mình không nghe, không tư duy, không quán chiếu. Vì thế, Minh Thành hay dùng từ tẩy não là một đại công trình của văn, tư. Nghe liên tục, tư duy liên tục, tác ý liên tục. Ở trong này nó khởi lên mình đẹp quá là mình đánh liền, mình dập liền. Mình ở đâu, đây là tứ đại, đây là đất, nước, gió, lửa có gì trong đây mà ưa thích, mà khoan khoái mà thỏa mãn với đống vô thường này. Có gì trong đây mà ham muốn, mà bám víu, mà chấp thủ vào cục đất, cục thịt, cụt mỡ, cục máu, cục mũ này, cái bộ xương này, có gì ở trong đây đâu? Sự tác ý liên tục như vậy là Thánh trí để phá phàm tình, còn nếu mình để y nguyên mà không tác ý, thì xin thưa quý vị là không bao giờ thủ chuyển được hết, vì ngũ thủ uẩn nó bị động chuyển do Thánh trí của Như lý tác ý nó đánh sập, đánh liên tục. Bắt đầu sâu sắc rồi đó, quý vị nghe hiểu được không, cái này rất thâm sâu. Mỗi khi trong ý hành, trong cảm giác, trong tưởng những cảm giác nghĩ tưởng của mình mà nó về một cái tôi, một cái của tôi. Mỗi khi mà nó tham luyến ưa thích đối với thân xác, tài sản, cảnh vật này là mình huấn luyện, dạy dỗ, giáo dục, đánh đuổi những cảm giác tham ái đó ra, tại vì nó tham, ái, nó bám víu vô đây thì tại sao khổ.“ Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con mắt là thường hay vô thường? - Là vô thường, bạch Thế Tôn. -Cái gì vô thường, là khổ hay lạc? - Là khổ, bạch Thế Tôn.- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi nhìn cái ấy như sau: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi "?” Tại vì nếu mình cho cái vô thường là mình, vài bữa sau nó tan rã thì lúc đó mình sầu, bi, khổ, ưu não không? Mà mình thấy cái vô thường là vô thường thì khi nó vô thường mình có khổ không? Minh Thành hay lấy thí dụ mấy cô hay chưng hoa cúng Phật, khi mình cắt những cành hoa sen, mình cắm vô rất là đẹp, mình đem vô mình cúng, 4-5 ngày sau mình bưng xuống thì mình không khóc, vì thấy nó là vô thường, vậy sao khi mình bệnh thì mình khóc? Sao cái thân tứ đại này nó tàn thì mình khổ sở, bấn loạn, là do chấp thủ, mình không thấy nó là vô thường. Nếu mình thấy cái thân này giống như cánh hoa sen kia, mình thấy rõ ràng như vậy, thì khi mình sanh tử, đối diện với cái vô thường, cái chết thì mình điềm nhiên. Tại sao, vì nó là như vậy, ta đã biết từ lâu, mỗi ngày mình đã quán chiếu, mỗi ngày mình đều thực tập, mỗi ngày mình càng thẩm thấu, tư duy, tư sát, mình đã sống, ăn với nó, ngủ với nó, đi, đứng, nằm, ngồi với nó, sống chung với trí huệ như vậy tới khi nó rã ra thì thấy đó là bình thường, mình đã biết từ lâu rồi, có gì đâu. Đức Phật thương mình cho nên truyền lại trí huệ hết sức thâm sâu này, đánh phá sập vô minh, khát ái và chấp thủ đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này. Xin thưa là quý vị cứ niệm để tự nhắc mình, niệm lên ở đâu cũng được, thí dụ mình thấy mình thương cái thân này quá thì mình niệm “thân này là vô thường, thân này là bệnh hoạn, thân này là ung nhọt chảy ra chín lỗ, có ai ngồi đây mà không phải ung nhọt không, thân này là chất chứa cái nghiệp, sẽ bại hoại, tan nát, tan rã”. Mỗi khi mình tham ái, chấp thủ đối với cái gì ở nơi thân này thì niệm câu đó lên, mà không phải niệm là đọc suông, mà niệm bằng tất cả trái tim và tấm lòng, một cảm xúc trào dâng lên thấm thía, ngấm nghía, nó rung rinh, rung chuyển, xúc cảm khi thấy rõ sự thật như vậy. Quý vị cứ thực tập thường trực như vậy, khi có những bất như ý, nghịch cảnh đến với mình, mình niệm câu đó lên thì phép lạ sẽ xảy ra, mình được bình an, bớt khổ rất nhiều, đó là Tứ Niệm Xứ, là niệm thân.

“Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về khổ tập khởi và khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ tập khởi? Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Ðây là khổ tập khởi. Tai. Mũi. Lưỡi. Thân. Ý cũng vậy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt? Do duyên mắt và các sắc khởi lên sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ với nhau khi mắt tiếp xúc sanh ra một cảm thọ, cảm giác, do có cảm thọ, cảm giác nên ái sanh khởi. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, ưu, não diệt. Ðây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Ðây là khổ chấm dứt”. Thế nào là khổ tập khởi, bắt đầu mình tiến sâu sắc vô để quý vị thực tập duyên sanh pháp. Mình thấy rằng con mắt này là của tôi, không cần nói ra cái câu, mà nó đã ăn sâu trong tim rồi, các sắc này là của tôi, thí dụ đây là chùa của tôi. Khi đó khởi lên sự rõ biết các sắc là của tôi, đây là chùa tôi, đèn tôi, chuông tôi, cột chùa tôi, phòng tôi, xe tôi, cái gì cũng gắn tôi vô, đó là khởi lên cái thức. Khi nhãn xúc, sự tiếp xúc của con mắt như vậy, có con mắt, có các sắc, có sự rõ biết các sắc và ba điều này hội tụ lại, sự tiếp xúc diễn ra như vậy thì sanh một cái cảm thọ, cảm giác. Mà sanh khởi là cảm giác dễ chịu thì càng chết, đừng tưởng dễ chịu là ngon. Minh Thành nói rộng ra cho quý vị thấy, mấy người nhà giàu, thích hưởng thụ, thì họ có chịu tu không. Lên Linh Quy cho nằm như các mòi sấp lớp, toilet cũng không đủ, ăn thì bắt ngồi đó chầu chực suốt hai tiếng đồng hồ hành hạ, nhưng quý vị vẫn cười vui, hoan hỷ, quý vị thấy mình có tuyệt diệu không? Đó, qua những điều Minh Thành vừa nói thì thọ của quý vị do nhĩ xúc sanh là lạc thọ hay khổ thọ, là lạc thọ, quý vị thấy chưa, một khi mà cảm thọ sanh khởi lên dễ chịu, thích thú, khoan khoái như vậy thì sẽ sanh ra ái, ưa thích. Điều này Minh Thành gọi là Tâm lý học tối thượng của Phật giáo, không có một nhà Tâm lý học, một môn Tâm lý học nào mà có thể chỉ ra rành rõ, tuần tự cả một hệ nhân quả, duyên sanh của các pháp trong thân, tâm mình. Những điều đó sanh khởi mình thấy rõ nguyên một chuỗi như vậy. Cho nên muốn khởi lên một sự ái, ưa thích, vui vẻ hay là tức giận là cả một chuỗi dài, chứ không phải là giận liền, hay thương liền. Thành ra quý vị có thực tập thiền, thực tập nhìn lại nhận diện ngũ uẩn, nhận diện duyên sanh pháp, thì quý vị sẽ thấy để có được một sự tức giận, hay một tham muốn, thì mình sẽ thấy nó qua một chuỗi hết sức là dà. Giống như trong các công ty người ta làm mì gói, hay làm bánh đều qua một quy trình, chạy qua từng khâu cuối cùng mới ra gói mì, hay là một bịch bánh. Cũng vậy, khi mình tập cái này quý vị sẽ thấy hay lắm, rất là tuyệt vời. Vì vậy, khi một cảm giác dễ chịu, ái ái, thích thích thì ở trong đó là tham, là thương, là ưa trong đó, là mến, là dục và muốn nắm giữ cái đó,cho nên ái có thủ. Căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ quý vị thấy rõ không? Hồi xưa mình học mình đọc giống như thần chú, bây giờ mình biết nhận diện năm uẩn, có thực tập cảm giác toàn thân thì quý vị thấy rất là rõ cái nào ra cái nấy, Chánh pháp là vậy đó. Như vậy, đó là một sự chấp thủ, mà hễ có chấp thủ thì có khổ. Mình nhớ câu cuối cùng trong Tứ Niệm Xứ: “Vị ấy sống không nương tựa, không chấp chước một vật gì ở trên đời”. Câu đó tuyệt vời lắm. Cả một quy trình nó vận hành như vậy. Khi thủ nó sanh và bám giữ rồi thì nó không thể không có, như vậy hữu sanh. Mà có là có cái gì, là có ra sự hiện hữu, có ra nghiệp, có ra pháp đó, và có ra một đời sống tiếp tục của tham chấp, tham luyến, tham ái. Thủ là nó sanh ra hữu, nó dẫn mình đi, hữu sanh sầu, bi, khổ, ưu não, tử, sanh thì phải có tử, một cái chuỗi đó nó vận hành. Như vậy để Minh Thành giới thiệu một phần của duyên sanh pháp, mười hai nhân duyên. Chúng ta sẽ học thâm sâu lắm, từ từ mình học, bây giờ giới thiệu một phần thôi. Quý vị thấy rằng, Đức Phật gọi khổ tập khởi là sự tụ tập, nhóm họp để sanh khởi lên khổ đau cho tất cả chúng sanh, mà hằng ngày điều này nó diễn ra biết bao nhiêu là hiệp, biết bao nhiêu trận mà chúng ta không thấy, không biết nên mình vô minh. Căn mình cũng không biết, trần mình cũng không biết, thức mình càng không biết, xúc thì mình lơ mơ tơ mơ, thọ thì mình nhào vô, ái thì mình mê, thủ thì mình ở chung với nó, tất cả tạo nên một cái thân chình ình ngồi đây, một cái ngã chình ình. Đi đâu cũng vác theo cái núi Tu-di, dòm cái này, dòm cái kia để ý rồi kiếm chuyện để cho phiền não, khổ chưa. Nội soi không lo, mà tối ngày lo ngoại soi, dòm để ý người ta rồi bắt lỗi. Như vậy quý vị thấy chưa, đó là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.

Bây giờ mình phải gỡ nó từ đâu, hay lắm, mình tu cái này hay lắm, mình phải gỡ từng phần, mình cứ niệm con mắt này không phải là tôi, không phải là của tôi, con mắt này là vô thường là duyên sanh, tan hoại, hoại diệt, tan nát, tan rã. Lỗ tai này không phải là tôi, nó chỉ là cục thịt thôi, tai nạn là văng ra hết; sờ lên lỗ mũi này xem có lót cái gì trong này không, nếu là đồ giả thì nhiều khi có lót cái gì bên trong đó, lỗ mũi này là đồ dỏm, không phải của tôi. Vài bữa ngưng thở là nó rã, cái miệng này cũng không phải là tôi, không phải của tôi, là vô thường nó sẽ rã, cái thân này cũng vậy. Niệm hoài, niệm nhiều hơn là niệm câu Phật nữa, niệm để nhắc, như vậy mới nhả ra từ từ, mới buông ra từ từ, mới nới ra từ từ, nó lỏng ra từ từ cái chấp thủ đang xiết mình hàng trăm, hàng ngàn vòng này. Nếu như mỗi một ngày mình nghiềm ngẫm, mình tư duy, tư sát, mình quán chiếu như vậy là mình mở ra được mở ra được một vòng, thì còn lại chín mươi chín vòng. Ngày mai mình nghe và nghiền ngẫm nữa thì sẽ mở được thêm nửa vòng, một vòng, hai vòng nữa, cứ như vậy mở riết như vậy, Đức Phật có một bài kinh nói “Nếu một người nào đã biết, đã hiểu con mắt này là vô thường, là khổ, là vô ngã; tai, mũi, lưỡi, thân, ý này là vô thường, khổ, vô ngã mà người đó quán chiếu như vậy thì người đó vượt phàm phu địa, người đó đến địa vị của Chân nhân, người này không thể lúc mạng chung mà không chứng quả Dự Lưu”. Đức Phật cũng có nói nếu kham nhẫn chịu khó thêm thiền quán nữa thì người này là bậc Tùy tín hành, Tùy pháp hành, là những bậc chắc chắn ngay trong đời này phải vào dòng Thánh trí của Đức Phật, không thể có sự kiện một người thấy thật sự như vậy, hiểu thật sự như vậy, nghiềm ngẫm, tư duy, quán chiếu như vậy mà khi nhắm mắt không vào quả Dự Lưu là điều đó không thể xảy ra, điều này nói trong Tương Ưng Nhập lưu. Cho nên quý vị mở một vòng, hai vòng, ba vòng, mở liên tục như vậy cho đến ngày chuẩn bị ra đi là ngày mở một vòng cuối cùng thì tối thiểu là đạt Sơ quả, tối cao là bung hết tất cả. Như vậy thấy tu có sướng không, hạnh phúc không, chứ tu đâu có khổ đâu, mình nói về khổ, mình nghiên cứu khổ, mình thấu khổ, mình nhiếp phục khổ, mình chinh phục khổ, mình vượt qua khổ để mình hết khổ. Chứ không phải vào đây ngồi than khổ. Mình tìm kiếm, moi móc, phăng ra tận nguồn điều gì làm cho mình khổ, đó gọi là khổ tập khởi. Thứ gì làm cho mình khổ mình phải vạch mặt nó ra, mình phải nhìn thấy bộ mặt của nó và có phương pháp xử lí nó, chứ không phải cứ ngồi đó than khổ thì không giải quyết được gì. Còn người đi tìm nhưng trật lất, tưởng đâu Phật hay ai đó độ mình nên tối ngày cứ vô lạy cầu Phật độ con hết khổ, phải không? Mà quý vị hãy nhìn những cảm giác, những sự chấp thủ đó ai sẽ giúp cho mình mở ra được nếu không phải là chính mình. Không ai hết, không ai giúp mình mở ra hết ngoài chính mình bằng sự nghe, tư duy, quán sát, thẩm thấu và tự mình nhả ra, tự mình buông và tháo ra. Đó gọi là tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình làm hải đảo cho chính mình, tự mình giải thoát, tự mình tháo gỡ, tự mình thấy, tự mình biết, tự mình hành trì, tu tập và tháo mở. Như vậy, chúng ta thấy được cái gì được gọi là khổ tập khởi và quy trình của nó. Khi những cảm giác bực bội khởi lên, cảm giác khoái khoái, thích thích mấy cái vô thường, rồi ham muốn, thích, bám víu vô trong này thì lúc đó mình nhìn thấy được nó, tự nói ôi chao chết rồi, cái này là khổ tập khởi đây, khổ uẩn đây, là đống khổ hiện hữu đây, mình phải thấy được điều này. Bây giờ đã bắt đầu thấy được nguyên nhân khổ chưa, phải nhìn hằng ngày và từ từ sẽ thấy được cái gì là nguyên nhân đưa đến khổ để ngăn chặn và nhiếp phục nó. Có khi bây giờ mình nghe, nhưng mà một năm, hai năm, ba năm, bốn năm sau mình mới làm được, không sao hết, cứ nghe, cứ quân tập, nghiền ngẫm, được chút nào hay chút nấy rồi đến một lúc nào đó sẽ thành công.

Bây giờ làm sao để khổ đoạn diệt, “Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, ưu, não diệt. Ðây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Ðây là khổ chấm dứt”. Ly tham, sao mà ly tham, làm thế nào để ly tham? Quán bất tịnh, quán vô thường, quán khổ, quán vô ngã, quán cục đất, rất là nhiều phép quán, quý vị xem trong quyển Đạo tràng Nikaya gồm hai mươi mấy phép quán, chứ không phải chỉ có một phép quán đâu. Thí dụ, bệnh nặng quá thì uống một loại thuốc sẽ không hết, cho nên bệnh cảm nặng phải đưa bảy, tám viên. Cũng vậy pháp quán cũng cần thật nhiều pháp hỗ trợ, chứ nói tôi có một pháp này là đủ rồi là không phải. Điều hết sức sâu sắc là ý nó duyên với pháp ở bên trong. Lúc nãy mình chỉ nói đến duyên sanh pháp của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý là cái khi mình ngồi thiền mình phải tập nhận diện. Thí dụ mình ngồi và nhìn lại nội tâm mình, mình nhớ lại hồi đó mình không mua ngôi nhà hay miếng đất đó, nay nó lên giá gấp bốn lần. Hồi trước mình tính làm ăn vụ gì đó, phải mà bữa nay mình làm là sinh lời, hay nói chung là nhớ con, nhớ cháu, nhớ bất cứ cái gì, mình để ý mình nhớ lại, và khi mình để ý vô đó thì hình bóng đó nó hiện ra, đó là tưởng. Tùy theo nhớ cái gì mà cảm giác dễ chịu hay khó chịu mà nó hiện ra. Và cái suy nghĩ nó nói xung quanh vấn đề đó, tức là hành uẩn hiện ra, thức uẩn rõ biết. Ngay chỗ đó mình phải tập nhận diện duyên sanh pháp của ý xúc, phải tập. Nó mà hiện lên là rất dễ mình đi theo nó luôn, đi theo nhanh vô cùng, đi đã như vậy, đi hết ba ngàn cây số mới nhận ra nãy giờ sao mình đi xa quá, phải quay lại. Nhiều khi đi một cái là tới bên kia nửa vòng trái đất, đến USA luôn, có không, khi đó mình có kịp nhận diện ý xúc không. Thường thường lúc đầu mình nhận diện là chỉ nhận diện ngoài sau đuôi, tức là nó diễn ra rồi thì mình bắt đầu nhìn trở lại là mình mới nhớ lại, mình xem lại nãy giờ đó là cái gì cái gì, không sao hết, mình cứ tập như vậy thì mai mốt nó phát lên ngay chỗ đó là mình thấy được. Thậm chí càng ngày càng sâu sắc thì nó mới vừa manh nha thì mình thấy được ngay. Thí dụ khi hình bóng đứa cháu nội, cháu ngoại hiện lên thì lúc đó thọ của mình là lạc thọ, tưởng thì thấy nó bụ bẫm, hành thì nói thương mà là thương chết đi được, hành nó cứ suy nghĩ xung quanh chuyện đó, cái thức thì rõ biết. Như vậy, bình thường chúng ta sẽ không nói nhưng khi tu theo con đường này thì mình phải mạnh mẽ mà nói “đây là sợi dây của ái sanh”. Đó là nhận diện pháp, nhận căn bản bản trí để nhận diện pháp sợi dây đó. Chỉ là cái hình bóng thôi mà ưa thích, khoan khoái như vậy đối với sắc tưởng về đứa cháu nội, cháu ngoại. Mà cứ còn ưa thích như vậy, còn mê như vậy, còn ràng buộc như vậy thì làm sao giải thoát. Trong khi đầu đã bạc hết rồi, cái già, cái bệnh đã gần bước đến ngưỡng cửa sắp sửa đối diện tử thần nhưng không chịu lo, mà tối ngày ngồi thiền leo lên bồ đoàn cười có mình nhớ cháu nội, cháu ngoại, nhớ người này người kia. Cho nên, mình phải thấy rõ thấy đó là sợi dây buộc lung tung, rối ren nên thôi mình hãy gỡ đi, hãy cắt đi, mở ra đi. Quý vị có mở ra chưa, bây giờ đừng lắc đầu mà hãy bắt đầu tập tác ý từ từ, mình tập đi rồi sẽ thấy hay lắm, kỳ tích xuất hiện, còn mình để im re là nó không nhúc nhích cục cựa gì hết, một trăm mối là còn nguyên y chang một trăm mối. Vì vậy, khi hình ảnh đứa cháu hiện lên, mình hãy nói đây là sự trói buộc, chừng nào gặp thì thương, chừng nào gặp thì lo và chăm sóc, còn bây giờ là mình đang ngồi thiền, giờ là mình đang nghe pháp chứ đâu phải giờ cưng em bé. Mình phải xác định rõ là mình đang làm cái gì, mình không để cho nó lộn xộn, đó là tập làm chủ tâm mình. Chẳng hạn đang ngồi nghe pháp vậy đó mà lại nhớ đến chuyện hồi sáng ai nói gì đó, rồi nó cứ tiếp tục đi đi như vậy, một hồi quay lại thì không biết pháp giảng đến đoạn nào, nhưng lỡ qua rồi thì cho qua luôn, kệ, chứ không bấm nghe lại mười phút đã mất do suy nghĩ điều gì đó, lâu lâu có như vậy không? Mà đừng nói chi lúc mở máy lên, đang ngồi trực tiếp tại đây cũng thế. Cho nên đối với cái tâm mình, mình phải tập phòng hộ sáu căn, hay lắm, mình nghe một tiếng động là mình bị động liền. Rồi một cái phóng tâm nhỏ thôi, thí dụ, sực nhớ chết rồi hồi sáng không biết chìa khóa phòng để đâu, cố gắng nhớ, rồi bắt đầu nó cứ dẫn dẫn, đi đi như vậy, lúc sau quay lại tự hỏi thầy nói tới đâu rồi. Cho nên mình phải tập để rõ biết duyên sanh pháp ở trong ý của mình. Phải tập chứ không phải là đọc ro ro, vì đọc được thì đó mới là chữ nghĩa thôi, thế nên mình phải tập nhận diện bất cứ cái gì. Vậy thì mình phải nhận diện cái gì, nhận diện tham và ly tham, cảm giác tham sanh khởi lên thì nó như thế nào trong tâm mình, và cảm giác mà sau khi mình thoát ra được cảm giác tham đó như thế nào thì mình phải nhận biết được, tập nhận diện nó. Đó là cảm giác của sự chiến thắng, thoát ra, xuất ly. Thí dụ mình đang giận thì mình nhận diện ngũ uẩn giận lúc đó nó như thế nào, và khi mình nhiếp phục được, mình đánh sập, đánh tan, mình thoát ra khỏi cơn giận thì mình nhận diện ngũ uẩn lúc đó như thế nào. Sẽ có cảm giác thoát ra giống như chim sổ lồng vậy, cho nên phải tập nhận diện, và được Đức Phật nói là do ly tham, do đoạn diệt cái ái.

Như vậy trong tất cả sự tu hành của mình, phải nhìn thấy cho rõ bốn Thánh trí về ngũ uẩn và mình phải hằng ngày đọc tụng, hằng ngày chiêm nghiệm điều đó. Vì mình cứ không thấy, không biết vô minh đối với năm uẩn, cho nó là tôi, cho nó là của tôi, thâm sâu hơn nữa là sự tham ái, bám víu vào trong năm uẩn này. Trong toàn bộ sự tu học của mình đầu tiên là học về năm uẩn, học về chữ nghĩa, chữ phải thuộc, nghĩa phải hiểu, kế đó là tập nhận diên ngũ uẩn trong đời sống. Chỉ khi mình nhận diện được và thấy rõ nó, tiếp theo mình mới phát hiện ra được những gì đang có mặt ở trong năm uẩn. Khi mình phát hiện ra thì đó là cả một lòng dục và tham hết sức sâu sắc, bám chấp trong đó đối với năm uẩn và đó là Khổ Tập Thánh Đế. Đừng nói gì xa, thì dụ mình ngồi máy bay, không may đến chỗ nhiễu động gặp thời tiết xấu, máy bay giật giật, lắc lắc, lúc đó ngũ uẩn mình nhận diện liền. Ngũ uẩn lúc đó như thế nào: thọ là thọ khổ; tưởng khởi lên là rớt xuống, mà chưa biết rớt xuống biển, hay rớt xuống đâu, cháy hay như thế nào; hành nói chết rồi bây giờ tiền để lại sao, sổ ngân hàng chưa rút, giấy nhà đất này nọ kia bao nhiêu thứ, liên tục diễn ra; thức lúc đó biết một chuyện đó thôi, không biết mấy cái khác; thân lúc đó tim còn đập không, đập như thế nào? Quý vị phải nhận diện, chỗ đó là cơ hội cho mình nhìn thấy rõ thân tâm mình, thấy sự lo lắng, sợ hãi, sự tham ái và chấp thủ. Như vậy từ những điều đó mình mới nhìn ra được bộ mặt thật sự của nội tâm, chứ nếu không là mình không thấy được tâm của mình, nên mình cứ tưởng đâu là thanh tịnh, an lạc lắm, vì thế gặp những chuyện đó là cơ hội để mình nhìn. Trở lại thí dụ, khi qua hết chỗ nhiễu động đó, thì máy bay im re, lúc đó ngũ uẩn nó cười lên. Qua đó quý vị thấy được chỗ hết sức sâu sắc, trí huệ mà mình cần phải thành tựu là con mắt tuệ của mình phải thấy được sự tham ái đối với năm uẩn, dục lậu, thấy được mỗi một trạng thái nóng ngầm hoạt động hết sức nhỏ nhiệm, sâu sắc, tinh vi, nhưng hết sức cứng chắc và tất cả mọi chỗ không có chỗ nào là không có cái ái trong đó. Cho nên trong bài kinh Đại Niệm Xứ, chỗ tham ái ở đâu, quý vị có thể về nghe bài giảng của Minh Thành trong lớp cao đẳng Ni. Minh Thành nghe cái đó là rúng động toàn thân, nổi da gà hết, quý vị nghe thử xem tham ái ở đâu là quý vị giật mình. Mình cứ thầy ơi con đâu có tham nhưng thật sự cái tham của mình là khủng khiếp, mà cái ái của mình thì nặng nề và bám chặt lắm và vì chính cái đó mà đi không được, không có tự do, tự tại. Miệng thì nói giải thoát như vậy, nhưng trong bụng thì nó nói buộc vô rồi, có lúc nó muốn giải thoát nhưng có lúc nó nói thôi, mình đi có một mình mình chắc buồn lắm, ghê gớm lắm, phải phát hiện ra những cái đó là gì. Cho nên mình nhìn thấy được sự tham ái đối với năm uẩn, nội gồm: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thôi, đó mới chỉ là sắc uẩn, chỉ mới nội thôi, tức là bên trong thôi, mà quý vị thấy đó đã là cả một công trình. Cho nên mình tu kiểu lơ tơ mơ, tu phớt phớt, tu chơi chơi, tu gieo duyên thì thưa quý vị là không có tới đâu hết, được chút phước thôi, còn khổ của mình không nhúc nhích, cục cựa gì cả. Bây giờ quý vị thấy, người ta mới nói có một câu, mới mất quyền lợi hay cái gì chút xíu thôi, là mình đã ăn không ngon, ngủ không được, mình bực bội, mà quý vị nghĩ lúc thân mình tan hoại thì lúc đó làm sao mà mình chịu nổi. Cho nên bây giờ mà mình không gỡ ra lần lần, đến lúc đó là đừng có mong gỡ nổi và không có cách nào gỡ nổi. Thưa thật với quý vị, mỗi lần Minh Thành bước lên xe là chưa biết có về tới núi không, mỗi lần lên máy bay là không biết có xuống được không. Đi ngoài Nha Trang giảng pháp phải xuống biển thì không biết chút hồi có lên được không. Nên đã dặn di chúc lại từ lâu, mỗi ngày thì ngày nào cũng là ngày di chúc. Phải tập cho mình thấy tất cả mọi chỗ đều là sự mong manh, tạm bợ, sống chết thật sự chỉ trong tích tắc. Có như vậy mình mới nhả lần lần sự tham ái, chấp thủ ra được thưa quý vị. Minh Thành lên đứng tại sân Quán Chiếu Đường trên Linh Quy Pháp Ấn nhìn khách đi qua đi lại, đi tới đi lui như vậy, rồi tự đặt mình vào vị trí du khách thì nhẹ nhàng lạ lắm. Bữa nào quý vị về nhà, quý vị thấy mình thiết kế ngôi nhà đẹp quá, phòng mình nhìn ưng ý quá, đồ đạc mình sắm toàn đồ tốt, đồ xịn thì mình hãy tác ý mình là người khách, đây là khách sạn, nhà trọ, mình đến đây ở tạm thời một thời gian thôi. Quý vị đến nhà trọ hay khách sạn quý vị có cằn nhằn muốn đổi đồ ở trong phòng không. Tại sao không muốn? Vì nó là đồ của người ta, đâu phải đồ của mình. Đức Phật nói “Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các ông, các ông hãy từ bỏ, ông từ bỏ chúng, ông sẽ được lợi ích, lợi lạc, an vui, giải thoát lâu dài. Cái gì không phải của các ông? Sắc, này các Tỷ-kheo, không phải của các ông”. Con mắt trên mặt không phải của mình, lỗ tai không phải của mình, lỗ mũi không phải của mình, cái thân không phải của mình. Hãy tập ở bên trong một cái nhìn sâu sắc, chính xác như vậy, để khi mà nó rã ra, mình bình an, không may nó vô thường, bất thình lình thì tôi đã thấy nó từ lâu, tôi đã biết nó từ lâu, tối đã rõ nó từ lâu, tôi đã quán chiếu nó từ lâu rồi. Ngôi nhà mình ở tập xem nó là nhà trọ, bữa nào thấy con hay chồng làm gì không vừa ý, mình nói không được thì nói thôi ở nhà trọ mà. Phải tác ý đi, đừng nói khó hay dễ, cứ tác ý rồi từ từ mình sẽ thấy kỳ tích xuất hiện. Những cảm giác này không phải là ta, không phải là của ta, khi được một cảm giác thích thú, khoan khoái, sung sướng thì tác ý nói thôi nha, đừng có mê nha, đừng có ham cảm giác này nghe không. Quý vị nhớ rằng vui thì vẫn có chứ không phải không có, cảm giác dễ chịu mình vẫn có nhưng mình không có cái tham ái, dính mắc, bám chấp ở trong đó. Đức Phật ăn đồ ngon Đức Phật cũng biết, chứ không phải không biết, không phải là Phật chọn đồ dở Phật ăn. Như Lai vẫn có mắt có tai, mũi, lưỡi, thân, ý; các vị A La Hán, các vị Thánh tăng vẫn có sáu căn, săn trần hiện diện, sáu thức hoạt động, sáu xúc, sáu thọ sanh khởi. Nhưng mà Như Lai đoạn diệt khát ái hoàn toàn, đoạn diệt lòng dục, lòng tham với những cái gì vô thường, đoạn diệt lòng khát, lòng ái đối với những cái gì khổ. Bởi vì Như Lai biết khát ái, đam mê cái đó là khổ cho nên Như Lai không mê. Như Lai biết rằng, đùa với lửa, chơi với cọp, xiếc cá sấu là đưa đầu vào cho nó, bữa nào nó ngoạm thì gọi là sanh nghề tử nghiệp. Cũng vậy, sân giận trong tâm mình là cá sấu, sân lên rồi có đẹp không, thành ra Đức Phật nói “các ông hãy đoạn diệt lòng dục, lòng tham, lòng khát, lòng ái đối với các pháp vô thường”. Các vị biết nó là đồ vô thường, đồ ở tạm, là nhà trọ, là khách sạn, các vị biết chứ không phải là không biết, nhưng do lòng tham, lòng ái, lòng chấp thủ mà gỡ không ra, nhả không được. Cho nên không phải chỉ nghe là một cái đùng mình bỏ được hết mà mình phải gậm nhấm, thấm thía, ngâm cho nó thấm từ từ như hạt đậu nành có ngày sẽ trở thành tương, đậu hũ sẽ thành chao. Cũng vậy, nó là phàm nhưng mà thấm nhập Thánh trí từ từ thì vượt khỏi phàm phu địa. Đức Phật nói giáo pháp của Ngài không có một sự thình thình chứng ngộ, mà có sự tuần tự thể nhập, có một đạo lộ, có một trình tự cho nên trong Nikaya không nói vấn đề khoát nhiên đại ngộ. Vì vậy mình phải gỡ ra, tháo ra. Bây giờ mình hãy tập, khi về nhà thấy món đồ gì mình khoái quá thì nói cái này không phải tôi, không phải của tôi, khi thấy mình mê cái gì, thích cái gì, mình cứ niệm câu đó lên, quán chiếu chút xíu rồi quý vị sẽ thấy mình nới nới ra từ từ. Khi cảm giác bực khởi lên, mình niệm, cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải là tự ngã của tôi, tôi bám chấp cảm giác này là tôi khổ, tôi đau, tôi sầu, tôi ưu não, tôi bám chấp cảm giác này là tôi tự thiêu đốt lấy tôi, chẳng lẽ tôi đổ xăng và tự tẩm đốt lấy tôi sao. Thương thật là thương cảm giác này, mình đã bỏ quên cảm giác này hết sức là lâu ngày mà không chăm sóc. Thương thật là thương cảm giác này, nó khó dạy, nó cứng đầu, nó ngang bướng, nó ngỗ nghịch, nó tạo phản. Bây giờ hãy ngoan đi mình cưng, hiền đi mình thương, nghe lời đi, dễ dạy, dễ biểu, dễ nghe, lắng dịu, hiền hòa, dễ chịu đi. Hãy nhẹ nhàng đi, đừng nặng nề, gay gắt, cau có nữa. Tập những cảm giác hiền thiện, hoan hỷ, ngọt ngào, tập những cảm giác rộng mở, thương yêu, tập những cảm giác luôn luôn hài hòa, an tịnh và nhẹ nhàng. Mình phải huấn luyện, dạy dỗ, chăm sóc, tu tập cảm giác rồi mình sẽ thấy. Đức Thế Tôn mỗi khi nói pháp, Ngài thường làm cho phấn khởi, làm cho hân hoan, làm cho hoan hỷ. Nãy giờ là Minh Thành nuôi cảm giác cho quý vị đó, quý vị có biết không? Minh Thành thường thường hay cho quý vị thực hành ba pháp luôn luôn lắng dịu, dễ chịu và sau đó sanh khởi hỷ lạc rồi bắt đầu mới vô pháp. Đó là món ăn tinh thần, món ăn tâm linh, mà mỗi một ngày quý vị phải nhớ là cho cảm giác nó ăn. Ta cho nó ăn bằng pháp, ăn bằng sự thực tập hiền hòa, lắng dịu, dễ chịu, hoan hỷ, thanh tịnh. Cho ăn bằng những cảm giác từ tâm, từ bi của tình thương ngọt ngào, rộng mở và bao la, tập bốn tâm vô lượng, mở cuốn Cửa vào Bất tử ra, đọc theo và thực tập. Như vậy chính là mỗi ngày mình nuôi cảm giác, mình chăm sóc cảm giác và mình tu tập cảm giác, mà cái cảm giác là nó quyết định hết tất cả. Một con người dễ chịu, hoan hỷ, vui vẻ hay từ bi là do cảm giác. Từ cảm giác mới biểu lộ ra mặt, ra mắt rồi ra những hành động, cử chỉ, lời nói. Cho nên quý vị phải tập trung vô sự tu tập cảm giác, chỗ đó là chỗ ngấm ngầm đẩy ra bốn uẩn kia vận hành và hoạt động. Bây giờ khi hiện tại đang ngồi ở đây, giữa đạo tràng, được nghe pháp quý vị có cảm giác gì, ngọt không, nhẹ không, bình an, hạnh phúc không, tuyệt vời, mầu nhiệm và vui không? Làm cho nó phấn khởi, hân hoan, trào dâng những cảm giác đó, và chính những cảm giác này sẽ đánh đuổi những cảm giác mệt mỏi, buồn chán, lười biếng, buồn ngủ, những cảm giác bực bội, bứt rứt, khó chịu. Như vậy từ những cảm giác này nó sẽ đánh đuổi, tẩy rửa những cảm giác kia, nó hóa giải, chuyển hóa những cảm giác kia và lần lần quý vị sẽ cảm thấy những cảm giác trong người rất là nhẹ, rất là trong, rất là thanh và rất là hoan hỷ.

Bây giờ mình sẽ tập cảm giác, Minh Thành sẽ không nói thoại, tự quý vị sẽ tập làm cho phát khởi cảm giác hỷ lạc khắp thân tâm và châu tâm.

/./