Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thiền quán - Tất cả là khổ đau

2026-03-03 00:52:41
Thiền Quán

TẤT CẢ LÀ KHỔ ĐAU

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đây là khổ: PAGEREF _Toc57045353 \h 1

II. Chia sẻ: PAGEREF _Toc57045354 \h 4

1.Thầy Pháp Nghĩa: PAGEREF _Toc57045355 \h 5

2. Sư cô Hạnh Trí: PAGEREF _Toc57045356 \h 5

3. Phật tử thứ nhất: PAGEREF _Toc57045357 \h 8

III. Khổ Đế - Biển Khổ - Thánh trí Ngũ Uẩn: PAGEREF _Toc57045358 \h 9

IV. Cô Tâm Như chia sẻ: PAGEREF _Toc57045359 \h 14

V. Chia sẻ của sư phụ: PAGEREF _Toc57045360 \h 15

VI. Tác ý và tầm quan trọng, sự nguy hiểm của xúc: PAGEREF _Toc57045361 \h 17

VII. Nguyên Luận chia sẻ: PAGEREF _Toc57045362 \h 22

VIII. Chú Trí Hòa chia sẻ - Bài kinh huấn luyện ngựa: PAGEREF _Toc57045363 \h 23

IX. Thầy Thiện Huệ chia sẻ - nề nếp, quy củ: PAGEREF _Toc57045364 \h 28

I. Đây là khổ:

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác,

Đảnh lễ bốn Thánh trí đưa đến ly tham giải thoát,

Đảnh lễ bốn đôi tám chúng Hiền Thánh Tăng ruộng phước vô thượng ở trên đời.

“Này các Tỳ-kheo, mắt này là khổ.” Con mắt này là khổ đau, là bệnh hoạn, là lé chột, là đục thủy tinh thể, là cận thị, viễn thị, là loạn thị, là đui mù. Con mắt này là bệnh hoạn, là khổ đau, tai họa.

“Này các Tỳ-kheo, là biến đổi, là vô thường” một cục thịt dính máu, nhơ nhớp, bất tịnh, tan biến, hủy hoại, hoại diệt, trống rỗng, trống không, vô ngã, chính là con mắt này.

“Này các Tỳ-kheo, tai này là bệnh hoạn, bệnh tật, mầm bệnh, là da thịt, mủ máu, rái tai là bất tịnh, hôi dơ, khổ đau, biến hoại, vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Tai này, mủ, máu, rái tai nhơ nhớp, bất tịnh. Hãy nhàm chán, xa lìa nó.

Này các Tỳ-kheo, mũi này là nơi chất chứa bệnh hoạn, mầm bệnh, sự bất tịnh, nhơ nhớp, tanh hôi, mủ máu, bao bọc bởi một lớp da và lột ra là máu thịt, mủ, chất dịch, là vô thường, tan hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Hãy nhàm chán, rời xa, li tham mũi này.

Này các Tỳ-kheo, miệng này là vô thường, bệnh hoạn, khổ đau, chứa đầy phiền não, mấy chục răng này chứa đựng máu, mủ, nước miếng, mỡ, thịt, gân và xương”, là nơi chất chứa nhơ nhớp, bất tịnh, nhàm chán, dơ tởm, xú uế, hôi thối, khổ lụy và phiền não, trống rỗng, vô ngã, bại hoại, hủy hoại, tan nát, hoại diệt. “Đau khổ, bệnh khổ là miệng này, là nơi chất chứa dịch bệnh, ổ dịch, vi trùng, vi khuẩn, vi rút độc hại, hôi thối, nhàm chán.”

“Này các Tỳ-kheo, thân này là vô thường, bệnh hoạn, bệnh tật, bệnh đau, ung nhọt, mũi tên, rắn độc, hố than hừng 26:07. Sinh ra thơ ngây nhưng nung đốt những dục ngày đêm nung nấu, thúc dục, khao khát, thèm khát, khát hại. Đau khổ là thân này, bệnh hoạn, hoạn nạn, vô thường, tan nát, hoại diệt, khổ.

Này các Tỳ-kheo, tâm ý này là khổ. Sự rõ biết này sanh khởi lên những dục, tham, ái, sân hận, ganh tị, đố kỵ, hơn thua, thêu đốt. Thức này là khổ.

Này các Tỳ-kheo, khổ là sắc này. Những sắc pháp, hình sắc này làm cho chúng sanh si mê điên đảo, ngu dại. Sắc này là khổ.”

Những âm thanh này là khổ. Những mùi là khổ. Những hương vị là khổ làm cho chúng sanh say mê, đắm đuối, ngu si, tham ăn suốt đời suốt kiếp. Những xúc chạm này là khổ đau, trối trăn, ràng buộc, hệ lụy, sầu bi, u não, tiếp xúc này là đau khổ, là vô thường, tan nát, hủy hoại, tan biến, sanh diệt, trống rỗng.

Các pháp được nhận thức, trong tâm là khổ, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ thầm đó ám ảnh trong tâm trí, cảm giác đó ám ảnh, vây hãm, bủa chặt, nhốt trong ngục tù, vây kín, nung nấu, đốt cháy, thúc giục, xúi giục, dẫn dắt.

“Này các Tỳ-kheo, pháp này là khổ.

Sáu thức này là khổ. Sự rõ biết các sắc, phân biệt đẹp xấu, tham, sân, sự rõ biết các sắc là khổ, phiền não, bệnh hoạn, tai họa, hiểm họa, hoạn nạn. Sự rõ biết các âm thanh này là khổ, vô thường, sanh diệt, biến hoại, sân hận, tham ái, chấp thủ, bị những thân tưởng ám ảnh. Sự rõ biết mùi, vị này là khổ. Rõ biết rồi để đam mê, tham đắm, say mê, ràng buộc, hệ lụy, trối răn, khốn khổ, hoạn nạn. Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức này là khổ, khổ đau, bệnh hoạn, tai họa. Sự rõ biết của việc đụng chạm này, tiếp xúc này là khổ, thân thức này là khổ, trối trăn, hệ lụy, nô lệ, thiếu thốn, khát khao, làm đầy tớ, kẻ hầu hạ, phục dịch.

Cảm giác sanh khởi lên từ mắt tiếp xúc là khổ. Cảm giác sanh khởi lên từ tai tiếp xúc là khổ. Cảm giác sanh khởi lên từ mũi tiếp xúc là khổ. Cảm giác sanh khởi lên từ lưỡi tiếp xúc là đau khổ, ràng buộc, trối trăn, hệ lụy, sanh diệt, vô thường, tan nát, biến hoại, trống rỗng. Cảm giác sanh khởi lên từ sự tiếp xúc của thân này là vực sâu, vực thẳm, khổ đau, là dục, tham, ái, si mê, điên đảo, chấp thủ, ràng buộc trối trăn. Sáu thọ này là khổ.

Những cảm giác sanh khởi lên từ ý, xúc, sự nhận thức các pháp trong tâm là khổ, khổ đau, phiền não, chấp chước, trói cột, lẩn quẩn, lanh quanh, lùng nhùng, vô minh, khát ái, chấp thủ trong ngũ uẩn này. Sự yêu thích sắc uẩn này là khổ đau, sự ưa thích vào nhan sắc này là đau khổ, sự ưa thích vào tài sản này là khổ đau, sự ưa thích vào cảnh vật này là đau khổ. Sắc ái này là khổ, là tâm bệnh trầm kha, nan y, ung thư. Sự yêu thích các hình sắc này là khổ đau, bệnh hoạn, tâm bệnh hoạn, bệnh tật của tâm hồn, hãy nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, chấm dứt, ra khỏi, xúc li khỏi sắc ái này. Sự yêu thích âm thanh này là đau khổ. Sự yêu thích mùi vị này là đau khổ. Sự yêu thích sự đụng chạm này, tiếp xúc này, trơn láng êm ái này là đau khổ, nô lệ, nô bọc, hèn hạ, thấp hèn, đê tiện, tồi bại, nhơ nhớp, bẩn thỉu, ngu si, vô minh, khát ái, xúc ái này là khổ.

Này các Tỳ-kheo, xúc ái này là bệnh hoạn, là ung nhọt, hố than hừng, rắn độc, vực sâu, ràng buộc, trói buộc, buộc chặt, buộc vô lượng, vô biên, vô tỉ kiếp trong xúc ái này.”

Những yêu thích hình bóng, suy nghĩ, cảm giác ở trong là khổ đau, tâm bệnh, tật bệnh, mầm bệnh, đuổi tìm, suy cầu, tầm cầu. Những hình sắc đó là đau khổ, tầm cầu, những hình bóng ám ảnh trong tâm là khổ đau. Sự tầm cầu, suy tầm, hướng tâm về sân hận, về bực bội là đau khổ, thêu đốt, bốc cháy, hủy hoại, hỏa hạn, nạn tai. Sự tầm cầu, hướng tâm về mùi vị, xúc chạm, đòi hỏi, khát ái, thèm muốn đó là bệnh tật, bệnh hoạn, đau khổ, hoạn nạn, tai họa, đại họa. Sự bám chặt, bám sâu, bám cứng vào sắc uẩn này là đau khổ, phiền não, lo lắng, sợ hãi. Sự bám chặt vào những cảm thọ, cảm giác, cảm xúc này là đau khổ, khổ nạn, khổ ách, khổ uẩn, thống khổ, khổ não. Sự bám chặt vào những cảm giác say sưa, ưa thích, đam mê, dính mắc, chấp thủ vào cảm giác này là vô thường, biến hoại, hoại diệt, tan nát, hủy hoại, sanh diệt, hư ảo, sương khói, bóng nước, làn gió, làn mây, khói, ảo ảnh này. Thọ thủ uẩn là khổ, khổ đau, tật bệnh của tâm hồn, hoạn nạn, tai nạn, khổ ách, ách nạn đè trên đầu, trên cổ ta vô số, vô biên, vô tỷ kiếp.

Sự nắm chặt, bám chặt, dính chặt, chấp chặt vào những hình bóng này, tưởng thủ uẩn này là sầu bi, khổ, ưu não, là nghĩ ngợi, lo toan, sợ hãi, tật nguyền, thống khổ, tai ương, hoạn nạn, nắm chặt vào những ám ảnh, ảo ảnh, ảo tưởng trong tâm là khổ đau. Chấp thủ vào những suy nghĩ, lời nói lầm thầm, lời nói thì thầm là khổ, khổ đau, tật bệnh, hoạn nạn, tai ương, hiểm họa, nguy hại, tai hại, sát hại, giết hại chúng ta trong những suy nghĩ, suy tưởng dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, chấp thủ, ta đây, hơn thua đó. Đó là kẻ sát nhân, sát thủ, kẻ giết người giấu mặt, ẩn tên.

Hãy nhàm chán đối với sắc uẩn này, rời xa đối với thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn này. Sự rõ biết đó sanh dục, tham, ái, sân, si, bản ngã, hơn thua, đố kị, cao thấp, đúng sai, hay dở, thị phi, nhân ngã, sự chấp thủ rõ biết đó là bệnh tật, tai ương, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, hiểm họa, tai họa, nguy nan. Thực thủ uẩn này hãy nhàm chán, rời xa, chấm dứt, từ bỏ, viễn ly, xuất ly, thoát ra nó.

Còn điều nào không khổ nữa không? Còn điều nào không vô thường nữa không? Sáu căn, sáu trận, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tầm, sáu tứ, sáu tư ngũ uẩn, tất cả là khổ đau, bệnh hoạn, vô thường, hủy hoại, tan nát, hoại diệt. Đó là Khổ Thánh Trí của Đức Phật được thành lập.

Khổ Thánh Trí của Thế Tôn được xoay chuyển, luân chuyển, vận chuyển trong tất cả các pháp, nếu còn một pháp không phải là khổ đau thì Khổ Thánh Trí của Thế Tôn không thể thành lập. Vì nó trùm khắp hết Trái Đất, vũ trụ, thân tâm này, là Khổ Thánh Đế, Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đạo là xuyên thấu, xuyên suốt, bao quát, trùm khắp, phổ biến, toàn thể tất cả các pháp. Thật sự vi diệu, tối thượng, tối thắng, tối tôn là Thánh trí huệ có thể đưa đến nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấp dứt, xả ly, xuất ly. Thật sự thần thánh, vi diệu, là Thánh tuệ, là tối thượng.

II. Chia sẻ:

Hôm qua Minh Thành ngồi thiền ngoài mái hiên, trên lầu tư của Chùa Bửu Liên, Minh Thành quán về Khổ Thánh Đế này và sau đó có sự phát hiện: Nếu sự tu tập của chúng ta cứ an trú trong thọ, tưởng, hành mãi như vậy, an trú mãi trong Thánh đạo thì nhất định, chắc chắn sẽ thể nhập Thánh trí. Luôn luôn lúc nào cũng an trú thọ, tưởng, hành trong bất tịnh trong vô thường, trong nhàm chán, ly tham, từ bỏ, khổ đau, không để cho một thọ, tưởng, hành nào đi ra ngoài, từ từ mình an trú và ở luôn trong đó tức là thể nhập, chứng nhập Thánh trí huệ, không còn đi ra ngoài nữa. Sở dĩ mình tu không tiến là vì vô thời pháp mình phải quán, vô thiền mình mới tưởng, còn nếu buông ra khỏi là mình để cho thọ, tưởng, hành chạy lung tung, lang tan, trở về vị trí vô minh, tham ái, chấp thủ. Giờ đi ra khỏi rồi vẫn tác ý, quán tưởng xuyên suốt, đặt thọ, tưởng, hành vào trong Chánh Trí, không lúc nào cho đi ra ngoài, ở luôn trong đó tức là thể nhập, chứng nhập, không còn ra khỏi Thánh đạo, Thánh trí, Thánh pháp. Lúc nào cũng ở trong đó, là thể nhập, thâm nhập, chứng nhập, Nhập Lưu.

Thưa đại chúng, các thầy, các cô, các chú, các Phật tử sáng nay có thấy khổ không?

1.Thầy Pháp Nghĩa:

Kính bạch sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Đúng là khi mình an trú vào pháp, giữ luôn với tâm niệm nhận diện ngũ uẩn thì sẽ thấy đúng là khổ. Nhưng vì sự tu tập của mình còn hạn chế, không liên tục, thấy tiếc là không thấy khổ thưa sư phụ. Mình chỉ chạy theo những cảm giác, những hình bóng, tư tưởng mà mình không an trú vào những đề mục để đánh bậc những pháp bất thiện, thì lúc đó mình đã đi lệch hướng. Nhưng từ nãy giờ, nếu con có an trú vào pháp thì con mới thấy được là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này là khổ. Khi quán mắt này là đui mù, cận thị, loạn thị, rồi cũng với tai điếc, với mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy. Đúng là có thân năm uẩn này đã là khổ.

2. Sư cô Hạnh Trí:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch sư phụ, thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Khi mà quán về sự thật là khổ, mắt này là khổ, là vô thường, biến hoại, hoại diệt, trống rỗng, trống không, vô ngã. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân cũng đều trống rỗng và trống không, là vô thường, vô ngã. Khi trú được vào trong sự khổ, quán xét sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu hành, sáu ái thì con thấy thật là khổ. Còn xác thân này là còn khổ, khổ về bệnh tật, về vô thường, sự hoại diệt của nó, nhưng mà để trú thường xuyên liên tục đó là một điều rất quan trọng, thường tâm của chúng sanh rất dễ dàng buông lung, phóng dật, chạy theo ngoại cảnh bên ngoài. Khi mắt tiếp xúc với trần, dễ dàng dính mắc, tham ái, nếu không có sự hộ trì, phòng hộ, con thật sự xấu hổ, nhục nhã vì thấy trên văn thì có thể hiểu nhưng để hành trì liên tục và trú trong pháp do vô minh, khát ái sâu dày nhiều đời kiếp nên có lúc tỉnh thì trú được, hộ trì được, có lúc vì vô minh, tham ái che nên bị ngoại cảnh chi phối. Khi con được may mắn gặp được dòng Thánh pháp này thì mỗi lần trú được ở trong pháp thì thật sự là khổ. Con nhớ tới bài kinh Thâu Nhiếp Đức Phật dạy các xấu xuất xứ này:

“Này các Tỳ-kheo, chỗ nào không thâu nhiếp, chỗ ấy có đau khổ.

Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...

... Lưỡi... Thân...

Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.”

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ - Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần II. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, V. Phẩm Từ Bỏ, Bài Kinh Thâu Nhiếp)

Chỉ trừ khi nào thấy được sự nguy hiểm, tai họa, sự vô thường, trống rỗng, trống không của các pháp thọ, tưởng, hành, thức và phải thường xuyên trú trong pháp thì may ra mới có thể nhàm chán thân này, cuộc sống này. Khi lời dạy Đức Phật vang lên trong tâm con và lời sư phụ vang lên, như một lời tha thiết xuất phát từ trái tim, tâm từ của Đức Phật và sư phụ, lời trong kinh như vang lên trong con, như một lời rất là tha thiết:

Hỡi các vị Tỷ-kheo,
Chính sáu xúc xứ này,
Chỗ nào không thâu nhiếp,
Chỗ ấy có đau khổ.
Những ai học biết được,
Chế ngự, phòng hộ chúng,
Với lòng tin làm bạn,
Sống thoát ly dục vọng.
Thấy sắc pháp khả ái,
Thấy sắc không khả ái,

Hãy nhiếp phục đường tham,
Ðối các sắc khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
"Ðối sắc, ta không thích".
Sau khi nghe các tiếng,
Khả ái, không khả ái,
Chớ để tâm say mê,
Với các tiếng khả ái.
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Với tiếng không khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
"Ðối tiếng, ta không thích".
Sau khi ngửi các hương,
Thơm dịu, thật khả ái,
Sau khi ngửi các hương,
Bất tịnh, thật đáng ghét;
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Ðối các hương đáng ghét,
Còn đối hương khả ái,
Chớ để dục chi phối.

Nếm xong vị ngon ngọt,
Và nếm vị không ngon,

Chớ có sanh tham luyến,
Khi hưởng nếm vị ngon,
Chớ nói lời chống đối,
Khi nếm vị không ngon.
Khi cảm thọ lạc xúc,
Chớ đắm say tham luyến,
Khi cảm thọ khổ xúc,
Chớ bị xúc động mạnh.
Ðối với cả hai xúc,
Lạc, khổ đều niệm xả,
Không thích, không chống đối,
Bất cứ loại xúc nào.
Ðối với các người khác,
Mê theo hý luận tưởng,
Họ mê theo hý luận,
Họ hành theo hư tưởng;
Hãy đoạn trừ tất cả,
Gia sự do ý tạo,
Hãy nhiếp các hành động,
Hướng đến hạnh viễn ly.

Như vậy đối sáu xứ,
Khi ý khéo tu tập

Nếu có cảm xúc gì,
Tâm không bị dao động.
Tỷ-kheo hãy nhiếp phục,
Cả hai tham sân ấy,
Hãy đến bờ bên kia,
Vượt buộc ràng sanh tử.”

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ - Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần II. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, V. Phẩm Từ Bỏ, Bài Kinh Thâu Nhiếp)

Càng nghiền ngẫm, càng suy tư quán chiếu vị ngọt, sự nguy hại của sáu căn khi tiếp xúc với sáu trần, con mới thấy sự tu tập thật chi li, từng chút một. Khi mắt tiếp xúc, khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị và thân xúc chạm hàng ngày, từng giây, từng giờ, từng phút chỉ cần thất niệm, thiếu chánh niệm là dễ dàng bị tham sân chi phối, rất vi tế. Con nguyện sẽ cố gắng, cẩn trọng, nhiếp phục, phòng hộ các căn, để không bị những lòng dục, những vô minh và các ái chi phối. Con kính xin trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và quý đại chúng yểm hộ, yểm trợ, giúp đỡ để con có được tâm tưởng mạnh.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Có quý vị nào muốn chia sẻ trình pháp trong khi mình đang ngồi thiền, hai buổi thiền tâm của mình vận hành như thế nào hãy chia sẻ.

3. Phật tử thứ nhất:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con xin được trình pháp trong khi con ngồi thiền có những sự vướng mắt, xin sư phụ chỉ dạy cho con. Buổi ngồi thiền buổi sáng như thường lệ, là y theo lời thiền quán của cô thì dòng thiền, thọ của cô trầm, lắng và con đi theo được dòng cảm xúc đó, nó rất thấm, thấy được sự trống không, vô nghĩa. Đến buổi thiền của sư phụ được tiếp nối dòng cảm thọ vẫn trầm, lắng, con thọ nhận được và khi vào nhìn nhận sáu căn, khi vào từng căn, con vào được, lúc đó con thấy được mỗi căn có cái khổ của từng cái nhưng khi con đứng nhìn thấy thọ khổ rất to, rất mênh mông. Đó là một cảm giác rất là rộng thưa sư phụ, hết khổ ở mắt rồi qua khổ ở tai, một cảm giác như chìm ở biển. Con cố gắng quay về cái thọ và thấy được cái thọ như vậy rồi con tác ý bằng cách … 80:06.

Bởi vì đó là một cảm giác mà con chưa thấy được, và con cố gắng tác ý nhìn ra vật khác, con nhìn qua hình tượng của Đức Phật, rồi nhìn lên sư phụ thì nó có sự tan. Nhưng con hỏi, cái tan này để làm gì? Lúc đó con quay về thì con thấy cái thọ bị mất đi, thì con hỏi “Cái thọ này mất đi thì có lợi ích gì hay không?” thì con thấy con đánh mất đi thiền pháp, bởi vì con đang lãng tránh nó. Con thấy đây là một sự đa nghi ở trong con, con không biết cái này có phải như vậy hay không.

Con xin trình lên sư phụ chỉ dạy cho con. Và lúc đó ý hành của con cũng có suy nghĩ: “Nếu thọ chìm quá như vậy, thì có cần phải thoát ra hay không? Để gom về cụ thể những cái thọ khổ cụ thể của từng cái hay cảm giác về một cái chung trọn vẹn?” Bởi vì khi con vào cái thọ con vẫn nhìn ngũ uẩn, con thấy thọ đó chìm đắm như trong biển vậy và các tưởng của con vẫn hiện khởi lên các căn, ý hành của con lại có sự đa nghi giống như hồi nãy: “Có nên thoát ra không?”. Con phát hiện ra tự nhiên nó bị tắt niệm thưa sư phụ. Con xin trình lên sư phụ chỉ dạy thêm cho con, vì con thấy con còn vô minh rất sâu dày, ngu si. Xin sư phụ từ bi chỉ dạy cho con. Xin quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng chỉ dạy thêm cho con.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

III. Khổ Đế - Biển Khổ - Thánh trí Ngũ Uẩn:

Buổi thiền quán hôm nay của chúng ta là quán biển khổ. Tức là toàn thân của mình, từ đỉnh đầu cho đến gót chân, từng lỗ chân lông, từng tế bào của mình, phải ngấm hết toàn thân của mình giống như mình đi tắm, như mình nhảy xuống sông, mình ngâm dưới biển. Tất cả thọ, tưởng, hành, thức của mình phải được thấm hết vào Khổ Thánh Trí, không phải là khổ bình thường nên mình muốn chối bỏ cảm giác đó là một sự không thiện xảo trong Thiền Quán mà phải để cho nó ngấm vào, lan tỏa ra, bao bọc mình hết cả trời, đất, vũ trụ này. Mình đang quán sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, ngũ uẩn, tức là quán trùm hết tất cả thân tâm và thế giới.

Lúc xưa, thời Minh Thành mới đi học Phật, có bài thơ có thể các cô ở đây sẽ thuộc vì có nghe qua rồi:

“Biển khổ mênh mông, sóng ngập trời

Khách trần chèo một chiếc thuyền khơi,

Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió,

Ngoảnh lại cùng trong bể khổ thôi.”

Bài thơ đó khi mình chưa học kinh Nikāya, chưa học về ngũ uẩn thì mình hiểu một cách rất là cạn cợt nhưng khi mình đã học về ngũ uẩn, mình nhận diện và mình quán chiếu đó thì bài thơ đó dùng bằng trí tuệ ngũ uẩn Khổ Thánh Đế thì rất thâm sâu. Như vậy không còn một pháp nào trong thân tâm thế giới vũ trụ đi ra ngoài khổ. Chính vì như vậy nên mình mới nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, chấm dứt, xuất ly, nếu như mình thấy còn có một cái sướng, thì làm sao mình giải thoát? Mình sẽ bị cái sướng, cái thích đó trói cột.

Nên đây là mình đang tu học, Thánh Tri Kiến, Chánh Tri Kiến, Khổ Thánh Trí, mình phải thấy được tất cả các pháp và đây là Tương Ưng Sáu Xứ không phải tự Minh Thành đặt ra, Minh Thành chỉ thêm một vài lời cho dễ hiểu còn ý chính là trong Tương Ưng Sáu Xứ có hết những bài kinh, nhưng những bài kinh này thật sự là khó đọc, khó nghe, khó hiểu, khó hành, người ta viết tắt các bài kinh thôi, đã lượt hết, nhưng các bài kinh này là tuyệt đối quan trọng, mình phải ở mức độ nào mới có thể nghe, thâm nhập nổi.

Vì vậy, sanh khởi lên một cảm giác khổ bao trùm khắp hết tất cả, thì đó là đúng rồi, là Khổ Thánh Trí. Mình ở, trú trong cảm giác nhàm chán đó, đau khổ đó và chính ở trong cảm giác đó mình mới hướng đến ly tham, viễn ly, đó là một tâm chống đối nhưng vi tế thôi, nó nhỏ và không chấp nhận một sự thật quá phũ phàng như vậy, to lớn như vậy. Nên mình phải khéo léo an trú trong vô thường tưởng, khổ tưởng, bất tịnh tưởng, vô ngã tưởng, đó chính là sự khéo léo an trú. Vì bên trong ái của mình không chịu “Khổ sao khổ quá nhiều vậy? Khổ vừa vừa thôi chứ khổ quá nhiều như vậy thì làm sao chịu nổi?” Bên trong ý hành của mình không chịu cái ái của dòng cảm thọ nhỏ nhiệm ở dưới không chấp nhận, muốn tránh né, không muốn đối diện trực tiếp nhưng đó cũng là bình thường thôi, mình tu tập từ từ, mình thâm nhập từ từ rồi sẽ từ từ chấp nhận được hoàn toàn, là nhập lưu rồi.

Tất cả lời dạy của Đức Phật mà mình chấp nhận một cách hoàn toàn, không có một ý niệm chống đối, tránh né gì thì quả tối thiểu của mình là Nhập Lưu về mặt tri kiến. Hồi mình còn thấy có một pháp vui sướng thì chưa thành tựu Khổ Thánh Trí, bất cứ trong sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ, sáu tưởng, sáu tư, ngũ uẩn, tứ đại mà mình còn thấy có một cái vui sướng để mình ưa thích thì Khổ Thánh Trí không thành lập, Chánh Trí Kiến chưa thành tựu, phải cho đến khi nào tất cả các pháp đó ở trong mắt, trong nhìn của mình là khổ hết tất cả thì lúc đó Thánh Tri Kiến thành lập. Khổ Thánh Trí thành lập cũng có nghĩa là dự vào Nhập Lưu, cũng có nghĩa là chính thức bước vào vòng trí huệ, có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai.

Việc mình hoan hỉ ở đây là hoan hỉ trong pháp, trong sự nhìn thấy được cái khổ đó là mình hoan hỉ, nên sơ thiền đó khác, ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất. Những hỷ lạc đó không phải là những hỷ lạc đối với các pháp này mà đó là sự hỷ lạc khi nhìn thấy được bản chất của các pháp này, đau khổ, vô thường, bệnh hoạn, tân hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, nhìn thấy được sự thật và bắt đầu bước ra nên vui, vui vì ly, ly sanh hỷ lạc địa, ly dục, ly ác, ly bất thiện. Nên cái vui của mình không phải là cái vui của dục lạc, hoàn toàn không phải vui của dục lạc, mà là vui của sự ly dục, vui trong sự nhàm chán.

Mình nhìn thấy người bị nghiện ma túy, những cơn hành hạ họ quằn quại, giẫy giụa, buộc tay chân, chảy nước dãi, nước miếng và mặt như một người điên, mình thấy thương cho họ, thật sự khổ đau, nguy hiểm, tác hại nhưng khi mình nhìn thấy thì thật là may mắn, mình không bị dính vào đó. Tác ý mình được may mắn, tốt lành và vui vì mình không bị như vậy thì đó không phải là cái vui của nghiện ma túy. Mình có thấy rõ được vấn đề không? Đó không phải là cái vui thích thú, khoan khoái trong đó mà là vui vì mình đã đi ra khỏi đó, không bị nó chi phối.

Hoặc một ví dụ khác là hai người cùng bị nghiện ma túy mà một người cai được, cai một cách hoàn toàn triệt để, không còn bị nữa, giống như hôm trước là cá nhảy khỏi lưới. Tức là hai người cùng bị nhưng một người cai được và thoát ra, người này đứng nhìn lại người bạn nghiện lúc trước của mình. Người này có từ tâm, có lòng thương không, có lòng trắc ẩn, có lòng thương xót không? Và có niềm vui không? Đó là hai dòng cảm thọ, một dòng cảm thọ xót thương và một dòng cảm thọ vui sướng khi mình đã mạnh mẽ thoát ra. Lúc đó, vui sướng của người đã thoát ra khỏi bị nghiện thì vui sướng đó là ví dụ cho sơ thiền, ly dục và khi nhìn thấy những người bị dục hành hạ đau khổ, quằn quại, khao khát, nô lệ, bị đốt cháy và người này cảm thấy thương xót, vui mừng vì mình đã đi ra khỏi đó.

Nên khổ khi mình quán Khổ Thánh Trí là phải tuyệt đối, không để chút vui nào còn lại mà nếu để chút vui nào thì chính nó sẽ giết mình chết, chút vui đó là tham ái, dục, chấp thủ. Nên trong tâm mình khi quán là không còn một điểm nhỏ nào, phải diệt tận hết tất cả, không để lại, nếu để lại là mình chết, mình không thể Nhập Lưu, nếu mình để lại một chút là mình không Nhập Lưu, không đi trong luân hồi, phải dứt khoát triệt để, tuyệt đối thì từ từ mình mới đi tới kết quả Nhập Lưu vào vòng trí huệ. Nên mình khi ăn gì có để lại một chút không hay làm gì rồi lại để một chút không, cho người ta cái gì có để lại một chút không và mình tu mình cũng để lại một chút? Chính việc để lại một chút này sẽ giết mình chết. Hay nghĩ: “Giờ mình tu cũng khổ quá hay còn chút xíu thì cho hưởng chút xíu thôi không lẽ khổ dữ vậy?” là mình cho phép mình buông lung, buông thả, buông lỏng, buông lơi, buông trôi, buông xuôi, lúc nào mình tinh tấn thì đó ít còn khi không tinh tấn là nó bung to ra, như vết dầu lan tỏa ra, chính vì chỗ mình cho phép trong tâm mình.

Nên trở lại vấn đề là phải quán khổ, quán tất cả là khổ, cả một biển khổ, “đời là bể khổ”, đó là chữ của bậc Thánh. Giờ mình nghĩ lũ lụt trôi, ngập tới nóc nhà thì còn cái gì hay món đồ gì không ướt? Khổ cũng giống vậy, trong ngũ thủ uẩn là khổ, làm gì có một uẩn nào không khổ, thì làm sao Thánh trí của Đức Phật thành lập? Nếu còn một sắc nào nhỏ xíu bằng hạt mè mà không khổ đau thì Thánh Trí Huệ của Đức Phật không thành lập, sự chứng ngộ của Đức Phật không viên mãn. Nên ngũ thủ uẩn là khổ, tóm lại, sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, hành thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, thức thủ uẩn là khổ đau, không thể có một cái không khổ đau. Nhưng mình nhìn thấy cái vui chẳng qua là vì vị ngọt một chút của nó thôi nhưng sau đó là khổ, nhưng không tính được là lạc vì chính như vậy quán lạc thọ là khổ.

“Này các Tỳ-kheo, phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ.”

Lạc thọ là khổ, từ cái thô cho tới cái tế, mới cười hả hả giỡn hớt nhưng thấy sư phụ bước xuống là “Chết rồi!” là vừa lạc đã biến thành khổ thọ, vừa buông lung thoải mái lắm thì nói một câu làm người kia giận. Nên nếu có một cảm thọ sướng thì Thánh Trí Huệ của Đức Phật không thành lập và Phật cũng không phải là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Đức Phật tuyên bố: “Phàm tất cả thọ đều nằm trong đau khổ!” thì không thể có một cái thọ nào sung sướng được hết.

Đây là chỗ cực kì thâm sâu của Thánh trí năm uẩn, không thể có một tưởng, một hành, một thức, một sắc, một thọ nào, quá khứ vị lai hiện tại, nội ngoại, thô tế, thắng liệt, xa gần mà còn sót một chút xíu là lạc, Khổ Thánh Trí Đức Phật không thành lập, Đức Phật không thể tuyên bố Ngài là bậc Tối Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, giữa Ma Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, Chư Thiên và loài người, ta không thể tuyên bố “Ta là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác khi ta chưa hoàn toàn thắng tuệ tri, liễu tri, thấu triệt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ về đau khổ của năm thủ uẩn.”

Chính nhờ thắng tri, tuệ tri, liễu tri thấu triệt toàn bộ tất cả đó là một đại khổ uẩn, nên Ta mới từ bỏ nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, chấm dứt, xuất ly ra khỏi ngũ uẩn, Ta mới thành tựu vô thượng Chánh Giác, mới đạt đến Niết-bàn tối thượng tịch tịnh diệt tận hết tất cả khổ đau. Nên phải xét quyết trong cái nhìn của mình, tuyệt đối một trăm phần trăm, một ngàn phần ngàn thì sự tu tập của mình sẽ đi tới viên mãn, nhìn thấy được tất cả thế giới này không có bất cứ một cái gì đáng ưa, đáng thích, đáng tham, đáng muốn, đáng mong, đáng đợi, đáng khát khao nữa hết.

Tất cả chỉ là một đống rác, một đống dơ bẩn hôi thối, vô nghĩa, vô tình, vô thường, vô dụng, vô ích, không có gì đáng trên cuộc đời này mà đáng tham, đáng luyến, đáng ưa, đáng thích, đáng khao, đáng khát. Không có gì là đáng mà tất cả là đáng nhàm chán, đáng từ bỏ, đáng chấm dứt, đáng đoạn tận, đáng xuất ly thì Thánh Trí Huệ mới rực sáng, bừng sáng, chói sáng, tỏa sáng trong cuộc đời này, đứng sừng sững hiên ngang trong tam giới này, không bị đè đầu cưỡi cổ, không bị làm nô lệ cho dục, tham, ái nữa. Đó là có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai, trú vững trong Thánh Trí Huệ, rực sáng, chói sáng, bừng sáng, chiếu sáng trên cuộc đời này, đứng vững, cao lên, ngẩng đầu lên, không làm kẻ hèn hạ, tôi đòi, nhục nhã, nô lệ cho dục, tham, ái, vô minh và bản ngã nữa.

Phải là bậc Thánh đệ tử, sừng sững, uy ngang, uy dũng, xuất ly trong cuộc đời này, tuyên bố Chánh Trí, chánh giải thoát, đạp đổ hết tất cả chướng ngại pháp, dầu cho chết cũng phải làm cho bằng được, cũng phải diệt tận dục, tham, ái này, vô minh và bản ngã này phải được khuất phục, diệt tận, phải được tẩy sạch hoàn toàn, phải tác ý mạnh mẽ, uy dũng, hùng tráng, đại hùng, đại lực lên, cầm dao, cầm kiếm xông thẳng lên, tiến tới, không nương tay, chém thẳng tay, sát phạt, diệt tận bọn yêu ma, tà quái đó, phải diệt tận dục, tham, ái, vô minh, bản ngã trong nội tâm, phải tác ý liên tục, ngày đêm, không lúc nào cho hở hết.

Nếu giật mình thức dậy nửa đêm là tác ý, những hình bóng mình quán chiếu đó phải chất trong tâm mình, thường xuyên hiện hữu và liên tục, không cho phép nó có một phút giây nào hở hở lơi lơi để rồi bị dục, ái, buông lung phóng dật. Cứ buông ra khỏi thời là trở lại vị trí vô minh, tham ái, buông lung phóng dật, làm sao tu đến ngày nào đến kiếp nào mình mới thành tựu, mới được nhập lưu? Phải thường trú trong thọ, tưởng, hành đó mạnh mẽ.

IV. Cô Tâm Như chia sẻ:

Mời cô Tâm Như chia sẻ, nãy giờ thọ, tưởng, hành ra sao.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con xin kính bạch trên sư phụ, con xin kính bạch trên quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con kính thưa sư phụ, con xin được trình pháp trong buổi lắng nghe thiền quán sư phụ dẫn sáng nay, có những pháp còn chưa sáng tỏ bởi vì tâm con còn vô minh con kính xin xư phụ phá vô minh giúp con. Thời thiền quán sáng nay con dùng tâm ý để quán theo lời của sư phụ hướng dẫn chúng con thiền quán, con quán từ sáu căn, sáu thức, sáu xúc, các pháp kế tiếp. Thời điểm đầu thì con thấy thọ chưa thực sự thâm nhập được pháp, sau một khoảng thời gian, con cảm thấy có vấn đề với thọ này, con nhìn kĩ vào trong nó, thì con thấy nó có sự chống đối, con đọc ý hành thì nó nói “Sao cho quán học khổ hoài vậy?”. Lúc này con thấy đây là thọ chống đối, ngũ uẩn chống đối, nên con tác ý để đuổi những thọ chống đối này đi và con quán tiếp. Lúc bấy giờ con mới thấy cái thọ này bắt đầu nhẹ hơn và con quán tiếp theo lời của sư phụ.

Con thấy thật vi diệu là Thánh trí năm uẩn của Đức Phật nếu không có sự nhận diện ngũ uẩn, sẽ không bao giờ chúng con có thể lắng nghe, tiếp nhận Thánh trí, sự thật này vào trong nội tâm. Sau khi đánh đuổi, kể cả khi nó không chống đối con cũng tác ý trước để không cho nó khởi lên thì con mới bắt đầu thâm nhập được vào những lời quán mà sư phụ hướng dẫn cho chúng con. Đến thời sư phụ tác ý cho chúng con vừa nãy thì con thấy tầm quan trọng của việc duy trì tinh cần, tinh tấn, không buông lung phóng dật, bởi vì khi sư phụ tác ý đến đó thì hình ảnh hôm qua con không có đi lên nghe pháp nó hiện lên, con thấy đây là một pháp trạo hối và con lại phải tác ý, để sự trạo hối này không ngăn cản việc con nghe pháp. Nên con thấy thật sự việc giữ cho tâm không buông lung phóng dật, tinh cần, tinh tấn thường xuyên là một việc tối quan trọng để cho tâm không bị trạo cử, trạo hối trong khi nghe pháp, tiếp nhận pháp. Sau cùng là một thọ hoàn toàn hỉ lạc, khi con thấy nó hoàn toàn đồng ý, chấp nhận với sự hướng dẫn của sư phụ sáng hôm nay.

Con xin nguyện phải tinh cần, tinh tấn hơn nữa, thật sự tinh cần, tinh tấn, không để cho tâm buông lung phóng dật, có như vậy thì con mới có thể mau chóng hoàn thành được tâm nguyện, thành tựu Chánh Tri Kiến trong cuộc đời này của con. Con xin thành tâm tri ân sư phụ, vì tấm lòng từ bị sư phụ đã dành cho chúng con, con đã thấy những sai lầm, những sự bất cẩn trong khi hành pháp thật là kinh khủng, thật là tai họa, nếu như con cứ để cho chúng cứ tiếp dẫn, tiếp diễn giống như vậy. Dạ con xin hết.

V. Chia sẻ của sư phụ - sự tu học của bản thân:

Việc này Minh Thành thưa đại chúng là hết sức quan trọng, phải chặn đầu nó, phải dập đầu nó, nếu với thọ, tưởng, hành là phải chặn lại, cần một sự tinh vi và sắc bén, con mắt của tâm - tâm nhãn của mình phải tinh vi, mấp mé những ý niệm chống đối, những ý niệm dục ái là mình phải dập đầu nó ngay lập tức, phải tác ý mãnh liệt, phá tan đó rồi mới trú trở về trong pháp. Nếu nó sanh khởi tiếp tục thì cứ phải dập hoài, dập hoài, dẹp các việc khác qua hết, diệt cái đó trước đã, cho đến khi hết thì lúc đó mới tu tập tiếp được.

Sau khi hết, tiếp tục diệt nữa, không phải hết rồi là xong, vì nó hết chỉ là cái thô ở trên thôi, mình chặt phía trên thì gốc rễ còn nằm bên dưới, nên phải tiếp tục tác ý tác ý, moi móc lên, nhìn sâu trong để xem còn những gì để đào bới gốc hang đó, lấy gốc rễ lên, chặt bằm nó ra, rồi lại đốt cho gió tám phương mười hướng thổi bay hết hay đổ xuống sông xuống biển, phải diệt tận hoàn toàn, không để lại một chút xíu nào hết. Nếu không có một sự quyết liệt trong nội tâm quả quyết, sát quyết mà lại dở dở ương ương thì làm sao thành tựu Thánh trí được? Trong tâm mình phải là sát quyết mạnh mẽ, thẳng tay trừng trị.

Thật ra đợt này về Minh Thành định đóng cửa đến khi Hoằng Pháp mới định xuống, không muốn ra ngoài, trong lòng Minh Thành lửa tu đang rực cháy. Mấy ngày nay ở dưới Sài Gòn như vậy thì ngoài giờ giảng thôi còn tất cả thời giờ là thọ, tưởng, hành đều trú trong pháp hết, lâu lâu mới đi ra chút thôi là chặn liền. Giờ Minh Thành muốn phải liên tục, từ đây về sau phải xuyên suốt luôn. Nên phải có trí bén nhạy nhìn vào nội tâm thọ, tưởng, hành của mình, khi phát giác phát hiện là phải chặn đầu ngay lập tức đừng để nó bung ra ngoài, mầm móng vừa sanh khởi là lập tức xử lý nó ngay lập tức, tác ý liên tục, tác ý mãnh liệt là điều cần thiết.

Thứ hai là phải quán tưởng thường xuyên, tức là dùng thọ, tưởng, hành mình tu. Tác ý là gì? Tác ý là hành. Quán tưởng là gì trong ngũ uẩn? Là tưởng. Vậy lúc đó mình có sanh cảm thọ không? Mà thọ, tưởng, hành của mình trú trong pháp không như vậy. La dục, mắng dục, chửi dục, phỉ báng dục, sỉ vả dục, phỉ nhổ dục, phỉ nhổ chính mình, những tật xấu, thói hư, kém dở của mình thì mình sỉ vào mặt mình, phỉ nhổ vào mặt mình, đối diện với chính mình hằng ngày, không được đứng yên trên đó, ngay chỗ đó. Dùng cây roi đánh vào con ngựa đó, sách tâm, trì tâm là vậy, sách là cây roi đánh vào mông ngựa để nó chạy đi, đánh mạnh thật mạnh để nó nhảy dựng lên và chạy, đó gọi là sách tâm. Trì tâm là nó chạy nhưng giữ được mức chạy đều đặn, không phải là chạy mệt rồi nó ngồi nghỉ lại chơi, trì tâm là giữ mức độ tinh tấn đó phải liên tục, trường kì.

Thầy mới chia sẻ bài Tinh Cần cho lớp mình và xong là lớp mình mạnh luôn, giảng xong bài đó tự nhiên mình thành lực sĩ luôn. Sách tâm và trì tâm khởi lên ước muốn, nỗ lực, cố gắng sắc tâm, trì tâm, làm cho thiện pháp chưa sanh mà nếu thiện pháp đã sanh thì tu tập tăng trưởng, phát triển quảng đại, viên mãn thiện pháp đó là hai vế sau còn hai vế trước là ác pháp chưa sanh thì không cho nó sanh, mà ác pháp đã sanh là phải diệt tận, thiện pháp chưa sanh thì cho nó sanh mà sanh rồi thì tu tập, phát triển, tăng trưởng quảng đại, viên mãn, khởi lên ý muốn nỗ lực, cố gắng sách tâm, trì tâm.

Ví dụ như con ngựa, mình cầm cây roi ở phía sau mình đánh một cái “chát” làm nó nhảy lên. Mình phải quán tưởng hình ảnh đó. Như là đánh vào một cái cảm thấy đau quá rồi ra ngồi thiền, ra nghe pháp, ra tác ý, vô lại sám hối, một mình cũng lạy được không cần ai, chỉ ra ngay trước Phật, thậm chí không phải ngay trong ni xá hay thiền đường mà ra ngoài gốc cây, tảng đá và một mình mình ra lạy. Nếu buồn ngủ thì có cục đá ở trên Thánh Pháp Viện ở dưới chân rồi leo lên đó ngồi thiền. Như các vị thiền sư lúc xưa, các Ngài đã leo lên chảng ba của cây mọc ở chỗ bờ vực thẳm và leo lên đó ngồi, ma ngủ biến mất ngay lập tức.

Phải sắc tâm, trì tâm, giờ dục, tham, ái cũng chết, giờ mình diệt dục, tham, ái rồi mình đi đến bất tử, “Không dục thì mày cũng chết mà dục thì mày cũng chết thì thôi bây giờ không dục đi để chết! Làm biếng cũng chết mà siêng cũng chết thì thôi siêng đi để rồi chết. Bản ngã mày cũng chết mà không bản ngã thì mày cũng chết, nên thôi đừng bản ngã nữa.” Phải tác ý cho mạnh, lâu lâu phải cho bài mạnh lên, thúc ngựa, sách tâm, trì tâm. Nên mình nói như vậy “Đói cũng chết mà no cũng chết, chết đói tu, không sao hết, đói tu dễ nhập thiền hơn, no làm sao ngồi thiền? Phải tác ý mãi, tu mãi rồi lú thì làm sao? Phải tác ý bén nhạy, sắc bén, mạnh mẽ, mãnh liệt hơn, uy dũng hơn!”

VI. Tác ý và tầm quan trọng, sự nguy hiểm của xúc:

Cô Hạnh Trí muốn hỏi điều gì?

Dạ mô Phật. Kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con có câu hỏi là lúc đầu thời thiền sáng nay của sư phụ, sư phụ đang hướng dẫn quán về sáu xứ, trong con có một cái tưởng khởi lên là một con rắn màu nâu, rất là to, nó ngóc đầu lên, hình ảnh đó rất rõ thưa sư phụ. Nó hiện ở trước mặt trong lúc con đang quán như vậy thì lúc đó con chưa nhạy bén để tác ý, lúc đó con vừa nhìn thấy thì sư phụ hỏi, kêu con trình, lúc đó con quên nhưng con thấy là tại sao nó lại có tưởng này? Lúc nãy khi con nhìn lại, thì không phải ngẫu nhiên có tưởng đó, mà nó có một cái thọ rùng mình sợ hãi khi thấy được sự nguy hiểm của cái xúc, khi có xúc giống như rắn độc, nó quay đầu lại con, ý hành của con lại nói là “Chạy đi, thoát ra đi!” nhưng con chưa biết cách tác ý thế nào để cho nó mạnh mẽ. Con thấy rằng trong quá trình tu tập, có nhiều tưởng khởi lên rất lạ như vậy, nhờ sư phụ chỉ dạy cho con cách tác ý như thế nào trong trường hợp đó thưa sư phụ!

Hình bóng đó là gì? Là tưởng. Vậy thì đây là tưởng, là ảo tưởng, là hình bóng, hư ảo, trống rỗng, không có thật.

Dạ không phải con sợ con rắn mà là con thấy được sự nguy hiểm của các dục, các xúc và trong ý hành con muốn thoát ra là nó muốn thoát ra vậy nhưng tác ý của con chưa đủ mạnh và làm sao nó làm chủ được cái xúc thưa sư phụ?

Cái này mình học nhiều rồi mà mình quán về tính nguy hại của nó, xúc là sanh dục, xúc sanh thọ, xúc sanh nghiệp, quán về nguy hại của dục, thọ, nghiệp, mình quán nguy hại càng nhiều thì mình sẽ tác ý xuất ly nó dễ, phát triển quán về nguy hại thật nhiều, nên sáng nay Minh Thành định mở lại bài đó, về kẻ tử tù vượt ngục.

Mình cứ tăng trưởng, phát triển cái khổ, cái vô ngã, cái nguy hại, cái hiểm họa thì mình xuất ly, phát triển cái đó rồi quán mạnh nó là xuất ly. Tại sao mình đang đi mà mình thấy đống phân thì mình tránh? Vì nó hôi, dơ, thối, bẩn, cấu, nhiễm, đáng nhàm chán, ghê rợn, ghê gớm. Y như vậy, mình tác ý nó là đống phân, là hố cầu tiêu, là thứ nguy hiểm, là thứ đốt thiêu, mình chọn những thứ mà mình sợ nhất trong cuộc đời rồi mình lấy nó ra mình tác ý thì làm nó sanh, nó cảm thọ, nói chung mình chọn những gì mình ghét nhất, sợ nhất trong tâm mình thì mình lấy ra mình tác ý thì nó nhàm chán, từ bỏ, rời xa, xuất ly thôi. Con hướng dẫn tác ý là Minh Thành đã nói nhiều rồi và trong rất nhiều bài kinh, Đức Phật dạy mình quán về dục, có rất nhiều ví dụ, mình mở trong đó ra mình chọn mình học thuộc lòng, hoặc là trong đời sống của mình, mình thấy mình sợ cái gì nhất thì mình lấy cái đó mình tác ý.

Nên xúc rất ghê gớm, hằng ngày mình xúc với pháp, xúc với thiện pháp, xúc với Thánh pháp, với sự thật, với trí huệ, với sự xuất ly nhàm chán, hàng ngày mình xúc với khổ thì mình phải quán “Sao ai cũng sợ khổ vậy? Quán khổ này là sợ, phải tăng trưởng trí huệ này, bây giờ khổ cho đã rồi sau này hết khổ. Bây giờ thích vui, ham vui thì sau này khổ vô lượng vô biên kiếp!”

Nên nhiều khi quán Minh Thành thường hay lấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh để tác ý và chịu những cảm giác thống khổ, tưởng tượng ra hình ảnh địa ngục, cô hồn vất vưởng, hỉnh ảnh chó ghẻ, tưởng tượng quán ra kinh sợ hãi để mai mốt khỏi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh còn bây giờ thì không thèm nghĩ, không thèm nói tới các thứ đó, thì mai sau sẽ bị lọt vào đó, lấy những cái đó quán tưởng. Và thậm chí bắt mình phải chịu những cảm thọ khổ sở để nhàm chán những lạc thọ của thế gian, bắt mình không cho hí hửng, cho nó ăn chơi, phè phỡn, điệu đà, phải bắt nó vô, không cho các cái đó, bắt nó phải chịu cái khổ trong địa ngục “Mày lại đây, ngồi xuống đây, ta cho mày coi địa ngục, ta dẫn mày xuống mười tám tầng địa ngục, xem mày còn phè phỡn, hí hởn nữa hay không?” Phải tác ý như vậy để cho tinh tấn lên, nỗ lực lên để nó tu thì mình phải bắt mình chịu những cảm giác đau khổ.

Minh Thành rất thường ngồi quán, lúc Bà Năm trước khi chết Minh Thành cũng quán Bà Năm chết, hay quán ông Năm chết và suy nghĩ “Mày quỳ xuống đó, là cha mẹ mày chết đó, mày buông lung phóng dật đi, đồ ngu si, đồ vô minh, mày khốn nạn vừa vừa thôi!” Mình phải dùng những từ ngữ, những hình ảnh đau đớn, đau khổ nhất trong cuộc đời này mình bắt nó chịu cảm thọ đó, để cho nó tu. Mình phải đưa ra hình ảnh mình bị ung thư bại liệt, đi máy bay thì bị rơi máy bay, đi xe thì bị xe đụng, đi bộ thì trợt chân đập đầu xuống bể cả sọ não… Mình đem ra bao nhiêu hình ảnh đó mình bắt nó phải chịu những cảm thọ này: “Mày ham chơi, mày buông lung phóng dật thì mày phải chịu những cảm thọ này!” Mình phải dùng những hình pháp khủng bố nó, khủng bố dục, tham, ái đó làm cho nó khủng hoảng, làm cho nó khiếp sợ, kinh hãi, phải tu như vậy, không phải dễ để mình đi vào trong Thánh pháp mà các thầy các cô nghĩ Minh Thành trong thời gian rất ngắn.

Mình biết mình đi trễ rồi, mình phải nỗ lực thật nhiều hơn những người bình thường, nỗ lực gấp mười lần người bình thường. Cảm thọ này chỉ chịu có một chút thì làm sao chịu nổi ở địa ngục, làm sao làm con chó ghẻ nổi, làm sao là con dòi ở đống phân nổi? Phải bắt nó chịu đựng những cảm giác thống khổ, kịch khổ, khốc liệt này, nếu không nó sẽ phè phưỡn, buông lung, phóng dật, thả trôi, thả nổi một cuộc đời tu. Không được cho phép nó, phải nghiêm khắc, trừng trị, phải đặt nó vào tai nạn, hoạn nạn, hiểm nạn, hiểm họa, khổ nạn, ách nạn, nguy an… lúc nào cũng ở trước mắt hết. Phải quán chiếu như ngày mình đi trong rừng, phía trước là gai, phía sau là gia, bên phải là gai, bên trái là gai, bài kinh đó không phải học để mà đọc mà để quán, để thâm nhập, thực chứng, phải nhìn tất cả chung quanh là gai, không cho nó phè phỡn, không cho nó buông lung phóng dật, không cho nhàn hạ được. “Cha mình ở nhà đang bị tai biến và nằm ở trên giường, ở đó mà ăn chơi, cười giỡn đi đồ ngu si, bất hiếu, khốn nạn. Mẹ mày đã chết và đang đọa trong ngạ quỷ, súc sanh, vậy mầy lấy cái gì để cứu mạng mẹ của mày? Hỡi đồ ngu si, đồ vô minh!”

Phải tác ý mạnh, phải thẳng tay phải đập để che đầu nó, đồ vô minh, khát ái, ngu si đó, phải dùng đòn sấm sét, búa bổ thì nó mới vỡ ra được, vì đầu này là đầu vô lượng vô biên kiếp rồi, không phải dễ mà vỡ mà chẻ đầu ra được. Nên phải tác ý, ngày đêm phải tác ý, phải quán tưởng, an trú trong pháp ngoài giờ ngồi thiền, ngoài giờ tụng kinh, nghe pháp là giờ tác ý, còn không là quán tưởng, ngồi đó quán hoặc nếu mở ra xem thì xem Bất Tịnh Quán, giải phẫu tử thi, xem chán rồi xem tới hình này, hình khác xem, để tẩy não, rửa con mắt dính bụi của vô minh, khát ái, tẩy tâm, thay đổi tri kiến về thân thể, về đời sống này và những thứ xung quanh này. Chẳng có gì, toàn là những tham, sân, si, vô minh và bản ngã ngày đêm hoạt động, chỉ là dục ái, hở ra chút là dục, hở ra chút là ái, là tham, hở chút là không kiểm soát thì nó sẽ bung ra để giết người. Vì vậy sự tu của mình là nghiêm khắc, là mạnh mẽ, sát sao, khít khao, miên mật.

Minh Thành nói xong rồi vào trong đóng cửa, nói cái này nghe chịu nổi không? Còn bây giờ với cái gì cũng đòi mạnh, cảm giác mạnh còn cảm giác đều đều như vậy thì ngủ hết từ trên xuống dưới, thọ không sanh, cảm giác không sanh, mà nếu nghe pháp mười năm thì cũng trơ trơ một đống như vậy, là vô minh, bản ngã, tham, sân, si. Nghe mười năm gom được một mớ tri kiến, trí thức Phật học, có sanh cảm thọ được không? Thành ra phải tu như vậy, phải nhớ rằng phải thiện xảo trong các cảm thọ, đây là bí kíp, phải cực kì thiện xảo trong các cảm thọ, phải đập cho vỡ đầu ra, giống như lúc giải phẫu, cưa rồi mở hộp sọ, lôi sọ ra.

Mình quán như vậy, mình quán tâm vô minh, tâm dục ái của mình và phải làm như vậy đối với nó, mình bằm nó ra, chẻ nó ra. Minh Phú nghe mà sợ đến nhức đầu luôn, nhưng sau này mới thấy được giá trị của nó, làm rung chuyển, thủ chuyển, ngũ thủ uẩn của mình rung chuyển, còn không phải lúc nào cũng ngọt hoài được hay cũng mặn hoài được, tùy món mà gia giảm, ăn cháo trắng với muối kho quẹt là phải mặn, canh thì phải lạc, chè thì phải ngọt, nấu chè giống như canh chua thì làm sao người khác ăn? Thì khi đó pháp cũng như vậy, cái này cần phải mặn, cần phải đánh nó mới rung chuyển cái chấp thủ, còn nếu không thì không đâu, đừng có mong, vô minh, khát ái, bản ngã này đừng có mong rung chuyển gì. Bên ngoài thì “Sư phụ, sư phụ!” nhưng biết bên trong là gì? Thật sự, Minh Thành chứng kiến bao nhiêu người lạy khóc “hụ hụ” nhưng trong này Minh Thành vẫn bình tĩnh, không có thời gian xem, mở nhắn tin cũng không thèm trả lời. Nhiều trường hợp lắm, đó là nói nhẹ thôi, chứ còn hơn nữa.

Vì vậy, ngũ uẩn này không có gì bên trong hết, sâu thẳm bên trong là một sự dối trá, xảo quyệt, ngụy biện và xảo trá, quanh co, chính tự thân mình có dối mình không? Có hay là không? Mình có lừa mình không? Mình có ngụy biện không? Khi mà chính mình ngụy biện với mình. Ví dụ như hôm qua Minh Thành về không thấy ai ngồi nghe pháp hết thì thế nào cũng có người “Thôi trời mưa mà, lâu lâu cho khỏe một bữa đi, tu gì mà khổ vậy!” Đó là ngụy biện, vì nếu như giờ đó mình không lên vì trời mưa mà ở dưới mình tu, mình nghe pháp không được thì được. Còn đây là kiếm chuyện thảnh thơi nên coi chừng nó dụ đó, nên tu này sướng, thú vị lắm, không bao giờ thất nghiệp, công tác liên tục, đều là những “job” dữ dằn, những nghề của mình, công tác của mình là công việc khủng lắm, như đánh với khủng long bạo chúa nên là hay lắm, phải tu, phải tác ý và quán tưởng. Ngoài giờ học pháp, hành pháp ra phải quán tưởng và tác ý, theo mình thấy bệnh nào nặng nhất thì tác ý cái đó trước, lúc nào nản nản thì tác ý hỷ lạc, giống như khi nãy có nói là nấu cơm cũng phải gia giảm thức ăn, nêm nếm cho phù hợp.Thử lòng chút xem ra sao, xem thọ ra sao.

VII. Nguyên Luận chia sẻ:

Nãy giờ thấy Nguyên Luận cười hoài vậy mời Nguyên Luận phát biểu. Sáng nay có hỷ lạc không?

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Bạch sư phụ, thật sự bài thiền quán sáng nay thật sự không đủ “đô” với con, nó nhẹ quá. Sáng nay có bệnh về mắt nên hơi đau, nên cảm giác nhẹ nhẹ, thọ, tưởng, hành của sự si mê vận chuyển nên khi nghe bài thiền quán của cô thì ban đầu con có tác ý theo nhưng con thấy nó rất nhẹ, và cứ nhẹ nhẹ như vậy thì con chịu không nổi cảm giác đó, bắt đầu con đi vào tron con tác ý mạnh ở trong, con có tác ý nói chuyện đó, la nó bên trong, con dùng âm hưởng con la ầm ĩ bên trong đó “Mày mở mắt ra đi, lột con mắt này xuống đi, không còn đôi mắt này cũng được, vì có đôi mắt mà si mê như vậy thì không cần!”

Con la hét trong đầu con nên nhờ sự la hét, tác ý mạnh như vậy, con dùng thanh tưởng mạnh bạo như vậy thì nó phá được đôi phần sự tùy miên, sự si mê trong đó. Và khi qua pháp của sư phụ, con vừa theo vừa tác ý vừa Quán Bất Tịnh về đôi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý rồi con cho nó sanh khởi, thấy được vị ngọt và sự nguy hiểm trong sáu căn này, sáu thức này, cho nó phát sinh cảm thọ sợ hãi lên. Kết hợp thì con thấy mùi hôi, mùi dơ bẩn của sự bất tịnh này, sự cấu uế này của thân và tâm này, mùi hôi bốc lên rất khó chịu, rất kinh sợ, khiếp sợ.

Con tác ý, đối với Đức Phật, đối với các vị Thánh tăng thì họ an tịnh trong thân và tâm như vậy còn mình thì đầy rẫy mùi hôi thối như vậy thật là khó chịu, phải rời ra, phải thoát ly ra. Con tác ý, con tưởng đến hình ảnh của mưa và mưa đó có nước phép, nó gột rửa thân tâm của con, đưa đến sự thanh tịnh để có thể tiến vào tu tập cùng với các bậc Thánh, với các thiện pháp. Càng về sau, càng nghe tác ý của sư phụ thì con thấy hỷ lạc sanh khởi, con thường xuyên tác ý mạnh như vậy thì sự tùy miên và sự si mê của con rất là sâu dày, con thấy rõ nó sâu dày và thường nó sẽ bị ngụy biện, hoặc là tìm cái vui, cái dễ chịu, hoặc là chìm trong cảm thọ nhè nhẹ nên khi sư phụ tác ý tới đâu thì con thấy được động lực cho mình, hơn nửa tiếng sau con ở trong con đường tu tập, tác ý rất quan trọng. Và trong quá trình ban đầu, con thấy rõ cái thọ, tưởng, hành nếu như mình chỉ tác ý nhè nhẹ và mình nói chuyện với nó thôi thì mình sẽ chìm đắm trong nó mà có thể đi vào thoát niệm trong cái tưởng mà mình không biết, mà mình tác ý thật mạnh vào, thấy rõ mình đứng trên nó, mình là người chủ chứ không phải nô lệ trong nó thì thọ, tưởng, hành đó mình đang huấn luyện nó, không cho đi vào con đường si mê, khổ đau nữa, không để cho nó trói buộc, nô lệ mình nữa mà phải thoát ly ra. Mỗi lời tác ý sư phụ nói như đánh sâu vào thân tâm của mình, làm nó sợ hãi, thấy rõ sự thật, thấy rõ rất là nhiều điều, càng thấy ra thì nó phát sinh nó sợ hỷ lạc, thấy ra hết, thấy con đường đi, thân tâm của mình.

Dạ mô Phật, con cũng còn nhiều si mê, và cũng mới tu tập, thực tập pháp và có rất nhiều thiếu sót, nhiều sự sai phạm, Chánh Tri Kiến vẫn chưa hiện nên mong được sư phụ và đại chúng cùng nhắc nhở và dạy dỗ con, để con có thể thăng bước trên con đường tu tập.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Minh Thành mời thầy Pháp An và cô Phật tử mới ra nghỉ đi, cùng với Liên Trụ nếu mệt thì cứ ra nghỉ.

VIII. Chú Trí Hòa chia sẻ - Bài kinh huấn luyện ngựa:

Thầy Trí Hòa hoan hỉ thì mời Trí Hòa trình pháp.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô, cùng toàn thể đại chúng. Bạch sư phụ là chưa bao giờ con cảm thấy khổ thọ trong những buổi ngồi thiền sáng nay cũng như trong lúc thiền quán là sư phụ chỉ dạy nhưng những khổ thọ đó có sự tác ý, tác động tâm ý của con nên nó tan ra, và nó lắng dịu. Trong buổi thiền quán sáng nay, con bị hôn trầm rất nhiều, mặc dù có tác ý nhưng rơi vào trạng thái hôn trầm, mắt thì mở nhưng rơi vào trạng thái tưởng, con tác ý rồi nhưng vẫn bị rất nhiều.

Cho đến khi vào thời pháp của sư phụ thì con cũng bị hôn trầm nhưng nhẹ, nhưng con cũng có sự tác ý thì con thoát ra nhưng sau khi thoát ra cũng bị lại nhiều lần. Lúc đó trong ý hành khởi là khi âm lượng của sư phụ nói nhẹ quá làm con buồn ngủ, con tác ý để vượt qua cơn buồn ngủ nhưng nó cũng vẫn bị, nhưng gần cuối thì hầu như trạng thái đó không còn nữa. Lúc đầu rơi vào trạng thái si mê, hôn trầm nên con chưa cảm nhận được nhiều, về biển khổ, nhưng về lúc cuối có sự tác ý và sự nhìn nhận lại thì trong quá trình ngồi thiền quán về biển khổ như vậy, mà bản thân mình không có tỉnh táo, sáng suốt mà bị si mê, hôn trầm chi phối thì đó cũng là biển khổ trong lúc thiền quán nghe pháp thì đó cũng là bể khổ, cực kì khổ khi tâm si mê, hôn ám không thâu nhận được pháp thì con quay lại chiêm nghiệm thì cực kì khổ, rất là khổ. Đối với một tâm si mê, vô minh, ngu si như vậy trong khi Thánh Pháp đang vang dội.

Và khi sư phụ nói về Quán Bất Tịnh, về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì kính bạch sư phụ là con có quán cái này rất nhiều nhưng nhiều lúc con quán tới bất tịnh mà ví dụ như khi đi ra đường, con quán xe cán nát bét đầu ra, thì bạch sư phụ nó khởi lên sự sợ hãi nhưng khi quán tới sự sợ hãi thì nó có hai dòng cảm thọ: Thứ nhất là có sự sợ hãi để tinh tấn tu nhưng mà nó ít, còn sự sợ hãi để dừng lại không quán nữa thì nó lại nhiều hơn nên quán tới đó lại bị trì trệ lại, dừng lại, nó không cho quán nữa. Thì mỗi lần con đi xuống núi thì con quán xe cán nát bét đầu ra, không còn gì nữa thì khi quán tới đó thì nó có một sự chướng ngại, nó không cho quán nữa, nó sợ hãi tới mức nó kêu mình không cho quán nữa, sợ quá không quán nữa. Có sự tinh tấn sợ hãi nhưng để mà tinh tấn tu tập nhưng rất yếu.

Thôi đừng quán cái đó nữa, đổi cái khác đi, sợ mà quán hoài? Quán cán què hai chân, vậy là được rồi.

Còn lúc nãy bạch sư phụ con hỷ lạc con cười là vì sư phụ có nói hình ảnh lấy roi quất con ngựa thì con mới tưởng lên hình ảnh quất mạnh quá con ngựa nhiều khi phóng một cái thì mình té, giống như sự như lý tác ý mà mạnh quá thì mình đuối quá, mạnh quá làm cho mình rớt khỏi yên ngựa nếu nhẹ quá thì cũng không đủ mạnh nhưng nhiều khi đánh mạnh quá con ngựa cũng lì không đi, nó chỉ ngồi một chỗ, đánh hoài cũng không đi, con thấy sự tu tập này không phải đơn giản mà nó có sự thiện xảo, cực kì thiện xảo để huấn luyện con ngựa đó chứ không phải là chỉ đánh không thì con mới thấy được sự hỷ lạc, nếu không thiện xảo thì thật sự là đánh hoài hoặc là không đánh hoặc đánh không đúng cách thì con ngựa đó cũng không đi theo ý mình muốn. Kính bạch sư phụ, nhờ sư phụ chỉ dạy chỗ này giúp con được hiểu thêm để con thiện xảo trong sự thúc ngựa, trong sự điều phục…

Vậy con nói đánh vậy con có nói sai không Chú? 152:3

Dạ không nhưng nhiều lúc tâm con thực hành lại theo chiều không…

Vì khi mình nói là mình nói về một khía cạnh, nó buông lung, nó làm biếng thì mình đánh cho nó chạy, nó tinh tấn còn đánh như thế nào, đánh trong hoàn cảnh nào, đánh làm sao thì nhiều phương diện khác nữa. Thì ở đây Minh Thành nói một khía cạnh, còn trong tâm chú thì chú sẽ biết đánh như thế nào. Chứ đánh mà để nó nhảy cho mình té thì thôi đánh làm chi? Thì Minh Thành té mất rồi chứ không thể còn ngồi ở đây. Ý Minh Thành nói là nó không chịu đi, nó cứ ham chơi, ham vui hoài thì mình phải có sự cảnh sách, khích lệ để cho nó đi trên Thánh đạo. Còn vấn đề mà mình khéo léo thì cái đó đúng, đó là mình nói rộng ra nhiều phương diện khác, mình la quá thì người ta chạy hết rồi đâu ai dám ở với Minh Thành nữa? Bởi có lẽ đánh mạnh quá, còn giờ nếu “khều khều” thì nó không tinh tấn, thì mình đánh sao cho vừa. Đức Phật có bài kinh Huấn Luyện Ngựa:

“1. Rồi Kesi, người đánh xe điều phục ngựa đi đến Thế tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế tôn nói với Kesi, người đánh xe điều phục ngựa đang ngồi một bên:

2. - Này Kesi, Ông là người đánh xe điều phục ngựa, có chế ngự. Và này Kesi, Ông nhiếp phục ngựa như thế nào?

- Bạch Thế tôn, con nhiếp phục ngựa đáng được điều phục với lời nói mềm mỏng; con nhiếp phục ngựa đáng được điều phục với lời thô ác; con nhiếp phục ngựa đáng được điều phục với lời nói mềm mỏng và thô ác.

- Này Kesi, nếu con ngựa đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói thô ác, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và thô ác, thời Ông làm gì với con ngựa ấy?

- Bạch Thế Tôn, nếu con ngựa đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói thô ác, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và thô ác của con, thời bạch Thế Tôn, con giết nó. Vì sao? Vì mong rằng nó không làm mất danh dự cho gia đình thầy của con!

Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn là bậc Vô thượng, đánh xe điều ngự những ai đáng được điều ngự, như thế nào Thế Tôn nhiếp phục những ai đáng được điều phục?

3 - Này Kesi, Ta nhiếp phục người đáng được nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, Ta nhiếp phục với lời nói cứng rắn, Ta nhiếp phục với lời nói vừa mềm mỏng, vừa cứng rắn. Tại đây, này Kesi, đây là với lời nói mềm mỏng:

Đây là thân làm thiện, đây là quả báo thân làm thiện. Đây là lời nói thiện, đây là quả báo lời nói thiện. Đây là ý nghĩ thiện, đây là quả báo ý nghĩ thiện. Đây là chư thiên. Đây là loài Người

Tại đây, này Kesi, đây là với lời nói cứng rắn: Đây là thân làm ác, đây là quả báo thân làm ác. Đây là lời nói ác, đây là quả báo lời nói ác. Đây là ý nghĩ ác, đây là quả báo ý nghĩ ác. Đây là địa ngục. Đây là loài bàng sanh. Đây là loại ngạ quỷ.

Tại đây, này Kesi, đây là lời nói vừa mềm mỏng vừa cứng rắn: Đây là thân làm thiện, đây là quả báo thân làm thiện. Đây là thân làm ác, đây là quả báo thân làm ác. Đây là lời nói thiện, đây là quả báo lời nói thiện. Đây là lời nói ác, đây là quả báo lời nói ác. Đây là ý nghĩ thiện, đây là quả báo ý nghĩ thiện. Đây là ý nghĩ ác, đây là quả báo ý nghĩ ác. Đây là chư Thiên. Đây là loài Người. Đây là địa ngục. Đây là loài bàng sanh. Đây là ngạ quỷ.

- Bạch Thế Tôn, nếu người đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng của Thế Tôn, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và cứng rắn, thời Thế Tôn làm gì với người ấy?

- Này Kesi, nếu người đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng của Ta, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói vừa mềm mỏng vừa cứng rắn, này Kesi, thời Ta giết hại người ấy!

4. - Nhưng bạch Thế Tôn, sát sanh không xứng đáng với Thế Tôn. Tuy vậy, Thế Tôn nói: "Này Kesi, Ta giết hại người ấy".

- Thất vậy, này Kesi, sát sanh không xứng đáng với Như Lai. Nhưng người đáng được điều phục ấy không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và cứng rắn, Như Lai nghĩ rằng người ấy không xứng đáng để được nói đến, để được giáo giới. Và các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng người ấy không xứng đáng để được nói đến, để được giáo giới. Bị giết hại, này Kesi là con người này, trong giới luật của bậc Thánh, bị Như Lai nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ

(Tăng Chi Bộ Kinh - Tập 2, Chương Bốn Pháp (tt), XII. Phẩm Kesi, Bài Kinh Kesi)

Đức Phật nói giết trong giáo pháp Như Lai đồng nghĩa là không nói tới nữa, từ dùng trong luật gọi là mặc tẩn – đuổi bằng cách yên lặng, không nói tới nữa, tức là hết dạy nổi, dạy hết nổi nữa, bó tay rồi, không còn dạy được nữa. Người nào để ý không ai nói tới mình nữa là biết rồi đó, người ta lánh xa hết.

Ngồi thiền lúc khuya này dễ ngủ lắm sao? Giác khuya nào cũng đem như lý tác ý lên. Đối với Minh Thành thì như lý tác ý rồi thì không bao giờ ngủ được, không bao giờ có một ai có thể ngủ được, tim chỉ đập mạnh thôi là không ngủ được.

Những người mới đến thì mình phải nhắc nhở cho mọi người biết và không nên cho tham dự những thời pháp như vậy vì có những cái chuyên sâu thì họ không hiểu. Vì đó rất quan trọng, vì có những pháp rất chuyên sâu, người ta nghe bị sốc, người ta hiểu sai đạo Phật nên mình có tội.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và trên quý Phật tử, con xin được sám hối, mong trên sư phụ, quý thầy quý cô và quý Phật tử chứng minh để cho con được đào bớt gốc rễ vô minh của mình. Vì con thấy mình mấy ngày nay, nhìn lại những giờ tu tập, khi nghe pháp khi nghe thiền quán của cô Toàn. Tối qua con khởi lên tâm khó chịu, nổi loạn, đau nhức mà nghe lời pháp nặng nặng thì nó “quạo”. Ngoài đó ra thì có những tâm khó chịu, con thấy những gốc rễ của si con xin phơi bày ra để sám hối, được phần nào được sự chỉ dạy của sư phụ để con giảm vô minh, con thấy đó là sự nguy hại, không muốn để nó tìm ẩn ở bên trong thân tâm con. Sáng nay, ngồi thiền quán bộ xương, vì chân quá đau nhức và vì muốn thoát khỏi đau nhức của mình mà con một phần muốn bung ra vì con tác ý lấy hình ảnh bất kính rằng xương đó là sư phụ đang nằm đó, và con quán bộ xương là những người xung quanh mình thì con thấy như vậy nó có sự bất kính.

Không sao hết, cái đó tác ý được, không sao, thì con cũng bộ xương thôi, mọi người đều là bộ xương hết, đó là sự thật. Tác ý sám hối cái trước là được và cái sau tác ý cũng được, không sao.

Cho con xin đảnh lễ sám hối và mong nhận được sự chỉ dạy của sư phụ để cho con xả bỏ những lậu hoặc, những cái khó chịu con không muốn nó ở trong thân tâm này. Những cái si, hôm trầm như sáng nay, đầu giờ, sư phụ nói những lời trầm trầm nên con cũng bị hôn trầm, si mê nên con cũng phải tác ý. Nên con kính xin sư phụ cho con những lời chỉ dạy, dùng những hình ảnh nào thật mạnh để khi con có hôn trầm thì con đánh thẳng vào đó để cho nó tỉnh liền, chứ nếu con đánh nó và nó đánh lại thì con thấy con yếu. Sau đó sư phụ truyền lửa nhưng con vẫn thấy mình…

Nó vẫn chưa cháy nữa?

Như củi ướt…

Vậy ráng phơi cho nó khô đi.

Như vậy, thứ nhất là chú nên nhớ là ta phải tôn kính pháp, tôn kính vị đã hướng dẫn mình, điều này rất quan trọng, tuyệt đối quan trọng nên không để cho bất cứ ý niệm nào sân hận ở trong tâm, phải diệt tận, phải sám hối liên tục ba ngày. Phải diệt tận ý niệm đó, vì nó rất là nguy hiểm. Về vị đã truyền pháp cho mình, đó là Thánh pháp, nên có một ý niệm là phải diệt tận ngay lập tức, phải sám hối, phát nguyện.

Con xin đảnh lễ quý thầy, quý cô và đại chúng.

Phải cố gắng diệt hôn trầm, không diệt được hôn trầm là tu không tiến.

IX. Thầy Thiện Huệ chia sẻ - nề nếp, quy củ:

Mời thầy Thiện Huệ

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên thầy, quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Hôm qua, khoảng 4h con thấy thầy ngồi trên phòng thầy Pháp An, con có qua con đảnh lễ chào thầy mới về thì thầy có hỏi con sao trưa giờ ở đâu không ra nghe pháp thì con có ở trong phòng con nghe bài kinh Tứ Niệm Xứ của thầy giảng lại, thầy mới nói đó là không đúng, đó là dục. Ý thầy nhắc nhở con rằng mình làm lớn thì mình cũng phải gương mẫu để cho chúng học hỏi, không được như vậy. Khi con nghe những lời thầy nhắc nhở như vậy, hôm qua đến nay, con thấy tâm mình sao hổ thẹn, cảm thọ đó cũng có sợ hãi trong những lỗi như vậy, đã được thầy nhìn thấy và chỉ dẫn, nhắc nhở cho chúng con.

Đó là điều chúng con rất hoan hỉ, rất tri ân thầy đã nhìn thấy lỗi lầm, sai lầm của chúng con để chỉ dạy, để nhắc nhở. Nhân đây chúng con cũng xin sám hối với thầy với đại chúng, hôm qua do vì một ý niệm mà không nhìn lại ngũ uẩn vận chuyển thì con bị tưởng, bị ý hành nó gạt con: “Trời mưa nên chắc mấy thầy trên đó không có bắt pháp đâu, thôi ở dưới này nghe pháp cũng được, tưởng cũng là chỉ tưởng mấy chú ở đây đang ngồi thiền hay đọc kinh thôi chứ không mở pháp cho nghe đâu, mưa quá không lên được.” Chính nghe những lời giảng của thầy sáng nay, con cũng nhận rõ được, hôm qua cũng chính là dục, là ái vào cái tưởng, cái hành, cái ác bất thiện pháp nó gạt mình, nó dụ dỗ mình, may là cũng được thầy thấy, thầy chỉ dẫn, nhắc nhở cho con cùng quý sư cô. Con xin sám hối trước thầy và đại chúng, chúng con cũng cố gắng hứa là không tái phạm những lần sau như vậy, tuy là lỗi này nhỏ nhặt nhưng cũng là nỗi hổ thẹn, sợ hãi đối với con cùng toàn thể quý sư cô, con kính mong thầy hoan hỉ, chứng minh cho con cùng quý sư cô.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thôi thầy và sư cô qua lạy Phật đi. Chú ngồi đi Minh Thành tâm sự chút cho nghe.

Mình không hiểu được nỗi lòng của người đi trước, khó hiểu được lắm, người có tâm sẽ hiểu cho ta. Người phải để tâm mới hiểu được, “bất thị khổ tâm nhân bất tri”- không phải người khổ tâm thì người không hiểu được chuyện này, những chuyện nhỏ đó từ từ sẽ phá vỡ hết tất cả, gia phong của đạo tràng. Nếu một giờ tu học ai muốn lên, không muốn lên thì thôi mà không có một lý do gì hết hoặc là vì một chút giọt mưa. Minh Thành phải đi 250km và rất nhiều người khác cực khổ để lo cho chúng ta tu học, chúng ta nhìn thấy rồi đó cô, Minh Thành và bao nhiêu những người lo cho chúng ta. Thầy Nghĩa rất vất vả, kiểm bài tới khuya một hai giờ đêm, gánh vác hết tất cả mọi công chuyện của chùa, phụ Minh Thành, vì thầy Pháp Từ đi, thầy Pháp Sơn nhập thất. Các thầy khác đi mười mấy hai chục người có một mình thầy Nghĩa gánh vác và còn chịu sự huấn luyện của Minh Thành.

Nên Minh Thành nhắc việc này để quý vị hiểu rằng, gia phong quan trọng lắm, nếp nhà chính là những thời khóa tu học, trừ những vị có bệnh người ta có xin phép rõ ràng, nếu mình thấy chán ngán thì mình xin đổi, Minh Thành đã tạo đủ điều kiện cho đại chúng có quyền pháp đàm, có quyền nghe bài cô giảng cũng được, có quyền đi lên quán chiếu đường thực tập, rất là phong phú, rất đa dạng những thể loại thực tập, tu tập. Nên mình là người giữ gìn truyền mối của pháp mà nếu mình không giữ thì ai giữ? Chúng ta chỉ cần tới thời khóa là lên thôi, đơn giản lắm, chúng ta có biết rằng Minh Thành gánh vác bao nhiêu sự lo lắng, trách nhiệm, trong ngoài, trên dưới. Chúng ta chỉ đơn giản là tới giờ tu lên tu, tới giờ học lên học, chúng ta phải cố gắng, giữ gìn nề nếp, thời khóa, thanh quy. Chúng ta phải thường xuyên tác ý, những người ngoài đời người ta làm rất cực khổ, mình chỉ ngồi nghe pháp thôi, ngồi thiền thôi, so với người ta không có gì hết, nếu mình không làm được thì xấu hổ lắm. Mình phải tác ý mỗi khi ai không thấy mệt trong người, Minh Thành cũng có vậy nhưng phải tác ý, phải cố gắng chiến thắng, nếu có thì một hai người, còn đây là tập thể không lên luôn, không có lý do. Không thể vì mấy giọt mưa đó, không được, không lấy lý do đó được, mình phải cố gắng giữ gìn pháp.

Những vị lớn nữa, phải làm gương mẫu. Chúng ta biết rằng thời khóa tu của mình so với những chỗ khác là nặng hơn, hơi nhiều, nhưng những con người đây là những người ý chí, mạnh mẽ, ham tu nên không phải là khó, chúng ta sẽ làm được, làm đẹp vì chúng ta đâu phải chỉ tu ở đây không, chúng ta còn nhiều Phật tử mong đợi mình, tăng ni và các quý thầy ở chùa Hoằng Pháp người ta xin học xong lên đây để tu theo kinh Nikāya, một vài thầy. Nên mình còn chỗ nương tựa, cho xuất gia, cho tại gia, cho gia đình, mình phải cố gắng, cố gắng vì pháp quên thân, vì sự thành tựu có thể hy sinh tất cả. Nếu mình buồn ngủ quá trong lúc ngồi thiền thì mình có thể đi ra thiền hành, hoặc lạy Phật, nếu nó quá nặng, mình đã cố gắng tác ý mà không được, thì có thể đổi oai nghi. Mà nếu biết mình buồn ngủ vậy thì tối mình nên ngủ sớm, đừng thức khuya, đó là sự khéo léo, tự thân của mỗi người, làm sao để có kết quả sớm, hiệu quả sớm. Chúng ta không ở đây hoài, chúng ta thành tựu chúng ta còn đi về báo hiếu cha mẹ ông bà, còn làm lợi lạc nhân thiên chứ không phải đều đều như vậy hoài, phải nỗ lực lên.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.