CỬA VÀO BẤT TỬ 8
Tinh Hoa Nikāya
CỬA VÀO BẤT TỬ 8
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ảo thuật gia thức uẩn PAGEREF _Toc117636016 \h 1
II.Sự dối lừa của tâm thức PAGEREF _Toc117636017 \h 4
III.Thức vô biên xứ PAGEREF _Toc117636018 \h 7
Ảo thuật gia thức uẩn
Chúng ta tiếp tục chuyên đề Cửa Vào Bất Tử, phần thực tập nhận diện sáu thức.
Thức, cái biết thật là vi tế,
Chỉ biết thôi, không có ngôn từ
Rõ biết thôi nhưng lại vô biên
Khi khéo tập Thức vô biên xứ.
Ở đây, chúng ta cần phân biệt rõ giữa hành và thức. Hành là suy nghĩ, lời nói lầm thầm trong tâm, nghĩa là những ngôn từ trong tâm chính là hành. Còn thức chỉ là sự rõ biết. Chúng ta cần nhận diện, phân biệt rõ giữa thức và hành, hai uẩn này rất dễ lẫn lộn vì nhiều người nghĩ rằng thức là sự rõ biết, phân biệt. Tuy nhiên, thức chỉ là sự rõ biết; còn những suy nghĩ phân biệt xem điều gì đó là tốt hay xấu, mập hay ốm, thấp hay cao… thì đó là hành uẩn. Như vậy, khi thấy điều gì đó thì chỉ là sự rõ biết – thức uẩn; còn sự phân biệt, đánh giá đẹp xấu, hay dở… là hành.
Thức là cái dễ lừa tâm nhất,
Phật gọi đây là ảo thuật thôi
Dù thấy đang rõ biết ràng ràng
Nhưng đó vẫn là trò ảo thuật.
Chúng ta cần có sự chánh niệm, tỉnh giác, quán xét mới thấy được trò ảo thuật của thức uẩn. Ở ngoài đời, những ảo thuật gia chỉ cần giũ tay áo là ra chiếc khăn, từ chiếc khăn biến ra con chim bồ câu hoặc ra cả bó hoa… nhưng thật ra những thứ đó đều là nghệ thuật huyễn ảo chứ không có thật. Vì tốc độ làm nhanh và khéo nên con mắt chúng ta nhìn theo không kịp, tưởng đâu từ vật này biến ra vật kia, nhưng thật ra là họ giấu con chim bồ câu sẵn trong người, giấu bông hoa sẵn trong tay áo… khi giũ áo thì họ lấy ra rất nhanh, làm cho người xem nghĩ rằng từ chiếc khăn mà biến hóa ra những thứ khác. Cũng vậy, dù chúng ta đang thấy, đang biết, đang nghe, đang nhận thức nhưng thức này vẫn là trò ảo thuật.
Ví dụ, ở xa xa có hai người đang nói chuyện với nhau và họ nhìn mình cười một cách thích thú. Khi đó, chúng ta sẽ tưởng là họ nói xấu mình. Khi thấy hình ảnh đó, nghe âm thanh từ xa xa đó thì cảm thấy họ nói xấu mình, nhưng khi đến gần, hỏi họ thì mới biết họ đang kể chuyện cười. Cho nên, sự rõ biết của chúng ta sai trật rất nhiều.
Chẳng hạn, người chồng ngày thường tan làm xong là sáu giờ về đến nhà, một ngày hơn tám giờ tối mà vẫn chưa thấy về, lúc đó biết bao những suy tư, tưởng tượng sanh khởi, có khi sẽ gọi điện thoại hỏi để biết. Dù chồng trả lời là kẹt xe, hoặc bận công việc ở chỗ làm nhưng trong tâm thức vẫn suy diễn đủ thứ. Khi chồng về là bắt đầu cằn nhằn, ông chồng đi làm căng thẳng, kẹt xe mệt mỏi nên sân lên, dẫn đến cự cãi.
Rất nhiều sự việc để chúng ta quán chiếu, chiêm nghiệm về thức uẩn này. Ngày xưa có câu chuyện một chú đang bổ củi trước nhà, trong nhà có việc nên chú để củi, búa ở đó và vào nhà. Sau khi trở ra thì mất cái búa. Chú này nhìn xung quanh thì thấy đứa nhỏ cạnh nhà dáng đi, ánh mắt, điệu bộ như ăn trộm nên trong tâm sanh khởi sự nghi hoặc. Nhưng cuối cùng, khi kiểm tra kỹ lại thì thấy trước đó chú cất cái búa trong góc kẹt. Lúc đó, chú này lại thấy đứa nhỏ đó hiền lành, dễ thương, không có gì giống ăn trộm.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, do thức kết hợp với tưởng và hành, cùng với những suy tư, tưởng tượng sẽ khiên ta suy diễn ra đủ thứ, không đúng sự thật, không đúng hiện thực. Cũng như chú này, nếu khăng khăng cho rằng đứa bé kia ăn trộm cái búa thì chuyện gì xảy ra. Đó là Minh Thành chỉ ví dụ những chuyện nhỏ, còn những chuyện lớn khác khi đào sâu chúng ta sẽ thấy những hậu quả rất khó lường.
Trong đời sống này có rất nhiều những sự hiểu lầm, suy diễn, tưởng tượng. Có những việc chính do mình thấy, mình nghe nhưng cũng sai lầm, không đúng sự thật. Có những chuyện mà hàng tháng sau mới phát hiện mình bị lừa gạt. Thậm chí có trường hợp hai năm, năm năm, mười năm sau mới phát hiện mình từng bị lừa gạt. Cho nên, nếu chưa thành tựu Chánh tri kiến, chưa thành tựu trí tuệ đúng như Đức Phật chỉ dạy, dù chính chúng ta thấy, nghe, biết, cảm xúc rõ ràng như vậy nhưng chỉ là những sự thấy, nghe, cảm xúc trong vô minh, hiểu lầm, ảo tưởng, ảo thuật, ảo vọng, ảo huyền, ảo ảnh của tâm thức. Đây là chỗ rất sâu sắc.
Tất cả chúng ta có rất nhiều những ảo tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng. Hãy kết hợp giữa tưởng uẩn và thức uẩn để dễ hiểu về tâm thức chính mình. Một lần, Minh Thành đi từ núi về chùa Bửu Liên, còn khoảng mười phút nữa là đến chùa thì bác tài nói “tới rồi thầy ơi, năm phút nữa”, Minh Thành mới nói là “chưa, khi nào từ cổng chùa bước vào mới gọi là tới”. Chú tài xế nghe vậy không đồng ý nhưng tích tắc sau là kẹt xe, phải nhích từng chút, gần hai mươi phút sau mới đến chùa. Khi bước vào chùa, chú tài xế mới đồng ý với lời Minh Thành đã nói.
Cho nên, nếu chúng ta cứ nhận thức, suy nghĩ, nhận định theo thông thường thì có thể không đúng, vì cái biết của chúng ta thường chỉ là tưởng tri và thức tri, chứ không phải tuệ tri. “Tưởng tri” là cái biết trên tưởng tượng, suy diễn. “Thức tri” là cái biết dựa trên kinh nghiệm, nhận thức, cái biết do đã quen, nghĩ rằng hôm nay như vậy thì ngày mai, tháng sau, một năm sau, ba năm cũng sẽ như vậy nhưng có những lúc vô thường thì không phải như vậy, những lúc đó thức tri không đúng.
Mới lúc chiều, khi Minh Thành đi công việc với chú Phật tử thì chú này nói trời hôm nay không có mưa. Minh Thành mới nói “khi nào mình đi đến nơi rồi về đến chùa thì mới kết luận được”. Quả nhiên, khi đi một chút thì trời bất ngờ mưa. Thành ra, chúng ta rất dễ dàng phán định, suy tưởng, ảo tưởng về những sự việc, sự vật, con người xung quanh mình. Thế nhưng, khi mọi thứ không giống như suy nghĩ, suy tưởng, nhận định, nhận thức thì lúc đó mình sẽ dễ phiền não, khổ đau. Còn cái gọi là thời trí, là tuệ tri, là hiện thực xảy ra ngay hiện tại đòi hỏi chúng ta cần có tâm an tịnh, lắng dịu và tỉnh giác, xem sự việc xảy ra như thế nào. Sau đó mới nhận định như thế đó và có tâm trầm tĩnh, sáng suốt để giải quyết vấn đề. Điều này đỏi hỏi cả một sự để tâm tu tập.
Có những người khi sắp đi đâu xa là tối ngủ không được, tâm cứ lo ra, không an trú được vào những sự thật trong giây phút hiện tại. Tâm cứ tưởng tượng đủ thứ, làm mình mệt mỏi, mất ăn, bỏ ngủ. Đến khi sự thật diễn ra thì mình không chấp nhận được vì trước đó cứ sống trong suy tưởng, ảo tưởng, mơ tưởng. Đây là chỗ vô cùng quan trọng để chúng ta tu tập, nếu không mình cứ bị tâm này ảo thuật, lừa gạt không ngừng. Có khi chúng ta hiểu lầm, nhận lầm, nguy hiểm hơn là những người xử án oan sai mười năm, hai chục năm, ba chục năm, thậm chí suốt cả đời, cho đến chết.
Vì vậy, chúng ta đừng tin hết vào cái thấy của con mắt; đừng tin hết vào cái nghe của lỗ tai; đừng tin tuyệt đối vào những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, nhận thức bên trong tâm mình. Tin ở mức độ vừa phải và luôn bình tĩnh, chánh niệm, dùng Thánh tri kiến của bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao để soi rọi vào đó. Bằng không, chúng ta sẽ bị gạt mãi mãi, bị gạy từ nhỏ cho đến lớn, đến già, đến lúc hấp hối gần chết và ngay cả lúc chết cũng bị gạt.
Sự dối lừa của tâm thức
Chúng ta bị cái gì gạt?
Chúng ta bị tham lam, ham muốn gạt cả cuộc đời. Nó khiến mình chạy hoài, tìm hoài, kiếm hoài, để rồi mệt mỏi, nhọc nhằn, vất vả, khổ đau. Chúng ta bị dục gạt, cứ thúc giục, thèm muốn, đòi hỏi, tham muốn, tham ái, tham lam và còn bị cả tham ăn, tham ngủ lừa gạt, cuối cùng mất hết thời gian tu học. Lâu lâu bỏ thời khóa tu để ngủ say sưa; bỏ tụng kinh để xuống bếp nấu món này món nọ. Chúng ta còn bị bản ngã, ta tôi, đúng sai, hơn thua, tranh giành, tranh đấu lừa gạt.
Chính từ nhận thức sai lầm, không thấy không biết Chánh pháp; không thấy không biết ngũ uẩn; không thấy không biết tham, sân, si; không thấy không biết vô minh, bản ngã; không thấy không biết tất cả những thứ đó là nguyên nhân của khổ, là nguồn cội của sầu đau, là gốc rễ của sự bất an, phiền phức, phiền bực, phiền não, phiền lòng, phiền giận, phiền nhọc nên chúng ta bị chúng lừa dối, lừa gạt, đau khổ cả đời.
Ví dụ đơn giản, có người gọi đến nên mình mở điện thoại lên nghe, vừa bắt máy thì nghe người ta nói hai, ba câu rất khỏ chịu là trong tâm phừng phừng, phẫn nộ, bốc lửa, phựt cháy, mà không chịu bình tĩnh nghe kỹ xem câu nói đó là như thế nào, có ý gì, sự việc ra làm sao. Lúc đó cần phải trầm tĩnh, an tịnh lắng dịu, chánh niệm tỉnh giác để lắng nghe họ một cách sâu sắc, thấu hiểu được cảm thọ của họ. Đồng thời cảm nhận được họ đang đau khổ, bức xúc, sân hận như thế nào để trải tâm từ, tâm hiền, tình thương đến họ. Phải thấy tội nghiệp, xót thương cho người này, vì họ đang đau khổ, đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của tham, sân, si. Nếu không hiểu như vậy là mình sẽ bị cháy theo, chỉ cần nghe vài câu trong điện thoại là sân si, phựt cháy, phẫn nộ.
Đó là chúng ta bị nhĩ thức lừa gạt. Do duyên có lỗ tai, thanh trần, sự rõ biết âm thanh – ba pháp này hội tụ là nhĩ xúc, sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh. Tất cả chúng ta đều bị lừa gạt như vậy. Chúng ta bị lỗ tai gạt, bị tiếng nói trong điện thoại gạt, bị sự rõ biết âm thanh gạt, bị sự tiếp xúc của lỗ tai gạt, bị cảm thọ bực bội, sân hận, bức xúc sanh khởi từ sự tiếp xúc gạt. Chúng ta bị năm lớp lừa gạt: lỗ tai, âm thanh, sự rõ biết âm thanh, sự tiếp xúc của ba pháp trên (nhĩ xúc), thọ do nhĩ xúc sanh. Đó là chúng ta nói đơn giản, vì từ đó còn biết bao thọ, tưởng, hành sanh khởi. Rất những những hình bóng, suy nghĩ sanh khởi, sau đó khẩu hành phát ra, thân hành sẽ hành động và cuối cùng chỉ dẫn đến khổ. Cho nên, khổ và nguyên nhân của khổ cũng chính từ chỗ nhĩ thức, từ cái nghe của mình. Cái nghe này ảo thuật khủng khiếp như vậy. Và tất cả chúng ta bị trò ảo thuật của tâm thức làm cho chính mình đau khổ, đồng thời cũng làm cho người khác khổ đau.
Có khi vừa đi ra ngoài về nhà, thấy nhà cửa bề bộn là bực bội, cảm giác nóng giận, khó chịu, bức xúc sanh khởi lên liền. Tại sao lúc đó chúng ta không bình tĩnh, chánh niệm để tìm hiểu vấn đề gì đang xảy ra, mà mới nhìn thấy thì đã sanh khởi khó chịu. Đó là mình bị nhãn thức lừa gạt, vừa nhìn thấy là thọ, tưởng, hành sanh khởi, rất nhiều những suy nghĩ khó chịu, ghim gút, cau có, bực bội, nóng giận, sân hận. Chính cái thức này làm chúng ta khổ. Nếu không thấy cảnh đó thì chúng ta không sanh khởi cảm thọ khó chịu, bực bội nhưng vì chúng ta nhìn thấy nên mới sanh khởi thọ đó. Cũng vậy, nếu không đi đến nhà hàng đó thì không mê món ăn ở đó; không đi du lịch ở chỗ đó thì không mê cảnh đẹp ở nơi đó, thế là lâu lâu cứ muốn đi đến, tại vì tiếp xúc nên mê thích.
Cho nên, nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc làm chúng ta mê, khoái, thích, dẫn đến mất thời gian tu học, phung phí tuổi già. Tất cả sanh khởi lên cũng từ sự tiếp xúc, do tiếp xúc nên mới có sự rõ biết. Từ đó sanh khởi lên những thứ ham, mê, thích và chúng ta bị trò ảo thuật của tâm thức lừa gạt. Nhiều người vì một câu chuyện mà cứ tranh cãi qua lại, tranh giành phải quấy, hơn thua, thị phi, đôi chối, thậm chí cắt đứt tình nghĩa, không nhìn mặt nhau nữa, trong khi chỉ vì những chuyện vô cùng nhỏ. Cho nên, thức uẩn này chính là thủ phạm giấu mặt phía sau.
Vì thế, thức dễ lừa tâm nhất,
Khi tu hành đến một lúc nào,
Thọ, tưởng, hành bất chợt lặng yên,
Thì sự rõ biết liền lộ rõ.
Cần chiêm nghiệm kỹ để thấy thức lừa tâm chúng ta như thế nào. Nhiều khi cha mẹ lo lắng cho con cái nhưng con cái lại thấy bực bội, nghĩ ngược lại theo chiều hướng vô minh, không còn hiếu thảo, hiếu hạnh. Khi đi đâu, cha mẹ nhắn tin hỏi han thì thấy khó chịu, bực bội, không biết đó là tình thương, sự quan tâm của cha mẹ. Cha mẹ chăm lo, yêu thương con cái nên mới lo lắng như vậy, còn con cái lại thấy khó chịu, không vui. Cho nên, tâm này là tâm ngu, tâm bản ngã, tâm vô minh. Trường hợp khác, con cái hiếu thảo, muốn phụng dưỡng, báo hiếu cho cha mẹ nên muốn mua đồ ăn, quần áo, giày dép cho cha mẹ, hoặc muốn đưa cha mẹ đi chùa, tha thiết muốn dẫn cha mẹ đến dự lễ cúng dường trai tăng để cha mẹ cầu phước nhưng cha mẹ không chịu, bực bội không đi, không hiểu lòng con cái.
Bởi vì một tâm thức không trong sáng, không thanh tịnh, đầy bản ngã, đầy tham sân si, không còn sáng tỏ nên không còn nhận rõ được đâu là sự thật, đâu là lợi ích, đâu là lợi lạc. Như hồ nước đã bị khuấy đục, đầy cấu bẩn thì sẽ không soi được trời mây, không phản chiếu được khuôn mặt mình. Cũng vậy, một tâm thức không tu tập chánh niệm tỉnh giác, không tu tập an tịnh lắng dịu thì chẳng khác gì hồ nước bị khuấy đục, đầy cấu bẩn, uế nhiễm.
Thế nên, con cái muốn tạo duyên lành, tăng phước đức cho cha mẹ mới muốn thỉnh cha mẹ lên núi để được lạy tri ân, dâng tách trà, quỳ dưới chân cha mẹ, nói ra lời tận đáy lòng nhưng cha mẹ không chịu đi, mất cơ duyên cho con cái báo hiếu, đồng thời mất luôn cơ duyên cho mình nhận được cảm giác ngọt ngào, yêu thương nhất của tình mẫu tử, tình phụ tử. Ngược lại, cha mẹ yêu thương, lo lắng cho con cái thì con cái cảm thấy bực bội, khó chịu. Thành ra, tâm thức này lừa gạt chúng ta vô cùng ngoạn mục, đau đớn, cay đắng.
Giữa vợ chồng với nhau, có khi do hiểu lầm nên không cảm thông, không tha thứ cho nhau, vì vậy cứ có chuyện cự cãi không ngừng. Họ sống với nhau chỉ hạnh phúc vài năm đầu, thời gian còn lại hết sức cay đắng, mệt mỏi vì không lắng nghe, không thấu hiểu, không cảm thông nhau, bởi vì không tu tập cảm thọ ngọt ngào, dễ chịu.
Thức vô biên xứ
Vì vậy, cần tu tập tâm hiền, thực tập những cảm thọ hiền thiện, hiền lành, hiền hòa, hiền kính, hiền đức, hiền lương, hiền hậu, hiền từ, hiền trí và từ từ mới đến bậc hiền thánh. Thực tập tâm hiền là điều hết sức quan trọng, bằng không, chúng ta sẽ bị những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, rõ biết lừa gạt, nói gắn gọn là bị sáu thức lừa gạt. Chúng làm cho mình cứ ảo tưởng, nhận thức sai lầm về tự thân; nhận thức sai lầm về những người xung quanh nhận thức sai lầm về tất cả sự vật, đồ vật, cảnh vật, nhân loại và hữu tình chúng sanh
Trong bộ tượng “khỉ tam không”: bịt mắt, bịt lỗ tai, bịt miệng. Bịt mắt không phải là bịt mắt lại, không nhìn thấy gì, mà phải hộ trì con mắt, không nhìn lung tung, cái gì cần nhìn mới nhìn, nếu không khéo nhìn, thả lỏng các căn, nhìn để phiền não, sân hận thì nhìn làm gì. Cho nên, Đức Phật dạy phải thu thúc lục căn, thanh tịnh giới. Trong sự tu học, giới luật vô cùng quan trọng, ngoài những giới đã thọ, giới hết sức quan trọng là thu thúc lục căn, bảo hộ lục căn, phòng hộ các căn, không thả lỏng các căn. Ví dụ, chúng ta biết người đó không ưa mình, hay kiếm chuyện với mình thì hãy bớt nhìn họ, không để ý nhiều làm gì. Vì khi để ý thì sẽ lo nhìn cử chỉ, ánh mắt của họ rồi bực bội, khó chịu, vậy thì để ý, tiếp xúc, nhìn ngó để làm gì. Người nhìn vào khiến mình phiền não, sân hận thì phải bớt nhìn họ lại, như vậy là thu thúc con mắt, giữ gìn con mắt, bảo vệ con mắt, phòng hộ con mắt. Còn nếu cứ thả lỏng con mắt thì nhãn thức sẽ phóng ra bên ngoài, chỉ mang lại cho mình tham, sân, si, ngoài ra không có bất cứ lợi ích gì.
Bịt lỗ tai lại không phải là không nghe, mà điều gì cần nghe mới nghe, điều gì không cần nghe thì tránh xa, không nghe nữa. Vì có những cái nghe khiến chúng ta sanh khởi lên ham muốn, dục vọng; hoặc sanh khởi bực bội, sân si, khó chịu; hoặc sanh khởi bản ngã, hơn thua, tranh đấu, giành giật. Cho nên, cần phải giữ gìn lỗ tai của mình. Cái gì không cần nghe thì cố gắng tránh duyên, đi chỗ khác, không nghe nữa. Trong trường hợp không đi ra chỗ khác được thì phải Như lý tác ý theo những lời pháp, không chú tâm vào những lời ác, bất thiện pháp đang nghe.
Cái miệng cũng vậy, phải bịt lại, phải phòng hộ. Nhất là trong mùa dịch Covid-19 này, lúc nào cũng phải bịt lại, vì nói chuyện một chút là bay vi khuẩn chứa đầy dịch bệnh. Cũng vậy, cái miệng không biết tu thì bên trong đầy vi trùng, vi rút, vi khuẩn. Cái miệng biết tu thì lời nói ra luôn được êm ái, dịu dàng, dễ nghe, ngọt ngào, dễ thương, dễ mến. Thành ra, bịt cái miệng là trước khi nói phải xét lời nói đó lợi hay hại, tội hay phước, nên hay không nên; trong khi nói phải xét nét và sau khi nói cũng phải xét nét. Ngoài ra, trong khi ăn, chúng ta phải xem lại thọ do thiệt xúc sanh. Khi lưỡi tiếp xúc với thức ăn, phải xem lại cảm thọ nơi lưỡi, biết rõ món nào nên ăn, món nào không nên ăn, món nào có lợi và món nào có hại cho sức khỏe… Đó là ý nghĩa thật sự của hình ảnh bịt mắt, bịt tai, bịt miệng.
Người tu chúng ta luôn phải tập nhận diện sáu thức và đương nhiên có cả xúc, thọ, ái, sân, si trong đó. Phải tập nhìn được sáu cái biết này, không để cho chúng gạt mình thêm nữa. Từ vô lượng vô biên kiếp đến nay chúng ta đã bị thức uẩn này gạt. Gạt cay gạt đắng, gạt đau gạt đớn; lừa chúng ta một cú lừa ngoạn mục; lừa chúng ta sầu, bi, khổ, não; lừa cho mình sanh, già, bệnh, chết; lừa cho mình càng thêm tham, sân, si, vô minh, bản ngã; lừa cho mình nước mắt đầy đại dương, những bộ xương chất chồng như núi. Đến ngày giờ này, khi tu chúng ta phải nhận diện, nhiếp phục, chế ngự, quản lý, xử lý tất cả những rác bẩn đó.
Nếu khéo tu thì thức uẩn này sẽ trở thành thức vô biên xứ:“Rõ biết thôi nhưng lại vô biên – khi khéo tập thức vô biên xứ”. Khi ngồi yên, tâm không có suy nghĩ, không có hình bóng, tất cả những suy nghĩ đều an tịnh, không còn hình bóng gì trong tâm, chỉ có sự rõ biết thì cái biết đó là vô lượng vô biên. Khi tu tập thức vô biên xứ thì cái biết này trùm khắp cả trời đất, không gian vạn vật. Cái biết rỗng không, rỗng lặng nhưng lại trùm khắp được gọi là thức vô biên xứ. Người thường ngồi thiền, có sự thực tập thì sẽ thấy được trạng thái này của tâm.
Khi tu hành đến một mức độ nhất định, các thọ, tưởng, hành được lặng yên, trong tâm không còn hình bóng, suy nghĩ gì nữa, đồng thời cảm thọ cũng được an tịnh, lắng dịu. Tất cả những hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ đều lặng yên. Lúc này cái biết trong sáng sẽ được hiển lộ một cách rõ ràng.
Mây được ví với Hành và Tưởng,
Bầu trời xanh ví với Thức này,
Mây làm bầu trời chẳng sáng trong,
Hành, tưởng làm mờ sự rõ biết.
Khi bầu trời có mây thì những áng mây che khuất bầu trời. Đến lúc gió thổi, mây tan thì bầu trời chỉ còn một màu xanh thuần thanh tuyệt điểm, không còn bất cứ gợn mây nào. Hình ảnh này được ví dụ cho thức vô biên xứ. Người tu có sự kiên trì, thực tập một cách sâu sắc sẽ cảm nhận được điều này, hoàn toàn không phải vọng tưởng.
Sự rõ biết trở thành trong sáng,
Khi tưởng, hành bất chợt lặng yên
Tâm sáng trong, tưởng đó là mình
Đây là chỗ dễ lầm nhận nhất.
Khi tâm không có những hình ảnh, không có suy nghĩ, tâm được an yên, yên tịnh thì cái biết lúc này được sáng tỏ, trong sáng, tâm rỗng lặng, rõ biết cùng khắp rộng lớn và trùm khắp vô biên xứ, tức là vô lượng vô biên, không có giới hạn, không có biên giới. Cho nên, thức này nếu được tu tập thì trở nên rất tuyệt diệu, tuyệt vời, vượt ra những giới hạn của sắc tướng. Tuy nhiên, nhiều người tu thiền khi thấy tâm yên lặng, dừng hết vọng tưởng thì cứ nghĩ đó là chân tâm, Phật tánh nhưng sự thật không phải vậy. Đây là chỗ rất dễ nhận lầm.
Đây được gọi chỗ nguy hiểm nhất,
Dễ lừa tâm nhận đó là mình,
Khi bị lừa thì phải khổ đau,
Vì nhận cái duyên sanh làm ngã.
Tuy tâm thức đạt sự trong sáng, rõ biết vô lượng vô biên nhưng nó vẫn còn nằm trong thức uẩn và bản chất của ngũ uẩn vỗn dĩ là duyên sanh, sanh diệt. Nếu nhận sự rõ biết trong sáng là tâm của mình thì đó là chúng ta đang bị lừa. Một khi bị lừa như vậy là chúng ta bị sanh diệt trong pháp duyên sanh.
Như vậy, sau khi nhận diện được sáu thức: thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, rõ biết thọ, tưởng, hành trong tâm thì nhất định không được để chúng lừa gạt mình. Mỗi khi thấy, nghe, rõ biết đừng để khởi tham, sân, si lên, nếu vậy là chúng ta bị thức uẩn này lừa. Vì vậy, phải tập chánh niệm trong cái nghe, cùng với sự phòng hộ, hộ trì các căn, không thả lỏng các căn. Khi thấy, nghe, tiếp xúc, rõ biết… quyết tâm không để chúng lừa mình, không được chạy theo những thứ tham, sân, si, vô minh, bản ngã.
Hãy tập đưa sự thấy biết trở về chánh niệm; đưa sự thấy biết vào trong những cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào; đưa sự thấy biết về tâm hiền, tâm từ. Cố gắng tu tập để luôn luôn thấy biết trong trí tuệ, thấy được bản chất vô thường, vô ngã, trống rỗng của các pháp. Cái biết như vậy mới có thể tu tập để thành tựu được trí tuệ của Đức Phật. Trong kinh Nikāya Đức Phật đã nói, thức là sự rõ biết, còn trí là do tu tập mà có được. Cho nên, nếu biết tu tập đối với thức thì thức này sẽ trở thành trí tuệ của bậc Thánh, phá tan mê lầm, vô minh, si ám, đưa chúng ta đến an lạc, hạnh phúc.
Thức cần được khéo nhìn, khéo thấy
Cái biết này rộng lớn, vô biên
Khéo tìm Kinh, học kỹ, tận tường,
Để chánh kiến được tâm tường tận.
./.
CỬA VÀO BẤT TỬ 8
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ảo thuật gia thức uẩn PAGEREF _Toc117636016 \h 1
II.Sự dối lừa của tâm thức PAGEREF _Toc117636017 \h 4
III.Thức vô biên xứ PAGEREF _Toc117636018 \h 7
Ảo thuật gia thức uẩn
Chúng ta tiếp tục chuyên đề Cửa Vào Bất Tử, phần thực tập nhận diện sáu thức.
Thức, cái biết thật là vi tế,
Chỉ biết thôi, không có ngôn từ
Rõ biết thôi nhưng lại vô biên
Khi khéo tập Thức vô biên xứ.
Ở đây, chúng ta cần phân biệt rõ giữa hành và thức. Hành là suy nghĩ, lời nói lầm thầm trong tâm, nghĩa là những ngôn từ trong tâm chính là hành. Còn thức chỉ là sự rõ biết. Chúng ta cần nhận diện, phân biệt rõ giữa thức và hành, hai uẩn này rất dễ lẫn lộn vì nhiều người nghĩ rằng thức là sự rõ biết, phân biệt. Tuy nhiên, thức chỉ là sự rõ biết; còn những suy nghĩ phân biệt xem điều gì đó là tốt hay xấu, mập hay ốm, thấp hay cao… thì đó là hành uẩn. Như vậy, khi thấy điều gì đó thì chỉ là sự rõ biết – thức uẩn; còn sự phân biệt, đánh giá đẹp xấu, hay dở… là hành.
Thức là cái dễ lừa tâm nhất,
Phật gọi đây là ảo thuật thôi
Dù thấy đang rõ biết ràng ràng
Nhưng đó vẫn là trò ảo thuật.
Chúng ta cần có sự chánh niệm, tỉnh giác, quán xét mới thấy được trò ảo thuật của thức uẩn. Ở ngoài đời, những ảo thuật gia chỉ cần giũ tay áo là ra chiếc khăn, từ chiếc khăn biến ra con chim bồ câu hoặc ra cả bó hoa… nhưng thật ra những thứ đó đều là nghệ thuật huyễn ảo chứ không có thật. Vì tốc độ làm nhanh và khéo nên con mắt chúng ta nhìn theo không kịp, tưởng đâu từ vật này biến ra vật kia, nhưng thật ra là họ giấu con chim bồ câu sẵn trong người, giấu bông hoa sẵn trong tay áo… khi giũ áo thì họ lấy ra rất nhanh, làm cho người xem nghĩ rằng từ chiếc khăn mà biến hóa ra những thứ khác. Cũng vậy, dù chúng ta đang thấy, đang biết, đang nghe, đang nhận thức nhưng thức này vẫn là trò ảo thuật.
Ví dụ, ở xa xa có hai người đang nói chuyện với nhau và họ nhìn mình cười một cách thích thú. Khi đó, chúng ta sẽ tưởng là họ nói xấu mình. Khi thấy hình ảnh đó, nghe âm thanh từ xa xa đó thì cảm thấy họ nói xấu mình, nhưng khi đến gần, hỏi họ thì mới biết họ đang kể chuyện cười. Cho nên, sự rõ biết của chúng ta sai trật rất nhiều.
Chẳng hạn, người chồng ngày thường tan làm xong là sáu giờ về đến nhà, một ngày hơn tám giờ tối mà vẫn chưa thấy về, lúc đó biết bao những suy tư, tưởng tượng sanh khởi, có khi sẽ gọi điện thoại hỏi để biết. Dù chồng trả lời là kẹt xe, hoặc bận công việc ở chỗ làm nhưng trong tâm thức vẫn suy diễn đủ thứ. Khi chồng về là bắt đầu cằn nhằn, ông chồng đi làm căng thẳng, kẹt xe mệt mỏi nên sân lên, dẫn đến cự cãi.
Rất nhiều sự việc để chúng ta quán chiếu, chiêm nghiệm về thức uẩn này. Ngày xưa có câu chuyện một chú đang bổ củi trước nhà, trong nhà có việc nên chú để củi, búa ở đó và vào nhà. Sau khi trở ra thì mất cái búa. Chú này nhìn xung quanh thì thấy đứa nhỏ cạnh nhà dáng đi, ánh mắt, điệu bộ như ăn trộm nên trong tâm sanh khởi sự nghi hoặc. Nhưng cuối cùng, khi kiểm tra kỹ lại thì thấy trước đó chú cất cái búa trong góc kẹt. Lúc đó, chú này lại thấy đứa nhỏ đó hiền lành, dễ thương, không có gì giống ăn trộm.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, do thức kết hợp với tưởng và hành, cùng với những suy tư, tưởng tượng sẽ khiên ta suy diễn ra đủ thứ, không đúng sự thật, không đúng hiện thực. Cũng như chú này, nếu khăng khăng cho rằng đứa bé kia ăn trộm cái búa thì chuyện gì xảy ra. Đó là Minh Thành chỉ ví dụ những chuyện nhỏ, còn những chuyện lớn khác khi đào sâu chúng ta sẽ thấy những hậu quả rất khó lường.
Trong đời sống này có rất nhiều những sự hiểu lầm, suy diễn, tưởng tượng. Có những việc chính do mình thấy, mình nghe nhưng cũng sai lầm, không đúng sự thật. Có những chuyện mà hàng tháng sau mới phát hiện mình bị lừa gạt. Thậm chí có trường hợp hai năm, năm năm, mười năm sau mới phát hiện mình từng bị lừa gạt. Cho nên, nếu chưa thành tựu Chánh tri kiến, chưa thành tựu trí tuệ đúng như Đức Phật chỉ dạy, dù chính chúng ta thấy, nghe, biết, cảm xúc rõ ràng như vậy nhưng chỉ là những sự thấy, nghe, cảm xúc trong vô minh, hiểu lầm, ảo tưởng, ảo thuật, ảo vọng, ảo huyền, ảo ảnh của tâm thức. Đây là chỗ rất sâu sắc.
Tất cả chúng ta có rất nhiều những ảo tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng. Hãy kết hợp giữa tưởng uẩn và thức uẩn để dễ hiểu về tâm thức chính mình. Một lần, Minh Thành đi từ núi về chùa Bửu Liên, còn khoảng mười phút nữa là đến chùa thì bác tài nói “tới rồi thầy ơi, năm phút nữa”, Minh Thành mới nói là “chưa, khi nào từ cổng chùa bước vào mới gọi là tới”. Chú tài xế nghe vậy không đồng ý nhưng tích tắc sau là kẹt xe, phải nhích từng chút, gần hai mươi phút sau mới đến chùa. Khi bước vào chùa, chú tài xế mới đồng ý với lời Minh Thành đã nói.
Cho nên, nếu chúng ta cứ nhận thức, suy nghĩ, nhận định theo thông thường thì có thể không đúng, vì cái biết của chúng ta thường chỉ là tưởng tri và thức tri, chứ không phải tuệ tri. “Tưởng tri” là cái biết trên tưởng tượng, suy diễn. “Thức tri” là cái biết dựa trên kinh nghiệm, nhận thức, cái biết do đã quen, nghĩ rằng hôm nay như vậy thì ngày mai, tháng sau, một năm sau, ba năm cũng sẽ như vậy nhưng có những lúc vô thường thì không phải như vậy, những lúc đó thức tri không đúng.
Mới lúc chiều, khi Minh Thành đi công việc với chú Phật tử thì chú này nói trời hôm nay không có mưa. Minh Thành mới nói “khi nào mình đi đến nơi rồi về đến chùa thì mới kết luận được”. Quả nhiên, khi đi một chút thì trời bất ngờ mưa. Thành ra, chúng ta rất dễ dàng phán định, suy tưởng, ảo tưởng về những sự việc, sự vật, con người xung quanh mình. Thế nhưng, khi mọi thứ không giống như suy nghĩ, suy tưởng, nhận định, nhận thức thì lúc đó mình sẽ dễ phiền não, khổ đau. Còn cái gọi là thời trí, là tuệ tri, là hiện thực xảy ra ngay hiện tại đòi hỏi chúng ta cần có tâm an tịnh, lắng dịu và tỉnh giác, xem sự việc xảy ra như thế nào. Sau đó mới nhận định như thế đó và có tâm trầm tĩnh, sáng suốt để giải quyết vấn đề. Điều này đỏi hỏi cả một sự để tâm tu tập.
Có những người khi sắp đi đâu xa là tối ngủ không được, tâm cứ lo ra, không an trú được vào những sự thật trong giây phút hiện tại. Tâm cứ tưởng tượng đủ thứ, làm mình mệt mỏi, mất ăn, bỏ ngủ. Đến khi sự thật diễn ra thì mình không chấp nhận được vì trước đó cứ sống trong suy tưởng, ảo tưởng, mơ tưởng. Đây là chỗ vô cùng quan trọng để chúng ta tu tập, nếu không mình cứ bị tâm này ảo thuật, lừa gạt không ngừng. Có khi chúng ta hiểu lầm, nhận lầm, nguy hiểm hơn là những người xử án oan sai mười năm, hai chục năm, ba chục năm, thậm chí suốt cả đời, cho đến chết.
Vì vậy, chúng ta đừng tin hết vào cái thấy của con mắt; đừng tin hết vào cái nghe của lỗ tai; đừng tin tuyệt đối vào những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, nhận thức bên trong tâm mình. Tin ở mức độ vừa phải và luôn bình tĩnh, chánh niệm, dùng Thánh tri kiến của bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao để soi rọi vào đó. Bằng không, chúng ta sẽ bị gạt mãi mãi, bị gạy từ nhỏ cho đến lớn, đến già, đến lúc hấp hối gần chết và ngay cả lúc chết cũng bị gạt.
Sự dối lừa của tâm thức
Chúng ta bị cái gì gạt?
Chúng ta bị tham lam, ham muốn gạt cả cuộc đời. Nó khiến mình chạy hoài, tìm hoài, kiếm hoài, để rồi mệt mỏi, nhọc nhằn, vất vả, khổ đau. Chúng ta bị dục gạt, cứ thúc giục, thèm muốn, đòi hỏi, tham muốn, tham ái, tham lam và còn bị cả tham ăn, tham ngủ lừa gạt, cuối cùng mất hết thời gian tu học. Lâu lâu bỏ thời khóa tu để ngủ say sưa; bỏ tụng kinh để xuống bếp nấu món này món nọ. Chúng ta còn bị bản ngã, ta tôi, đúng sai, hơn thua, tranh giành, tranh đấu lừa gạt.
Chính từ nhận thức sai lầm, không thấy không biết Chánh pháp; không thấy không biết ngũ uẩn; không thấy không biết tham, sân, si; không thấy không biết vô minh, bản ngã; không thấy không biết tất cả những thứ đó là nguyên nhân của khổ, là nguồn cội của sầu đau, là gốc rễ của sự bất an, phiền phức, phiền bực, phiền não, phiền lòng, phiền giận, phiền nhọc nên chúng ta bị chúng lừa dối, lừa gạt, đau khổ cả đời.
Ví dụ đơn giản, có người gọi đến nên mình mở điện thoại lên nghe, vừa bắt máy thì nghe người ta nói hai, ba câu rất khỏ chịu là trong tâm phừng phừng, phẫn nộ, bốc lửa, phựt cháy, mà không chịu bình tĩnh nghe kỹ xem câu nói đó là như thế nào, có ý gì, sự việc ra làm sao. Lúc đó cần phải trầm tĩnh, an tịnh lắng dịu, chánh niệm tỉnh giác để lắng nghe họ một cách sâu sắc, thấu hiểu được cảm thọ của họ. Đồng thời cảm nhận được họ đang đau khổ, bức xúc, sân hận như thế nào để trải tâm từ, tâm hiền, tình thương đến họ. Phải thấy tội nghiệp, xót thương cho người này, vì họ đang đau khổ, đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa của tham, sân, si. Nếu không hiểu như vậy là mình sẽ bị cháy theo, chỉ cần nghe vài câu trong điện thoại là sân si, phựt cháy, phẫn nộ.
Đó là chúng ta bị nhĩ thức lừa gạt. Do duyên có lỗ tai, thanh trần, sự rõ biết âm thanh – ba pháp này hội tụ là nhĩ xúc, sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh. Tất cả chúng ta đều bị lừa gạt như vậy. Chúng ta bị lỗ tai gạt, bị tiếng nói trong điện thoại gạt, bị sự rõ biết âm thanh gạt, bị sự tiếp xúc của lỗ tai gạt, bị cảm thọ bực bội, sân hận, bức xúc sanh khởi từ sự tiếp xúc gạt. Chúng ta bị năm lớp lừa gạt: lỗ tai, âm thanh, sự rõ biết âm thanh, sự tiếp xúc của ba pháp trên (nhĩ xúc), thọ do nhĩ xúc sanh. Đó là chúng ta nói đơn giản, vì từ đó còn biết bao thọ, tưởng, hành sanh khởi. Rất những những hình bóng, suy nghĩ sanh khởi, sau đó khẩu hành phát ra, thân hành sẽ hành động và cuối cùng chỉ dẫn đến khổ. Cho nên, khổ và nguyên nhân của khổ cũng chính từ chỗ nhĩ thức, từ cái nghe của mình. Cái nghe này ảo thuật khủng khiếp như vậy. Và tất cả chúng ta bị trò ảo thuật của tâm thức làm cho chính mình đau khổ, đồng thời cũng làm cho người khác khổ đau.
Có khi vừa đi ra ngoài về nhà, thấy nhà cửa bề bộn là bực bội, cảm giác nóng giận, khó chịu, bức xúc sanh khởi lên liền. Tại sao lúc đó chúng ta không bình tĩnh, chánh niệm để tìm hiểu vấn đề gì đang xảy ra, mà mới nhìn thấy thì đã sanh khởi khó chịu. Đó là mình bị nhãn thức lừa gạt, vừa nhìn thấy là thọ, tưởng, hành sanh khởi, rất nhiều những suy nghĩ khó chịu, ghim gút, cau có, bực bội, nóng giận, sân hận. Chính cái thức này làm chúng ta khổ. Nếu không thấy cảnh đó thì chúng ta không sanh khởi cảm thọ khó chịu, bực bội nhưng vì chúng ta nhìn thấy nên mới sanh khởi thọ đó. Cũng vậy, nếu không đi đến nhà hàng đó thì không mê món ăn ở đó; không đi du lịch ở chỗ đó thì không mê cảnh đẹp ở nơi đó, thế là lâu lâu cứ muốn đi đến, tại vì tiếp xúc nên mê thích.
Cho nên, nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc làm chúng ta mê, khoái, thích, dẫn đến mất thời gian tu học, phung phí tuổi già. Tất cả sanh khởi lên cũng từ sự tiếp xúc, do tiếp xúc nên mới có sự rõ biết. Từ đó sanh khởi lên những thứ ham, mê, thích và chúng ta bị trò ảo thuật của tâm thức lừa gạt. Nhiều người vì một câu chuyện mà cứ tranh cãi qua lại, tranh giành phải quấy, hơn thua, thị phi, đôi chối, thậm chí cắt đứt tình nghĩa, không nhìn mặt nhau nữa, trong khi chỉ vì những chuyện vô cùng nhỏ. Cho nên, thức uẩn này chính là thủ phạm giấu mặt phía sau.
Vì thế, thức dễ lừa tâm nhất,
Khi tu hành đến một lúc nào,
Thọ, tưởng, hành bất chợt lặng yên,
Thì sự rõ biết liền lộ rõ.
Cần chiêm nghiệm kỹ để thấy thức lừa tâm chúng ta như thế nào. Nhiều khi cha mẹ lo lắng cho con cái nhưng con cái lại thấy bực bội, nghĩ ngược lại theo chiều hướng vô minh, không còn hiếu thảo, hiếu hạnh. Khi đi đâu, cha mẹ nhắn tin hỏi han thì thấy khó chịu, bực bội, không biết đó là tình thương, sự quan tâm của cha mẹ. Cha mẹ chăm lo, yêu thương con cái nên mới lo lắng như vậy, còn con cái lại thấy khó chịu, không vui. Cho nên, tâm này là tâm ngu, tâm bản ngã, tâm vô minh. Trường hợp khác, con cái hiếu thảo, muốn phụng dưỡng, báo hiếu cho cha mẹ nên muốn mua đồ ăn, quần áo, giày dép cho cha mẹ, hoặc muốn đưa cha mẹ đi chùa, tha thiết muốn dẫn cha mẹ đến dự lễ cúng dường trai tăng để cha mẹ cầu phước nhưng cha mẹ không chịu, bực bội không đi, không hiểu lòng con cái.
Bởi vì một tâm thức không trong sáng, không thanh tịnh, đầy bản ngã, đầy tham sân si, không còn sáng tỏ nên không còn nhận rõ được đâu là sự thật, đâu là lợi ích, đâu là lợi lạc. Như hồ nước đã bị khuấy đục, đầy cấu bẩn thì sẽ không soi được trời mây, không phản chiếu được khuôn mặt mình. Cũng vậy, một tâm thức không tu tập chánh niệm tỉnh giác, không tu tập an tịnh lắng dịu thì chẳng khác gì hồ nước bị khuấy đục, đầy cấu bẩn, uế nhiễm.
Thế nên, con cái muốn tạo duyên lành, tăng phước đức cho cha mẹ mới muốn thỉnh cha mẹ lên núi để được lạy tri ân, dâng tách trà, quỳ dưới chân cha mẹ, nói ra lời tận đáy lòng nhưng cha mẹ không chịu đi, mất cơ duyên cho con cái báo hiếu, đồng thời mất luôn cơ duyên cho mình nhận được cảm giác ngọt ngào, yêu thương nhất của tình mẫu tử, tình phụ tử. Ngược lại, cha mẹ yêu thương, lo lắng cho con cái thì con cái cảm thấy bực bội, khó chịu. Thành ra, tâm thức này lừa gạt chúng ta vô cùng ngoạn mục, đau đớn, cay đắng.
Giữa vợ chồng với nhau, có khi do hiểu lầm nên không cảm thông, không tha thứ cho nhau, vì vậy cứ có chuyện cự cãi không ngừng. Họ sống với nhau chỉ hạnh phúc vài năm đầu, thời gian còn lại hết sức cay đắng, mệt mỏi vì không lắng nghe, không thấu hiểu, không cảm thông nhau, bởi vì không tu tập cảm thọ ngọt ngào, dễ chịu.
Thức vô biên xứ
Vì vậy, cần tu tập tâm hiền, thực tập những cảm thọ hiền thiện, hiền lành, hiền hòa, hiền kính, hiền đức, hiền lương, hiền hậu, hiền từ, hiền trí và từ từ mới đến bậc hiền thánh. Thực tập tâm hiền là điều hết sức quan trọng, bằng không, chúng ta sẽ bị những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, rõ biết lừa gạt, nói gắn gọn là bị sáu thức lừa gạt. Chúng làm cho mình cứ ảo tưởng, nhận thức sai lầm về tự thân; nhận thức sai lầm về những người xung quanh nhận thức sai lầm về tất cả sự vật, đồ vật, cảnh vật, nhân loại và hữu tình chúng sanh
Trong bộ tượng “khỉ tam không”: bịt mắt, bịt lỗ tai, bịt miệng. Bịt mắt không phải là bịt mắt lại, không nhìn thấy gì, mà phải hộ trì con mắt, không nhìn lung tung, cái gì cần nhìn mới nhìn, nếu không khéo nhìn, thả lỏng các căn, nhìn để phiền não, sân hận thì nhìn làm gì. Cho nên, Đức Phật dạy phải thu thúc lục căn, thanh tịnh giới. Trong sự tu học, giới luật vô cùng quan trọng, ngoài những giới đã thọ, giới hết sức quan trọng là thu thúc lục căn, bảo hộ lục căn, phòng hộ các căn, không thả lỏng các căn. Ví dụ, chúng ta biết người đó không ưa mình, hay kiếm chuyện với mình thì hãy bớt nhìn họ, không để ý nhiều làm gì. Vì khi để ý thì sẽ lo nhìn cử chỉ, ánh mắt của họ rồi bực bội, khó chịu, vậy thì để ý, tiếp xúc, nhìn ngó để làm gì. Người nhìn vào khiến mình phiền não, sân hận thì phải bớt nhìn họ lại, như vậy là thu thúc con mắt, giữ gìn con mắt, bảo vệ con mắt, phòng hộ con mắt. Còn nếu cứ thả lỏng con mắt thì nhãn thức sẽ phóng ra bên ngoài, chỉ mang lại cho mình tham, sân, si, ngoài ra không có bất cứ lợi ích gì.
Bịt lỗ tai lại không phải là không nghe, mà điều gì cần nghe mới nghe, điều gì không cần nghe thì tránh xa, không nghe nữa. Vì có những cái nghe khiến chúng ta sanh khởi lên ham muốn, dục vọng; hoặc sanh khởi bực bội, sân si, khó chịu; hoặc sanh khởi bản ngã, hơn thua, tranh đấu, giành giật. Cho nên, cần phải giữ gìn lỗ tai của mình. Cái gì không cần nghe thì cố gắng tránh duyên, đi chỗ khác, không nghe nữa. Trong trường hợp không đi ra chỗ khác được thì phải Như lý tác ý theo những lời pháp, không chú tâm vào những lời ác, bất thiện pháp đang nghe.
Cái miệng cũng vậy, phải bịt lại, phải phòng hộ. Nhất là trong mùa dịch Covid-19 này, lúc nào cũng phải bịt lại, vì nói chuyện một chút là bay vi khuẩn chứa đầy dịch bệnh. Cũng vậy, cái miệng không biết tu thì bên trong đầy vi trùng, vi rút, vi khuẩn. Cái miệng biết tu thì lời nói ra luôn được êm ái, dịu dàng, dễ nghe, ngọt ngào, dễ thương, dễ mến. Thành ra, bịt cái miệng là trước khi nói phải xét lời nói đó lợi hay hại, tội hay phước, nên hay không nên; trong khi nói phải xét nét và sau khi nói cũng phải xét nét. Ngoài ra, trong khi ăn, chúng ta phải xem lại thọ do thiệt xúc sanh. Khi lưỡi tiếp xúc với thức ăn, phải xem lại cảm thọ nơi lưỡi, biết rõ món nào nên ăn, món nào không nên ăn, món nào có lợi và món nào có hại cho sức khỏe… Đó là ý nghĩa thật sự của hình ảnh bịt mắt, bịt tai, bịt miệng.
Người tu chúng ta luôn phải tập nhận diện sáu thức và đương nhiên có cả xúc, thọ, ái, sân, si trong đó. Phải tập nhìn được sáu cái biết này, không để cho chúng gạt mình thêm nữa. Từ vô lượng vô biên kiếp đến nay chúng ta đã bị thức uẩn này gạt. Gạt cay gạt đắng, gạt đau gạt đớn; lừa chúng ta một cú lừa ngoạn mục; lừa chúng ta sầu, bi, khổ, não; lừa cho mình sanh, già, bệnh, chết; lừa cho mình càng thêm tham, sân, si, vô minh, bản ngã; lừa cho mình nước mắt đầy đại dương, những bộ xương chất chồng như núi. Đến ngày giờ này, khi tu chúng ta phải nhận diện, nhiếp phục, chế ngự, quản lý, xử lý tất cả những rác bẩn đó.
Nếu khéo tu thì thức uẩn này sẽ trở thành thức vô biên xứ:“Rõ biết thôi nhưng lại vô biên – khi khéo tập thức vô biên xứ”. Khi ngồi yên, tâm không có suy nghĩ, không có hình bóng, tất cả những suy nghĩ đều an tịnh, không còn hình bóng gì trong tâm, chỉ có sự rõ biết thì cái biết đó là vô lượng vô biên. Khi tu tập thức vô biên xứ thì cái biết này trùm khắp cả trời đất, không gian vạn vật. Cái biết rỗng không, rỗng lặng nhưng lại trùm khắp được gọi là thức vô biên xứ. Người thường ngồi thiền, có sự thực tập thì sẽ thấy được trạng thái này của tâm.
Khi tu hành đến một mức độ nhất định, các thọ, tưởng, hành được lặng yên, trong tâm không còn hình bóng, suy nghĩ gì nữa, đồng thời cảm thọ cũng được an tịnh, lắng dịu. Tất cả những hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ đều lặng yên. Lúc này cái biết trong sáng sẽ được hiển lộ một cách rõ ràng.
Mây được ví với Hành và Tưởng,
Bầu trời xanh ví với Thức này,
Mây làm bầu trời chẳng sáng trong,
Hành, tưởng làm mờ sự rõ biết.
Khi bầu trời có mây thì những áng mây che khuất bầu trời. Đến lúc gió thổi, mây tan thì bầu trời chỉ còn một màu xanh thuần thanh tuyệt điểm, không còn bất cứ gợn mây nào. Hình ảnh này được ví dụ cho thức vô biên xứ. Người tu có sự kiên trì, thực tập một cách sâu sắc sẽ cảm nhận được điều này, hoàn toàn không phải vọng tưởng.
Sự rõ biết trở thành trong sáng,
Khi tưởng, hành bất chợt lặng yên
Tâm sáng trong, tưởng đó là mình
Đây là chỗ dễ lầm nhận nhất.
Khi tâm không có những hình ảnh, không có suy nghĩ, tâm được an yên, yên tịnh thì cái biết lúc này được sáng tỏ, trong sáng, tâm rỗng lặng, rõ biết cùng khắp rộng lớn và trùm khắp vô biên xứ, tức là vô lượng vô biên, không có giới hạn, không có biên giới. Cho nên, thức này nếu được tu tập thì trở nên rất tuyệt diệu, tuyệt vời, vượt ra những giới hạn của sắc tướng. Tuy nhiên, nhiều người tu thiền khi thấy tâm yên lặng, dừng hết vọng tưởng thì cứ nghĩ đó là chân tâm, Phật tánh nhưng sự thật không phải vậy. Đây là chỗ rất dễ nhận lầm.
Đây được gọi chỗ nguy hiểm nhất,
Dễ lừa tâm nhận đó là mình,
Khi bị lừa thì phải khổ đau,
Vì nhận cái duyên sanh làm ngã.
Tuy tâm thức đạt sự trong sáng, rõ biết vô lượng vô biên nhưng nó vẫn còn nằm trong thức uẩn và bản chất của ngũ uẩn vỗn dĩ là duyên sanh, sanh diệt. Nếu nhận sự rõ biết trong sáng là tâm của mình thì đó là chúng ta đang bị lừa. Một khi bị lừa như vậy là chúng ta bị sanh diệt trong pháp duyên sanh.
Như vậy, sau khi nhận diện được sáu thức: thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, rõ biết thọ, tưởng, hành trong tâm thì nhất định không được để chúng lừa gạt mình. Mỗi khi thấy, nghe, rõ biết đừng để khởi tham, sân, si lên, nếu vậy là chúng ta bị thức uẩn này lừa. Vì vậy, phải tập chánh niệm trong cái nghe, cùng với sự phòng hộ, hộ trì các căn, không thả lỏng các căn. Khi thấy, nghe, tiếp xúc, rõ biết… quyết tâm không để chúng lừa mình, không được chạy theo những thứ tham, sân, si, vô minh, bản ngã.
Hãy tập đưa sự thấy biết trở về chánh niệm; đưa sự thấy biết vào trong những cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào; đưa sự thấy biết về tâm hiền, tâm từ. Cố gắng tu tập để luôn luôn thấy biết trong trí tuệ, thấy được bản chất vô thường, vô ngã, trống rỗng của các pháp. Cái biết như vậy mới có thể tu tập để thành tựu được trí tuệ của Đức Phật. Trong kinh Nikāya Đức Phật đã nói, thức là sự rõ biết, còn trí là do tu tập mà có được. Cho nên, nếu biết tu tập đối với thức thì thức này sẽ trở thành trí tuệ của bậc Thánh, phá tan mê lầm, vô minh, si ám, đưa chúng ta đến an lạc, hạnh phúc.
Thức cần được khéo nhìn, khéo thấy
Cái biết này rộng lớn, vô biên
Khéo tìm Kinh, học kỹ, tận tường,
Để chánh kiến được tâm tường tận.
./.