Kinh NIKAYA Giảng Giải - Tám Điều Tâm Niệm Của Bậc Đại Nhân
Kinh Nikāya Giảng Giải
TÁM ĐIỀU TÂM NIỆM CỦA BẬC ĐẠI NHÂN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Chiêm nghiệm đời sống PAGEREF _Toc114422215 \h 1
II.Tám điều tâm niệm của bậc đại nhân PAGEREF _Toc114422216 \h 2
Chiêm nghiệm đời sống
Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân, rõ biết những hình bóng, những suy nghĩ trong tâm. Nếu thấy có tham, dục, sân hận, si mê, tác ý, đánh đuổi những suy nghĩ, hình bóng đó ra khỏi thân tâm. An trú trong cảm giác toàn thân, định tâm trên thân, an tịnh, vững chắc và tỏa sáng trong giây phút này. Đây là khoảnh khắc đẹp nhất của người tu. Hình ảnh này là hình ảnh thực sự của một người xuất gia. Đây mới gọi là thiền môn nghiêm tịnh, vẻ đẹp của một người tu.
Đức Thế Tôn là bậc an tịnh, nói pháp giúp cho mọi người đạt đến cảnh giới an tịnh. Chúng ta đang tập những giây phút an tịnh, tập ngồi yên thật nhiều, thực tập sự an tịnh và trầm lặng. Chúng ta đã từ rất lâu sống trong sự tháo động, đã quen sống trong sự rộn ràng, rất thuần thục sống trong sự lăng xăng, tất bật, sống trong sự dao động, trạo cử, không tìm được sự bình an. Phải tập miệng an tịnh, thân an tịnh, lắng dịu, cảm nhận được sự bình an của nội tại bên trong.
Vừa rồi chúng ta im lặng hùng tráng. Đại chúng của chúng ta thực tập sự im lặng của bậc thánh. Rất cần sự yên lặng, chúng ta phải thực tập thật nhiều sự yên lặng của bậc thánh để thấy rõ được thân tâm của mình trong giây phút hiện tại, thấy được bên trong có cảm giác gì, tư tưởng gì, hình bóng gì, dục, tham, ái, vô minh, bản ngã hoạt động ra làm sao.
Đời sống của chúng ta nếu không có thành tựu Chánh Kiến là đời sống của bóng đêm, bóng tối, không biết mình là gì, lầm nhận thân xác này, cảm giác này, những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức này là tôi, là của tôi, không biết đó là ngũ uẩn. Chúng ta vĩnh viễn và mãi mãi không có ngày thoát ra đau khổ, nhận cái khổ mình, sống trong vô minh và khát ái, tới bao giờ mới hết khổ. Xác thân này là sự tụ họp, tụ tập, nhóm họp, tích tập của khổ, ta gọi là khổ uẩn. Xác thân này là sự tích tụ khổ đau, vì thân xác này mà ta phải đòi hỏi, ham muốn, tìm kiếm, thèm thuồng, khao khát, Đức Thế Tôn gọi là khát ái. Ngũ uẩn này cứ khao khát đi tìm những thứ ưa thích và đi tìm hoài, tìm mãi, không được thì nó khổ, được rồi thì nó nhàm chán, nó không thoả mãn, muốn thêm nữa. Như thế thì lòng khát ái, tham dục đó cứ tăng lên theo cấp độ số nhân.
Chúng sanh vĩnh viễn và mãi mãi không thỏa mãn. Sâu thẳm bên trong chúng ta là một sự khao khát, thiếu thốn đi tìm kiếm, là những cảm giác thúc giục, đòi hỏi, không lúc nào chúng ta thấy đầy đủ. Dầu cho có bao nhiêu đi nữa bên trong vẫn là cảm giác thiếu thốn, đó là dục lậu hoạt động. Chúng ta đã ăn mấy chục năm nhưng chúng ta vẫn còn tham ăn, vẫn còn đi tìm món ăn, không bao giờ mình thấy nhàm chán. Cho nên Đức Phật dạy ta tám tâm niệm của bậc đại nhân, ta phải luôn luôn ghi nhớ.
Tám điều tâm niệm của bậc đại nhân
Trong Tăng Chi bộ kinh, bài kinh “Tôn Giả Anurundha”, Ngài A Nậu Lâu Đà (Anuruddha) sống một mình thiền tịnh, tâm tư khởi lên như sau:
Pháp này để cho người ít dục, pháp này không phải để cho người nhiều dục.
Pháp này để cho người biết đủ, không phải để cho người không biết đủ,
Pháp này để cho người sống nơi thanh vắng, không phải để cho người ưa hội chúng. (Nơi thanh vắng tức là sống viễn ly)
Pháp này để cho người tinh cần, tinh tấn, không phải để cho người biếng nhác.
Pháp này để cho người trú niệm, không phải để cho người thất niệm.
Pháp này để cho người thiền định, không phải để cho người không thiền định.
Pháp này để cho người trí tuệ, không phải để cho người ác tuệ.
Khi Ngài khởi lên bảy suy nghĩ như vậy, Thế Tôn với tâm tư của Ngài biết được suy nghĩ của Anuruddha đang ngồi một mình, lập tức như người lực sĩ co duỗi bàn tay, biến mất khỏi nơi Ngài đang ở, hiện ra trước mặt Tôn giả Anuruddha. Lúc đó Đức Thế Tôn dùng thần thông, ngài Anuruddha đang độc cư, thiền định, tâm của Ngài sanh khởi lên bảy điều Chánh Pháp Đức Thế Tôn giảng dạy, đó phải là người ít dục mới có thể thực tập thành tựu được. Lúc đó Đức Thế Tôn bằng tâm niệm thanh tịnh, siêu nhân, Đức Thế Tôn đọc được ý niệm đang sanh khởi trong tâm ngài Anuruddha, Ngài biến mất ở Lộc Giả Uyển, Ngài co duỗi cánh tay là ngay lập tức biến mất, hiện ra ngay trước mặt ngài Anuruddha. Thế Tôn ngồi xuống chỗ được ngài Anuruddha soạn sẵn:
Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Lành thay, này Anuruddha, Thầy đã suy nghĩ đến bảy niệm của bậc đại nhân, hãy suy nghĩ đến niệm thứ tám này của bậc đại nhân.
Đức Thế Tôn cho thêm một điều cuối cùng:
Do vậy, này Anuruddha, hãy suy nghĩ đến niệm thứ tám này của bậc Đại nhân: "Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, Pháp này không phải để cho người ưa lý luận, thích hý luận ".
“Hý luận” là nói đùa, nói tầm phào, nói nhảm, không đưa đến đâu hết. Gọi là hý luận. Đức Thế Tôn nói rằng khi nào ông suy nghĩ đến tám điều tư niệm này, đây mới thực sự tám điều tâm niệm là của bậc đại nhân. Mình để từ “tâm niệm” thì mình dễ nhớ hơn. Tám điều tâm niệm của bậc đại nhân. Trong kinh dùng chữ “tư niệm”, mình dùng chữ “tâm niệm” mình sẽ dễ nhớ.
Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Đại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức.
Người nào thường thực tập tám điều này thì đạt được Tứ thiền rất dễ, không có khó.
Này Anuruddha, tấm y lượm từ đống rác lên của Thầy sẽ giống như tủ áo đầy những vải có nhiều màu sắc của người gia chủ hay con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết - bàn.
Tấm áo, tấm y Thầy đang đắp trên thân được lượm từ bãi rác, lượm ở những bãi tha ma, thi lâm. Tấm y sẽ giống như chiếc áo đầy đủ màu sắc đẹp đẽ. Tại sao vậy? Tại vì Thầy sống biết đủ, ít tham muốn, ưa thích, tức là vui vẻ, hài lòng với một tấm y hết sức đơn sơ, cũ kĩ. Không lo âu, được lạc trú, tức là không phải lo lắng đi tìm một cái y nào đẹp hơn nữa mà đã hài lòng, hoan hỉ với một tấm bá nạp y, phấn tảo y. Một chiếc áo làm từ những vải rách, vãi cũ, vải người ta bỏ, Thầy sống biết đủ, ít dục nên thầy sẽ vui vẻ với chiếc áo như vậy. Nhờ vậy Thầy được bước vào Niết – bàn, đến chỗ chấm dứt dục tham. Khi nào mà Thầy suy nghĩ về tám điều tâm niệm của bậc Đại nhân này thì Thầy thành tựu bốn tầng thiền rất dễ dàng.
Các món ăn từng miếng Thầy khất thực được sẽ giống như món cơm bằng gạo trắng. Các hạt đen đã được lượm sạch với nhiều loại súp, nhiều loại đồ ăn của người gia chủ để được sống biết đủ, ưa thích, không lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết – bàn.
Nếu thường nghĩ nhớ đến tám điều này, thường suy tư, an trú, thường thực tập, thực hành thì cơm Thầy đi khất thực người ta cho, tuy rằng có khi là cơm nguội, cơm gạo xấu, không tốt nhưng nó sẽ giống như cơm gạo trắng, gạo thơm. Tại sao vậy? Vì Thầy sống với sự ít dục, biết đủ, tinh cần, tinh tấn, trú niệm, thiền định, trí tuệ. Thầy không đòi hỏi món này, món kia, món nọ, Thầy không mong muốn những thực phẩm ngon, sơn hào hải vị, Thầy biết vừa đủ, đầy đủ với món ăn khi Thầy đi khất thực người ta cho. Nếu Thầy thực tập như vậy, Thầy sẽ được sống một cách vui thích, hoan hỉ, không lo lắng, sẽ được an lạc, dần dần Thầy sẽ đi đến chỗ dập tắt dục, tham, ái để đi đến Niết – bàn, diệt tận khổ đau.
Này Anuruddha, chỗ nằm dưới gốc cây thầy sẽ giống như nhà có nóc nhọn, có trét hồ trong ngoài, cửa được cài then, cửa sổ được đóng lại ngăn chặn gió của người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết - bàn.
Nếu Thầy thường tâm niệm tám điều này thì dầu cho Thầy nằm dưới gốc cây thì cũng giống như Thầy đang nằm trong một ngôi nhà lớn, đẹp, đầy đủ những tiện nghi. Thầy không có than phiền. Đây là Minh Thành đã diễn ra lời tóm tắt trong kinh. Thầy không có than phiền, không có buồn chán, không thấy thiếu thốn dù Thầy đang ngủ dưới gốc cây nhưng vẫn giống như một căn nhà cao, rộng, đẹp đẽ nếu Thầy an trú, ít dục, biết đủ, có niệm định tuệ. Thầy trò bậc đạo sư Đức Thế Tôn giáo hóa các bậc Hiền Thánh, tình cảm thầy trò ngọt ngào đến thế nào, lòng đại bi của Đức Thế Tôn đối với đệ tử là như thế nào. Chúng ta ngày nay ở trong một chùa to, lớn như vậy mà còn đòi hỏi, ham muốn, chưa vừa lòng. Nghe những điều này là để mình chiêm nghiệm, tu tập. Khi Đức Thế Tôn còn tại thế và đối chiếu với đời sống thực tế ngày hôm nay của chúng ta đi rất xa, rất xa. Chúng ta thấy ngài Anuruddha ngủ dưới gốc cây, mặc áo lượm, vải vụn trong bãi rác, bãi tha ma người ta bỏ. Ngày xưa bà nội Minh Thành khi còn sống, cô Minh Thành làm thợ may nên khi may xong có vải vụn, bà thường hay lượm lại rồi bà khâu từng miếng nhỏ thành cái mền, ai mà ở dưới quê thì biết cái này. Cái mền đó có hàng trăm miếng nhỏ, đủ thứ màu sắc hết. Từ những miếng vải vụn thì y của các bậc Thánh ngày xưa giống như vậy đó. Chứ không phải giống mình bây giờ mình lấy vải nguyên cắt ra. Không phải, cái đó là tượng trưng thôi. Từ những miếng vải vụn người ta bỏ mình đi lượm, khâu lại. Đó là đời sống thiểu dục tri túc của các bậc Hiền Thánh Tăng. Đẹp, rất đẹp. Đó là những tấm gương của các bậc Tôn giả. Đối với chúng ta là gương để soi mô phạm, nhân ,thiên, sư phạm mẫu mực của trời, người. Nếu chúng ta không học cái này ta sẽ không biết Đức Thế Tôn và các bậc Hiền Thánh ngày xưa sinh hoạt đời sống như thế nào, thực hành của các ngài như thế nào. Hay lắm, phải cố gắng học kinh Nikāya.
Này Anuruddha, giường nằm và chỗ ngồi trải với đệm cỏ của Thầy sẽ giống như ghế dài, nệm trải giường nằm bằng len, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm thảm với đầu che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ của các người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết - bàn.
Chỗ nằm của Thầy, tấm đệm cỏ Thầy ngồi thiền, Thầy ngủ mùa đông lạnh lẽo. Chúng ta biết ở Ấn Độ nóng thì nóng lắm mà lạnh thì rất lạnh, xin nhớ, các vị này toàn là vương tôn công tử, hoàng tộc, hoàng thất chứ không phải người bình thường. Vậy mà ngủ dưới gốc cây, lấy cỏ chất lên để làm tọa cụ ngồi hoặc ngủ, Đức Thế Tôn nếu Thầy sống một đời sống ít muốn, biết đủ, viễn ly, xa vắng, tinh cần, tinh tấn, chú chánh niệm, có thiền định, có trí huệ, không chạy theo những cái hý luận thì tuy rằng Thầy ngồi trên tấm đệm cỏ như vậy, Thầy ngồi trên đó cũng giống như trên những cái ghế dài, chăn len thêu bông, những tấm thảm đầy màu sắc. Thầy sẽ bằng lòng, an lòng, hài lòng. Thầy sẽ vui vẻ với một đời sống đơn sơ, đơn giản, ít muốn, thiểu dục tri túc ở nơi xa vắng trong rừng núi, dưới gốc cây.
Này Anuruddha, dược phẩm (tức là thuốc men) nước tiểu hôi của Thầy sẽ giống như các loại dược phẩm của các người gia chủ, hay của con người gia chủ, như thục tô, sanh tô, dầu, mật, đường bánh, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
Ngày xưa, thuốc không có được chất liệu tốt như bây giờ mà người ta dùng nước tiểu của con bò hoặc có khi của trẻ em để làm thuốc. Ngay cả bây giờ ở Ấn Độ cũng có người uống nước tiểu bò, vẫn có. Bên đó người ta thờ bò, nó đi, nó ị tùm lum tùm la trong thành phố nhưng không ai dám đụng tới. Người ta tôn thờ. Ngày xưa thuốc lấy từ nước tiểu. Ấn Độ là một nước nghèo khổ, ai đi qua đó rồi sẽ biết, rất khó khăn. Vậy nên chúng ta biết mấy ngàn năm trước còn khổ thế nào nữa. Dân bình thường người ta còn không có ăn, còn thiếu thốn, có đâu mà người tu cả mấy ngàn người sao người ta cung cấp cho nổi. Có được những cái gọi là nhu yếu để sinh hoạt tối thiểu cũng rất là quý rồi. Có trường hợp các thầy đi xin, ngay cả Đức Thế Tôn cũng không ai cho, cũng không có gì ăn, Ngài uống nước. Chứ không phải như mình bây giờ đói bụng là xuống bếp mà còn chê khen, đòi làm món này món kia. Nhìn thấy nhục lắm, đối chiếu lại thấy xấu hổ. Phải học để thấy được đời sống của Đức Thế Tôn và các bậc hiền thánh tăng như thế nào. Dược phẩm, nước tiểu hôi của Thầy sẽ giống như các loại dược phẩm của các người gia chủ, phục tô, sanh tô giống như phô mai, sữa tươi vậy đó. Đó gọi là thượng thặng, tới bây giờ Ấn Độ cũng vẫn bán loại đó. Lúc đó Minh Thành có đi qua nhưng chỉ có thời gian ngắn, cũng không có thời gian, các thầy đi học bên đó sẽ biết loại đó, gọi là đề hồ. Sử dụng những chất, nước tiểu hôi như vậy nhưng với cái tâm ít muốn, biết đủ, hài lòng thì cũng giống như Thầy có những thượng phẩm, sơn hào hải vị quý báu, thuốc tốt nhất trên cuộc đời này.
Cho nên hãy hoan hỉ với đời sống ít muốn, hãy bằng lòng với đời sống đơn giản, tối giản của một người xuất gia. Đừng ham thọ nhận nhiều, càng thọ nhận nhiều càng mắc nợ nhiều. Phước đức, đức độ, giới hạnh, đạo hạnh của mình không có bao nhiêu mà mình còn nợ nữa thì trả nợ còn chưa xong nói chi thành tựu. Cái gì tốt, cái gì quý đem cúng dường cho những bậc đáng cúng dường, đem chia sẻ những người thiếu thốn, khó khăn, đừng chất chứa, đừng tích góp, đó chỉ là hệ lụy thôi. Tham đắm, thối đọa chứ không có tốt lành gì. Đừng thấy mấy người được cúng dường cung kính, đảnh lễ, ngợi khen đó mà so sánh: “Ôi người đó có phước quá mà mình không có phước”. Coi chừng cái đó không phải phước mà là họa, hiểm họa, tai họa, nguy họa, đại họa. Con mắt của mình nhìn gần lắm, con mắt thịt mình không thấy được. Khi mình chưa thành tựu chánh tri kiến, thánh tri kiến mình nhìn bằng gì? Vô minh, tham ái và nghiệp, không có đúng sự thật. Dầu cho mắt thấy tai nghe nhưng mà trật lất, nhìn bằng nghiệp. Đừng tin tưởng vào nhận thức của mình, đó chỉ là thức uẩn thôi. Thức uẩn là duyên sanh. Ví dụ, ở chùa có người đang chửi mình, mình có nghe được không? Chỉ cần quá tầm lỗ tai là mình không biết rồi. Cho nên nhận thức của mình là duyên sanh, che lại là xong, có thấy gì đâu.
-Này Anuruddha, nhân kì an cư mùa mưa sắp đến, hãy trú giữa dân chúng Cetì ở Pàcìnavamsadàya.
-Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Anuruddha vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn sau khi khuyến giáo Tôn giả Anuruddha với lời khuyến giáo này, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất giữa dân chúng Cetì ở Pàcìnavamsadàya và hiện ra giữa dân chúng Bhagga, trên núi Sumsumàra trong rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỳ kheo:
-Này các Tỳ kheo, Ta sẽ thuyết tám tư niệm của bậc Ðại nhân cho các Thầy. Hãy lắng nghe và khéo tư niệm, Ta sẽ giảng.
-Thưa vâng, bạch Thế Tôn
Các Tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. ( Tăng Chi bộ kinh – Tập III, Chương Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, bài kinh Tôn Giả Anurundha)
Ngài bắt đầu trình bày tám điều tâm niệm của bậc Đại nhân. Bây giờ chúng ta bắt đầu chiêm nghiệm từng điều. Căn bản quan trọng nhất là từ đâu mà chúng ta có thân ngũ uẩn này và nguồn gốc của khổ đau là từ đâu? Tham ái nhưng là tham ái cái gì, đối với cái gì, phải cụ thể mới được. Tham ái đối với ngũ uẩn. Nhớ kĩ, điều này quan trọng lắm. Học tới tiến sĩ còn chưa biết đường trả lời cho chính xác, rõ ràng đó.
Ngũ uẩn đã bao trùm hết cả nhân sinh, vũ trụ, thân tâm rồi. Ngoài ngũ uẩn ra không có gì nữa hết. Mình yêu thích, tham đắm trong ngũ uẩn. Mình ưa thích những mắt, tai, mũi, lưỡi này, mình ưa thích bộ đồ lòng này, mình ưa thích nước miếng, phân, nước tiểu, nước mũi, ghèn, cức ráy. Mình ưa thích máu, mồ hôi, đàm, dãi, tinh huyết. Ưa thích những thứ này cho nên mình mới có những biểu tượng như thế. Nếu mình ngao ngán, nhàm chán, từ bỏ thì đời sau mình không mang thân xác này nữa. Cốt lõi của Thánh pháp là gì? Là giáo pháp ly tham, lìa tham muốn đối với ngũ uẩn, nói đơn giản là thân xác. Ly tham đối với sắc uẩn. Bây giờ mình nhìn cái này cũng thích, nhìn cái nào cũng thích, thích đủ thứ thì làm sao mình giải thoát, làm sao để xuất ly khỏi sắc uẩn. Lúc nào mình cũng bị sắc chinh phục, lúc nào mình cũng khao khát, mong ngóng, mong ước, đi tìm kiếm những sắc rồi làm sao tâm mình bình an, đi đến chỗ xuất ly, viễn ly, thoát ly, xả ly, đoạn ly. Cho nên mấu chốt của giáo pháp mình phải nắm cho được cái hồng tâm là ly tham, lìa tham đối với sắc uẩn. Nếu mình không thấy được thì mình tu uổng công, không bao giờ giải thoát.
Nếu không thành tựu Chánh Tri Kiến là mình đi ngược lại với lời dạy của Đức Phật mà không biết. Cứ tưởng đâu mình đi trúng nhưng không phải. Chúng ta cứ lo phát huy sắc uẩn, đầu tư sắc uẩn, yêu thích sắc uẩn, đam mê sắc uẩn, dính mắc, chấp thủ trong sắc uẩn. Làm sao mình đi ra khỏi? Tại sao mình phải đi ra khỏi sắc uẩn? Vì nó là sầu bi, khổ não. Tại sao nó là sầu bi, khổ não? Tại vì nó là vô thường, tai họa, trống rỗng. Cho nên nếu mình ưa nó, mình thích nó, khoái nó, mê nó, tham nó, đắm nó, chấp nó mà nó biến đổi, tai họa là mình sầu bi, khổ não. Còn mình không ưa, không thích, không tham, không muốn thì tai họa kệ nó, không dính dáng gì đến mình.
Ví dụ đơn giản, một người mình hay tin là bệnh gần chết rồi, người đó là cha mẹ của mình, khổ không, lo lắng không, khóc lóc không? Còn khi đọc trên báo người kia bị tai nạn xe đụng thì mình cũng trơ trơ, đâu có gì đâu. Vậy là tại sao? Có ái, nên có đau khổ. Những bậc A-la-hán là ái tận, đạt tâm bất động, giải thoát. Đối với ngũ không còn tham ái, dính mắc; không còn ưa thích đối với sắc, cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, hành, thức. Các Ngài đều đã nhìn thấy bản chất vô thường, khổ não, vô ngã, trống rỗng, bất tịnh, nhơ bẩn, cấu uế của ngũ uẩn, thứ này làm cho đau khổ, các Ngài nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, xuất ly, thoát ly. Đó là bậc Hiền Thánh.
Sự khác biệt giữa Phàm – Thánh là ở chỗ nào? Đam mê trong ngũ uẩn, nhào vào ngũ uẩn, xông pha vào ngũ uẩn, dính mắc trong ngũ uẩn, đó là Phàm. Còn hướng đi ra khỏi ngũ uẩn, từ bỏ ngũ uẩn, xuất ly, thoát ra, thì đó là bậc Thánh. Thấy rõ được điều đó thì tu mới thấy đường đến, nếu không là tu trong vô minh, tu lòng vòng trong ngũ uẩn. Chỗ này là chỗ thâm sâu. Cho nên đầu tiên là ít dục, ít muốn, biết đủ. Đơn giản nhất là đời sống vật chất của mình. Giờ mình phải tập, danh từ hiện đại dùng là “tối giản”. Tập sống hết sức đơn giản, không ràng buộc, hệ lụy nhiều với vật chất. Như khi nãy mình học là ngài Anuruddha ngồi dưới gốc cây, ăn cơm đi xin, trải cỏ làm đệm để ngủ, thuốc thì bằng nước tiểu hôi, tức là loại thuốc thấp kém nhất.
Bây giờ chúng ta phải tập. Đi xuất gia mà mong mai mốt làm trụ trì là trật từ bước đầu tiên. Cầu pháp, đạt được pháp, chứng ngộ được pháp ly tham, đó là đi trên Thánh đạo, Thánh trí, mới đạt được đến Thánh quả. Nếu mình đi tu mình mong muốn làm trụ trì thì cũng giống như ngoài đi lập nghiệp vậy thôi, không khác gì cả. Cho nên sống nơi thanh vắng rất là cần. Sống nơi thanh vắng, một mình để có thể tinh cần, tinh tấn, ở nơi đông người người ta phiền nhiễu mình, tâm mình sẽ dao động hoài, khó mà nhất tâm niệm đạo, khó mà tinh chuyên, tinh ròng, tinh cần, tinh tấn, rất khó. Ở một mình nỗ lực nơi thanh vắng siêng năng, tinh tấn trú niệm.
Trú niệm tức là an trú chánh niệm, gọi là trú niệm. “Trú” là mình ở trong đó, như mình cư trú vậy đó, “niệm” là chánh niệm. Chánh niệm Đức Phật dạy mình là Tứ Niệm Xứ. Mình đã có thực tập, phải biết được về phần Niệm Thân, Niệm Thọ, Niệm Tâm, Niệm Pháp. Niệm Thân là mình phải nhớ hơi thở, nhớ oai nghi, hành động, nhớ 32 thể trược, 9 giai đoạn một tử thi và quán chiếu tứ đại. Đó là sáu khía cạnh của Niệm Thân mà Đức Phật gọi là Hương vị của bất tử. Sau này sẽ học bài kinh Thân hành niệm để mình thấy các pháp hành của người tu của chúng ta. Đó là phần Thân.
Phải biết hơi thở đang vào ra, mình phải biết những oai nghi, cử chỉ, hành động. Luôn chánh niệm kiểm soát những cảm thọ, những cảm xúc, cảm giác trong thân mình. Phải biết đang có cảm giác gì, trong cảm giác đó có dục, tham, ái, sân, si hay không? Nếu có phải tẩy sạch, phải Như Lý Tác Ý, đánh đuổi nó ra, quét rác ra. Nếu trong tâm có sự suy nghĩ, giận tức người kia, những hình bóng, gương mặt người kia hiện ra, những lời nói lầm thầm chạy lòng vòng, rồi cảm giác trong này dâng dâng, nóng nóng lên là mình tác ý liền. Làm cho nó lắng dịu, làm cho nó mát mẻ, đi đến chỗ an tịnh, tẩy sạch tất cả những thọ, tưởng, hành, sân, hận đó ra. Cái đó mới gọi là chánh niệm tỉnh giác. Nội tâm của mình đang có gì mình phải biết. Trong tâm đang có thiện pháp hay là bất thiện pháp? Nó đang có Từ, Bi, Hỷ, Xả, đang có Thất Giác Chi hay không? Nó có Tứ Niệm Xứ, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Tứ Chánh Cần hay không? Hay là lúc đó trong tâm đang có vô minh, tham, sân, si và bản ngã, như vậy là mình phải biết. Ác pháp mình phải diệt và cái thiện pháp mình phải làm cho nó sanh, tăng trưởng, phát triển, quảng đại. Cái đó mới gọi là tỉnh giác chánh niệm. Đó gọi là an trú niệm, tinh cần, tinh tấn.
Sự chánh niệm thâm sâu như vậy đó, phải làm rất nhiều công việc chứ sự chánh niệm không chỉ đơn giản là đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi. Cái đó mới ngoài thân thôi, còn bên trong thế nào mình cũng phải biết? Khi đi trong đó có dục không? Đi một hồi rồi trượt cầu thang, đập cái rầm, lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xứt thuốc. Đó là do dục muốn đi lẹ, giành lẹ để đi gặp bạn trước rồi té đập mặt xuống dập mặt, lỗ mũi đỏ chét. Như vậy là đang đi có dục trong đó mà mình không kiểm soát được. Đang nói cũng có dục đầy dẫy ở bên trong. Tất cả các sinh hoạt của mình đều là dục hoạt động nhưng mình không thấy, không biết. Ngủ có dục không? Chuông đánh thức một chút là tắt không sao đâu, lấy cái mền trùm lại, mùa đông, ai làm gì làm, trời sập cũng mặc kệ, mình cứ nằm đó co ro trong mùa đông ở Bảo Lộc. Nghe nói vậy là thọ, tưởng, hành vận hành, có thấy không? Thọ, tưởng, hành, thức hoạt động trên khắp tất cả nhưng tại mình không tu học về ngũ uẩn nên mình không biết, không thấy dục, tham, ái vận hành.
Tất cả mọi cái nó đều trong dục, cái nào cũng có dục. “Này các Tỳ kheo, tất cả pháp lấy dục làm căn bản”. Chính cái dục đó mới đưa mình vào ngũ uẩn, tứ đại, đi ra không được. Nếu không thấy, không biết về dục thì làm sao mình nhiếp phục và đoạn tận được dục. Cho nên, phải có thiền định, có trí tuệ. Trí tuệ là mình nhìn thấy được ngũ uẩn, sự sanh, diệt của ngũ uẩn, thấy được nguyên nhân sanh, diệt của ngũ uẩn. Chúng ta sẽ học trong những thời điểm sau nếu sau này còn học. Biết đâu sau mùa dịch này Minh Thành không còn tồn tại trên thế gian này nữa. Đó là nói sự thật. Đừng nói là hết mùa dịch, chút xíu nữa đi về coi có về tới hay không? Ngày nào cũng có tai nạn giao thông hết.
Pháp cuối cùng là không ưa thích hý luận. Tức là phải nói năng Chánh Pháp, tìm cầu Chánh Pháp, chứ không nói lơ tơ mơ, lờ tờ mờ, nói lòng vòng, nói lời phù phiếm, nói cả buổi trời, nhưng không có gì hết trơn. Vô nghĩa, phù phiếm, không có lợi ích gì hết. Những người đó không thể đạt Thánh Pháp được.
Hôm nay chúng ta học Tám điều tâm niệm của bậc Đại nhân. Bữa sau ôn thi, bữa sau nữa là thi rồi. Văn phòng mới thông báo, cố gắng về học bài, không thôi mai mốt dịch bệnh là không đi thi được. Cho nên, ráng về lo tu và lo học!
./.
TÁM ĐIỀU TÂM NIỆM CỦA BẬC ĐẠI NHÂN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Chiêm nghiệm đời sống PAGEREF _Toc114422215 \h 1
II.Tám điều tâm niệm của bậc đại nhân PAGEREF _Toc114422216 \h 2
Chiêm nghiệm đời sống
Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn thân, rõ biết những hình bóng, những suy nghĩ trong tâm. Nếu thấy có tham, dục, sân hận, si mê, tác ý, đánh đuổi những suy nghĩ, hình bóng đó ra khỏi thân tâm. An trú trong cảm giác toàn thân, định tâm trên thân, an tịnh, vững chắc và tỏa sáng trong giây phút này. Đây là khoảnh khắc đẹp nhất của người tu. Hình ảnh này là hình ảnh thực sự của một người xuất gia. Đây mới gọi là thiền môn nghiêm tịnh, vẻ đẹp của một người tu.
Đức Thế Tôn là bậc an tịnh, nói pháp giúp cho mọi người đạt đến cảnh giới an tịnh. Chúng ta đang tập những giây phút an tịnh, tập ngồi yên thật nhiều, thực tập sự an tịnh và trầm lặng. Chúng ta đã từ rất lâu sống trong sự tháo động, đã quen sống trong sự rộn ràng, rất thuần thục sống trong sự lăng xăng, tất bật, sống trong sự dao động, trạo cử, không tìm được sự bình an. Phải tập miệng an tịnh, thân an tịnh, lắng dịu, cảm nhận được sự bình an của nội tại bên trong.
Vừa rồi chúng ta im lặng hùng tráng. Đại chúng của chúng ta thực tập sự im lặng của bậc thánh. Rất cần sự yên lặng, chúng ta phải thực tập thật nhiều sự yên lặng của bậc thánh để thấy rõ được thân tâm của mình trong giây phút hiện tại, thấy được bên trong có cảm giác gì, tư tưởng gì, hình bóng gì, dục, tham, ái, vô minh, bản ngã hoạt động ra làm sao.
Đời sống của chúng ta nếu không có thành tựu Chánh Kiến là đời sống của bóng đêm, bóng tối, không biết mình là gì, lầm nhận thân xác này, cảm giác này, những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức này là tôi, là của tôi, không biết đó là ngũ uẩn. Chúng ta vĩnh viễn và mãi mãi không có ngày thoát ra đau khổ, nhận cái khổ mình, sống trong vô minh và khát ái, tới bao giờ mới hết khổ. Xác thân này là sự tụ họp, tụ tập, nhóm họp, tích tập của khổ, ta gọi là khổ uẩn. Xác thân này là sự tích tụ khổ đau, vì thân xác này mà ta phải đòi hỏi, ham muốn, tìm kiếm, thèm thuồng, khao khát, Đức Thế Tôn gọi là khát ái. Ngũ uẩn này cứ khao khát đi tìm những thứ ưa thích và đi tìm hoài, tìm mãi, không được thì nó khổ, được rồi thì nó nhàm chán, nó không thoả mãn, muốn thêm nữa. Như thế thì lòng khát ái, tham dục đó cứ tăng lên theo cấp độ số nhân.
Chúng sanh vĩnh viễn và mãi mãi không thỏa mãn. Sâu thẳm bên trong chúng ta là một sự khao khát, thiếu thốn đi tìm kiếm, là những cảm giác thúc giục, đòi hỏi, không lúc nào chúng ta thấy đầy đủ. Dầu cho có bao nhiêu đi nữa bên trong vẫn là cảm giác thiếu thốn, đó là dục lậu hoạt động. Chúng ta đã ăn mấy chục năm nhưng chúng ta vẫn còn tham ăn, vẫn còn đi tìm món ăn, không bao giờ mình thấy nhàm chán. Cho nên Đức Phật dạy ta tám tâm niệm của bậc đại nhân, ta phải luôn luôn ghi nhớ.
Tám điều tâm niệm của bậc đại nhân
Trong Tăng Chi bộ kinh, bài kinh “Tôn Giả Anurundha”, Ngài A Nậu Lâu Đà (Anuruddha) sống một mình thiền tịnh, tâm tư khởi lên như sau:
Pháp này để cho người ít dục, pháp này không phải để cho người nhiều dục.
Pháp này để cho người biết đủ, không phải để cho người không biết đủ,
Pháp này để cho người sống nơi thanh vắng, không phải để cho người ưa hội chúng. (Nơi thanh vắng tức là sống viễn ly)
Pháp này để cho người tinh cần, tinh tấn, không phải để cho người biếng nhác.
Pháp này để cho người trú niệm, không phải để cho người thất niệm.
Pháp này để cho người thiền định, không phải để cho người không thiền định.
Pháp này để cho người trí tuệ, không phải để cho người ác tuệ.
Khi Ngài khởi lên bảy suy nghĩ như vậy, Thế Tôn với tâm tư của Ngài biết được suy nghĩ của Anuruddha đang ngồi một mình, lập tức như người lực sĩ co duỗi bàn tay, biến mất khỏi nơi Ngài đang ở, hiện ra trước mặt Tôn giả Anuruddha. Lúc đó Đức Thế Tôn dùng thần thông, ngài Anuruddha đang độc cư, thiền định, tâm của Ngài sanh khởi lên bảy điều Chánh Pháp Đức Thế Tôn giảng dạy, đó phải là người ít dục mới có thể thực tập thành tựu được. Lúc đó Đức Thế Tôn bằng tâm niệm thanh tịnh, siêu nhân, Đức Thế Tôn đọc được ý niệm đang sanh khởi trong tâm ngài Anuruddha, Ngài biến mất ở Lộc Giả Uyển, Ngài co duỗi cánh tay là ngay lập tức biến mất, hiện ra ngay trước mặt ngài Anuruddha. Thế Tôn ngồi xuống chỗ được ngài Anuruddha soạn sẵn:
Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Lành thay, này Anuruddha, Thầy đã suy nghĩ đến bảy niệm của bậc đại nhân, hãy suy nghĩ đến niệm thứ tám này của bậc đại nhân.
Đức Thế Tôn cho thêm một điều cuối cùng:
Do vậy, này Anuruddha, hãy suy nghĩ đến niệm thứ tám này của bậc Đại nhân: "Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, Pháp này không phải để cho người ưa lý luận, thích hý luận ".
“Hý luận” là nói đùa, nói tầm phào, nói nhảm, không đưa đến đâu hết. Gọi là hý luận. Đức Thế Tôn nói rằng khi nào ông suy nghĩ đến tám điều tư niệm này, đây mới thực sự tám điều tâm niệm là của bậc đại nhân. Mình để từ “tâm niệm” thì mình dễ nhớ hơn. Tám điều tâm niệm của bậc đại nhân. Trong kinh dùng chữ “tư niệm”, mình dùng chữ “tâm niệm” mình sẽ dễ nhớ.
Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Đại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức.
Người nào thường thực tập tám điều này thì đạt được Tứ thiền rất dễ, không có khó.
Này Anuruddha, tấm y lượm từ đống rác lên của Thầy sẽ giống như tủ áo đầy những vải có nhiều màu sắc của người gia chủ hay con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết - bàn.
Tấm áo, tấm y Thầy đang đắp trên thân được lượm từ bãi rác, lượm ở những bãi tha ma, thi lâm. Tấm y sẽ giống như chiếc áo đầy đủ màu sắc đẹp đẽ. Tại sao vậy? Tại vì Thầy sống biết đủ, ít tham muốn, ưa thích, tức là vui vẻ, hài lòng với một tấm y hết sức đơn sơ, cũ kĩ. Không lo âu, được lạc trú, tức là không phải lo lắng đi tìm một cái y nào đẹp hơn nữa mà đã hài lòng, hoan hỉ với một tấm bá nạp y, phấn tảo y. Một chiếc áo làm từ những vải rách, vãi cũ, vải người ta bỏ, Thầy sống biết đủ, ít dục nên thầy sẽ vui vẻ với chiếc áo như vậy. Nhờ vậy Thầy được bước vào Niết – bàn, đến chỗ chấm dứt dục tham. Khi nào mà Thầy suy nghĩ về tám điều tâm niệm của bậc Đại nhân này thì Thầy thành tựu bốn tầng thiền rất dễ dàng.
Các món ăn từng miếng Thầy khất thực được sẽ giống như món cơm bằng gạo trắng. Các hạt đen đã được lượm sạch với nhiều loại súp, nhiều loại đồ ăn của người gia chủ để được sống biết đủ, ưa thích, không lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết – bàn.
Nếu thường nghĩ nhớ đến tám điều này, thường suy tư, an trú, thường thực tập, thực hành thì cơm Thầy đi khất thực người ta cho, tuy rằng có khi là cơm nguội, cơm gạo xấu, không tốt nhưng nó sẽ giống như cơm gạo trắng, gạo thơm. Tại sao vậy? Vì Thầy sống với sự ít dục, biết đủ, tinh cần, tinh tấn, trú niệm, thiền định, trí tuệ. Thầy không đòi hỏi món này, món kia, món nọ, Thầy không mong muốn những thực phẩm ngon, sơn hào hải vị, Thầy biết vừa đủ, đầy đủ với món ăn khi Thầy đi khất thực người ta cho. Nếu Thầy thực tập như vậy, Thầy sẽ được sống một cách vui thích, hoan hỉ, không lo lắng, sẽ được an lạc, dần dần Thầy sẽ đi đến chỗ dập tắt dục, tham, ái để đi đến Niết – bàn, diệt tận khổ đau.
Này Anuruddha, chỗ nằm dưới gốc cây thầy sẽ giống như nhà có nóc nhọn, có trét hồ trong ngoài, cửa được cài then, cửa sổ được đóng lại ngăn chặn gió của người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết - bàn.
Nếu Thầy thường tâm niệm tám điều này thì dầu cho Thầy nằm dưới gốc cây thì cũng giống như Thầy đang nằm trong một ngôi nhà lớn, đẹp, đầy đủ những tiện nghi. Thầy không có than phiền. Đây là Minh Thành đã diễn ra lời tóm tắt trong kinh. Thầy không có than phiền, không có buồn chán, không thấy thiếu thốn dù Thầy đang ngủ dưới gốc cây nhưng vẫn giống như một căn nhà cao, rộng, đẹp đẽ nếu Thầy an trú, ít dục, biết đủ, có niệm định tuệ. Thầy trò bậc đạo sư Đức Thế Tôn giáo hóa các bậc Hiền Thánh, tình cảm thầy trò ngọt ngào đến thế nào, lòng đại bi của Đức Thế Tôn đối với đệ tử là như thế nào. Chúng ta ngày nay ở trong một chùa to, lớn như vậy mà còn đòi hỏi, ham muốn, chưa vừa lòng. Nghe những điều này là để mình chiêm nghiệm, tu tập. Khi Đức Thế Tôn còn tại thế và đối chiếu với đời sống thực tế ngày hôm nay của chúng ta đi rất xa, rất xa. Chúng ta thấy ngài Anuruddha ngủ dưới gốc cây, mặc áo lượm, vải vụn trong bãi rác, bãi tha ma người ta bỏ. Ngày xưa bà nội Minh Thành khi còn sống, cô Minh Thành làm thợ may nên khi may xong có vải vụn, bà thường hay lượm lại rồi bà khâu từng miếng nhỏ thành cái mền, ai mà ở dưới quê thì biết cái này. Cái mền đó có hàng trăm miếng nhỏ, đủ thứ màu sắc hết. Từ những miếng vải vụn thì y của các bậc Thánh ngày xưa giống như vậy đó. Chứ không phải giống mình bây giờ mình lấy vải nguyên cắt ra. Không phải, cái đó là tượng trưng thôi. Từ những miếng vải vụn người ta bỏ mình đi lượm, khâu lại. Đó là đời sống thiểu dục tri túc của các bậc Hiền Thánh Tăng. Đẹp, rất đẹp. Đó là những tấm gương của các bậc Tôn giả. Đối với chúng ta là gương để soi mô phạm, nhân ,thiên, sư phạm mẫu mực của trời, người. Nếu chúng ta không học cái này ta sẽ không biết Đức Thế Tôn và các bậc Hiền Thánh ngày xưa sinh hoạt đời sống như thế nào, thực hành của các ngài như thế nào. Hay lắm, phải cố gắng học kinh Nikāya.
Này Anuruddha, giường nằm và chỗ ngồi trải với đệm cỏ của Thầy sẽ giống như ghế dài, nệm trải giường nằm bằng len, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm thảm với đầu che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ của các người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết - bàn.
Chỗ nằm của Thầy, tấm đệm cỏ Thầy ngồi thiền, Thầy ngủ mùa đông lạnh lẽo. Chúng ta biết ở Ấn Độ nóng thì nóng lắm mà lạnh thì rất lạnh, xin nhớ, các vị này toàn là vương tôn công tử, hoàng tộc, hoàng thất chứ không phải người bình thường. Vậy mà ngủ dưới gốc cây, lấy cỏ chất lên để làm tọa cụ ngồi hoặc ngủ, Đức Thế Tôn nếu Thầy sống một đời sống ít muốn, biết đủ, viễn ly, xa vắng, tinh cần, tinh tấn, chú chánh niệm, có thiền định, có trí huệ, không chạy theo những cái hý luận thì tuy rằng Thầy ngồi trên tấm đệm cỏ như vậy, Thầy ngồi trên đó cũng giống như trên những cái ghế dài, chăn len thêu bông, những tấm thảm đầy màu sắc. Thầy sẽ bằng lòng, an lòng, hài lòng. Thầy sẽ vui vẻ với một đời sống đơn sơ, đơn giản, ít muốn, thiểu dục tri túc ở nơi xa vắng trong rừng núi, dưới gốc cây.
Này Anuruddha, dược phẩm (tức là thuốc men) nước tiểu hôi của Thầy sẽ giống như các loại dược phẩm của các người gia chủ, hay của con người gia chủ, như thục tô, sanh tô, dầu, mật, đường bánh, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
Ngày xưa, thuốc không có được chất liệu tốt như bây giờ mà người ta dùng nước tiểu của con bò hoặc có khi của trẻ em để làm thuốc. Ngay cả bây giờ ở Ấn Độ cũng có người uống nước tiểu bò, vẫn có. Bên đó người ta thờ bò, nó đi, nó ị tùm lum tùm la trong thành phố nhưng không ai dám đụng tới. Người ta tôn thờ. Ngày xưa thuốc lấy từ nước tiểu. Ấn Độ là một nước nghèo khổ, ai đi qua đó rồi sẽ biết, rất khó khăn. Vậy nên chúng ta biết mấy ngàn năm trước còn khổ thế nào nữa. Dân bình thường người ta còn không có ăn, còn thiếu thốn, có đâu mà người tu cả mấy ngàn người sao người ta cung cấp cho nổi. Có được những cái gọi là nhu yếu để sinh hoạt tối thiểu cũng rất là quý rồi. Có trường hợp các thầy đi xin, ngay cả Đức Thế Tôn cũng không ai cho, cũng không có gì ăn, Ngài uống nước. Chứ không phải như mình bây giờ đói bụng là xuống bếp mà còn chê khen, đòi làm món này món kia. Nhìn thấy nhục lắm, đối chiếu lại thấy xấu hổ. Phải học để thấy được đời sống của Đức Thế Tôn và các bậc hiền thánh tăng như thế nào. Dược phẩm, nước tiểu hôi của Thầy sẽ giống như các loại dược phẩm của các người gia chủ, phục tô, sanh tô giống như phô mai, sữa tươi vậy đó. Đó gọi là thượng thặng, tới bây giờ Ấn Độ cũng vẫn bán loại đó. Lúc đó Minh Thành có đi qua nhưng chỉ có thời gian ngắn, cũng không có thời gian, các thầy đi học bên đó sẽ biết loại đó, gọi là đề hồ. Sử dụng những chất, nước tiểu hôi như vậy nhưng với cái tâm ít muốn, biết đủ, hài lòng thì cũng giống như Thầy có những thượng phẩm, sơn hào hải vị quý báu, thuốc tốt nhất trên cuộc đời này.
Cho nên hãy hoan hỉ với đời sống ít muốn, hãy bằng lòng với đời sống đơn giản, tối giản của một người xuất gia. Đừng ham thọ nhận nhiều, càng thọ nhận nhiều càng mắc nợ nhiều. Phước đức, đức độ, giới hạnh, đạo hạnh của mình không có bao nhiêu mà mình còn nợ nữa thì trả nợ còn chưa xong nói chi thành tựu. Cái gì tốt, cái gì quý đem cúng dường cho những bậc đáng cúng dường, đem chia sẻ những người thiếu thốn, khó khăn, đừng chất chứa, đừng tích góp, đó chỉ là hệ lụy thôi. Tham đắm, thối đọa chứ không có tốt lành gì. Đừng thấy mấy người được cúng dường cung kính, đảnh lễ, ngợi khen đó mà so sánh: “Ôi người đó có phước quá mà mình không có phước”. Coi chừng cái đó không phải phước mà là họa, hiểm họa, tai họa, nguy họa, đại họa. Con mắt của mình nhìn gần lắm, con mắt thịt mình không thấy được. Khi mình chưa thành tựu chánh tri kiến, thánh tri kiến mình nhìn bằng gì? Vô minh, tham ái và nghiệp, không có đúng sự thật. Dầu cho mắt thấy tai nghe nhưng mà trật lất, nhìn bằng nghiệp. Đừng tin tưởng vào nhận thức của mình, đó chỉ là thức uẩn thôi. Thức uẩn là duyên sanh. Ví dụ, ở chùa có người đang chửi mình, mình có nghe được không? Chỉ cần quá tầm lỗ tai là mình không biết rồi. Cho nên nhận thức của mình là duyên sanh, che lại là xong, có thấy gì đâu.
-Này Anuruddha, nhân kì an cư mùa mưa sắp đến, hãy trú giữa dân chúng Cetì ở Pàcìnavamsadàya.
-Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Anuruddha vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn sau khi khuyến giáo Tôn giả Anuruddha với lời khuyến giáo này, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất giữa dân chúng Cetì ở Pàcìnavamsadàya và hiện ra giữa dân chúng Bhagga, trên núi Sumsumàra trong rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỳ kheo:
-Này các Tỳ kheo, Ta sẽ thuyết tám tư niệm của bậc Ðại nhân cho các Thầy. Hãy lắng nghe và khéo tư niệm, Ta sẽ giảng.
-Thưa vâng, bạch Thế Tôn
Các Tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. ( Tăng Chi bộ kinh – Tập III, Chương Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, bài kinh Tôn Giả Anurundha)
Ngài bắt đầu trình bày tám điều tâm niệm của bậc Đại nhân. Bây giờ chúng ta bắt đầu chiêm nghiệm từng điều. Căn bản quan trọng nhất là từ đâu mà chúng ta có thân ngũ uẩn này và nguồn gốc của khổ đau là từ đâu? Tham ái nhưng là tham ái cái gì, đối với cái gì, phải cụ thể mới được. Tham ái đối với ngũ uẩn. Nhớ kĩ, điều này quan trọng lắm. Học tới tiến sĩ còn chưa biết đường trả lời cho chính xác, rõ ràng đó.
Ngũ uẩn đã bao trùm hết cả nhân sinh, vũ trụ, thân tâm rồi. Ngoài ngũ uẩn ra không có gì nữa hết. Mình yêu thích, tham đắm trong ngũ uẩn. Mình ưa thích những mắt, tai, mũi, lưỡi này, mình ưa thích bộ đồ lòng này, mình ưa thích nước miếng, phân, nước tiểu, nước mũi, ghèn, cức ráy. Mình ưa thích máu, mồ hôi, đàm, dãi, tinh huyết. Ưa thích những thứ này cho nên mình mới có những biểu tượng như thế. Nếu mình ngao ngán, nhàm chán, từ bỏ thì đời sau mình không mang thân xác này nữa. Cốt lõi của Thánh pháp là gì? Là giáo pháp ly tham, lìa tham muốn đối với ngũ uẩn, nói đơn giản là thân xác. Ly tham đối với sắc uẩn. Bây giờ mình nhìn cái này cũng thích, nhìn cái nào cũng thích, thích đủ thứ thì làm sao mình giải thoát, làm sao để xuất ly khỏi sắc uẩn. Lúc nào mình cũng bị sắc chinh phục, lúc nào mình cũng khao khát, mong ngóng, mong ước, đi tìm kiếm những sắc rồi làm sao tâm mình bình an, đi đến chỗ xuất ly, viễn ly, thoát ly, xả ly, đoạn ly. Cho nên mấu chốt của giáo pháp mình phải nắm cho được cái hồng tâm là ly tham, lìa tham đối với sắc uẩn. Nếu mình không thấy được thì mình tu uổng công, không bao giờ giải thoát.
Nếu không thành tựu Chánh Tri Kiến là mình đi ngược lại với lời dạy của Đức Phật mà không biết. Cứ tưởng đâu mình đi trúng nhưng không phải. Chúng ta cứ lo phát huy sắc uẩn, đầu tư sắc uẩn, yêu thích sắc uẩn, đam mê sắc uẩn, dính mắc, chấp thủ trong sắc uẩn. Làm sao mình đi ra khỏi? Tại sao mình phải đi ra khỏi sắc uẩn? Vì nó là sầu bi, khổ não. Tại sao nó là sầu bi, khổ não? Tại vì nó là vô thường, tai họa, trống rỗng. Cho nên nếu mình ưa nó, mình thích nó, khoái nó, mê nó, tham nó, đắm nó, chấp nó mà nó biến đổi, tai họa là mình sầu bi, khổ não. Còn mình không ưa, không thích, không tham, không muốn thì tai họa kệ nó, không dính dáng gì đến mình.
Ví dụ đơn giản, một người mình hay tin là bệnh gần chết rồi, người đó là cha mẹ của mình, khổ không, lo lắng không, khóc lóc không? Còn khi đọc trên báo người kia bị tai nạn xe đụng thì mình cũng trơ trơ, đâu có gì đâu. Vậy là tại sao? Có ái, nên có đau khổ. Những bậc A-la-hán là ái tận, đạt tâm bất động, giải thoát. Đối với ngũ không còn tham ái, dính mắc; không còn ưa thích đối với sắc, cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, hành, thức. Các Ngài đều đã nhìn thấy bản chất vô thường, khổ não, vô ngã, trống rỗng, bất tịnh, nhơ bẩn, cấu uế của ngũ uẩn, thứ này làm cho đau khổ, các Ngài nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, xuất ly, thoát ly. Đó là bậc Hiền Thánh.
Sự khác biệt giữa Phàm – Thánh là ở chỗ nào? Đam mê trong ngũ uẩn, nhào vào ngũ uẩn, xông pha vào ngũ uẩn, dính mắc trong ngũ uẩn, đó là Phàm. Còn hướng đi ra khỏi ngũ uẩn, từ bỏ ngũ uẩn, xuất ly, thoát ra, thì đó là bậc Thánh. Thấy rõ được điều đó thì tu mới thấy đường đến, nếu không là tu trong vô minh, tu lòng vòng trong ngũ uẩn. Chỗ này là chỗ thâm sâu. Cho nên đầu tiên là ít dục, ít muốn, biết đủ. Đơn giản nhất là đời sống vật chất của mình. Giờ mình phải tập, danh từ hiện đại dùng là “tối giản”. Tập sống hết sức đơn giản, không ràng buộc, hệ lụy nhiều với vật chất. Như khi nãy mình học là ngài Anuruddha ngồi dưới gốc cây, ăn cơm đi xin, trải cỏ làm đệm để ngủ, thuốc thì bằng nước tiểu hôi, tức là loại thuốc thấp kém nhất.
Bây giờ chúng ta phải tập. Đi xuất gia mà mong mai mốt làm trụ trì là trật từ bước đầu tiên. Cầu pháp, đạt được pháp, chứng ngộ được pháp ly tham, đó là đi trên Thánh đạo, Thánh trí, mới đạt được đến Thánh quả. Nếu mình đi tu mình mong muốn làm trụ trì thì cũng giống như ngoài đi lập nghiệp vậy thôi, không khác gì cả. Cho nên sống nơi thanh vắng rất là cần. Sống nơi thanh vắng, một mình để có thể tinh cần, tinh tấn, ở nơi đông người người ta phiền nhiễu mình, tâm mình sẽ dao động hoài, khó mà nhất tâm niệm đạo, khó mà tinh chuyên, tinh ròng, tinh cần, tinh tấn, rất khó. Ở một mình nỗ lực nơi thanh vắng siêng năng, tinh tấn trú niệm.
Trú niệm tức là an trú chánh niệm, gọi là trú niệm. “Trú” là mình ở trong đó, như mình cư trú vậy đó, “niệm” là chánh niệm. Chánh niệm Đức Phật dạy mình là Tứ Niệm Xứ. Mình đã có thực tập, phải biết được về phần Niệm Thân, Niệm Thọ, Niệm Tâm, Niệm Pháp. Niệm Thân là mình phải nhớ hơi thở, nhớ oai nghi, hành động, nhớ 32 thể trược, 9 giai đoạn một tử thi và quán chiếu tứ đại. Đó là sáu khía cạnh của Niệm Thân mà Đức Phật gọi là Hương vị của bất tử. Sau này sẽ học bài kinh Thân hành niệm để mình thấy các pháp hành của người tu của chúng ta. Đó là phần Thân.
Phải biết hơi thở đang vào ra, mình phải biết những oai nghi, cử chỉ, hành động. Luôn chánh niệm kiểm soát những cảm thọ, những cảm xúc, cảm giác trong thân mình. Phải biết đang có cảm giác gì, trong cảm giác đó có dục, tham, ái, sân, si hay không? Nếu có phải tẩy sạch, phải Như Lý Tác Ý, đánh đuổi nó ra, quét rác ra. Nếu trong tâm có sự suy nghĩ, giận tức người kia, những hình bóng, gương mặt người kia hiện ra, những lời nói lầm thầm chạy lòng vòng, rồi cảm giác trong này dâng dâng, nóng nóng lên là mình tác ý liền. Làm cho nó lắng dịu, làm cho nó mát mẻ, đi đến chỗ an tịnh, tẩy sạch tất cả những thọ, tưởng, hành, sân, hận đó ra. Cái đó mới gọi là chánh niệm tỉnh giác. Nội tâm của mình đang có gì mình phải biết. Trong tâm đang có thiện pháp hay là bất thiện pháp? Nó đang có Từ, Bi, Hỷ, Xả, đang có Thất Giác Chi hay không? Nó có Tứ Niệm Xứ, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Tứ Chánh Cần hay không? Hay là lúc đó trong tâm đang có vô minh, tham, sân, si và bản ngã, như vậy là mình phải biết. Ác pháp mình phải diệt và cái thiện pháp mình phải làm cho nó sanh, tăng trưởng, phát triển, quảng đại. Cái đó mới gọi là tỉnh giác chánh niệm. Đó gọi là an trú niệm, tinh cần, tinh tấn.
Sự chánh niệm thâm sâu như vậy đó, phải làm rất nhiều công việc chứ sự chánh niệm không chỉ đơn giản là đi biết đi, đứng biết đứng, ngồi biết ngồi. Cái đó mới ngoài thân thôi, còn bên trong thế nào mình cũng phải biết? Khi đi trong đó có dục không? Đi một hồi rồi trượt cầu thang, đập cái rầm, lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xứt thuốc. Đó là do dục muốn đi lẹ, giành lẹ để đi gặp bạn trước rồi té đập mặt xuống dập mặt, lỗ mũi đỏ chét. Như vậy là đang đi có dục trong đó mà mình không kiểm soát được. Đang nói cũng có dục đầy dẫy ở bên trong. Tất cả các sinh hoạt của mình đều là dục hoạt động nhưng mình không thấy, không biết. Ngủ có dục không? Chuông đánh thức một chút là tắt không sao đâu, lấy cái mền trùm lại, mùa đông, ai làm gì làm, trời sập cũng mặc kệ, mình cứ nằm đó co ro trong mùa đông ở Bảo Lộc. Nghe nói vậy là thọ, tưởng, hành vận hành, có thấy không? Thọ, tưởng, hành, thức hoạt động trên khắp tất cả nhưng tại mình không tu học về ngũ uẩn nên mình không biết, không thấy dục, tham, ái vận hành.
Tất cả mọi cái nó đều trong dục, cái nào cũng có dục. “Này các Tỳ kheo, tất cả pháp lấy dục làm căn bản”. Chính cái dục đó mới đưa mình vào ngũ uẩn, tứ đại, đi ra không được. Nếu không thấy, không biết về dục thì làm sao mình nhiếp phục và đoạn tận được dục. Cho nên, phải có thiền định, có trí tuệ. Trí tuệ là mình nhìn thấy được ngũ uẩn, sự sanh, diệt của ngũ uẩn, thấy được nguyên nhân sanh, diệt của ngũ uẩn. Chúng ta sẽ học trong những thời điểm sau nếu sau này còn học. Biết đâu sau mùa dịch này Minh Thành không còn tồn tại trên thế gian này nữa. Đó là nói sự thật. Đừng nói là hết mùa dịch, chút xíu nữa đi về coi có về tới hay không? Ngày nào cũng có tai nạn giao thông hết.
Pháp cuối cùng là không ưa thích hý luận. Tức là phải nói năng Chánh Pháp, tìm cầu Chánh Pháp, chứ không nói lơ tơ mơ, lờ tờ mờ, nói lòng vòng, nói lời phù phiếm, nói cả buổi trời, nhưng không có gì hết trơn. Vô nghĩa, phù phiếm, không có lợi ích gì hết. Những người đó không thể đạt Thánh Pháp được.
Hôm nay chúng ta học Tám điều tâm niệm của bậc Đại nhân. Bữa sau ôn thi, bữa sau nữa là thi rồi. Văn phòng mới thông báo, cố gắng về học bài, không thôi mai mốt dịch bệnh là không đi thi được. Cho nên, ráng về lo tu và lo học!
./.