Vì Sao Phật Có 32 Tướng Hảo 1 - Kinh Tướng - Trường Bộ
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
VÌ SAO PHẬT CÓ 32 TƯỚNG HẢO 1 ?
KINH TƯỚNG - TRƯỜNG BỘ
–Thích Minh Thành–
Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, trong một thời gian dài chúng ta đã tìm hiểu về bản chất của pháp, đào sâu vào thể tánh của pháp, nhất là trong khoảng năm sáu tháng vừa qua chúng ta đã đào sâu vào bản chất của ngũ uẩn, sự vận hành của tham, sân, si, vô minh, và bản ngã. Hôm nay chúng ta sẽ nhìn một phương diện khác của pháp, tức là tướng trạng, hình dạng, công dụng, phước báo, công đức của thiện pháp, lợi ích, hạnh phúc tốt đẹp, những sự vi diệu mà thiện pháp, Thánh pháp, đạo pháp giúp cho chúng ta có được để sự tu học không bị chán ngán mà sẽ hân hoan, hỷ lạc.
Thế Tôn không giảng pháp một chiều, lời dạy của ngài đầy đủ tất cả mọi phương diện cho nên hôm nay chúng ta tìm hiểu bài kinh Tướng trong Trường Bộ Kinh với chủ đề tại sao Phật có 32 tướng hảo. Mọi người đều xưng tán, khen ngợi thành quả, thành tựu, thành công của Đức Phật nhưng ít ai biết được tại sao ngài lại thành công, tại sao ngài có tướng hảo, có công đức đó, tại sao Đức Phật lại có những điều hoàn hảo, tuyệt mỹ đó, qua bài kinh này chúng ta sẽ thấy được nguyên nhân, lý do, từ nơi bài kinh này chúng ta sẽ biết nếu muốn có tướng hảo như Đức Phật thì phải làm như thế nào, ngài chỉ cho chúng ta rành rõ mỗi tướng trên cơ thể của ngài là do tu hạnh gì, tu phước gì, tu công đức gì để được như vậy, qua đó mình thấy được cái pháp mà Đức Phật chứng ngộ là đại viên mãn, không phải chỉ đánh phá ác pháp mà Thế Tôn còn tuyên dương thiện pháp.
Bài kinh này rất dài nên Minh Thành chỉ trích dẫn những phần trọng yếu trong kinh để chúng ta thấy được nhân quả của tướng đẹp, nhân quả của phước lành, công đức mà Thế Tôn đã tu tập nhiều kiếp trong quá khứ.
"Một thời, Thế Tôn trú tại Sàvatthi, rừng thái tử Jeta, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo'. – 'Bạch Thế Tôn', các vị Tỳ-kheo đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
- Này các Tỳ-kheo, những ai có đầy đủ ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này, những vị ấy sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và trị nước với Chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này, từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời.
Này các Tỳ-kheo, những vị ẩn sĩ ngoại đạo thọ trì ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này nhưng không biết là do tạo nghiệp nào mà được những tướng này". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Có một vị Bà-la-môn cực kì giỏi về tướng học, tướng số tên A-tư-đà, khi Thế Tôn vừa ra đời ngài A-tư-đà đã đến xem tướng. Có những vị Bà-la-môn nghiên cứu rất kĩ về tướng số, tướng học, Thế Tôn nói các vị ấy có học, có nghiên cứu về những tướng đó nhưng họ lại không biết do nghiệp gì mà được những tướng tốt đó, nhìn vào tướng đó họ biết nếu ở ngoài đời là Thánh thế gian, vua Thánh, còn ở trong đạo là Thánh xuất thế, là bậc Thánh của các bậc Thánh.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người kiên trì và không dao động đối với các thiện Pháp, thiện hành về thân, thiện hành về miệng, thiện hành về ý, phân định bố thí, thủ hộ giới luật, tuân giữ các lễ Bồ tát, hiếu kính với mẹ, hiếu kính với cha, cúng dường Sa-môn, cúng dường Bà-la-môn, tôn kính các bậc đàn anh trong gia đình, và tất cả những vị tối thắng khác. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, cõi Trời hay đời này. Ở đây, Ngài có mười điểm thắng hơn chư Thiên khác, thiên giới thọ mạng, thiên sắc, thiên lạc, thiên giới danh xưng, thiên giới uy lực, thiên giới sắc tướng, thiên giới âm thanh, thiên hương, thiên vị, thiên xúc. Ngài từ trần từ chỗ kia sanh đến chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này, nghĩa là lòng bàn chân bằng phẳng, đặt chân trên đất một cách bằng phẳng, bàn chân chạm đất với toàn thể bàn chân một lần". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Trì là giữ, kiên là chắc chắc, kiên trì là giữ gìn một cách chắc chắn đối với thiện pháp không dao động. Sáng nay có một chú đệ tử ở cách nửa vòng trái đất gọi về, chú còn trẻ và phải làm lụm rất cực nhọc ở phương xa, chú nói là chú nghe Minh Thành nói về vấn đề khắc lại đại tạng kinh thì chú rất tùy hỷ và mong muốn cúng dường cho công đức đó vì chú thấy pháp này có công dụng thay đổi cả con người chú. Minh Thành nói đây là việc tốt nhưng quan trọng phải kiên trì vì sau này Minh Thành có chết đi thì bản kinh này vẫn còn lại cho đời, lưu giữ cho những đời sau vì sợ rằng càng về sau những lời dạy nguyên chất của Đức Phật càng mai một. Chú hỏi làm việc này hết bao nhiêu thì Minh Thành không nói, chỉ nói rằng đây là việc lớn cần kiên trì, chú nói sẽ mỗi tháng sẽ để dành một ít tiền cúng dường, Minh Thành nói rằng vấn đề ở đây là kiên trì đối với thiện pháp vì nhiều khi lúc đầu phát tâm rất sốt sắng nhưng thời gian sau lại nản, đối với việc học pháp, bố thí, cúng dường, làm từ thiện cũng vậy, gặp một chút sóng gió là nản thì không kiên trì với thiện pháp, cho nên những câu này rất quan trọng "Như Lai đời trước làm Người kiên trì và không dao động đối với các thiện Pháp".
Những việc làm thiện, những lời nói thiện, ý nghĩ thiện được ngài giữ vững lập trường, không bị dao động, còn mình lúc mới biết nhận diện ngũ uẩn rất thích thú, trình pháp liên tục, đến khi học được một thời gian gọi lên trình pháp lại tránh né, đó là mình không kiên trì, có trước mà không có sau, có thủy mà không có chung, vậy là thiện pháp đó sẽ bị thối thất. Lúc đầu nghe dòng pháp này thấy thích thú, vi diệu nên nghe ngày nghe đêm, nghe được một thời gian là không muốn nghe nữa, đó là không kiên trì với thiện pháp trong khi Thế Tôn là nhiều đời, bất cứ đời nào, hiện hữu ở đâu, trú ở chỗ nào thì ngài vẫn không dao động đối với các thiện pháp, cả thân khẩu ý đều thiện. Cho nên Minh Thành nói với chú Phật tử muốn cúng dường thì quan trọng phải kiên trì với thiện pháp vì có khi việc phước lành này làm đến khi Minh Thành ra đi chưa chắc đã hoàn thiện.
Phân định bố thí nghĩa là Thế Tôn dạy là người cư sĩ làm ra bao nhiêu phải giữ lại một ít cho mình, chia ra một phần để lo cho cha mẹ, gia đình, sau đó dùng một phần cúng dường các bậc tu hành, và cuối cùng là san sẻ cho những người nghèo khổ. Những việc công đức này không phải làm vài năm hay vài chục năm hay chỉ trong một đời mà làm trong nhiều kiếp, kiếp nào sanh ra cũng làm như vậy. Đối với những bậc tu hành đức độ là tôn kính và cúng dường cho họ, khi qua Thái Lan hay Myanmar Minh Thành thấy những hình ảnh rất xúc động, những cụ già sáng sớm nấu sẵn cơm và đồ ăn rồi quỳ dưới đất chờ sẵn các sư đi ngang qua là họ dâng lên và lạy xuống, họ rất cung kính, đảnh lễ, cúng dường các bậc tu hành là Sa-môn, Bà-la-môn, còn mình lúc mới vào chùa thì cung kính, ở một thời gian thì không còn sự cung kính nữa, những thiện pháp mình có thường bị rơi rớt, mất đi, vì thế trong Tứ Chánh Cần việc giữ được thiện pháp là vô cùng quan trọng nhưng nhiều khi học rồi lại quên, các phương diện để tăng trưởng các thiện pháp là khác nhưng giữ được những thiện pháp lại là phương diện khác.
Lúc đầu học thì cung kính, tôn trọng, giữ gìn oai nghi chánh hạnh nhưng tu lâu lại buông thả, phải thực hành sự cung kính đối với những bậc tu hành trưởng thượng, mình rót một chung trà nóng dâng lên cũng gọi là cúng dường, mình cúi đầu chào một cách chân thành đối với Tăng bảo, chư Tỳ-kheo là sự cung kính. Cần phải cung kính đối với những vị tối thắng khác, những vị tối thắng khác có khi không phải là người tu, Minh Thành đưa bà Năm đi lấy thuốc của một vị thầy thuốc rất bình dân, bình dị, vị này được UNESCO tặng bằng khen đạo đức toàn cầu, Minh Thành hốt 90 thang thuốc nam không vị này không lấy bất cứ đồng nào, Minh Thành mời ly nước hoặc cái bánh cũng không lấy, tất cả những người làm công quả trong đó không nhận bất cứ món quà gì, đó đều là những vị tối thắng, hiền thiện trong cuộc đời này. Minh Thành phải xin 5 lần cúng dường mua thuốc, đúng ngay lần thứ 5 xe thuốc chở về thì thầy mới nhận, sau đó hồi hướng công đức cho bà Năm, ông Năm và các Phật tử vì tiền cúng dường đó cũng là tiền của các Phật tử. Khi Minh Thành xuống hốt thuốc là vị thầy ngồi tâm sự với Minh Thành mà nước mắt lưng tròng, vị thầy nói lạ vì trước giờ ông ấy ít tâm sự với ai, ông đi làm thuốc nhưng gặp nhiều bất cập vì vấn đề danh lợi nên cuối cùng ông về nhà tự mở ra làm. Mình cũng đã từng gặp những vị cư sĩ thượng thủ, nếu chỉ nhìn ở hình dáng bên ngoài rồi phân cao thấp đây là tu sĩ còn kia là cư sĩ thì đó là một sự thất bại, có nhiều vị cư sĩ hoặc không phải cư sĩ nhưng có nhiều đức hạnh đặc biệt.
Đức Thế Tôn tu những hạnh hiền thiện như vậy, ngài sanh ra trên cõi đời này vượt hơn tất cả những người khác ở mười phương diện, sanh ra ở cõi trời là hơn trời, sanh ra ở cõi người là ở trên đỉnh cao tột cùng của người, tuổi thọ của ngài hơn người, sắc đẹp cũng hơn, niềm vui, tiếng tăm, danh xưng, sức mạnh, sắc tướng, âm thanh, mùi hương, những vị mà ngài nếm và sự tiếp xúc của ngài đều vượt hơn hết tất cả, lòng bàn chân của ngài tròn trịa, bằng phẳng, những tướng này là do cái tâm cung kính, kiên trì với thiện pháp mà ngài có được. Khi lễ kính là mình lạy, nghĩa là đem chỗ cao nhất là đỉnh đầu lạy xuống chỗ thấp nhất là bàn chân người được cung kính và cuối cùng là ngài có được bàn chân viên mãn.
"Vị này chinh phục và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao, trị vì đất này cho đến hải biên, một cõi đất không hoang vu, không có tướng nguy hiểm, không có gai góc, phồn vinh, phong phú, an ổn, may mắn, không có nguy hiểm. Làm vua được những gì? Làm vua không bị người thù hay kẻ địch làm trở ngại. Làm vua được lợi như vậy. Nếu Ngài xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, Ngài thành bậc A-La-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Làm Phật được lợi những gì? Ngài không bị người thù hay kẻ địch ở trong cũng như ở ngoài, không bị tham, sân, si, không bị Sa- môn, Bà-la-môn, thiên, Ma, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở ngoài đời là trở ngại. Làm Phật được lợi như vậy" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Nếu ngài không xuất gia mà ngài ở hoàng cung làm vua hoặc những đời trước của ngài làm vua thì ngài không có kẻ thù hoặc kẻ địch làm trở ngại, còn khi ngài xuất gia thành tựu Chánh Giác thành Phật thì ngài cũng không một ai dù là ma hay Phạm thiên làm trở ngại vì tâm ngài cung kính đối với tất cả, trong nhiều kiếp ngài không gây oán thù với bất kì ai để tích tụ sân hận cho nên khi sanh ra ngài không có kẻ địch.
"Sống chân thực đúng Pháp,
Ðiều phục và tự chế,
Sống với hạnh thanh tịnh,
Ngày trai giới, Bồ tát.
Bố thí, không bạo động,
Không làm hại một ai,
Tâm kiên cố hành trì,
Sống thật sự toàn diện.
Với hạnh nghiệp như vậy,
Ngài được sanh cõi Trời,
Sống trong niềm hoan hỉ,
An lạc vô cùng tận.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Với bàn chân bằng phẳng,
Chạm đất thật đều đặn.
Các bậc chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Không ai làm trở ngại,
Vị bàn chân bằng phẳng.
Dầu tại gia, xuất gia.
Nghĩa tướng thật rõ ràng,
Nếu sống tại gia đình,
Không bị trở ngại gì,
Chiến thắng mọi quân thù.
Ðại phá cả quân địch,
Không ai ngăn chặn được,
Vị nghiệp báo như vậy.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thiểu dục sáng suốt,
Là bậc Thánh siêu phàm,
Không còn phải thai sanh,
Bậc Vô Thượng, Chánh Giác,
Pháp nhĩ là như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Bàn chân của ngài chẳng những tròn trịa, bằng phẳng mà còn có hình bánh xe và các bộ phận đầy đủ của chiếc xe.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, sống vì hạnh phúc cho chúng sanh, trừ diệt mọi sợ hãi kinh hoàng, sắp đặt sự che chở, hộ trì, bảo vệ đúng Pháp, bố thí cho các người tùy tùng. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của sự nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cõi thiện thú, thiên giới hay đời này... Ngài từ trần từ chỗ kia sanh đến chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này: Dưới bàn chân, có hình bánh xe hiện ra, với một ngàn tăm xe, với bánh xe, trục xe, các bộ phận hoàn toàn đầy đủ". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Khi qua các nước Thái Lan hoặc Myanmar sẽ thấy dưới bàn chân Phật nằm được khắc hình bánh xe có ngàn căm xe. Cái tướng thứ hai là do ngài sống vì hạnh phúc của chúng sanh, vì lo cho người khác, tâm của ngài rất vĩ đại, tìm cầu hạnh phúc rộng lớn chứ không phải hạnh phúc thông thường. Nếu đứng đầu quốc gia thì ngài luôn dùng nhân đức để trị vì, ngài luôn nghĩ đến ân xá, có thiên tai dịch bệnh là ngài mở quốc khố phân phát cho dân. Chính vì có những tướng tốt này mà ngài A-tư-đà xem tướng cho Thế Tôn lúc ngài mới sanh ra đã khóc, vua Tịnh Phạn bất ngờ hỏi thì ngài A-tư-đà nói ông đã già yếu sắp chết nên không có cơ hội được nhìn thấy bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chuyển chánh pháp luân ở đời. Ngài sống vì chúng sanh, trừ diệt mọi sự sợ hãi, ngài đem đến sự bình an cho mọi người, đem đến cảm thọ an ổn khi người ta đang bất an, lo lắng, sợ hãi, sắp đặt sự che chở, bảo hộ cho mọi người một cách đúng pháp, những người đi theo ngài hưởng được lợi ích. Với những đức hạnh, hành động thiện lành đó được chất chứa, tích tụ, tăng trưởng nhiều đời nhiều kiếp nên khi nhắm mắt ra đi nếu sanh lên trời sẽ được làm vua trời, còn sanh dưới nhân gian sẽ làm quân chủ, nhân gian thiên thượng sanh ra chỗ nào cũng làm thống lãnh, sanh chỗ nào cũng là tối thắng, tối thượng.
"Ngài đầy đủ tướng này, nếu ở tại gia thành vị Chuyển Luân Thánh vương... Làm vua được những gì? có nhiều kẻ hầu cận. Số hầu cận rất đông, có cư sĩ, Bà la môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư pháp quan, vệ sĩ, thủ môn quan, các đại thần, các chư hầu, các hào phú, các vương tử. Làm vua được như vậy. Nếu Ngài xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ngài thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Làm Phật được những gì? Ngài có đại chúng hầu cận, số đại chúng rất đông, gồm có Tỳ-kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, các loài Thần rắn, Càn thát bà. Làm Phật được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Ngài là người sống vì hạnh phúc cho chúng sanh nên ngài sanh chỗ nào là có quyến thuộc chỗ đó, có vệ sĩ, hầu cận lo lắng, bảo vệ xung quanh. Nếu ngài xuất gia không những có các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, nam nữ cư sĩ mà đến trời, các loài thần thánh, thần rắn, thần âm nhạc cũng đi theo bảo hộ cho ngài, khi ngài gặp mưa bão có rắn thần nhiều đầu bò ra che lại cho ngài. Nhưng không phải tự nhiên ngài được như vậy mà do ngài diệt trừ mọi sợ hãi kinh hoàng, luôn che chở, hộ trì, bảo vệ đúng pháp cho mọi người, ở bên trong tâm ngài diệt tham, sân, si, từ bi hỷ xả, còn bên ngoài ngài luôn quan tâm, lo lắng, giúp đỡ cho mọi chúng sanh, ngài có nhân viên mãn nên quả cũng viên mãn.
"Trong những năm đã qua,
Trong những đời quá khứ,
Khi Ngài được làm Người,
Khiến nhiều người hạnh phúc.
Ngài trừ diệt kinh hoàng,
Hộ trì và bảo vệ,
Nhờ nghiệp ấy, sanh Thiên,
Hưởng an lạc hạnh phúc.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Dưới hai bàn chân Ngài,
Có bánh xe hiện ra,
Với bánh xe đầy đủ,
Ðủ một ngàn căm xe.
Các bậc chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Khi thấy trăm đức này:
Ðược quần chúng bao vây,
Ðịch quân được nhiếp phục,
Như bánh xe quay tròn,
Với vành xe đầy đủ.
Nếu Ngài không xuất gia,
Sống đời sống như vậy,
Ngài chuyển vận bánh xe,
Trị vì khắp cõi đất.
Ở đây Sát đế lỵ,
Ðều chịu thần phục Ngài,
Hầu hạ chung quanh Ngài,
Là bậc Ðại danh xưng.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thoát dục, sáng suốt,
chư Thiên và loài Người,
Ðế thích và Dạ xoa,
Càn thát bà, Long xà,
Phi điểu, loài bốn chân,
Tất cả đoanh vây Ngài,
Là bậc Ðại danh xưng,
Bậc Vô Thượng, Chánh Giác,
Ðược Thiên, Nhơn cung kính". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Nếu ngài xuất gia sống ly dục, sáng suốt thì trời, người, vua trời, Dạ-xoa, thần, rồng, rắn, chim và các loài thú bốn chân đều đoanh vây ngài. Qua đây chúng ta thấy rằng việc gì cũng có nhân quả, không có gì tự nhiên cả, được quả ngày hôm nay là do nhân tích tụ, gieo trồng trong biết bao đời kiếp quá khứ vừa qua.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, từ bỏ sát sanh, chế ngự sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương sót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới hay đời này... Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này, được ba tướng Ðại Trượng phu này: gót chân thon dài, ngón tay, ngón chân dài và tay chân mềm mại" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Gót chân ngài thon dài, ngón tay, ngón chân thon dài mềm mại, tươi đẹp là do những đời trước ngài từ bỏ sát sanh, chế ngự việc giết hại chúng sanh, từ bỏ gậy gộc, đao kiếm, biết xấu hổ và sợ hãi đối với các ác bất thiện pháp, sống thương xót đến hạnh phúc các chúng sanh và các loài hữu tình. Sau khi tích lũy những thiện pháp đó khi sanh lên trời làm vua trời, sanh ra trong nhân gian thì được ba tướng đại trượng phu là gót chân thon dài, ngón tay, ngón chân mềm mại.
"Ngài đầy đủ ba tướng này, nếu sống tại gia sẽ thành vị Chuyển luân thánh vương... Làm vua được những gì? Thọ mạng lâu dài, được sống lâu năm, thọ mạng được hộ trì lâu dài, không một người nào dưới hình thức kẻ thù hay kẻ nghịch có thể hại mạng sống Ngài. Làm vua được như vậy... Làm Phật được những gì? Thọ mạng lâu dài, được sống lâu năm, thọ mạng được hộ trì lâu dài, không một kẻ thù, kẻ nghịch nào có thể hại được mạng sống Ngài, dưới hình thức Sa môn, Bà la môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ ai trong đời. Làm Phật được như vậy" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Nếu ở đời không đi tu sẽ được tuổi thọ dài lâu, không bị bất cứ người thù địch nào hại mạng, nếu thành Chánh Giác thì thọ mạng lâu dài, cũng không ai hại được mạng của ngài dù đó có là ai đi nữa. Đề-bà-đạt-đa âm mưu hãm hại Thế Tôn biết bao lần nhưng không thành công, không một ai có thể làm tổn hại đến sinh mạng của ngài do ngài từ bỏ sát sanh, từ bỏ các loại vũ khí, sống với tâm từ mẫn, lòng thương yêu hữu tình cho nên ngài không bị ai giết dù ở đời hay đi xuất gia. Những án mạng xảy ra không phải tự nhiên, những người đó đều có oan gia trái chủ với nhau, những tai nạn bất trắc, bất thường xảy ra cũng đều do nghiệp quả, gia đình chú Phật tử thường đến chùa hộ trì tam bảo bị nhiễm dịch bệnh 15 người nhưng không có điều gì đáng tiếc xảy ra, Minh Thành nói đó là nhờ phước của gia đình.
"Tự biết mình sợ hãi,
Sợ chết sợ tàn hại,
Ngài từ bỏ giết hại,
Hết mọi loài chúng sanh.
Nhờ sống hành thiện pháp,
Ðược sanh lên cõi Trời,
Tự hưởng quả dị thục,
Do thiện báo đem lại.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Ðược hưởng tại nơi đây,
Ba Ðại trượng phu tướng:
Gót chân đầy và dài,
Thân thẳng như Phạm thiên.
Khả ái, hình vóc đẹp,
Khéo cân xứng, khéo sanh,
Các ngón tay, ngón chân,
Ðều mềm mại trẻ đẹp.
Với ba tướng Trượng phu,
Sống lâu luôn luôn trẻ.
Nếu sống tại gia đình,
Thọ mạng sẽ lâu dài.
Nếu sống đời xuất gia,
Tuổi thọ được dài thêm,
Như vậy tướng hảo này,
Là tướng tuổi trường thọ". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Khả ái là đáng yêu, Minh Thành thấy có những người mới mười mấy tuổi nhưng nhìn như năm sáu chục tuổi, họ cao chỉ 1m2 hoặc 1m4 thôi, có những người còn rất nhỏ tuổi nhưng vẻ ngoài lại rất già cả, xấu xí hoặc có những người qua bao năm nhìn lại họ vẫn như vậy, không thấy già đi chút nào, vẫn tươi trẻ, đó là do thiện nghiệp từ đời trước nên họ được như vậy. Có người nhìn già nua, héo úa, cằn cỗi nhưng lại có người nhìn vào lại thấy tươi tắn, tươi sắc, tất cả đều do phước của những người đó. Nhìn thấy người xấu xí, tàn tạ cũng xót xa trong lòng vì dù sao cũng là một kiếp người nhưng tại sao họ lại bị như vậy, sanh ra là bị bại liệt, bại não, tâm thần… Cho nên khi tu tập thiện pháp thì tướng người sẽ thay đổi theo chiều tích cực, càng làm nhiều ác pháp thì thân tướng cũng thay đổi theo chiều tiêu cực cho nên "tướng tự tâm sanh, tướng tùy tâm diệt" vì thế muốn đẹp, tươi trẻ thì cần tu tập tâm thiện.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, là vị bố thí các món ăn loại cứng loại mềm, các loại liếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới hay đời này... Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này, được tướng Ðại Trượng phu này là bảy chỗ tròn đầy. Bảy chỗ tròn đầy là hai tay tròn đầy, hai chân tròn đầy, hai vai tròn đầy và thân hình tròn đầy" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Tròn đầy ở đây nghĩa là đầy đặn cân đối, viên mãn. Minh Thành có thói quen ai đến thăm là hỏi người đó ăn chưa, uống chưa, có thức ăn gì đều đem hết ra cho họ, như vậy Minh Thành đi khắp thế giới được ăn đầy đủ các món, nhân quả tuyệt vời như vậy. Lúc mình thiết đãi người ta không nghĩ sẽ có ngày người ta cho ăn lại mà chỉ nghĩ đừng để người ta đói, không muốn người ta khát, đừng để người ta lạnh, vậy mà nhìn lại mình chỉ là một người bình thường ở quê lên thành phố tu học mà có ngày được đi giảng pháp ở Úc, Mỹ, Đài Loan, Hồng Kông, đều là các nước phát triển, đó là do cái pháp như vậy, mình chỉ nghĩ rằng pháp thực phải sung mãn, đầy đủ, nếu nói pháp trong khi người ta đói lạnh thì làm sao nghe được cho nên phải có vớ, có khăn, có nón, áo, cơm, đồ ăn, thức uống, phòng ốc… Cho nên việc bố thí thức ăn rất hay và tuyệt diệu, khách đến nhà không trà cũng bánh vì thế bàn tiếp khách lúc nào cũng phải có nước, nếu khách đến vào giờ cơm thì phải đãi cơm, có những vị Phật tử từ rất xa đến thăm giữa mưa bão, dịch bệnh, hai mẹ con lên núi ôm theo thùng thuốc và sữa cho ông Năm, đó là tấm lòng của người Phật tử, Minh Thành xuống bếp có gì là đem lên nhưng chỉ còn đúng một chén tàu hủ, người ta cũng ăn rồi khen, hoan hỉ, chẳng những có pháp mà còn có thực. Minh Thành nói với Phật tử đó vì Minh Thành có đi qua nước ngoài nên biết bên đó người ta rất quý tình quê hương, người ta không thiếu gì cả mà chỉ thiếu tình quê hương cho nên phải sống có tình có nghĩa, có trước có sau, có nhân có hậu là điều tuyệt đối quan trọng, nếu không có cái này thì làm người còn không xong thì làm sao thành Thánh?
Đây là chỗ rất quan trọng, cho nên không chỉ có nói lý, nói pháp mà cần phải sống có tình nghĩa, nhiều người nói pháp cho nghe không nhớ được gì mà chỉ nhớ hôm đó vừa đói vừa lạnh được sư cô dọn cơm cho ăn, cho áo ấm mặc, đó là mới chỗ cảm hóa người ta chứ người ta đang đói đang lạnh mà mình đi giảng pháp nói về bất tử thì làm sao nghe được, "có thực mới vực được đạo" hoặc là "pháp luân vị chuyển, thực luân tiên" nghĩa là phải no căng cái bụng đã thì mới có thể nói chuyện đạo, nhiều Phật tử gọi về nói tuy chỉ là chùa tranh vách lá nhưng tình người vô cùng đậm đà, Minh Thành nghe mà ấm lòng vô cùng.
Mình học từ bi, mình nói về tâm thương nhưng khi gặp chuyện khổ mình lại không thấy, người ta ở tận miền tây hoặc ở ngoài bắc, không thì từ nước ngoài về thăm chùa thì đó là cả một tấm lòng vì thế Minh Thành hay nhắc nhở đại chúng sống phải có thủy có chung, có tình có nghĩa, có trước có sau, có nhân có hậu, phải thành tựu được những cái này rồi sau đó mới học những pháp Thánh hiền. Cho người ta một chung trà ấm, một chiếc áo ấm, một bữa cơm dù là đơn sơ chính là thể hiện sự quan tâm, lo lắng, khi người ta đã ấm áp, no bụng rồi mình nói pháp người ta mới cảm nhận được, đó là lý do nhiều người đi rồi vẫn nhớ và muốn về thăm chùa, có những chỗ nguy nga tráng lệ nhưng lại thiếu sự ấm áp của tình người cho nên tình người rất quý giá. Như Lai từ nhiều đời đã bố thí các món ăn, thức uống cho nên nhân quả ngài nhận lại là "bảy chỗ tròn đầy là hai tay tròn đầy, hai chân tròn đầy, hai vai tròn đầy và thân hình tròn đầy".
"Ngài đầy đủ tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương... Làm vua được những gì? Ðược các món ăn, loại cứng, loại mềm, các loại nếm, loại liếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Làm vua được như vậy... Làm Phật được những gì? Ðược các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại nếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Làm Phật được như vậy" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Khi ngài làm vua thì được các món ăn cao lương mỹ vị, khi làm Phật thì các quốc vương, đại thần, thiên tử lạy dưới chân dâng lên món ăn.
"Bố thí các món ăn,
Thượng vị hợp sở thích
Loại cứng vị hợp sở thích
Loại cứng và loại mềm,
Loại liếm cả loại nếm.
Nhờ hành thiện tốt đẹp,
Sống lâu thiên hỷ lạc.
Ðược sanh tại chỗ này,
Với bảy chỗ tròn đầy.
Với tay chân mềm mại,
Nhà chiêm tướng thiện xảo,
Tuyên bố Ngài đầy đủ,
Món ăn thật ngon lành,
Loại cứng và loại mềm.
Không riêng gì tại gia,
Ðược tướng hảo như vậy,
Nếu sống hạnh xuất gia,
Cũng được hảo tướng ấy.
Món ăn thật thượng vị
Loại cứng và loại mềm,
Chặt đứt các trói buộc
Tất cả hàng cư sĩ" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Sau đây sẽ là một tướng tốt nữa của Đức Phật.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, được đầy đủ Bốn Nhiếp pháp: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới, hay đời này. Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: Tay chân mềm mại, và có lưới da giữa ngón tay, ngón chân". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Có lưới da giữa ngón tay, ngón chân thì có thể bây giờ không hợp nhưng thời đó đây tướng hảo, là tướng đẹp, tướng thời thượng lúc bấy giờ, đây là quý tướng của bậc đại nhân. Tùy theo quan điểm vùng miền, dân tộc, thời đại cho nên mành lưới giữa tay chân là tướng quý hiếm, có được tướng quý này do Như Lai từ nhiều đời đã bố thí, nói lời từ ái, làm những việc lợi ích và đồng sự với mọi người.
"Ngài đầy đủ hai tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương... Làm vua được những gì? Ðược khéo thâu nhiếp các vị tùy tùng. Ðược khéo thâu nhiếp các cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư pháp quan, thủ môn quan, các đại thần, các chư hầu, các hào phú, các vương tử. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Ðược khéo thâu nhiếp các vị tùy tùng, được khéo thâu nhiếp các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, các Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, Long thần, Càn-thát-bà. Làm Phật được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Tu tập đầy đủ Bốn Nhiếp pháp mà ngài được tay chân mềm mại, có lưới da giữa các ngón tay, ngón chân. Khi làm vua thì khéo thâu nhiếp các tùy tùng ở mọi tầng lớp, ngài đem đến lợi ích cho mọi người nên tất cả đều quy hướng, đi theo ngài. Do tu tập bốn pháp đó nên ngài được lòng người, khi thành Phật ngài cũng khéo thâu nhiếp các vị "Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, các Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, Long thần, Càn-thát-bà".
"Bố thí và lợi hành,
Ái ngữ và đồng sự,
Nhiếp phục nhiều tùy tùng.
Do hành thiện pháp này,
Nhờ vô lượng công đức,
Ðược sanh lên cõi Trời.
Tạ thế tại chỗ kia,
Tái sanh tại chỗ này,
Do hạnh ấy tay chân,
Mềm mại và có lưới.
Ðược sắc tướng đoan nghiêm,
Mỹ lệ và khả ái
Dầu còn là niên thiếu,
Trẻ thơ măng sữa vậy,
Quần chúng chịu tùy thuận,
Nhiếp phục cõi đất này.
Luôn luôn dùng ái ngữ,
Cầu hạnh phúc quần sanh.
Như vậy sống thanh tịnh,
Với công đức thù thắng
Nếu Ngài sống từ bỏ,
Mọi dục lạc tài sản,
Tuyên thuyết vi diệu pháp,
Vị chiến thắng quần sanh,
Họ nghe tâm hoan hỉ,
Vâng hành lời Ngài dạy.
Họ sống thiện hành trì,
Theo Chánh pháp, Tùy pháp". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Dù chỉ là trẻ thơ hoặc đang ở tuổi thiếu niên nhưng quần chúng đều nghe theo ngài, ngài nói những lời từ ái để cầu hạnh phúc cho chúng sanh. Ngài sống cuộc đời thanh tịnh với công đức thù thắng, từ bỏ mọi dục lạc ở thế gian cho nên khi ngài nói pháp tất cả mọi người đều nghe theo.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, Như Lai là một vị nói lời liên hệ lợi ích cho chúng sanh, liên hệ đến pháp, giải thích cho đại chúng, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, tán dương chánh hạnh. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp... Ngài từ trần từ chỗ kia và tái sanh ở đây với hai tướng Ðại Trượng phu: mắt cá tròn như con sò và lông mọc xoay tròn thẳng lên.
Ngài đầy đủ với những tướng như vậy, nếu sống tại gia, thành vị Chuyển luân Thánh vương... Làm vua được những gì. Tài vật dục lạc đều tối thắng, tối ưu, cao tột, đệ nhất. Làm vua được như vậy... Làm Phật được những gì? Ngài trở thành bậc tối thắng, tối ưu, cao tột, đệ nhất cho toàn thể chúng sanh. Làm Phật được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Mỗi cọng lông của ngài xoáy tròn thẳng lên, mắt cá tròn như con sò do ngài nói lời liên hệ đến lợi ích cho chúng sanh. Khi làm vua ngài được những thứ tối ưu, tối cao, đệ nhật. Khi thành Phật trở thành bậc tối tôn, tối thượng, tối thắng trong toàn thể chúng sanh.
./.
VÌ SAO PHẬT CÓ 32 TƯỚNG HẢO 1 ?
KINH TƯỚNG - TRƯỜNG BỘ
–Thích Minh Thành–
Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, trong một thời gian dài chúng ta đã tìm hiểu về bản chất của pháp, đào sâu vào thể tánh của pháp, nhất là trong khoảng năm sáu tháng vừa qua chúng ta đã đào sâu vào bản chất của ngũ uẩn, sự vận hành của tham, sân, si, vô minh, và bản ngã. Hôm nay chúng ta sẽ nhìn một phương diện khác của pháp, tức là tướng trạng, hình dạng, công dụng, phước báo, công đức của thiện pháp, lợi ích, hạnh phúc tốt đẹp, những sự vi diệu mà thiện pháp, Thánh pháp, đạo pháp giúp cho chúng ta có được để sự tu học không bị chán ngán mà sẽ hân hoan, hỷ lạc.
Thế Tôn không giảng pháp một chiều, lời dạy của ngài đầy đủ tất cả mọi phương diện cho nên hôm nay chúng ta tìm hiểu bài kinh Tướng trong Trường Bộ Kinh với chủ đề tại sao Phật có 32 tướng hảo. Mọi người đều xưng tán, khen ngợi thành quả, thành tựu, thành công của Đức Phật nhưng ít ai biết được tại sao ngài lại thành công, tại sao ngài có tướng hảo, có công đức đó, tại sao Đức Phật lại có những điều hoàn hảo, tuyệt mỹ đó, qua bài kinh này chúng ta sẽ thấy được nguyên nhân, lý do, từ nơi bài kinh này chúng ta sẽ biết nếu muốn có tướng hảo như Đức Phật thì phải làm như thế nào, ngài chỉ cho chúng ta rành rõ mỗi tướng trên cơ thể của ngài là do tu hạnh gì, tu phước gì, tu công đức gì để được như vậy, qua đó mình thấy được cái pháp mà Đức Phật chứng ngộ là đại viên mãn, không phải chỉ đánh phá ác pháp mà Thế Tôn còn tuyên dương thiện pháp.
Bài kinh này rất dài nên Minh Thành chỉ trích dẫn những phần trọng yếu trong kinh để chúng ta thấy được nhân quả của tướng đẹp, nhân quả của phước lành, công đức mà Thế Tôn đã tu tập nhiều kiếp trong quá khứ.
"Một thời, Thế Tôn trú tại Sàvatthi, rừng thái tử Jeta, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo'. – 'Bạch Thế Tôn', các vị Tỳ-kheo đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
- Này các Tỳ-kheo, những ai có đầy đủ ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này, những vị ấy sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và trị nước với Chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này, từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời.
Này các Tỳ-kheo, những vị ẩn sĩ ngoại đạo thọ trì ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này nhưng không biết là do tạo nghiệp nào mà được những tướng này". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Có một vị Bà-la-môn cực kì giỏi về tướng học, tướng số tên A-tư-đà, khi Thế Tôn vừa ra đời ngài A-tư-đà đã đến xem tướng. Có những vị Bà-la-môn nghiên cứu rất kĩ về tướng số, tướng học, Thế Tôn nói các vị ấy có học, có nghiên cứu về những tướng đó nhưng họ lại không biết do nghiệp gì mà được những tướng tốt đó, nhìn vào tướng đó họ biết nếu ở ngoài đời là Thánh thế gian, vua Thánh, còn ở trong đạo là Thánh xuất thế, là bậc Thánh của các bậc Thánh.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người kiên trì và không dao động đối với các thiện Pháp, thiện hành về thân, thiện hành về miệng, thiện hành về ý, phân định bố thí, thủ hộ giới luật, tuân giữ các lễ Bồ tát, hiếu kính với mẹ, hiếu kính với cha, cúng dường Sa-môn, cúng dường Bà-la-môn, tôn kính các bậc đàn anh trong gia đình, và tất cả những vị tối thắng khác. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, cõi Trời hay đời này. Ở đây, Ngài có mười điểm thắng hơn chư Thiên khác, thiên giới thọ mạng, thiên sắc, thiên lạc, thiên giới danh xưng, thiên giới uy lực, thiên giới sắc tướng, thiên giới âm thanh, thiên hương, thiên vị, thiên xúc. Ngài từ trần từ chỗ kia sanh đến chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này, nghĩa là lòng bàn chân bằng phẳng, đặt chân trên đất một cách bằng phẳng, bàn chân chạm đất với toàn thể bàn chân một lần". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Trì là giữ, kiên là chắc chắc, kiên trì là giữ gìn một cách chắc chắn đối với thiện pháp không dao động. Sáng nay có một chú đệ tử ở cách nửa vòng trái đất gọi về, chú còn trẻ và phải làm lụm rất cực nhọc ở phương xa, chú nói là chú nghe Minh Thành nói về vấn đề khắc lại đại tạng kinh thì chú rất tùy hỷ và mong muốn cúng dường cho công đức đó vì chú thấy pháp này có công dụng thay đổi cả con người chú. Minh Thành nói đây là việc tốt nhưng quan trọng phải kiên trì vì sau này Minh Thành có chết đi thì bản kinh này vẫn còn lại cho đời, lưu giữ cho những đời sau vì sợ rằng càng về sau những lời dạy nguyên chất của Đức Phật càng mai một. Chú hỏi làm việc này hết bao nhiêu thì Minh Thành không nói, chỉ nói rằng đây là việc lớn cần kiên trì, chú nói sẽ mỗi tháng sẽ để dành một ít tiền cúng dường, Minh Thành nói rằng vấn đề ở đây là kiên trì đối với thiện pháp vì nhiều khi lúc đầu phát tâm rất sốt sắng nhưng thời gian sau lại nản, đối với việc học pháp, bố thí, cúng dường, làm từ thiện cũng vậy, gặp một chút sóng gió là nản thì không kiên trì với thiện pháp, cho nên những câu này rất quan trọng "Như Lai đời trước làm Người kiên trì và không dao động đối với các thiện Pháp".
Những việc làm thiện, những lời nói thiện, ý nghĩ thiện được ngài giữ vững lập trường, không bị dao động, còn mình lúc mới biết nhận diện ngũ uẩn rất thích thú, trình pháp liên tục, đến khi học được một thời gian gọi lên trình pháp lại tránh né, đó là mình không kiên trì, có trước mà không có sau, có thủy mà không có chung, vậy là thiện pháp đó sẽ bị thối thất. Lúc đầu nghe dòng pháp này thấy thích thú, vi diệu nên nghe ngày nghe đêm, nghe được một thời gian là không muốn nghe nữa, đó là không kiên trì với thiện pháp trong khi Thế Tôn là nhiều đời, bất cứ đời nào, hiện hữu ở đâu, trú ở chỗ nào thì ngài vẫn không dao động đối với các thiện pháp, cả thân khẩu ý đều thiện. Cho nên Minh Thành nói với chú Phật tử muốn cúng dường thì quan trọng phải kiên trì với thiện pháp vì có khi việc phước lành này làm đến khi Minh Thành ra đi chưa chắc đã hoàn thiện.
Phân định bố thí nghĩa là Thế Tôn dạy là người cư sĩ làm ra bao nhiêu phải giữ lại một ít cho mình, chia ra một phần để lo cho cha mẹ, gia đình, sau đó dùng một phần cúng dường các bậc tu hành, và cuối cùng là san sẻ cho những người nghèo khổ. Những việc công đức này không phải làm vài năm hay vài chục năm hay chỉ trong một đời mà làm trong nhiều kiếp, kiếp nào sanh ra cũng làm như vậy. Đối với những bậc tu hành đức độ là tôn kính và cúng dường cho họ, khi qua Thái Lan hay Myanmar Minh Thành thấy những hình ảnh rất xúc động, những cụ già sáng sớm nấu sẵn cơm và đồ ăn rồi quỳ dưới đất chờ sẵn các sư đi ngang qua là họ dâng lên và lạy xuống, họ rất cung kính, đảnh lễ, cúng dường các bậc tu hành là Sa-môn, Bà-la-môn, còn mình lúc mới vào chùa thì cung kính, ở một thời gian thì không còn sự cung kính nữa, những thiện pháp mình có thường bị rơi rớt, mất đi, vì thế trong Tứ Chánh Cần việc giữ được thiện pháp là vô cùng quan trọng nhưng nhiều khi học rồi lại quên, các phương diện để tăng trưởng các thiện pháp là khác nhưng giữ được những thiện pháp lại là phương diện khác.
Lúc đầu học thì cung kính, tôn trọng, giữ gìn oai nghi chánh hạnh nhưng tu lâu lại buông thả, phải thực hành sự cung kính đối với những bậc tu hành trưởng thượng, mình rót một chung trà nóng dâng lên cũng gọi là cúng dường, mình cúi đầu chào một cách chân thành đối với Tăng bảo, chư Tỳ-kheo là sự cung kính. Cần phải cung kính đối với những vị tối thắng khác, những vị tối thắng khác có khi không phải là người tu, Minh Thành đưa bà Năm đi lấy thuốc của một vị thầy thuốc rất bình dân, bình dị, vị này được UNESCO tặng bằng khen đạo đức toàn cầu, Minh Thành hốt 90 thang thuốc nam không vị này không lấy bất cứ đồng nào, Minh Thành mời ly nước hoặc cái bánh cũng không lấy, tất cả những người làm công quả trong đó không nhận bất cứ món quà gì, đó đều là những vị tối thắng, hiền thiện trong cuộc đời này. Minh Thành phải xin 5 lần cúng dường mua thuốc, đúng ngay lần thứ 5 xe thuốc chở về thì thầy mới nhận, sau đó hồi hướng công đức cho bà Năm, ông Năm và các Phật tử vì tiền cúng dường đó cũng là tiền của các Phật tử. Khi Minh Thành xuống hốt thuốc là vị thầy ngồi tâm sự với Minh Thành mà nước mắt lưng tròng, vị thầy nói lạ vì trước giờ ông ấy ít tâm sự với ai, ông đi làm thuốc nhưng gặp nhiều bất cập vì vấn đề danh lợi nên cuối cùng ông về nhà tự mở ra làm. Mình cũng đã từng gặp những vị cư sĩ thượng thủ, nếu chỉ nhìn ở hình dáng bên ngoài rồi phân cao thấp đây là tu sĩ còn kia là cư sĩ thì đó là một sự thất bại, có nhiều vị cư sĩ hoặc không phải cư sĩ nhưng có nhiều đức hạnh đặc biệt.
Đức Thế Tôn tu những hạnh hiền thiện như vậy, ngài sanh ra trên cõi đời này vượt hơn tất cả những người khác ở mười phương diện, sanh ra ở cõi trời là hơn trời, sanh ra ở cõi người là ở trên đỉnh cao tột cùng của người, tuổi thọ của ngài hơn người, sắc đẹp cũng hơn, niềm vui, tiếng tăm, danh xưng, sức mạnh, sắc tướng, âm thanh, mùi hương, những vị mà ngài nếm và sự tiếp xúc của ngài đều vượt hơn hết tất cả, lòng bàn chân của ngài tròn trịa, bằng phẳng, những tướng này là do cái tâm cung kính, kiên trì với thiện pháp mà ngài có được. Khi lễ kính là mình lạy, nghĩa là đem chỗ cao nhất là đỉnh đầu lạy xuống chỗ thấp nhất là bàn chân người được cung kính và cuối cùng là ngài có được bàn chân viên mãn.
"Vị này chinh phục và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao, trị vì đất này cho đến hải biên, một cõi đất không hoang vu, không có tướng nguy hiểm, không có gai góc, phồn vinh, phong phú, an ổn, may mắn, không có nguy hiểm. Làm vua được những gì? Làm vua không bị người thù hay kẻ địch làm trở ngại. Làm vua được lợi như vậy. Nếu Ngài xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, Ngài thành bậc A-La-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Làm Phật được lợi những gì? Ngài không bị người thù hay kẻ địch ở trong cũng như ở ngoài, không bị tham, sân, si, không bị Sa- môn, Bà-la-môn, thiên, Ma, Phạm thiên hay bất cứ một ai ở ngoài đời là trở ngại. Làm Phật được lợi như vậy" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Nếu ngài không xuất gia mà ngài ở hoàng cung làm vua hoặc những đời trước của ngài làm vua thì ngài không có kẻ thù hoặc kẻ địch làm trở ngại, còn khi ngài xuất gia thành tựu Chánh Giác thành Phật thì ngài cũng không một ai dù là ma hay Phạm thiên làm trở ngại vì tâm ngài cung kính đối với tất cả, trong nhiều kiếp ngài không gây oán thù với bất kì ai để tích tụ sân hận cho nên khi sanh ra ngài không có kẻ địch.
"Sống chân thực đúng Pháp,
Ðiều phục và tự chế,
Sống với hạnh thanh tịnh,
Ngày trai giới, Bồ tát.
Bố thí, không bạo động,
Không làm hại một ai,
Tâm kiên cố hành trì,
Sống thật sự toàn diện.
Với hạnh nghiệp như vậy,
Ngài được sanh cõi Trời,
Sống trong niềm hoan hỉ,
An lạc vô cùng tận.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Với bàn chân bằng phẳng,
Chạm đất thật đều đặn.
Các bậc chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Không ai làm trở ngại,
Vị bàn chân bằng phẳng.
Dầu tại gia, xuất gia.
Nghĩa tướng thật rõ ràng,
Nếu sống tại gia đình,
Không bị trở ngại gì,
Chiến thắng mọi quân thù.
Ðại phá cả quân địch,
Không ai ngăn chặn được,
Vị nghiệp báo như vậy.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thiểu dục sáng suốt,
Là bậc Thánh siêu phàm,
Không còn phải thai sanh,
Bậc Vô Thượng, Chánh Giác,
Pháp nhĩ là như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Bàn chân của ngài chẳng những tròn trịa, bằng phẳng mà còn có hình bánh xe và các bộ phận đầy đủ của chiếc xe.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, sống vì hạnh phúc cho chúng sanh, trừ diệt mọi sợ hãi kinh hoàng, sắp đặt sự che chở, hộ trì, bảo vệ đúng Pháp, bố thí cho các người tùy tùng. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của sự nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cõi thiện thú, thiên giới hay đời này... Ngài từ trần từ chỗ kia sanh đến chỗ này được tướng Ðại Trượng phu này: Dưới bàn chân, có hình bánh xe hiện ra, với một ngàn tăm xe, với bánh xe, trục xe, các bộ phận hoàn toàn đầy đủ". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Khi qua các nước Thái Lan hoặc Myanmar sẽ thấy dưới bàn chân Phật nằm được khắc hình bánh xe có ngàn căm xe. Cái tướng thứ hai là do ngài sống vì hạnh phúc của chúng sanh, vì lo cho người khác, tâm của ngài rất vĩ đại, tìm cầu hạnh phúc rộng lớn chứ không phải hạnh phúc thông thường. Nếu đứng đầu quốc gia thì ngài luôn dùng nhân đức để trị vì, ngài luôn nghĩ đến ân xá, có thiên tai dịch bệnh là ngài mở quốc khố phân phát cho dân. Chính vì có những tướng tốt này mà ngài A-tư-đà xem tướng cho Thế Tôn lúc ngài mới sanh ra đã khóc, vua Tịnh Phạn bất ngờ hỏi thì ngài A-tư-đà nói ông đã già yếu sắp chết nên không có cơ hội được nhìn thấy bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chuyển chánh pháp luân ở đời. Ngài sống vì chúng sanh, trừ diệt mọi sự sợ hãi, ngài đem đến sự bình an cho mọi người, đem đến cảm thọ an ổn khi người ta đang bất an, lo lắng, sợ hãi, sắp đặt sự che chở, bảo hộ cho mọi người một cách đúng pháp, những người đi theo ngài hưởng được lợi ích. Với những đức hạnh, hành động thiện lành đó được chất chứa, tích tụ, tăng trưởng nhiều đời nhiều kiếp nên khi nhắm mắt ra đi nếu sanh lên trời sẽ được làm vua trời, còn sanh dưới nhân gian sẽ làm quân chủ, nhân gian thiên thượng sanh ra chỗ nào cũng làm thống lãnh, sanh chỗ nào cũng là tối thắng, tối thượng.
"Ngài đầy đủ tướng này, nếu ở tại gia thành vị Chuyển Luân Thánh vương... Làm vua được những gì? có nhiều kẻ hầu cận. Số hầu cận rất đông, có cư sĩ, Bà la môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư pháp quan, vệ sĩ, thủ môn quan, các đại thần, các chư hầu, các hào phú, các vương tử. Làm vua được như vậy. Nếu Ngài xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, ngài thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời. Làm Phật được những gì? Ngài có đại chúng hầu cận, số đại chúng rất đông, gồm có Tỳ-kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, các loài Thần rắn, Càn thát bà. Làm Phật được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Ngài là người sống vì hạnh phúc cho chúng sanh nên ngài sanh chỗ nào là có quyến thuộc chỗ đó, có vệ sĩ, hầu cận lo lắng, bảo vệ xung quanh. Nếu ngài xuất gia không những có các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, nam nữ cư sĩ mà đến trời, các loài thần thánh, thần rắn, thần âm nhạc cũng đi theo bảo hộ cho ngài, khi ngài gặp mưa bão có rắn thần nhiều đầu bò ra che lại cho ngài. Nhưng không phải tự nhiên ngài được như vậy mà do ngài diệt trừ mọi sợ hãi kinh hoàng, luôn che chở, hộ trì, bảo vệ đúng pháp cho mọi người, ở bên trong tâm ngài diệt tham, sân, si, từ bi hỷ xả, còn bên ngoài ngài luôn quan tâm, lo lắng, giúp đỡ cho mọi chúng sanh, ngài có nhân viên mãn nên quả cũng viên mãn.
"Trong những năm đã qua,
Trong những đời quá khứ,
Khi Ngài được làm Người,
Khiến nhiều người hạnh phúc.
Ngài trừ diệt kinh hoàng,
Hộ trì và bảo vệ,
Nhờ nghiệp ấy, sanh Thiên,
Hưởng an lạc hạnh phúc.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Dưới hai bàn chân Ngài,
Có bánh xe hiện ra,
Với bánh xe đầy đủ,
Ðủ một ngàn căm xe.
Các bậc chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Khi thấy trăm đức này:
Ðược quần chúng bao vây,
Ðịch quân được nhiếp phục,
Như bánh xe quay tròn,
Với vành xe đầy đủ.
Nếu Ngài không xuất gia,
Sống đời sống như vậy,
Ngài chuyển vận bánh xe,
Trị vì khắp cõi đất.
Ở đây Sát đế lỵ,
Ðều chịu thần phục Ngài,
Hầu hạ chung quanh Ngài,
Là bậc Ðại danh xưng.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thoát dục, sáng suốt,
chư Thiên và loài Người,
Ðế thích và Dạ xoa,
Càn thát bà, Long xà,
Phi điểu, loài bốn chân,
Tất cả đoanh vây Ngài,
Là bậc Ðại danh xưng,
Bậc Vô Thượng, Chánh Giác,
Ðược Thiên, Nhơn cung kính". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Nếu ngài xuất gia sống ly dục, sáng suốt thì trời, người, vua trời, Dạ-xoa, thần, rồng, rắn, chim và các loài thú bốn chân đều đoanh vây ngài. Qua đây chúng ta thấy rằng việc gì cũng có nhân quả, không có gì tự nhiên cả, được quả ngày hôm nay là do nhân tích tụ, gieo trồng trong biết bao đời kiếp quá khứ vừa qua.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, từ bỏ sát sanh, chế ngự sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương sót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới hay đời này... Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này, được ba tướng Ðại Trượng phu này: gót chân thon dài, ngón tay, ngón chân dài và tay chân mềm mại" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Gót chân ngài thon dài, ngón tay, ngón chân thon dài mềm mại, tươi đẹp là do những đời trước ngài từ bỏ sát sanh, chế ngự việc giết hại chúng sanh, từ bỏ gậy gộc, đao kiếm, biết xấu hổ và sợ hãi đối với các ác bất thiện pháp, sống thương xót đến hạnh phúc các chúng sanh và các loài hữu tình. Sau khi tích lũy những thiện pháp đó khi sanh lên trời làm vua trời, sanh ra trong nhân gian thì được ba tướng đại trượng phu là gót chân thon dài, ngón tay, ngón chân mềm mại.
"Ngài đầy đủ ba tướng này, nếu sống tại gia sẽ thành vị Chuyển luân thánh vương... Làm vua được những gì? Thọ mạng lâu dài, được sống lâu năm, thọ mạng được hộ trì lâu dài, không một người nào dưới hình thức kẻ thù hay kẻ nghịch có thể hại mạng sống Ngài. Làm vua được như vậy... Làm Phật được những gì? Thọ mạng lâu dài, được sống lâu năm, thọ mạng được hộ trì lâu dài, không một kẻ thù, kẻ nghịch nào có thể hại được mạng sống Ngài, dưới hình thức Sa môn, Bà la môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay bất cứ ai trong đời. Làm Phật được như vậy" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Nếu ở đời không đi tu sẽ được tuổi thọ dài lâu, không bị bất cứ người thù địch nào hại mạng, nếu thành Chánh Giác thì thọ mạng lâu dài, cũng không ai hại được mạng của ngài dù đó có là ai đi nữa. Đề-bà-đạt-đa âm mưu hãm hại Thế Tôn biết bao lần nhưng không thành công, không một ai có thể làm tổn hại đến sinh mạng của ngài do ngài từ bỏ sát sanh, từ bỏ các loại vũ khí, sống với tâm từ mẫn, lòng thương yêu hữu tình cho nên ngài không bị ai giết dù ở đời hay đi xuất gia. Những án mạng xảy ra không phải tự nhiên, những người đó đều có oan gia trái chủ với nhau, những tai nạn bất trắc, bất thường xảy ra cũng đều do nghiệp quả, gia đình chú Phật tử thường đến chùa hộ trì tam bảo bị nhiễm dịch bệnh 15 người nhưng không có điều gì đáng tiếc xảy ra, Minh Thành nói đó là nhờ phước của gia đình.
"Tự biết mình sợ hãi,
Sợ chết sợ tàn hại,
Ngài từ bỏ giết hại,
Hết mọi loài chúng sanh.
Nhờ sống hành thiện pháp,
Ðược sanh lên cõi Trời,
Tự hưởng quả dị thục,
Do thiện báo đem lại.
Từ chỗ kia mạng chung,
Tái sanh lại chỗ này,
Ðược hưởng tại nơi đây,
Ba Ðại trượng phu tướng:
Gót chân đầy và dài,
Thân thẳng như Phạm thiên.
Khả ái, hình vóc đẹp,
Khéo cân xứng, khéo sanh,
Các ngón tay, ngón chân,
Ðều mềm mại trẻ đẹp.
Với ba tướng Trượng phu,
Sống lâu luôn luôn trẻ.
Nếu sống tại gia đình,
Thọ mạng sẽ lâu dài.
Nếu sống đời xuất gia,
Tuổi thọ được dài thêm,
Như vậy tướng hảo này,
Là tướng tuổi trường thọ". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Khả ái là đáng yêu, Minh Thành thấy có những người mới mười mấy tuổi nhưng nhìn như năm sáu chục tuổi, họ cao chỉ 1m2 hoặc 1m4 thôi, có những người còn rất nhỏ tuổi nhưng vẻ ngoài lại rất già cả, xấu xí hoặc có những người qua bao năm nhìn lại họ vẫn như vậy, không thấy già đi chút nào, vẫn tươi trẻ, đó là do thiện nghiệp từ đời trước nên họ được như vậy. Có người nhìn già nua, héo úa, cằn cỗi nhưng lại có người nhìn vào lại thấy tươi tắn, tươi sắc, tất cả đều do phước của những người đó. Nhìn thấy người xấu xí, tàn tạ cũng xót xa trong lòng vì dù sao cũng là một kiếp người nhưng tại sao họ lại bị như vậy, sanh ra là bị bại liệt, bại não, tâm thần… Cho nên khi tu tập thiện pháp thì tướng người sẽ thay đổi theo chiều tích cực, càng làm nhiều ác pháp thì thân tướng cũng thay đổi theo chiều tiêu cực cho nên "tướng tự tâm sanh, tướng tùy tâm diệt" vì thế muốn đẹp, tươi trẻ thì cần tu tập tâm thiện.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, là vị bố thí các món ăn loại cứng loại mềm, các loại liếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới hay đời này... Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này, được tướng Ðại Trượng phu này là bảy chỗ tròn đầy. Bảy chỗ tròn đầy là hai tay tròn đầy, hai chân tròn đầy, hai vai tròn đầy và thân hình tròn đầy" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Tròn đầy ở đây nghĩa là đầy đặn cân đối, viên mãn. Minh Thành có thói quen ai đến thăm là hỏi người đó ăn chưa, uống chưa, có thức ăn gì đều đem hết ra cho họ, như vậy Minh Thành đi khắp thế giới được ăn đầy đủ các món, nhân quả tuyệt vời như vậy. Lúc mình thiết đãi người ta không nghĩ sẽ có ngày người ta cho ăn lại mà chỉ nghĩ đừng để người ta đói, không muốn người ta khát, đừng để người ta lạnh, vậy mà nhìn lại mình chỉ là một người bình thường ở quê lên thành phố tu học mà có ngày được đi giảng pháp ở Úc, Mỹ, Đài Loan, Hồng Kông, đều là các nước phát triển, đó là do cái pháp như vậy, mình chỉ nghĩ rằng pháp thực phải sung mãn, đầy đủ, nếu nói pháp trong khi người ta đói lạnh thì làm sao nghe được cho nên phải có vớ, có khăn, có nón, áo, cơm, đồ ăn, thức uống, phòng ốc… Cho nên việc bố thí thức ăn rất hay và tuyệt diệu, khách đến nhà không trà cũng bánh vì thế bàn tiếp khách lúc nào cũng phải có nước, nếu khách đến vào giờ cơm thì phải đãi cơm, có những vị Phật tử từ rất xa đến thăm giữa mưa bão, dịch bệnh, hai mẹ con lên núi ôm theo thùng thuốc và sữa cho ông Năm, đó là tấm lòng của người Phật tử, Minh Thành xuống bếp có gì là đem lên nhưng chỉ còn đúng một chén tàu hủ, người ta cũng ăn rồi khen, hoan hỉ, chẳng những có pháp mà còn có thực. Minh Thành nói với Phật tử đó vì Minh Thành có đi qua nước ngoài nên biết bên đó người ta rất quý tình quê hương, người ta không thiếu gì cả mà chỉ thiếu tình quê hương cho nên phải sống có tình có nghĩa, có trước có sau, có nhân có hậu là điều tuyệt đối quan trọng, nếu không có cái này thì làm người còn không xong thì làm sao thành Thánh?
Đây là chỗ rất quan trọng, cho nên không chỉ có nói lý, nói pháp mà cần phải sống có tình nghĩa, nhiều người nói pháp cho nghe không nhớ được gì mà chỉ nhớ hôm đó vừa đói vừa lạnh được sư cô dọn cơm cho ăn, cho áo ấm mặc, đó là mới chỗ cảm hóa người ta chứ người ta đang đói đang lạnh mà mình đi giảng pháp nói về bất tử thì làm sao nghe được, "có thực mới vực được đạo" hoặc là "pháp luân vị chuyển, thực luân tiên" nghĩa là phải no căng cái bụng đã thì mới có thể nói chuyện đạo, nhiều Phật tử gọi về nói tuy chỉ là chùa tranh vách lá nhưng tình người vô cùng đậm đà, Minh Thành nghe mà ấm lòng vô cùng.
Mình học từ bi, mình nói về tâm thương nhưng khi gặp chuyện khổ mình lại không thấy, người ta ở tận miền tây hoặc ở ngoài bắc, không thì từ nước ngoài về thăm chùa thì đó là cả một tấm lòng vì thế Minh Thành hay nhắc nhở đại chúng sống phải có thủy có chung, có tình có nghĩa, có trước có sau, có nhân có hậu, phải thành tựu được những cái này rồi sau đó mới học những pháp Thánh hiền. Cho người ta một chung trà ấm, một chiếc áo ấm, một bữa cơm dù là đơn sơ chính là thể hiện sự quan tâm, lo lắng, khi người ta đã ấm áp, no bụng rồi mình nói pháp người ta mới cảm nhận được, đó là lý do nhiều người đi rồi vẫn nhớ và muốn về thăm chùa, có những chỗ nguy nga tráng lệ nhưng lại thiếu sự ấm áp của tình người cho nên tình người rất quý giá. Như Lai từ nhiều đời đã bố thí các món ăn, thức uống cho nên nhân quả ngài nhận lại là "bảy chỗ tròn đầy là hai tay tròn đầy, hai chân tròn đầy, hai vai tròn đầy và thân hình tròn đầy".
"Ngài đầy đủ tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương... Làm vua được những gì? Ðược các món ăn, loại cứng, loại mềm, các loại nếm, loại liếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Làm vua được như vậy... Làm Phật được những gì? Ðược các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại nếm, loại uống, cao lương mỹ vị. Làm Phật được như vậy" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Khi ngài làm vua thì được các món ăn cao lương mỹ vị, khi làm Phật thì các quốc vương, đại thần, thiên tử lạy dưới chân dâng lên món ăn.
"Bố thí các món ăn,
Thượng vị hợp sở thích
Loại cứng vị hợp sở thích
Loại cứng và loại mềm,
Loại liếm cả loại nếm.
Nhờ hành thiện tốt đẹp,
Sống lâu thiên hỷ lạc.
Ðược sanh tại chỗ này,
Với bảy chỗ tròn đầy.
Với tay chân mềm mại,
Nhà chiêm tướng thiện xảo,
Tuyên bố Ngài đầy đủ,
Món ăn thật ngon lành,
Loại cứng và loại mềm.
Không riêng gì tại gia,
Ðược tướng hảo như vậy,
Nếu sống hạnh xuất gia,
Cũng được hảo tướng ấy.
Món ăn thật thượng vị
Loại cứng và loại mềm,
Chặt đứt các trói buộc
Tất cả hàng cư sĩ" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Sau đây sẽ là một tướng tốt nữa của Đức Phật.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất kỳ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, được đầy đủ Bốn Nhiếp pháp: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cõi thiện thú, Thiên giới, hay đời này. Ngài từ trần từ chỗ kia, sanh đến chỗ này với hai tướng Ðại Trượng phu: Tay chân mềm mại, và có lưới da giữa ngón tay, ngón chân". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Có lưới da giữa ngón tay, ngón chân thì có thể bây giờ không hợp nhưng thời đó đây tướng hảo, là tướng đẹp, tướng thời thượng lúc bấy giờ, đây là quý tướng của bậc đại nhân. Tùy theo quan điểm vùng miền, dân tộc, thời đại cho nên mành lưới giữa tay chân là tướng quý hiếm, có được tướng quý này do Như Lai từ nhiều đời đã bố thí, nói lời từ ái, làm những việc lợi ích và đồng sự với mọi người.
"Ngài đầy đủ hai tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương... Làm vua được những gì? Ðược khéo thâu nhiếp các vị tùy tùng. Ðược khéo thâu nhiếp các cư sĩ, Bà-la-môn, thị dân, thôn dân, tài chánh quan, tư pháp quan, thủ môn quan, các đại thần, các chư hầu, các hào phú, các vương tử. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Ðược khéo thâu nhiếp các vị tùy tùng, được khéo thâu nhiếp các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, các Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, Long thần, Càn-thát-bà. Làm Phật được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Tu tập đầy đủ Bốn Nhiếp pháp mà ngài được tay chân mềm mại, có lưới da giữa các ngón tay, ngón chân. Khi làm vua thì khéo thâu nhiếp các tùy tùng ở mọi tầng lớp, ngài đem đến lợi ích cho mọi người nên tất cả đều quy hướng, đi theo ngài. Do tu tập bốn pháp đó nên ngài được lòng người, khi thành Phật ngài cũng khéo thâu nhiếp các vị "Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, các Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, chư Thiên, loài Người, A-tu-la, Long thần, Càn-thát-bà".
"Bố thí và lợi hành,
Ái ngữ và đồng sự,
Nhiếp phục nhiều tùy tùng.
Do hành thiện pháp này,
Nhờ vô lượng công đức,
Ðược sanh lên cõi Trời.
Tạ thế tại chỗ kia,
Tái sanh tại chỗ này,
Do hạnh ấy tay chân,
Mềm mại và có lưới.
Ðược sắc tướng đoan nghiêm,
Mỹ lệ và khả ái
Dầu còn là niên thiếu,
Trẻ thơ măng sữa vậy,
Quần chúng chịu tùy thuận,
Nhiếp phục cõi đất này.
Luôn luôn dùng ái ngữ,
Cầu hạnh phúc quần sanh.
Như vậy sống thanh tịnh,
Với công đức thù thắng
Nếu Ngài sống từ bỏ,
Mọi dục lạc tài sản,
Tuyên thuyết vi diệu pháp,
Vị chiến thắng quần sanh,
Họ nghe tâm hoan hỉ,
Vâng hành lời Ngài dạy.
Họ sống thiện hành trì,
Theo Chánh pháp, Tùy pháp". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Dù chỉ là trẻ thơ hoặc đang ở tuổi thiếu niên nhưng quần chúng đều nghe theo ngài, ngài nói những lời từ ái để cầu hạnh phúc cho chúng sanh. Ngài sống cuộc đời thanh tịnh với công đức thù thắng, từ bỏ mọi dục lạc ở thế gian cho nên khi ngài nói pháp tất cả mọi người đều nghe theo.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, Như Lai là một vị nói lời liên hệ lợi ích cho chúng sanh, liên hệ đến pháp, giải thích cho đại chúng, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, tán dương chánh hạnh. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp... Ngài từ trần từ chỗ kia và tái sanh ở đây với hai tướng Ðại Trượng phu: mắt cá tròn như con sò và lông mọc xoay tròn thẳng lên.
Ngài đầy đủ với những tướng như vậy, nếu sống tại gia, thành vị Chuyển luân Thánh vương... Làm vua được những gì. Tài vật dục lạc đều tối thắng, tối ưu, cao tột, đệ nhất. Làm vua được như vậy... Làm Phật được những gì? Ngài trở thành bậc tối thắng, tối ưu, cao tột, đệ nhất cho toàn thể chúng sanh. Làm Phật được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Mỗi cọng lông của ngài xoáy tròn thẳng lên, mắt cá tròn như con sò do ngài nói lời liên hệ đến lợi ích cho chúng sanh. Khi làm vua ngài được những thứ tối ưu, tối cao, đệ nhật. Khi thành Phật trở thành bậc tối tôn, tối thượng, tối thắng trong toàn thể chúng sanh.
./.