Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 4
Tinh Hoa Nikāya
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sáu thức PAGEREF _Toc183018300 \h 1
II. Xúc PAGEREF _Toc183018301 \h 4
III. Ước muốn tăng thượng trong Chánh Pháp PAGEREF _Toc183018302 \h 7
I. Sáu thức
Có một thầy hỏi về cái thức thì Minh Thành giải thích luôn để chúng ta nắm được. Ý thức là biết được thọ; tưởng; hành, còn năm thức trước:
Thấy rõ, biết rõ người, cảnh, vật - NHÃN thức
Nghe rõ, biết rõ lời nói, âm thanh - NHĨ thức
Rõ biết mùi hương thơm, thối - TỶ thức
Rõ biết vị ngọt, chua, cay - THIỆT thức
Rõ biết thân đụng chạm người, vật - THÂN thức
Rõ biết thọ, tưởng, hành - Ý thức.
Bây giờ mình sẽ thực tập nhận diện nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, nhiều khi mình nói 6 thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức là xong nhưng vào thực tế mình lại không biết gì cả, đó là lý do đây là môn pháp hành, nghĩa là học để thực hành được, học để vận dụng được. Nhãn thức là rõ biết được thân người, cảnh vật, nếu mình nói nhãn thức là cái biết của con mắt thì lúc mình ngủ là không còn biết nữa, lúc mình xỉu là không còn biết, lúc mình chết là không còn biết cho nên nói nhãn thức là sự rõ biết của con mắt là không được mà phải là sự rõ biết thân người, cảnh vật thì sự rõ biết đó mới là nhãn thức chứ không phải cái biết của con mắt.
Trước nay mình học nhãn thức là cái biết của con mắt là không đúng, nếu là cái biết của con mắt thì lúc ngủ cái biết đó ở đâu? Lúc mình ngất xỉu cái biết đó ở đâu? Lúc chết rồi thì làm sao còn cái biết đó nữa? Vì vậy sự rõ biết đó khác nhau, đó không phải là sự rõ biết của con mắt, khi mình thấy con người, cảnh vật thì mình phải biết sự rõ biết này là nhãn thức chứ không phải là "tôi thấy", không phải có một cái tôi để thấy mà cái thấy này là do duyên sanh.
"-Do duyên có mắt và các sắc, sanh khởi Nhãn thức (rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhãn xúc. Do duyên có Nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.
Mắt + Sắc => Nhãn thức => Nhãn xúc => Thọ do Nhãn xúc sanh + Sắc tưởng + Sắc tư.
-Do duyên có tai và các tiếng, sanh khởi Nhĩ thức (nghe rõ, rõ biết các âm thanh). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhĩ xúc. Do duyên có Nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.
Tai + Tiếng => Nhĩ thức => Nhĩ xúc => Thọ do Nhĩ xúc sanh + Thanh tưởng + Thanh tư" (Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Khi nghe âm thanh hồi hướng thì mình thấy nôn nao, có một cảm giác thúc giục trong người, đó chính là sự nhận diện. Tại sao chúng ta có cảm giác thúc giục, nôn nao muốn về? Vì có lỗ tai, có âm thanh hồi hướng, có sự rõ biết âm thanh đó, ba pháp này gọi là sự tiếp xúc của lỗ tai là nhĩ xúc, khi tiếp xúc thì sanh ra cảm giác, cảm thọ. Do có sự hội tụ của ba pháp âm thanh, lỗ tai và sự rõ biết âm thanh hội tụ, giao thoa với nhau thì cái này gọi là sự tiếp xúc của lỗ tai là nhĩ xúc. Nếu không có sự chánh niệm tỉnh giác thiền định là chúng ta không thể nhìn ra được các pháp vì nó diễn ra cực kì nhanh, đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật, trong tích tắc mà Đức Phật nhìn ra được căn – trần – thức – xúc – thọ – ái.
Nhĩ căn + thanh trần + nhĩ thức => nhĩ xúc thọ do nhĩ xúc sanh => tham ái, sân hận, si mê.
Cảm thọ này là cảm thọ nôn nao, thúc giục, khoan khoái muốn về sớm, có cảm giác, suy nghĩ và hình bóng bước ra cửa hiện ra, đó chính là các pháp vận hành, sau khi sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh thì mình tham ái hoặc sân hận hoặc là si mê. Bây giờ muốn trị cảm giác nôn nao muốn về thì phải làm sao? Mình kêu cảm thọ trong lồng ngực của mình "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào", đó là pháp lệnh để dạy dỗ, giáo dục, huấn luyện cảm thọ, cái này rất quan trọng. Trước giờ chúng ta học chung chung về căn – trần – thức vậy thôi, còn giờ chúng ta học thật kĩ, có lỗ tai, các tiếng và sự rõ biết các tiếng, ba pháp này hội tụ giao thoa, tiếp xúc với nhau sanh ra cảm giác.
Khi chúng ta nhìn ra được sự vận hành của căn – trần – thức – xúc – thọ có tham, sân, si như vậy thì gọi là thấy pháp, thấy được thân tâm, thấy được trạng thái đang sanh khởi như thế nào, nó an trú như thế nào, nó vận hành như thế nào trong thân tâm chúng ta đều thấy được thì đó là thấy được pháp, là chánh kiến, là thấy đúng về thân tâm của mình. Vô văn phàm phu với Đa văn Thánh đệ tử khác nhau chỗ nào? "Thầy ơi cho về đi, mệt quá" thì đó là vô văn phàm phu, còn người nhìn thấy tất cả sự vận hành này là bậc Đa văn Thánh đệ tử, là bậc thấy pháp, bậc kiến pháp, là bậc có pháp nhãn, bậc có minh trí, bậc nhìn thấy được thân tâm của mình, thấy được ngũ uẩn, thấy được các pháp vận hành.
Sau khi chúng ta có thọ do nhĩ xúc sanh thì chúng ta sẽ có thanh tưởng, thanh tư (hành), cái tiếng hồi hướng đó không còn nữa nhưng vẫn vang vọng, dư âm của âm thanh đó còn đọng lại trong mình, thanh tưởng là mình hồi tưởng lại âm thanh hồi hướng đó, thanh tư là mình suy nghĩ về âm thanh đó cho nên thọ; tưởng; hành đi chung với nhau.
Chúng ta bắt đầu thấy được các pháp, chúng ta bắt đầu thấy được thân tâm chúng ta hoạt động như thế nào trong khi thấy, khi nghe, trong khi ngửi, khi nếm. Do duyên có con mắt, có sắc, sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa lại gọi là nhãn xúc, là sự tiếp xúc của con mắt, khi con mắt tiếp xúc sẽ sanh ra thọ do nhãn xúc sanh, nếu món đồ đó đẹp hoặc là người mình quý, mình thích thì sau khi trở về nhà sẽ có sắc tưởng, sắc tư, hình bóng của người đó chập chờn trong tâm mình là sắc tưởng, mình suy nghĩ về hình bóng đó gọi là sắc tư, đây chính là duyên sanh pháp, là sự chứng ngộ của Đức Phật.
Hai cái làm mình ấn tượng nhiều là tham với sân, người thương và người ghét làm mình ấn tượng nhiều, còn người không thương không ghét sẽ không nhớ nhiều, vì vậy cái tham và sân sẽ nổi trội. Người thương hiện diện trong tâm mình gọi là sắc tưởng, hình bóng người đó thuộc về tưởng nhưng là tưởng về sắc cho nên gọi là sắc tưởng, còn hồi tưởng tiếng nói là thanh tưởng, nếu mình đi ngang ai đó có mùi thơm gọi là hương trần, mình trở về nhà hôm sau mình vẫn hồi tưởng lại mùi hương đó thì gọi là hương tưởng. Nếu mình ăn một món rất ngon, vài ngày sau mình vẫn còn nhớ đến món đó thì đó là vị tưởng, nếu mình đụng chạm với cái gì êm ái, 1 năm sau mình vẫn còn nhớ thì gọi là xúc tưởng.
II. Xúc
Xúc này rất ghê gớm vì cái xúc này sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành, cầm đồ đưa nhau thì tay chạm tay đó là thân xúc, khi xúc như vậy sẽ sanh ra cảm thọ, đó là thọ do thân xúc sanh, rồi có xúc tưởng, xúc tư, hồi tưởng lại cảm giác, hình bóng lúc đụng chạm, có suy nghĩ về cảm giác đó. Những thứ này quậy trong tâm mình khủng khiếp, xâm chiếm, áp đảo thân tâm của mình, suốt cuộc đời mình không ra khỏi những hình bóng, cảm giác và suy nghĩ đó cho nên tất cả chúng sanh bị đè bởi ngũ hành sơn, tức là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Bàn tay chính là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, có đi đâu cũng không thể ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chỉ có bậc Thánh mới ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Tất cả phàm phu, chư thiên, chư thần làm sao có thể ra khỏi ngũ uẩn cho nên Tôn Ngộ Không bay mãi vẫn không thoát khỏi bàn tay của Như Lai Phật tổ.
Chúng ta có con mắt, có hình sắc bên ngoài và sự rõ biết những hình sắc đó, như vậy tạo thành cái gọi là nhãn xúc là sự tiếp xúc của con mắt, khi con mắt tiếp xúc tạo thành thọ do nhãn xúc sanh, thế là có thọ; tưởng; hành đi theo, tưởng về hình bóng khi con mắt nhìn thấy, có những suy nghĩ đi theo sau đó gọi là sắc tưởng, sắc tư và có tham, sân, si, dục, ái trong đó. Có khi cái hình bên ngoài lại ít làm khổ chúng ta hơn là cái hình trong tâm, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh chị em được nhưng không bỏ được những hình bóng trong tâm, đó là ý trung nhân, là người ở trong tâm của mình, đó là chúng ta bị sắc ám ảnh.
Kẻ vô văn phàm phu bị sắc ám ảnh, bị cảm giác ám ảnh, bị những tưởng ám ảnh, bị những suy nghĩ ám ảnh, bị thức ám ảnh. Kẻ vô văn phàm phu bị sắc tàn hại, bị thọ tàn hại, bị những cảm giác tàn hại, bị những suy nghĩ tàn hại, bị thức tàn hại, tàn phá thân tâm. Nó làm cho tàn tạ, tả tơi, nó làm cho thân tàn ma dại, tiều tụy, bị bệnh tương tư, ăn không ngon ngủ không yên, nhảy cầu, nhảy lầu, nhảy sông vì những hình bóng là tưởng ám ảnh trong tâm, những cảm thọ, nhận thức, suy nghĩ đó cứ quay cuồng trong tâm không đi ra được như kiến bò miệng chén, kẻ vô văn phàm phu bị sắc trói buộc, bị thọ; tưởng; hành; thức trói buộc, ám ảnh giống như con chó bị cột vào cây bởi một sợi dây thừng. Con chó này có đi, đứng, ngồi, nằm cũng ở bên cây cột, có sủa, có kêu, có làm bất cứ điều gì cũng chỉ quanh cây cột. Chúng sanh có làm cái gì cũng ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không đi ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vô minh và khát ái.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Vô minh là không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, khát ái làm tham muốn, thèm khát, khao khát, là những cảm giác thèm muốn, thúc giục, khao khát, những suy nghĩ thúc giục, thèm muốn, khao khát, những tư tưởng, hình bóng cứ ẩn hiện chập chờn. Mình thoát ra khỏi nó không được vì bị nó nhận chìm, bị nó vây hãm, bao vây, bị nó trói cột, giam cầm, mình bị những cảm giác, nghĩ tưởng này phong tỏa, ám ảnh, nó sai khiến mình, nó làm cho sầu, bi, ưu, não. Đó là toàn cảnh của thế giới, của chúng sanh, của nhân loại, tất cả đều nằm trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nằm trong sầu, bi, khổ, ưu, não, trong sanh, già, bệnh, chết, trong tham, sân, si, vô minh và bản ngã.
Nhìn đâu cũng thấy thích, thấy khoái, đó là si mê, vô minh, không nhận rõ các pháp, không có một cái "mình" nào ở đây và tất cả đều là các pháp vận hành, căn và trần khởi lên sự rõ biết là thức, ba pháp này là sự tiếp xúc, mắt tiếp xúc sanh ra cảm thọ khoan khoái, thích thú, thế là về nhà hình bóng cứ hiện ra trong tâm, cứ suy nghĩ về hình bóng đó, chính là sắc tưởng, sắc tư rồi mình bị đắm chìm trong đó, đối với căn nhà cũng vậy, chiếc xe, ngôi chùa cũng vậy, đối với con người càng khủng khiếp hơn nữa.
Các sắc bên ngoài hại mình ít hơn là sắc tưởng trong tâm, nó ám ảnh mình làm mình thoát ra không được, có nhiều người cứ thơ thẩn, đờ đẫn, sống trong ảo tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng, trong điên đảo tưởng, tất cả đều là tưởng uẩn nhưng họ không biết mà cứ nghĩ là "tôi nghĩ", "tôi nhớ thương mãi" hoặc là "tôi tức giận", "tôi thù hận"… chỉ có tham hoặc sân, nhớ lại hình bóng người làm mình khổ là tức giận, càng nhớ càng tức, càng tức thì càng bực, càng bực thì nực, càng nực thì càng phựt, càng phựt thì càng đốt, càng đốt thì càng tàn phá thân tâm, hủy hoại trong những cảm giác.
Cái thương yêu cũng tàn phá, cái thù hận cũng tàn phá nhưng tất cả chúng sanh đều đang đắm chìm hết trong đó, đau khổ trong đó, sầu, bi, ưu, não trong đó vì không thấy được các pháp vận hành, lúc nào cũng thấy tôi, của tôi, tự ngã của tôi, "tôi buồn", "tôi chán", "tôi mệt", "tôi muốn", "tôi thích", cái gì cũng gắn chữ "tôi" vào rồi sầu, bi, khổ, ưu, não, thật sự là không có cái "tôi" nào ở đây cả.
Lỗ tai là sắc, là tứ đại, âm thanh là phong đại, khi nói chuyện là phong đại chuyển động, nếu phong đại không đủ thì thều thào, nói không ra hơi hoặc là bị liệt, không ngồi dậy được, phong đại không còn phát huy được nữa, những cái trợ duyên cho phong đại không còn nữa nên nó không phát huy được, cũng như có điện nhưng bóng đèn bị hư thì không có ánh sáng cho nên thanh trần cũng là phong đại, tất cả đều không ra khỏi ngũ uẩn, tất cả trời đất, vũ trụ đều ở trong ngũ uẩn nhưng mình lại không thấy không biết điều này. Tứ chi mình có năm ngón, ngũ hành có 5 thứ là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, trong thân mình là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cái nào cũng 5, đó là con số hình thành nhân sinh vũ trụ của chúng sanh.
Khi mình chưa nhận diện được ngũ uẩn, khi chưa thành tựu cái thấy đúng về pháp thì mình rất lầm tưởng, ví dụ sáng thức dậy tụng chú Lăng Nghiêm, chiều tụng kinh A-di-đà hoặc là đi học về ăn cơm rồi nghỉ ngơi, hoặc làm chấp tác. Mình thấy mỗi ngày trôi qua đều như vậy thì mình nghĩ tu như vậy là an lạc nhưng đi sâu vào thì không phải như vậy, có rất nhiều cấp độ nhưng ở đây chỉ nói cấp độ chúng ta đang học thôi, chúng ta sẽ có cảm giác an toàn, chấp nhận chứ không có cảm giác cầu tiến, không tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng trí tuệ, chúng ta sẽ an phận thủ thường, đây là cái giết mình chết vậy mà mình lại cho đó là an lạc, điều này rất nguy hiểm. Đây là trạng thái bất khổ bất lạc, trạng thái đều đều, thường thường, bình bình, đây là trạng thái trong si mê, không nỗ lực, không cầu tiến, không tăng thượng nhưng mình lại cho đây là an lạc, bình an, mình đang hạnh phúc, điều này hết sức nguy hiểm.
Khi mình đã học Thánh trí ngũ uẩn rồi thì mình sẽ biết bất cứ lúc nào mình có một suy nghĩ đây là tôi, đây là của tôi thì lúc đó mình đang sống trong vô minh, si mê. Bất cứ khi nào mình có sự nhìn nhận "xe này của tôi", "phòng này của tôi", "chùa này của tôi", "cái món đồ này của tôi", "túi xách này của tôi", "tiền để trong ví là của tôi",… thì mình đang ở trong vô minh. Đây là ví dụ hết sức thực tế chứ chưa nói gì đến pháp, tiền trong túi mình có phải của mình không? Thật tế nó không phải của mình mà nó là của Đàn-na tín thí cúng dường, mình là người khất sĩ, những đồng tiền mà mình đang giữ không phải của mình, thậm chí ở ngôi chùa mình đang ở thì vị trụ trì đó không phải là chủ chùa vì đó là của bá gia bá tánh, của thiên hạ nhưng nếu mình nói mình là chủ ngôi chùa này thì đó là vô minh, si mê. Cái này chưa nói gì đến pháp mà đây chỉ là sự thật trên thực tế, tất cả những cái đó đều của Đàn-na tín thí, người ta cúng dường cho tam bảo thì mình nói là của tam bảo thì đúng, còn nói của mình là sai thành ra khi đi sâu vào chúng ta sẽ phát hiện ra những nhận định, suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng, nhận thức của mình đều ở trong vô minh và tham ái.
III. Ước muốn tăng thượng trong Chánh Pháp
Sư Thầy: Mô Phật, bạch thầy cho phép con được hỏi một vấn đề. Thầy nói trong lúc học mà nghe tiếng hồi hướng của lớp dưới để đi về thì ngay đó con có trạng thái rất chú tâm nghe giảng, trong tâm con rất hưng phấn muốn thầy giảng thêm, muốn nghe nữa thì cảm giác khi hưng phấn muốn nghe giảng nữa thì cảm giác đó có phải là lạc thọ không, cái muốn nghe giảng nữa có phải là tham không ạ. Dạ, mô Phật.
Sư Phụ: Thầy hỏi cái đó rất hay. Cái đó là tham, là lạc thọ nhưng đó là thiện pháp, là tốt. Lạc thọ có hai cái, một cái là lạc thọ liên hệ đến vật chất và một cái là lạc thọ không liên hệ đến vật chất.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một nhà khách, ở đấy, từ phương Ðông có một người đến ở. Từ phương Tây, có người đến ở. Từ phương Bắc, có người đến ở. Từ phương Nam, có người đến ở. Những người Sát-đế-lỵ đến ở, những người Bà-la-môn đến ở, những người Phệ-xá (Vessa) đến ở, những người Thủ-đà (Suddà) đến ở. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, trong cái thân này có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên, khổ thọ khởi lên, bất khổ bất lạc thọ khởi lên.
Có những lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, IV. Khách Xá)
Cảm thọ liên hệ đến vật chất là cảm thọ bình thường, tầm thường của phàm phu, ví dụ ăn một món ngon, được nghe lời khen, đi chơi cảnh đẹp thì những cảm thọ vui sướng, thích thú đó là những cảm thọ liên hệ đến vật chất, còn những cảm thọ khi nghe pháp, ngồi thiền, tụng kinh, khi mình quán chiếu về những sự thật của trí huệ Đức Phật mà mình sung sướng, hạnh phúc, hỷ lạc thì đó là cảm thọ lạc không liên hệ đến vật chất, là cảm thọ cao thượng của người tu cần phải có để nuôi dưỡng sự tu học của mình.
Có những người nghe thì nghe chứ không thích thú cũng không chán, đây là cảm thọ trơ trơ, đơ đơ, ngược nghe mình nghe mà phấn khởi, hân hoan, muốn được nghe nữa thì đó là lạc thọ, hỷ thọ, pháp hỷ, pháp lạc, là cảm thọ hoan hỉ không liên hệ đến vật chất và cảm thọ này sẽ giúp chúng ta tăng thượng trên bước đường tu học vì thế trong thiền có từ - bi - hỷ - xả, là tứ vô lượng tâm, cái này thuộc về tâm hỷ trong khi tu học, điều này rất cần thiết phát huy cái cảm thọ này lên, cái suy nghĩ, cái tưởng đó lên. Vì vậy, nếu tu mà không biết là mình diệt hết, thời gian trôi qua mình như khúc cây, tiến lên thì không muốn, có khi bị lùi lại hoặc có khi không lùi thế nhưng Như Lai không tán thán một người dừng lại trong các thiện pháp.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm".(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)
Nếu mình tu học mà cứ đều đều, mình an phận thủ thường, mình chấp nhận vị trí như vậy là cuộc đời mình chấp hết. Đức Phật nói giống như một con lừa đi theo sau một con bò, nó nghĩ rằng nó cũng là con bò nhưng nó lại không có màu sắc của con bò, không có tiếng kêu của con bò.
"Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Ở đây vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học tập như sau: 'Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: 'Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò', nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: 'Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: 'Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo'. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: 'Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo'". (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, Sa Môn)
Có những Tỳ-kheo không có ước muốn sắc bén tăng thượng giới đức, không có ước muốn sắc bén tăng thượng thiền định, không có ước muốn sắc bén tăng thượng Thánh trí tuệ nhưng lại ở chung trong chúng Tỳ-kheo rồi tự cho rằng mình cũng là Tỳ-kheo, thật chất người đó không phải là Tỳ-kheo giống như con lừa đi theo sau con bò. Ở Ấn Độ rất quý con bò cho nên mới có ví dụ như vậy, vì thế những cảm giác hạnh phúc, hân hoan, phấn khởi, sung sướng trong tu học thì phải tác ý nuôi lớn, phát triển nó lên, còn những cảm xúc buồn chán thì phải đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm. Khi đang ngồi thiền, nghe pháp thì thấy chán nản thì phải lập tức tác ý đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm, làm cho mình hân hoan lên.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sáu thức PAGEREF _Toc183018300 \h 1
II. Xúc PAGEREF _Toc183018301 \h 4
III. Ước muốn tăng thượng trong Chánh Pháp PAGEREF _Toc183018302 \h 7
I. Sáu thức
Có một thầy hỏi về cái thức thì Minh Thành giải thích luôn để chúng ta nắm được. Ý thức là biết được thọ; tưởng; hành, còn năm thức trước:
Thấy rõ, biết rõ người, cảnh, vật - NHÃN thức
Nghe rõ, biết rõ lời nói, âm thanh - NHĨ thức
Rõ biết mùi hương thơm, thối - TỶ thức
Rõ biết vị ngọt, chua, cay - THIỆT thức
Rõ biết thân đụng chạm người, vật - THÂN thức
Rõ biết thọ, tưởng, hành - Ý thức.
Bây giờ mình sẽ thực tập nhận diện nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, nhiều khi mình nói 6 thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức là xong nhưng vào thực tế mình lại không biết gì cả, đó là lý do đây là môn pháp hành, nghĩa là học để thực hành được, học để vận dụng được. Nhãn thức là rõ biết được thân người, cảnh vật, nếu mình nói nhãn thức là cái biết của con mắt thì lúc mình ngủ là không còn biết nữa, lúc mình xỉu là không còn biết, lúc mình chết là không còn biết cho nên nói nhãn thức là sự rõ biết của con mắt là không được mà phải là sự rõ biết thân người, cảnh vật thì sự rõ biết đó mới là nhãn thức chứ không phải cái biết của con mắt.
Trước nay mình học nhãn thức là cái biết của con mắt là không đúng, nếu là cái biết của con mắt thì lúc ngủ cái biết đó ở đâu? Lúc mình ngất xỉu cái biết đó ở đâu? Lúc chết rồi thì làm sao còn cái biết đó nữa? Vì vậy sự rõ biết đó khác nhau, đó không phải là sự rõ biết của con mắt, khi mình thấy con người, cảnh vật thì mình phải biết sự rõ biết này là nhãn thức chứ không phải là "tôi thấy", không phải có một cái tôi để thấy mà cái thấy này là do duyên sanh.
"-Do duyên có mắt và các sắc, sanh khởi Nhãn thức (rõ biết các sắc). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhãn xúc. Do duyên có Nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.
Mắt + Sắc => Nhãn thức => Nhãn xúc => Thọ do Nhãn xúc sanh + Sắc tưởng + Sắc tư.
-Do duyên có tai và các tiếng, sanh khởi Nhĩ thức (nghe rõ, rõ biết các âm thanh). Sự hội tụ của ba pháp này là Nhĩ xúc. Do duyên có Nhĩ xúc nên sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư.
Tai + Tiếng => Nhĩ thức => Nhĩ xúc => Thọ do Nhĩ xúc sanh + Thanh tưởng + Thanh tư" (Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Khi nghe âm thanh hồi hướng thì mình thấy nôn nao, có một cảm giác thúc giục trong người, đó chính là sự nhận diện. Tại sao chúng ta có cảm giác thúc giục, nôn nao muốn về? Vì có lỗ tai, có âm thanh hồi hướng, có sự rõ biết âm thanh đó, ba pháp này gọi là sự tiếp xúc của lỗ tai là nhĩ xúc, khi tiếp xúc thì sanh ra cảm giác, cảm thọ. Do có sự hội tụ của ba pháp âm thanh, lỗ tai và sự rõ biết âm thanh hội tụ, giao thoa với nhau thì cái này gọi là sự tiếp xúc của lỗ tai là nhĩ xúc. Nếu không có sự chánh niệm tỉnh giác thiền định là chúng ta không thể nhìn ra được các pháp vì nó diễn ra cực kì nhanh, đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật, trong tích tắc mà Đức Phật nhìn ra được căn – trần – thức – xúc – thọ – ái.
Nhĩ căn + thanh trần + nhĩ thức => nhĩ xúc thọ do nhĩ xúc sanh => tham ái, sân hận, si mê.
Cảm thọ này là cảm thọ nôn nao, thúc giục, khoan khoái muốn về sớm, có cảm giác, suy nghĩ và hình bóng bước ra cửa hiện ra, đó chính là các pháp vận hành, sau khi sanh khởi thọ do nhĩ xúc sanh thì mình tham ái hoặc sân hận hoặc là si mê. Bây giờ muốn trị cảm giác nôn nao muốn về thì phải làm sao? Mình kêu cảm thọ trong lồng ngực của mình "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào", đó là pháp lệnh để dạy dỗ, giáo dục, huấn luyện cảm thọ, cái này rất quan trọng. Trước giờ chúng ta học chung chung về căn – trần – thức vậy thôi, còn giờ chúng ta học thật kĩ, có lỗ tai, các tiếng và sự rõ biết các tiếng, ba pháp này hội tụ giao thoa, tiếp xúc với nhau sanh ra cảm giác.
Khi chúng ta nhìn ra được sự vận hành của căn – trần – thức – xúc – thọ có tham, sân, si như vậy thì gọi là thấy pháp, thấy được thân tâm, thấy được trạng thái đang sanh khởi như thế nào, nó an trú như thế nào, nó vận hành như thế nào trong thân tâm chúng ta đều thấy được thì đó là thấy được pháp, là chánh kiến, là thấy đúng về thân tâm của mình. Vô văn phàm phu với Đa văn Thánh đệ tử khác nhau chỗ nào? "Thầy ơi cho về đi, mệt quá" thì đó là vô văn phàm phu, còn người nhìn thấy tất cả sự vận hành này là bậc Đa văn Thánh đệ tử, là bậc thấy pháp, bậc kiến pháp, là bậc có pháp nhãn, bậc có minh trí, bậc nhìn thấy được thân tâm của mình, thấy được ngũ uẩn, thấy được các pháp vận hành.
Sau khi chúng ta có thọ do nhĩ xúc sanh thì chúng ta sẽ có thanh tưởng, thanh tư (hành), cái tiếng hồi hướng đó không còn nữa nhưng vẫn vang vọng, dư âm của âm thanh đó còn đọng lại trong mình, thanh tưởng là mình hồi tưởng lại âm thanh hồi hướng đó, thanh tư là mình suy nghĩ về âm thanh đó cho nên thọ; tưởng; hành đi chung với nhau.
Chúng ta bắt đầu thấy được các pháp, chúng ta bắt đầu thấy được thân tâm chúng ta hoạt động như thế nào trong khi thấy, khi nghe, trong khi ngửi, khi nếm. Do duyên có con mắt, có sắc, sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa lại gọi là nhãn xúc, là sự tiếp xúc của con mắt, khi con mắt tiếp xúc sẽ sanh ra thọ do nhãn xúc sanh, nếu món đồ đó đẹp hoặc là người mình quý, mình thích thì sau khi trở về nhà sẽ có sắc tưởng, sắc tư, hình bóng của người đó chập chờn trong tâm mình là sắc tưởng, mình suy nghĩ về hình bóng đó gọi là sắc tư, đây chính là duyên sanh pháp, là sự chứng ngộ của Đức Phật.
Hai cái làm mình ấn tượng nhiều là tham với sân, người thương và người ghét làm mình ấn tượng nhiều, còn người không thương không ghét sẽ không nhớ nhiều, vì vậy cái tham và sân sẽ nổi trội. Người thương hiện diện trong tâm mình gọi là sắc tưởng, hình bóng người đó thuộc về tưởng nhưng là tưởng về sắc cho nên gọi là sắc tưởng, còn hồi tưởng tiếng nói là thanh tưởng, nếu mình đi ngang ai đó có mùi thơm gọi là hương trần, mình trở về nhà hôm sau mình vẫn hồi tưởng lại mùi hương đó thì gọi là hương tưởng. Nếu mình ăn một món rất ngon, vài ngày sau mình vẫn còn nhớ đến món đó thì đó là vị tưởng, nếu mình đụng chạm với cái gì êm ái, 1 năm sau mình vẫn còn nhớ thì gọi là xúc tưởng.
II. Xúc
Xúc này rất ghê gớm vì cái xúc này sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành, cầm đồ đưa nhau thì tay chạm tay đó là thân xúc, khi xúc như vậy sẽ sanh ra cảm thọ, đó là thọ do thân xúc sanh, rồi có xúc tưởng, xúc tư, hồi tưởng lại cảm giác, hình bóng lúc đụng chạm, có suy nghĩ về cảm giác đó. Những thứ này quậy trong tâm mình khủng khiếp, xâm chiếm, áp đảo thân tâm của mình, suốt cuộc đời mình không ra khỏi những hình bóng, cảm giác và suy nghĩ đó cho nên tất cả chúng sanh bị đè bởi ngũ hành sơn, tức là sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Bàn tay chính là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, có đi đâu cũng không thể ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chỉ có bậc Thánh mới ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Tất cả phàm phu, chư thiên, chư thần làm sao có thể ra khỏi ngũ uẩn cho nên Tôn Ngộ Không bay mãi vẫn không thoát khỏi bàn tay của Như Lai Phật tổ.
Chúng ta có con mắt, có hình sắc bên ngoài và sự rõ biết những hình sắc đó, như vậy tạo thành cái gọi là nhãn xúc là sự tiếp xúc của con mắt, khi con mắt tiếp xúc tạo thành thọ do nhãn xúc sanh, thế là có thọ; tưởng; hành đi theo, tưởng về hình bóng khi con mắt nhìn thấy, có những suy nghĩ đi theo sau đó gọi là sắc tưởng, sắc tư và có tham, sân, si, dục, ái trong đó. Có khi cái hình bên ngoài lại ít làm khổ chúng ta hơn là cái hình trong tâm, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh chị em được nhưng không bỏ được những hình bóng trong tâm, đó là ý trung nhân, là người ở trong tâm của mình, đó là chúng ta bị sắc ám ảnh.
Kẻ vô văn phàm phu bị sắc ám ảnh, bị cảm giác ám ảnh, bị những tưởng ám ảnh, bị những suy nghĩ ám ảnh, bị thức ám ảnh. Kẻ vô văn phàm phu bị sắc tàn hại, bị thọ tàn hại, bị những cảm giác tàn hại, bị những suy nghĩ tàn hại, bị thức tàn hại, tàn phá thân tâm. Nó làm cho tàn tạ, tả tơi, nó làm cho thân tàn ma dại, tiều tụy, bị bệnh tương tư, ăn không ngon ngủ không yên, nhảy cầu, nhảy lầu, nhảy sông vì những hình bóng là tưởng ám ảnh trong tâm, những cảm thọ, nhận thức, suy nghĩ đó cứ quay cuồng trong tâm không đi ra được như kiến bò miệng chén, kẻ vô văn phàm phu bị sắc trói buộc, bị thọ; tưởng; hành; thức trói buộc, ám ảnh giống như con chó bị cột vào cây bởi một sợi dây thừng. Con chó này có đi, đứng, ngồi, nằm cũng ở bên cây cột, có sủa, có kêu, có làm bất cứ điều gì cũng chỉ quanh cây cột. Chúng sanh có làm cái gì cũng ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không đi ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vô minh và khát ái.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này" (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Vô minh là không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, khát ái làm tham muốn, thèm khát, khao khát, là những cảm giác thèm muốn, thúc giục, khao khát, những suy nghĩ thúc giục, thèm muốn, khao khát, những tư tưởng, hình bóng cứ ẩn hiện chập chờn. Mình thoát ra khỏi nó không được vì bị nó nhận chìm, bị nó vây hãm, bao vây, bị nó trói cột, giam cầm, mình bị những cảm giác, nghĩ tưởng này phong tỏa, ám ảnh, nó sai khiến mình, nó làm cho sầu, bi, ưu, não. Đó là toàn cảnh của thế giới, của chúng sanh, của nhân loại, tất cả đều nằm trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nằm trong sầu, bi, khổ, ưu, não, trong sanh, già, bệnh, chết, trong tham, sân, si, vô minh và bản ngã.
Nhìn đâu cũng thấy thích, thấy khoái, đó là si mê, vô minh, không nhận rõ các pháp, không có một cái "mình" nào ở đây và tất cả đều là các pháp vận hành, căn và trần khởi lên sự rõ biết là thức, ba pháp này là sự tiếp xúc, mắt tiếp xúc sanh ra cảm thọ khoan khoái, thích thú, thế là về nhà hình bóng cứ hiện ra trong tâm, cứ suy nghĩ về hình bóng đó, chính là sắc tưởng, sắc tư rồi mình bị đắm chìm trong đó, đối với căn nhà cũng vậy, chiếc xe, ngôi chùa cũng vậy, đối với con người càng khủng khiếp hơn nữa.
Các sắc bên ngoài hại mình ít hơn là sắc tưởng trong tâm, nó ám ảnh mình làm mình thoát ra không được, có nhiều người cứ thơ thẩn, đờ đẫn, sống trong ảo tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng, trong điên đảo tưởng, tất cả đều là tưởng uẩn nhưng họ không biết mà cứ nghĩ là "tôi nghĩ", "tôi nhớ thương mãi" hoặc là "tôi tức giận", "tôi thù hận"… chỉ có tham hoặc sân, nhớ lại hình bóng người làm mình khổ là tức giận, càng nhớ càng tức, càng tức thì càng bực, càng bực thì nực, càng nực thì càng phựt, càng phựt thì càng đốt, càng đốt thì càng tàn phá thân tâm, hủy hoại trong những cảm giác.
Cái thương yêu cũng tàn phá, cái thù hận cũng tàn phá nhưng tất cả chúng sanh đều đang đắm chìm hết trong đó, đau khổ trong đó, sầu, bi, ưu, não trong đó vì không thấy được các pháp vận hành, lúc nào cũng thấy tôi, của tôi, tự ngã của tôi, "tôi buồn", "tôi chán", "tôi mệt", "tôi muốn", "tôi thích", cái gì cũng gắn chữ "tôi" vào rồi sầu, bi, khổ, ưu, não, thật sự là không có cái "tôi" nào ở đây cả.
Lỗ tai là sắc, là tứ đại, âm thanh là phong đại, khi nói chuyện là phong đại chuyển động, nếu phong đại không đủ thì thều thào, nói không ra hơi hoặc là bị liệt, không ngồi dậy được, phong đại không còn phát huy được nữa, những cái trợ duyên cho phong đại không còn nữa nên nó không phát huy được, cũng như có điện nhưng bóng đèn bị hư thì không có ánh sáng cho nên thanh trần cũng là phong đại, tất cả đều không ra khỏi ngũ uẩn, tất cả trời đất, vũ trụ đều ở trong ngũ uẩn nhưng mình lại không thấy không biết điều này. Tứ chi mình có năm ngón, ngũ hành có 5 thứ là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, trong thân mình là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cái nào cũng 5, đó là con số hình thành nhân sinh vũ trụ của chúng sanh.
Khi mình chưa nhận diện được ngũ uẩn, khi chưa thành tựu cái thấy đúng về pháp thì mình rất lầm tưởng, ví dụ sáng thức dậy tụng chú Lăng Nghiêm, chiều tụng kinh A-di-đà hoặc là đi học về ăn cơm rồi nghỉ ngơi, hoặc làm chấp tác. Mình thấy mỗi ngày trôi qua đều như vậy thì mình nghĩ tu như vậy là an lạc nhưng đi sâu vào thì không phải như vậy, có rất nhiều cấp độ nhưng ở đây chỉ nói cấp độ chúng ta đang học thôi, chúng ta sẽ có cảm giác an toàn, chấp nhận chứ không có cảm giác cầu tiến, không tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng trí tuệ, chúng ta sẽ an phận thủ thường, đây là cái giết mình chết vậy mà mình lại cho đó là an lạc, điều này rất nguy hiểm. Đây là trạng thái bất khổ bất lạc, trạng thái đều đều, thường thường, bình bình, đây là trạng thái trong si mê, không nỗ lực, không cầu tiến, không tăng thượng nhưng mình lại cho đây là an lạc, bình an, mình đang hạnh phúc, điều này hết sức nguy hiểm.
Khi mình đã học Thánh trí ngũ uẩn rồi thì mình sẽ biết bất cứ lúc nào mình có một suy nghĩ đây là tôi, đây là của tôi thì lúc đó mình đang sống trong vô minh, si mê. Bất cứ khi nào mình có sự nhìn nhận "xe này của tôi", "phòng này của tôi", "chùa này của tôi", "cái món đồ này của tôi", "túi xách này của tôi", "tiền để trong ví là của tôi",… thì mình đang ở trong vô minh. Đây là ví dụ hết sức thực tế chứ chưa nói gì đến pháp, tiền trong túi mình có phải của mình không? Thật tế nó không phải của mình mà nó là của Đàn-na tín thí cúng dường, mình là người khất sĩ, những đồng tiền mà mình đang giữ không phải của mình, thậm chí ở ngôi chùa mình đang ở thì vị trụ trì đó không phải là chủ chùa vì đó là của bá gia bá tánh, của thiên hạ nhưng nếu mình nói mình là chủ ngôi chùa này thì đó là vô minh, si mê. Cái này chưa nói gì đến pháp mà đây chỉ là sự thật trên thực tế, tất cả những cái đó đều của Đàn-na tín thí, người ta cúng dường cho tam bảo thì mình nói là của tam bảo thì đúng, còn nói của mình là sai thành ra khi đi sâu vào chúng ta sẽ phát hiện ra những nhận định, suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng, nhận thức của mình đều ở trong vô minh và tham ái.
III. Ước muốn tăng thượng trong Chánh Pháp
Sư Thầy: Mô Phật, bạch thầy cho phép con được hỏi một vấn đề. Thầy nói trong lúc học mà nghe tiếng hồi hướng của lớp dưới để đi về thì ngay đó con có trạng thái rất chú tâm nghe giảng, trong tâm con rất hưng phấn muốn thầy giảng thêm, muốn nghe nữa thì cảm giác khi hưng phấn muốn nghe giảng nữa thì cảm giác đó có phải là lạc thọ không, cái muốn nghe giảng nữa có phải là tham không ạ. Dạ, mô Phật.
Sư Phụ: Thầy hỏi cái đó rất hay. Cái đó là tham, là lạc thọ nhưng đó là thiện pháp, là tốt. Lạc thọ có hai cái, một cái là lạc thọ liên hệ đến vật chất và một cái là lạc thọ không liên hệ đến vật chất.
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, một nhà khách, ở đấy, từ phương Ðông có một người đến ở. Từ phương Tây, có người đến ở. Từ phương Bắc, có người đến ở. Từ phương Nam, có người đến ở. Những người Sát-đế-lỵ đến ở, những người Bà-la-môn đến ở, những người Phệ-xá (Vessa) đến ở, những người Thủ-đà (Suddà) đến ở. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, trong cái thân này có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên, khổ thọ khởi lên, bất khổ bất lạc thọ khởi lên.
Có những lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, IV. Khách Xá)
Cảm thọ liên hệ đến vật chất là cảm thọ bình thường, tầm thường của phàm phu, ví dụ ăn một món ngon, được nghe lời khen, đi chơi cảnh đẹp thì những cảm thọ vui sướng, thích thú đó là những cảm thọ liên hệ đến vật chất, còn những cảm thọ khi nghe pháp, ngồi thiền, tụng kinh, khi mình quán chiếu về những sự thật của trí huệ Đức Phật mà mình sung sướng, hạnh phúc, hỷ lạc thì đó là cảm thọ lạc không liên hệ đến vật chất, là cảm thọ cao thượng của người tu cần phải có để nuôi dưỡng sự tu học của mình.
Có những người nghe thì nghe chứ không thích thú cũng không chán, đây là cảm thọ trơ trơ, đơ đơ, ngược nghe mình nghe mà phấn khởi, hân hoan, muốn được nghe nữa thì đó là lạc thọ, hỷ thọ, pháp hỷ, pháp lạc, là cảm thọ hoan hỉ không liên hệ đến vật chất và cảm thọ này sẽ giúp chúng ta tăng thượng trên bước đường tu học vì thế trong thiền có từ - bi - hỷ - xả, là tứ vô lượng tâm, cái này thuộc về tâm hỷ trong khi tu học, điều này rất cần thiết phát huy cái cảm thọ này lên, cái suy nghĩ, cái tưởng đó lên. Vì vậy, nếu tu mà không biết là mình diệt hết, thời gian trôi qua mình như khúc cây, tiến lên thì không muốn, có khi bị lùi lại hoặc có khi không lùi thế nhưng Như Lai không tán thán một người dừng lại trong các thiện pháp.
"Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm".(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III). Ðứng Một Chỗ)
Nếu mình tu học mà cứ đều đều, mình an phận thủ thường, mình chấp nhận vị trí như vậy là cuộc đời mình chấp hết. Đức Phật nói giống như một con lừa đi theo sau một con bò, nó nghĩ rằng nó cũng là con bò nhưng nó lại không có màu sắc của con bò, không có tiếng kêu của con bò.
"Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?
Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Ở đây vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học tập như sau: 'Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: 'Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò', nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: 'Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: 'Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo'. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: 'Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo'". (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, Sa Môn)
Có những Tỳ-kheo không có ước muốn sắc bén tăng thượng giới đức, không có ước muốn sắc bén tăng thượng thiền định, không có ước muốn sắc bén tăng thượng Thánh trí tuệ nhưng lại ở chung trong chúng Tỳ-kheo rồi tự cho rằng mình cũng là Tỳ-kheo, thật chất người đó không phải là Tỳ-kheo giống như con lừa đi theo sau con bò. Ở Ấn Độ rất quý con bò cho nên mới có ví dụ như vậy, vì thế những cảm giác hạnh phúc, hân hoan, phấn khởi, sung sướng trong tu học thì phải tác ý nuôi lớn, phát triển nó lên, còn những cảm xúc buồn chán thì phải đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm. Khi đang ngồi thiền, nghe pháp thì thấy chán nản thì phải lập tức tác ý đánh đuổi nó ra khỏi thân tâm, làm cho mình hân hoan lên.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.