Tương Ưng Giác Chi - Bài kinh trị bệnh cho Đức Phật A
Kinh Nikāya Giảng Giải
TƯƠNG ƯNG GIÁC CHI
BÀI KINH TRỊ BỆNH CHO ĐỨC PHẬT A
Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nước mắt trí tuệ PAGEREF _Toc85526695 \h 1
I.Bài kinh trị bệnh cho Đức Phật và Thánh chúng PAGEREF _Toc85526696 \h 4
1.Trị bệnh cho Ngài Đại Ca Diếp PAGEREF _Toc85526697 \h 4
2.Trị bệnh cho Đức Phật PAGEREF _Toc85526698 \h 8
3.Thường trú niệm bất tử PAGEREF _Toc85526699 \h 10
II.Tu tập Bảy giác chi y chỉ viễn ly PAGEREF _Toc85526700 \h 12
Nước mắt trí tuệ
Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận không khí mát mẻ, trong lành. Cảm nhận sự an tịnh, lắng dịu, cảm nhận sự dễ chịu, ngọt ngào trong khoảnh khắc này. Hãy cảm nhận thật sâu sắc khoảnh khắc này, không gian này, trời đất này. Cảm nhận sự mát mẻ, sự an tịnh, sự bình an. Cảm nhận những làn sương, tiếng chim, khóm trúc. Cảm nhận sự ấm áp của quý thầy, quý sư cô, quý đạo hữu, sự ấm áp của Tăng đoàn trong giờ phút này. Đại chúng cùng nhìn Thánh tượng của Đức Thế Tôn ở trước mặt để cảm nhận sự bình an, sự thanh tịnh, sự siêu thoát tục lụy, sự hạnh phúc vĩ đại của Ngài. Đại chúng hãy cảm nhận một cách sâu sắc và trọn vẹn.
Chúng ta phải thực tập cảm nhận, bởi vì trước giờ ta quen sống với những thứ giả dối, sống trong những tấm hình, sống trong màn điện thoại, sống với những ảo tưởng trong tâm, với những suy nghĩ lầm thầm, hư vọng. Chúng ta ít chạm được vào sự thật ở ngay trước mặt mình. Bên ngoài thì lăng xăng, loạn động, vào ngồi thiền thì ngủ gục, tâm lang thang, sống trong lang bạc. Vô cùng đáng thương cho chúng ta, mỗi khi ngồi lại toàn nói về tham, sân, si, sầu, bi, ưu, não, tham ái, chấp thủ, dính mắc, bản ngã, hơn thua. Vậy, làm sao hết khổ đây? Thế nên, chúng ta về Linh Quy để thấy được Pháp Ấn. Từ khi quý vị bước chân về đến Linh Quy là quý vị đã thấy được Pháp Ấn, thấy được bộ xương được đặt trước mặt.
Khi ngồi thiền, quý Phật tử có cảm thọ được không, cảm thọ như thế nào?
Phật tử 1: Kính bạch thầy và kính thưa đại chúng, khi con ngồi thiền ở Linh Quy Pháp Ấn, con cảm nhận được không gian tĩnh lặng, thân tâm rất an lạc, trước nay con chưa bao giờ ngồi thiền được một tiếng đồng hồ, nhiều nhất chỉ nửa tiếng thôi. Vì thế, hôm nay con rất là hoan hỷ vì ngồi thiền được một tiếng đồng hồ. Thứ nhất là nhờ sự hiện diện của thầy, thứ hai là có tọa cụ nên con không thấy đau nhức nhiều. Hơn nữa nhờ sự hiện diện của quý thầy cô nên dù có đau nhức con cũng cố gắng.
Lần đầu tiên được nghe lời Phật dạy trong kinh tạng Nikāya, con thấy mình phải luôn luôn theo dõi thân tâm để xả bỏ. Con rất cảm ơn công đức của thầy đã truyền dạy những lời của Đức Phật dạy, nhờ đó con được rõ biết. Con rất xúc động và cảm niệm công đức của thầy.
Từ trước đến này con hành trì theo pháp môn niệm Phật, thành ra con thường niệm Phật. Ngày nay con nghe được pháp môn Nikāya, con kính bạch thầy hoan hỷ hướng dẫn để con thực hành được đúng pháp. Mô Phật.
Sư phụ: Khi ngồi thiền, cô được nghe bài Thân Trống Rỗng, cô cảm nhận được gì trong buổi ngồi thiền đó.
Con thấy mình phải luôn luôn tỉnh giác, cảm nhận những sự việc ở bên ngoài cũng như trong tâm, mình phải xả bỏ, không vướng mắc. Khi nghe được kinh Nikāya, mình phải từ từ kiểm soát thân tâm để những thói hư tật xấu trước nay được gỡ bỏ từ từ, thực hành đúng theo lời Phật dạy. Muốn giải thoát trên con đường giác ngộ thì chính bản thân mình phải tu tập để từ từ thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứ không ai có thể giúp mình.
Phật tử 2: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch thầy, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Buổi sáng hôm này khi ngồi thiền con bị hôn trầm vì lúc tối không ngủ được, nhưng nhờ có được năng lượng từ trường của thầy cũng tiếp cho con sức mạnh, cố gắng kéo mình lại. Bài pháp hôm qua và ngồi thiền sáng nay, thầy nói về thân trống rỗng, con có quán tưởng đến bộ xương, quán tưởng đến hủ cốt của Bà Năm, đó là một bài pháp sống, là sự truyền trao sự bất tử của thầy cho chúng con. Sự thực tập của mình còn kém nên khi tự thực tập con thấy rất khó khăn, vì vậy, sáng nay con rất hạnh phúc khi có thầy, nhờ đó con và đại chúng có thêm sức mạnh. Con cũng mong ước mỗi khi lên Linh Quy, lúc nào cũng được thầy hướng dẫn, dạy bảo, dìu dắt cho chúng con. Con rất cảm ơn quý thầy, quý sư cô và đại chúng đã tạo điều kiện cho con có buổi tu tập đầy ý nghĩa.
Sư phụ: Cô ngồi thiền có khóc không?
Dạ, con không có khóc. Nói chung, buổi ngồi thiền sáng nay là sự đấu tranh của con giữa hôn trầm và những lời dạy của thầy.
Sư phụ: Nhớ ba, nhớ má, nhớ thầy, nhớ bà Năm, nhớ chuyện buồn thì khóc, còn khi nghe thiền quán thì chưa có khóc, mà chỗ đó là chỗ mới cần khóc.
***
Có nhiều người lúc nào gặp cũng khóc hết nhưng khi thiền quán thì chưa chịu khóc. Tại sao? Vì cái khóc của mình là khóc trong tham ái. Nhiều Phật tử khi nói chuyện về chồng con, gia đình một lát sau là khóc nhưng nghe pháp ít khi khóc được. Thế nhưng, nếu chúng ta nghe pháp mà khóc được thì rất tốt, ngồi thiền mà khóc được lại càng tốt, còn những cái khóc khác là tầm thường.
Có nhiều Phật tử khi nhìn thấy bộ xương thì chảy nước mắt, nghe pháp thì nước mắt tuôn vì thấy được sự thật. Tất cả là nhờ sự thật của Chánh Pháp đánh động vào tâm thức, đánh động vào dòng cảm thọ, làm chúng ta xúc động trước sự thật, xúc động trước Chánh Pháp, xúc động trước chân lý, xúc động trước vô minh, tham ái của mình. Sự xúc động đó là xúc động của trí tuệ, vì vậy, khi nghe pháp đừng sợ khóc, la lớn lên cũng được, không sao hết. Cứ khóc thét lên trước sự thật, trước chân lý, trước Chánh Pháp. Những giọt nước mắt đó là quý báu, thù thắng, tối thượng. Giọt nước mắt đó được ví như là kim cương khi chúng ta xúc động trước Chánh Pháp.
Chính vì vậy, khi giảng pháp, hướng dẫn thiền quán mà thấy ai khóc thì Minh Thành thường mời phát biểu, tại vì đó là những giọt kim cương trí tuệ trong vòng luân hồi này. Chúng ta khóc rất nhiều nhưng toàn khóc trong tham ái, luyến ái, ân ái, chứ chúng ta ít khóc trước chân lý, chân pháp, sự thật, trí tuệ. Đạo tràng Nikāya của chúng ta thường được gọi là “đạo tràng khóc”, đâu phải dễ nghe pháp mà chảy được nước mắt. Đầu tiên, đó phải là Thánh Pháp, Chánh Pháp. Thứ hai, những vị chia sẻ pháp phải có năng lực, có phần thể nghiệm mới có thể chuyển tải được sự thật và làm người nghe xúc động trước sự thật. Cho nên, khi nghe pháp mà có những giọt nước mắt tuôn xuống, chấn động, chấn cảm, xúc động thì hãy để nó tuôn ra, vì đó là những giọt nước mắt kim cương trong vòng luân hồi này. Giọt nước mắt của ân ái, tình ái, tham ái, luyến ái nhiều như Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, Thái Bình Dương vậy. còn giọt nước mắt rơi xuống vì Chánh Pháp, vì sự thật, vì chân lý vô cùng ít, không đựng đủ một ly đầy.
Cho nên các Phật tử trong đạo tràng Nikāya nghe pháp mà xúc động là rất tốt. Hãy cứ xúc động, để cho cảm giác bung ra, tuôn ra, trào ra trong việc cảm nhận chân lý, còn không là chúng ta cứ trơ trơ trước sự thật, không cảm nhận được gì. Khi xem cải lương, nếu nước mắt chúng ta chảy ra chứng tỏ tuồng cải lương đó rất hay, rất xúc động, cũng vậy, Chánh Pháp làm cho mình xúc động. Cho nên có nhiều người khi nhìn thấy bộ xương thì họ tuôn nước mắt, rơi lệ, xúc động trước một sự thật phũ phàng. Sự thật này ít có người nói cho mình nghe, chúng ta cũng không muốn nghe, không muốn thấy, chính vì vậy mà mình sống trong sự giả, trong si mê, vô minh và đau khổ.
Bài kinh trị bệnh cho Đức Phật và Thánh chúng
Minh Thành muốn giới thiệu cho đại chúng một bài kinh, quý vị khó tưởng tượng được về bài kinh này, đây là bài kinh trị bệnh cho Đức Phật, trị bệnh cho Ngài Ma Ha Ca Diếp, trị bệnh cho Ngài Mục Kiền Liên. Ít ai biết bài kinh này, nếu không học kinh Nikāya thì sẽ không biết, vì vậy, chúng ta cần phải nghe, phải học nhiều bài kinh Nikāya. Khi Đức Phật bị bệnh, các thầy Tỳ-kheo đọc bài kinh này lên và sau đó các Ngài được khỏi bệnh, ngài Ma Ha Ca Diếp và Ngài Mục Kiền Liên cũng vậy.
Trị bệnh cho Ngài Đại Ca Diếp
Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Sau này phía trên chỗ chúng ta cũng có Trúc Lâm, Minh Thành trồng hết rồi, mình sẽ tái hiện Trúc Lâm Tinh Xá. Chỗ rừng trúc nơi Đức Thế Tôn đang ở có nhiều sóc, dưới thất Minh Thành cũng có nhiều sóc, nơi nào có tre trúc thì có nhiều sóc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Kassapa trú ở hang Pipphalì, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
Có ai đã đi Ấn Độ sẽ biết hang bằng đá của Ngài Ma Ha Ca Diếp ở trên núi Linh Thứu. Khi đến đó, Minh Thành lạy xuống và khóc nức nở, đoạn phim đó chưa ra được vì chưa có người có khả năng dựng nổi bộ này. Lúc đến Bồ Đề Đạo Tràng, Minh Thành cũng khóc thét lên, chấn động Thánh tích, khi đó có nhiều người ở đó, họ không hiểu gì, ai cũng nhìn hết. Minh Thành khóc hơn má chết lúc đến được Bồ Đề Đạo Tràng, sau đó, khi trở về Linh Quy, Minh Thành nhập thất hai tháng và đi vào niềm tin bất động đối với Đức Phật.
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Kassapa, Ông có kham nhẫn được chăng? Ông có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không có tăng trưởng?
Chúng ta thấy người thầy rất thương học trò, Ngài Ma Ha Ca Diếp lớn tuổi hơn cả Đức Phật. Ngài Ca Diếp hướng dẫn cho 500 vị đệ tử, khi nghe Đức Phật giáo hóa đúng Chánh Pháp, Ngài giải tán hết tất cả 500 người rồi đi theo làm đệ tử của Đức Phật, ai muốn theo Ngài thì đi, không đi thì thôi. Đó gọi là người khuất phục trước chân lý, còn bây giờ nhiều người có chừng 50 vị đệ tử thôi nhưng có dám bỏ để theo người khác không, hay nghĩ rằng “bây giờ tôi đang làm sư phụ, có 50 đệ tử, nếu bỏ đi theo ông, tôn ông làm sư phụ, tôi làm đệ tử hay sao? Tôi đang làm sư phụ, bây giờ thành đệ tử hay sao?”. Người xưa cầu đạo không màng danh lợi, họ khuất phục trước chân lý, sự thật.
Khi Đức Thế Tôn hỏi Ngài Ca Diếp có chịu nổi không, đau nhiều hay đau ít, có phải triệu chứng giảm thiểu, không tăng thêm không thì Ngài Ca Diếp đáp lời:
-- Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không có giảm thiểu.
Ngài Đại Ca Diếp nói rằng Ngài đau lắm. Ở đây, chúng ta nên nhớ rằng Ngài Ca Diếp đã là bậc A-la-hán, mình đừng học theo kiểu tưởng tượng là bậc Thánh thì không biết đau, mà phải hiểu đúng là thân đau nhưng tâm các Ngài không đau. Có một bài kinh nói về việc Đức Phật cũng bị đau nhưng Ngài không khổ, thân tứ đại đau nhức nhưng tâm thì không đau, Ngài chỉ có cảm thọ đau. Chính vì thân này khổ như vậy nên Đức Phật mới cầu chứng chỗ không sanh, chứ không phải thành Phật, thành bậc A-la-hán là không biết đau, trước giờ chúng ta tưởng tượng sai lầm, tưởng tượng theo vô minh, tà kiến, mê tín dị đoan. Không có thân nào mà không đau bệnh, đã có thân thì phải có đau bệnh, chịu khổ đau về thân, dù cho đó là thân của bậc Chánh Đẳng Giác, tại vì thân này cũng làm bằng tứ đại.
-- Này Kassapa, bảy giác chi này do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn...
Niệm giác chi tức là chánh niệm, gồm: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Chánh niệm này do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Chánh niệm này là Tứ Niệm Xứ, tức là luôn luôn xoay trở lại, nhìn ngó, quán xét, nhớ nghĩ thân thể, hành vi, cử chỉ, oai nghi. Luôn thấy được những yếu tố kết thành thân này là tứ đại, thấy được sự vô thường, tan hoại, thấy được chín giai đoạn của một tử thi, thấy được bộ xương, thấy được đống tro, thấy được lò thiêu. Thường nhớ đến những cảm giác và quán chiếu, nhiếp phục những cảm giác tham, sân, si, bản ngã. Thường thường soi rọi lại nội tâm, dòm ngó, xem xét để thấy trong đó có gì cấu uế, bất thiện thì diệt; còn thiện pháp, trí tuệ, công đức thì làm sanh khởi. Đó là giác chi thứ nhất, là pháp Thế Tôn tu tập, chứng ngộ, thành tựu và thuyết giảng.
… Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi, Xả giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bảy giác chi này, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Để học bài kinh này chúng ta phải nhuần nhuyễn, nắm vững được Bảy giác chi. Khi Đức Phật nói như vậy, Ngài Ma Ha Ca Diếp bạch Thế Tôn:
-- Thật vậy, bạch Thế Tôn, chúng là giác chi. Thật vậy, bạch Thiện Thệ, chúng là giác chi.
Sau khi nghe Đức Phật nói, Ngài Ma Ha Ca Diếp nói rằng “thật vậy, những pháp đó là con đường giác ngộ”, Ngài Ca Diếp vui thích, cảm nhận được giá trị của Chánh Pháp và lập tức khỏi bệnh.
Thế Tôn thuyết như vậy, Tôn giả Mahà Kassapa hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và Tôn giả Mahà Kassapa được thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Tôn giả Mahà Kassapa được đoạn tận như vậy. (Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, II. Phẩm Về Bệnh, bài kinh Bệnh 1)
Chúng ta cả đời đi chùa, cho đến gần chết mới nghe được bài kinh này. Trước giờ mình cứ tưởng các Ngài khi bệnh sẽ niệm cầu đến ai nhưng điều đó không phải, mà khi bệnh phải niệm thân, niệm sự vô thường, bại hoại, sự bất tịnh, bệnh hoạn đau khổ của thân để thấy sự thật và thực chứng nó.
Như khi ngồi hộ niệm cho bà Năm là Minh Thành đang sử dụng Bảy giác chi của Đức Phật chứ không phải ngồi cầu xin ai cả, lúc đó giúp cho bà nhìn thấy thân, thọ, tâm, pháp, làm cho bà sanh khởi Hỷ giác chi. Còn nếu không biết thực tập Hỷ giác chi là mình ngồi đó khóc, sầu, bi, khổ, ưu, não thì làm sao giúp người ta hoan hỷ được. Không có ai mẹ mình đang chết kế bên mà lại kêu mọi người hạnh phúc lên, vui sướng lên, hoan hỷ lên. Cho nên, chỉ có Thánh Pháp mới như vậy, chứ không phải là phàm phu pháp. Bình thường, nếu không tu tập Bảy giác chi thì lúc đó mình đâu có Hỷ giác chi được, chúng ta chỉ “sầu bi” chứ không có “giác chi”.
Vì thế, những bài kinh này là báu vật trị bệnh, Thánh dược bất tử, không chỉ riêng Ngài Ma Ha Ca Diếp, mà cả Ngài Mục Kiền Liên và Đức Thế Tôn đều lấy Bảy giác chi trị bệnh.
Trị bệnh cho Đức Phật
Một thời Thế Tôn ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
Trong kinh dùng từ “bị bệnh”, “khổ đau”, “trọng bệnh”, cho nên, kinh Nikāya mới nói cho mình sự thật, bằng không chúng ta chỉ học Phật trong tưởng tượng. Đức Phật bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, tại sao vậy? Phật đã nói thân này là khổ, vô thường, bệnh hoạn, vì thế, Ngài mới cầu chứng bất sanh, bất tử, Niết-bàn. Còn khi học những kinh khác, mình thấy Phật lạ lắm, nói rằng Ngài “thân kim cang bất hoại” nhưng đó không phải là sự thật, chỉ là tưởng tượng. Sự thật là Phật là thân tứ đại, các vị la hán cũng là thân tứ đại giống y chúng ta, tuy nhiên, các Ngài dù thân khổ nhưng tâm không khổ, thân bệnh nhưng tâm không bệnh, các Ngài biết bản chất của thân này là vậy, còn tâm các Ngài thì bất động, chứng ngộ sự thật. Không phải tu thành Thánh nhân rồi thì thân không còn cảm giác gì, chúng ta cần nhớ kỹ điều này, đừng bị gạt. Chúng ta học Phật trước giờ toàn học theo kiểu mê tín, bị gạt, tưởng tượng.
Rồi Tôn giả Mahà Cunda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Cunda đang ngồi một bên:
-- Này Cunda, hãy thuyết về giác chi.
Đức Phật gọi đệ tử của Ngài nói về Bảy giác chi. Chúng ta thấy rằng, chính pháp này là pháp do Ngài chứng ngộ, tuyên thuyết, giảng nói nhưng Ngài vẫn kêu đệ tử đến nói cho Ngài nghe. Vì vậy, Thánh Pháp, vô cùng tuyệt diệu, có giá trị vĩnh viễn, dù cho Đức Phật còn hay không còn, bất cứ người nào thực tập đúng Thánh Pháp thì người đó sẽ thể nhập Thánh trí và chứng ngộ Niết-bàn.
-- Bạch Thế Tôn, có bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Bạch Thế Tôn, niệm giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Bạch Thế Tôn, Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi… Xả giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Sau đó, Ngài Cunda nói về từng giác chi: chánh niệm – Tứ Niệm Xứ; trạch pháp – quyết trạch chọn lựa những thứ nào là tham, sân, si, bản ngã để diệt tận nó, còn đối với từ, bi, hỷ, xả thì phải phát huy; tinh tấn, nỗ lực tu tập; hoan hỷ; khinh an, nhẹ nhàng; tâm định và đạt đến chỗ hoàn toàn xả niệm thanh tịnh, rốt ráo.
Sau khi nghe về Bảy giác chi, Đức Thế Tôn nói:
-- Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi. Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi.
Tôn giả Mahà Cunda thuyết như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. Và Thế Tôn thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Thế Tôn được đoạn tận như vậy. (Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, II. Phẩm Về Bệnh, bài kinh Bệnh 3), (Kinh Hán Tạng: Tăng, Ðại 2,73la).
Bài kinh này không những bên tạng Pāli mà bên Hán tạng cũng giống hệt như nhau. Đây là bài kinh nói về Đức Thế Tôn và đệ tử thượng thủ của Ngài dùng Bảy giác chi trị bệnh. Ngài Mục Kiền Liên cũng trị bệnh giống y như vậy.
Thường trú niệm bất tử
Qua các bài kinh trên, chúng ta thấy được sự thật, thấy được lí do vì sao nghe đến Bảy giác chi là các Ngài khỏi bệnh.
Nói cho ngắn gọn, Niệm giác chi chính là Tứ Niệm Xứ. Trong Tứ Niệm Xứ, niệm đầu tiên là Niệm thân. Trong Niệm thân gồm: niệm hơi thở, niệm oai nghi, nghi hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chính giai đoạn của một tử thi. Khi chúng ta lên lò thiêu tụng kinh cho bà Năm thì mình cũng tụng Thân Hành Niệm, đó là niệm đầu tiên của Bảy giác chi, đó là niệm bất tử. Mà Niệm thân nói gọn là niệm tính chất bất tịnh, vô thường, khổ não, tan hoại của thân.
Các vị thuở xưa lâu ngày đã tu tập, chứng nhập trí tuệ về Niệm thân nên khi được nhắc lại thì trí tuệ đó bừng sáng lên trong tâm thiền định trí tuệ. Lúc đó các Ngài trú vào tâm định, trú vào trí tuệ sáng tỏ đó và vượt qua được bệnh đau, cái thân đau khi ấy không còn quan trọng nữa, vì “các pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, lúc đó các Ngài tác ý vào pháp. Như khi ngồi nghe pháp, nếu bài pháp đó thâm sâu, vi diệu, đúng ý của mình thì lúc đó chúng ta hân hoan, thích thú, vui sướng, nhiều cảm xúc và quên đi cái đau, cái mỏi, sau khi nghe xong mới nhận ra đau mỏi. Còn các Ngài trú trong pháp rất mạnh nên vượt qua được cả nỗi đau của thân và hết bệnh. Người nào chú trọng pháp, tu tập pháp, hành trì pháp, tha thiết với pháp thì người đó cảm nhận điều này rất dễ.
Cũng như nhiều khi ngồi với đại chúng suốt năm tiếng đồng hồ nhưng Minh Thành vẫn cảm thấy hỷ lạc, sung sướng, hoan hỷ, an lạc, nhẹ nhàng như mây bay, gió thoảng, hơn cả ở trên cảnh trời. Tới khi hết giờ thời khóa, trở ra ngoài thì mới thấy đau chân, đau lưng, nhờ trú vào pháp nên chúng ta mới quên cảm thọ của thân, tâm được hỷ lạc trong pháp. Đó là ví dụ nhỏ cho mình dễ thấy, huống hồ Thế Tôn và các bậc đại thánh A-la-hán, cái đau đối với cái Ngài không là gì cả, chỉ cần các Ngài trú vào pháp thì có thể hết bệnh.
Cho nên, chúng ta cần tu pháp thật nhuần nhuyễn, kiên trú và vững chắc. Trong đại chúng, huynh đệ với nhau, người nào thường có phiền não, giận hờn, gặp chuyện này chuyện kia là do người đó không trú vào pháp, ai trú mạnh vào pháp thì những chuyện như vậy không xâm nhập được, đây là bí kiếp Chánh Pháp. Ngài Mục Kiền Liên bị bệnh cũng trị bệnh giống y như vậy, nghĩa là các thầy Tỳ-kheo đến nói Bảy giác chi, nói đơn giản là Niệm giác chi tức là Tứ Niệm Xứ, đơn giản hơn nữa là Niệm thân để trị bệnh. Cho nên, chúng ta ngồi thiền nếu có đau chân, ngồi nghe pháp nếu bị mỏi lưng, hãy Niệm thân thì có thể đỡ đau. Nếu tu tập pháp này quen rồi thì khi chết chúng ta sẽ được đỡ đau, vì lúc sắp sửa chết chúng ta không trú vào cảm thọ thân mà trú vào tâm bất động thì lúc đó sẽ không đau, hoặc có đau thì đau rất nhẹ. Vì vậy, hằng ngày chúng ta phải luôn luôn thực tập và hành trì pháp này.
Bất cứ việc gì cũng cần luyện tập, như ở ngoài biển, có người rải cát từ từ suốt mấy tiếng đồng hồ để tạo thành nhiều hình đẹp, tuy nhiên nó chỉ tồn tại một chút là bị sóng đánh mất, đó gọi là “trò chơi cũng lắm công phu”. Huống gì chúng ta muốn siêu phàm nhập thánh, thoát ly sanh tử, nếu không nỗ lực và cố gắng thì làm sao thành tựu! Tu tập Thánh Pháp giải thoát, đòi đạt quả cho cao, không muốn luân hồi sanh tử nhưng lại làm biếng, ngồi mát muốn hưởng bát vàng thì sao được, đó chính là tâm tham của chúng ta.
Vì vậy, dùng tâm tham lam để tu thì làm sao tu, lấy tâm làm biếng kiết sử để học đạo thì làm sao thành đạo. Tu mà cái nào khó thì bỏ qua, lựa cái nào dễ mới tu thì sao được, như vậy là bị dụ đi vào tà kiến, mê tín, tà đạo, bị gạt suốt cả cuộc đời. Cứ nghĩ rằng: “Chánh Pháp của Phật thì khó, cao siêu, để cho quý thầy, quý cô tu, còn mình là phàm phu mê muội, nghiệp nặng nên kiếm cái nào nhẹ, dễ để tu”. Nghe qua thì tưởng đâu hay nhưng thật sự thì không phải, đó là một loại kiết sử, phiền não, làm biếng. Cũng như đi Mỹ là một chuyện khó chứ không phải dễ nhưng có người vẫn đi, họ phỏng vấn rớt nhiều lần nhưng luôn cố gắng, dù 3 năm, 5 năm thì vẫn muốn làm cho được. Tu mà muốn thành tựu thì khó hơn đi Mỹ một ngàn lần, cho nên phải luôn tỉnh giác, chánh niệm, suy xét thật là sâu sắc cái nào đúng Chánh Pháp, không phải thấy ai làm gì mình cũng làm theo, chưa chắc đó là đúng. Chánh Pháp rất khó nghe khó gặp, không phải dễ.
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu bài kinh nói về pháp trị bệnh của Đức Thế Tôn và các bậc đại thánh – Ngài Đại Ca Diếp và Ngài Đại Mục Kiền Liên.
Tu tập Bảy giác chi y chỉ viễn ly
Trong Phẩm Về Bệnh, Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Thế Tôn có dạy:
-- Ví như, này các Tỷ-kheo, có những loại hữu tình (pàna) theo bốn cử chỉ, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm. Tất cả những sanh loại ấy y cứ vào đất, an trú vào đất; mà thực hiện bốn cử chỉ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi. (Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, II. Phẩm Về Bệnh, bài kinh Sanh Loại)
Đức Phật nói rằng, tất cả mọi người dù đi, đứng, nằm hay ngồi thì tất cả đều y cứ trên mặt đất, cũng vậy, đối với người tu thì phải y cứ vào giới, giới giống như mặt đất, người tu phải giữ những giới đã thọ, dựa vào đó để tu Bảy giác chi. Quan trọng là tu Bảy giác chi là phải liên hệ đến “viễn ly”, liên hệ đến “ly tham”, liên hệ đến “đoạn diệt”, liên hệ đến “từ bỏ” – những từ này đắt giá vô cùng, đó là khẩu quyết của bậc Thánh, đọc lên không phải dễ hiểu.
Tu Bảy giác chi liên hệ đến viễn ly, tức là liên hệ đến sự xa lìa, đến sự không còn tham muốn, đến sự chấm và hướng đến chỗ từ bỏ. Thế nào là “tu Bảy giác chi liên hệ đến sự xa lìa”? Nói đơn giản là tu Tứ Niệm Xứ, tức là quay trở về trong sự quán thân tâm nhằm mục đích rời xa, không còn tham muốn, chấm dứt, từ bỏ nó, như vậy mới đúng là Chánh Pháp. Nếu tu bất cứ cái gì mà còn yêu thích thân này thì đó không phải là Thánh Pháp. Vì sao? Vì từ thân mà có cái già; từ thân mà có cái bệnh; từ thân mà có sầu, bi, khổ, ưu, não; từ thân mà có cái chết… cho nên nếu còn ưa thích, tham đắm, say mê, khao khát thân này thì làm sao hết khổ! Tu mà cứ đòi đi qua chỗ này, đòi đi qua chỗ kia thì đó là “tu mù”. Tu giải thoát là chấm dứt sanh tử, không còn mang những cái thân mà trong đó là vô thường, khổ, vô ngã. Chúng ta đừng tưởng tượng đến một cái thân không có già, bệnh, chết, bởi lẽ, không có cái thân nào mà không có già, bệnh, chết. Chư Thiên khi rơi xuống thì thường thường rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Cho nên, tu tập theo Chánh Pháp sẽ đưa đến việc rời xa sự tham đắm vào thân thể này. Chính vì vậy, hình ảnh bộ xương, hình ảnh về chín giai đoạn của một tử thi nhằm mục đích đưa đến sự “rời xa”, “nhàm chán”, “không ưa thích”, “chấm dứt”, “từ bỏ” thân thể này. Những chữ này là chuẩn tắc của Chánh Pháp, bất cứ sự tu nào mà Đức Phật dạy đều phải liên hệ đến những chữ này, như vậy mới đúng là Chánh tri kiến.
Trong cơ thể chúng ta gồm 32 thứ: miệng, bao tử, gan… bất cứ thứ nào cũng có thể ung thư được. Chỗ nào cũng có thể bệnh, chỗ nào cũng đều dơ bẩn như vậy nhưng vì sự vô minh nên dẫn đến tham ái. Vô minh là không biết những thứ đó dơ bẩn, khổ đau, bệnh tật mà tưởng chúng sạch, vui, đẹp, vì cái tưởng trong sự vô minh đó nên chúng ta mới yêu thích, say đắm, nắm chặt, chấp thủ chúng. Chính vì vậy mà hết thân này đến thân kia, hết thân kia đến thân nọ, dù là thân giòi, kiến, rùa, gián, trùng, chó, mèo, heo, gà, vịt… thì cũng vẫn ưa thích, khoan khoái trong thân đó. Con chó cũng tự hào vì cái thân của nó, nó cũng có cảm giác dục, cũng say đắm trong ngũ uẩn đó.
Cho nên, tất cả sự tham ái, tham dục trong thân này chính là nguyên nhân của luân hồi, nguyên nhân của sự tái sanh, nguyên nhân của sự tiếp tục một đời sống tiếp nối ở trong ngũ uẩn vô thường. Giáo pháp của Đức Phật gọi là giải thoát sanh tử, dầu chúng ta chưa có chí hướng cao thượng nhưng cần phải nhớ kỹ điều này. Đừng nghĩ điều đó cao siêu, mình không làm được, còn muốn thân khác nữa nên không chấp nhận giáo pháp thật sự của Đức Phật, nghĩ như vậy là không đúng. Mà chúng ta cần phải biết mình đang ở đâu, biết Chánh Pháp là gì thì điều này vô cùng quý giá.
Người học Phật phải biết giáo pháp thật sự của Đức Phật là sự nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, chấm dứt đối với những xác thân vô thường nhơ nhớp, bẩn thỉu, hôi tanh, bệnh hoạn, đau khổ. Tuy chưa mong muốn đạt đến chỗ đó nhưng phải biết giáo pháp thật sự của Đức Phật là vậy và biết mình đang ở đâu, như thế mới gọi là người cầu pháp, người học Phật chân chánh. Đừng nói pháp này cao siêu, mình còn muốn có thân khác nên không chịu nghe pháp, không phải như vậy, mà chúng ta cứ nghe để nhận thức được cái đúng và cái không đúng là như thế nào. Chừng nào mình u đầu sứt trán, đau khổ cùng cực thì lúc đó mới thấu hiểu, mới thấm thía lời của Đức Thế Tôn, lúc đó mới đau khổ, mới nhàm chán và Nhập lưu Thánh quả Tu-đà-hoàn.
Cho nên, đừng vội phán xét, đừng nghĩ pháp cao siêu, đừng nghĩ mình vẫn muốn có thân để hưởng thụ nên không chịu nghe pháp. Mọi người cứ nghe để hiểu pháp của Phật là như vậy, còn mình đang ở đâu thì biết bản thân đang ở đó. Nếu không nghe pháp thì chúng ta sẽ hiểu sai, cứ nghĩ tu theo Phật là được về cõi Niết-bàn để hưởng thụ, không có chuyện như vậy, mà Niết-bàn là chỗ đi ra ngoài năm uẩn, không còn tham đắm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức./.
TƯƠNG ƯNG GIÁC CHI
BÀI KINH TRỊ BỆNH CHO ĐỨC PHẬT A
Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nước mắt trí tuệ PAGEREF _Toc85526695 \h 1
I.Bài kinh trị bệnh cho Đức Phật và Thánh chúng PAGEREF _Toc85526696 \h 4
1.Trị bệnh cho Ngài Đại Ca Diếp PAGEREF _Toc85526697 \h 4
2.Trị bệnh cho Đức Phật PAGEREF _Toc85526698 \h 8
3.Thường trú niệm bất tử PAGEREF _Toc85526699 \h 10
II.Tu tập Bảy giác chi y chỉ viễn ly PAGEREF _Toc85526700 \h 12
Nước mắt trí tuệ
Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận không khí mát mẻ, trong lành. Cảm nhận sự an tịnh, lắng dịu, cảm nhận sự dễ chịu, ngọt ngào trong khoảnh khắc này. Hãy cảm nhận thật sâu sắc khoảnh khắc này, không gian này, trời đất này. Cảm nhận sự mát mẻ, sự an tịnh, sự bình an. Cảm nhận những làn sương, tiếng chim, khóm trúc. Cảm nhận sự ấm áp của quý thầy, quý sư cô, quý đạo hữu, sự ấm áp của Tăng đoàn trong giờ phút này. Đại chúng cùng nhìn Thánh tượng của Đức Thế Tôn ở trước mặt để cảm nhận sự bình an, sự thanh tịnh, sự siêu thoát tục lụy, sự hạnh phúc vĩ đại của Ngài. Đại chúng hãy cảm nhận một cách sâu sắc và trọn vẹn.
Chúng ta phải thực tập cảm nhận, bởi vì trước giờ ta quen sống với những thứ giả dối, sống trong những tấm hình, sống trong màn điện thoại, sống với những ảo tưởng trong tâm, với những suy nghĩ lầm thầm, hư vọng. Chúng ta ít chạm được vào sự thật ở ngay trước mặt mình. Bên ngoài thì lăng xăng, loạn động, vào ngồi thiền thì ngủ gục, tâm lang thang, sống trong lang bạc. Vô cùng đáng thương cho chúng ta, mỗi khi ngồi lại toàn nói về tham, sân, si, sầu, bi, ưu, não, tham ái, chấp thủ, dính mắc, bản ngã, hơn thua. Vậy, làm sao hết khổ đây? Thế nên, chúng ta về Linh Quy để thấy được Pháp Ấn. Từ khi quý vị bước chân về đến Linh Quy là quý vị đã thấy được Pháp Ấn, thấy được bộ xương được đặt trước mặt.
Khi ngồi thiền, quý Phật tử có cảm thọ được không, cảm thọ như thế nào?
Phật tử 1: Kính bạch thầy và kính thưa đại chúng, khi con ngồi thiền ở Linh Quy Pháp Ấn, con cảm nhận được không gian tĩnh lặng, thân tâm rất an lạc, trước nay con chưa bao giờ ngồi thiền được một tiếng đồng hồ, nhiều nhất chỉ nửa tiếng thôi. Vì thế, hôm nay con rất là hoan hỷ vì ngồi thiền được một tiếng đồng hồ. Thứ nhất là nhờ sự hiện diện của thầy, thứ hai là có tọa cụ nên con không thấy đau nhức nhiều. Hơn nữa nhờ sự hiện diện của quý thầy cô nên dù có đau nhức con cũng cố gắng.
Lần đầu tiên được nghe lời Phật dạy trong kinh tạng Nikāya, con thấy mình phải luôn luôn theo dõi thân tâm để xả bỏ. Con rất cảm ơn công đức của thầy đã truyền dạy những lời của Đức Phật dạy, nhờ đó con được rõ biết. Con rất xúc động và cảm niệm công đức của thầy.
Từ trước đến này con hành trì theo pháp môn niệm Phật, thành ra con thường niệm Phật. Ngày nay con nghe được pháp môn Nikāya, con kính bạch thầy hoan hỷ hướng dẫn để con thực hành được đúng pháp. Mô Phật.
Sư phụ: Khi ngồi thiền, cô được nghe bài Thân Trống Rỗng, cô cảm nhận được gì trong buổi ngồi thiền đó.
Con thấy mình phải luôn luôn tỉnh giác, cảm nhận những sự việc ở bên ngoài cũng như trong tâm, mình phải xả bỏ, không vướng mắc. Khi nghe được kinh Nikāya, mình phải từ từ kiểm soát thân tâm để những thói hư tật xấu trước nay được gỡ bỏ từ từ, thực hành đúng theo lời Phật dạy. Muốn giải thoát trên con đường giác ngộ thì chính bản thân mình phải tu tập để từ từ thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứ không ai có thể giúp mình.
Phật tử 2: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch thầy, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Buổi sáng hôm này khi ngồi thiền con bị hôn trầm vì lúc tối không ngủ được, nhưng nhờ có được năng lượng từ trường của thầy cũng tiếp cho con sức mạnh, cố gắng kéo mình lại. Bài pháp hôm qua và ngồi thiền sáng nay, thầy nói về thân trống rỗng, con có quán tưởng đến bộ xương, quán tưởng đến hủ cốt của Bà Năm, đó là một bài pháp sống, là sự truyền trao sự bất tử của thầy cho chúng con. Sự thực tập của mình còn kém nên khi tự thực tập con thấy rất khó khăn, vì vậy, sáng nay con rất hạnh phúc khi có thầy, nhờ đó con và đại chúng có thêm sức mạnh. Con cũng mong ước mỗi khi lên Linh Quy, lúc nào cũng được thầy hướng dẫn, dạy bảo, dìu dắt cho chúng con. Con rất cảm ơn quý thầy, quý sư cô và đại chúng đã tạo điều kiện cho con có buổi tu tập đầy ý nghĩa.
Sư phụ: Cô ngồi thiền có khóc không?
Dạ, con không có khóc. Nói chung, buổi ngồi thiền sáng nay là sự đấu tranh của con giữa hôn trầm và những lời dạy của thầy.
Sư phụ: Nhớ ba, nhớ má, nhớ thầy, nhớ bà Năm, nhớ chuyện buồn thì khóc, còn khi nghe thiền quán thì chưa có khóc, mà chỗ đó là chỗ mới cần khóc.
***
Có nhiều người lúc nào gặp cũng khóc hết nhưng khi thiền quán thì chưa chịu khóc. Tại sao? Vì cái khóc của mình là khóc trong tham ái. Nhiều Phật tử khi nói chuyện về chồng con, gia đình một lát sau là khóc nhưng nghe pháp ít khi khóc được. Thế nhưng, nếu chúng ta nghe pháp mà khóc được thì rất tốt, ngồi thiền mà khóc được lại càng tốt, còn những cái khóc khác là tầm thường.
Có nhiều Phật tử khi nhìn thấy bộ xương thì chảy nước mắt, nghe pháp thì nước mắt tuôn vì thấy được sự thật. Tất cả là nhờ sự thật của Chánh Pháp đánh động vào tâm thức, đánh động vào dòng cảm thọ, làm chúng ta xúc động trước sự thật, xúc động trước Chánh Pháp, xúc động trước chân lý, xúc động trước vô minh, tham ái của mình. Sự xúc động đó là xúc động của trí tuệ, vì vậy, khi nghe pháp đừng sợ khóc, la lớn lên cũng được, không sao hết. Cứ khóc thét lên trước sự thật, trước chân lý, trước Chánh Pháp. Những giọt nước mắt đó là quý báu, thù thắng, tối thượng. Giọt nước mắt đó được ví như là kim cương khi chúng ta xúc động trước Chánh Pháp.
Chính vì vậy, khi giảng pháp, hướng dẫn thiền quán mà thấy ai khóc thì Minh Thành thường mời phát biểu, tại vì đó là những giọt kim cương trí tuệ trong vòng luân hồi này. Chúng ta khóc rất nhiều nhưng toàn khóc trong tham ái, luyến ái, ân ái, chứ chúng ta ít khóc trước chân lý, chân pháp, sự thật, trí tuệ. Đạo tràng Nikāya của chúng ta thường được gọi là “đạo tràng khóc”, đâu phải dễ nghe pháp mà chảy được nước mắt. Đầu tiên, đó phải là Thánh Pháp, Chánh Pháp. Thứ hai, những vị chia sẻ pháp phải có năng lực, có phần thể nghiệm mới có thể chuyển tải được sự thật và làm người nghe xúc động trước sự thật. Cho nên, khi nghe pháp mà có những giọt nước mắt tuôn xuống, chấn động, chấn cảm, xúc động thì hãy để nó tuôn ra, vì đó là những giọt nước mắt kim cương trong vòng luân hồi này. Giọt nước mắt của ân ái, tình ái, tham ái, luyến ái nhiều như Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, Thái Bình Dương vậy. còn giọt nước mắt rơi xuống vì Chánh Pháp, vì sự thật, vì chân lý vô cùng ít, không đựng đủ một ly đầy.
Cho nên các Phật tử trong đạo tràng Nikāya nghe pháp mà xúc động là rất tốt. Hãy cứ xúc động, để cho cảm giác bung ra, tuôn ra, trào ra trong việc cảm nhận chân lý, còn không là chúng ta cứ trơ trơ trước sự thật, không cảm nhận được gì. Khi xem cải lương, nếu nước mắt chúng ta chảy ra chứng tỏ tuồng cải lương đó rất hay, rất xúc động, cũng vậy, Chánh Pháp làm cho mình xúc động. Cho nên có nhiều người khi nhìn thấy bộ xương thì họ tuôn nước mắt, rơi lệ, xúc động trước một sự thật phũ phàng. Sự thật này ít có người nói cho mình nghe, chúng ta cũng không muốn nghe, không muốn thấy, chính vì vậy mà mình sống trong sự giả, trong si mê, vô minh và đau khổ.
Bài kinh trị bệnh cho Đức Phật và Thánh chúng
Minh Thành muốn giới thiệu cho đại chúng một bài kinh, quý vị khó tưởng tượng được về bài kinh này, đây là bài kinh trị bệnh cho Đức Phật, trị bệnh cho Ngài Ma Ha Ca Diếp, trị bệnh cho Ngài Mục Kiền Liên. Ít ai biết bài kinh này, nếu không học kinh Nikāya thì sẽ không biết, vì vậy, chúng ta cần phải nghe, phải học nhiều bài kinh Nikāya. Khi Đức Phật bị bệnh, các thầy Tỳ-kheo đọc bài kinh này lên và sau đó các Ngài được khỏi bệnh, ngài Ma Ha Ca Diếp và Ngài Mục Kiền Liên cũng vậy.
Trị bệnh cho Ngài Đại Ca Diếp
Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Sau này phía trên chỗ chúng ta cũng có Trúc Lâm, Minh Thành trồng hết rồi, mình sẽ tái hiện Trúc Lâm Tinh Xá. Chỗ rừng trúc nơi Đức Thế Tôn đang ở có nhiều sóc, dưới thất Minh Thành cũng có nhiều sóc, nơi nào có tre trúc thì có nhiều sóc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Kassapa trú ở hang Pipphalì, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
Có ai đã đi Ấn Độ sẽ biết hang bằng đá của Ngài Ma Ha Ca Diếp ở trên núi Linh Thứu. Khi đến đó, Minh Thành lạy xuống và khóc nức nở, đoạn phim đó chưa ra được vì chưa có người có khả năng dựng nổi bộ này. Lúc đến Bồ Đề Đạo Tràng, Minh Thành cũng khóc thét lên, chấn động Thánh tích, khi đó có nhiều người ở đó, họ không hiểu gì, ai cũng nhìn hết. Minh Thành khóc hơn má chết lúc đến được Bồ Đề Đạo Tràng, sau đó, khi trở về Linh Quy, Minh Thành nhập thất hai tháng và đi vào niềm tin bất động đối với Đức Phật.
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Kassapa, Ông có kham nhẫn được chăng? Ông có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không có tăng trưởng?
Chúng ta thấy người thầy rất thương học trò, Ngài Ma Ha Ca Diếp lớn tuổi hơn cả Đức Phật. Ngài Ca Diếp hướng dẫn cho 500 vị đệ tử, khi nghe Đức Phật giáo hóa đúng Chánh Pháp, Ngài giải tán hết tất cả 500 người rồi đi theo làm đệ tử của Đức Phật, ai muốn theo Ngài thì đi, không đi thì thôi. Đó gọi là người khuất phục trước chân lý, còn bây giờ nhiều người có chừng 50 vị đệ tử thôi nhưng có dám bỏ để theo người khác không, hay nghĩ rằng “bây giờ tôi đang làm sư phụ, có 50 đệ tử, nếu bỏ đi theo ông, tôn ông làm sư phụ, tôi làm đệ tử hay sao? Tôi đang làm sư phụ, bây giờ thành đệ tử hay sao?”. Người xưa cầu đạo không màng danh lợi, họ khuất phục trước chân lý, sự thật.
Khi Đức Thế Tôn hỏi Ngài Ca Diếp có chịu nổi không, đau nhiều hay đau ít, có phải triệu chứng giảm thiểu, không tăng thêm không thì Ngài Ca Diếp đáp lời:
-- Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không có giảm thiểu.
Ngài Đại Ca Diếp nói rằng Ngài đau lắm. Ở đây, chúng ta nên nhớ rằng Ngài Ca Diếp đã là bậc A-la-hán, mình đừng học theo kiểu tưởng tượng là bậc Thánh thì không biết đau, mà phải hiểu đúng là thân đau nhưng tâm các Ngài không đau. Có một bài kinh nói về việc Đức Phật cũng bị đau nhưng Ngài không khổ, thân tứ đại đau nhức nhưng tâm thì không đau, Ngài chỉ có cảm thọ đau. Chính vì thân này khổ như vậy nên Đức Phật mới cầu chứng chỗ không sanh, chứ không phải thành Phật, thành bậc A-la-hán là không biết đau, trước giờ chúng ta tưởng tượng sai lầm, tưởng tượng theo vô minh, tà kiến, mê tín dị đoan. Không có thân nào mà không đau bệnh, đã có thân thì phải có đau bệnh, chịu khổ đau về thân, dù cho đó là thân của bậc Chánh Đẳng Giác, tại vì thân này cũng làm bằng tứ đại.
-- Này Kassapa, bảy giác chi này do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn...
Niệm giác chi tức là chánh niệm, gồm: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Chánh niệm này do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Chánh niệm này là Tứ Niệm Xứ, tức là luôn luôn xoay trở lại, nhìn ngó, quán xét, nhớ nghĩ thân thể, hành vi, cử chỉ, oai nghi. Luôn thấy được những yếu tố kết thành thân này là tứ đại, thấy được sự vô thường, tan hoại, thấy được chín giai đoạn của một tử thi, thấy được bộ xương, thấy được đống tro, thấy được lò thiêu. Thường nhớ đến những cảm giác và quán chiếu, nhiếp phục những cảm giác tham, sân, si, bản ngã. Thường thường soi rọi lại nội tâm, dòm ngó, xem xét để thấy trong đó có gì cấu uế, bất thiện thì diệt; còn thiện pháp, trí tuệ, công đức thì làm sanh khởi. Đó là giác chi thứ nhất, là pháp Thế Tôn tu tập, chứng ngộ, thành tựu và thuyết giảng.
… Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi, Xả giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bảy giác chi này, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Để học bài kinh này chúng ta phải nhuần nhuyễn, nắm vững được Bảy giác chi. Khi Đức Phật nói như vậy, Ngài Ma Ha Ca Diếp bạch Thế Tôn:
-- Thật vậy, bạch Thế Tôn, chúng là giác chi. Thật vậy, bạch Thiện Thệ, chúng là giác chi.
Sau khi nghe Đức Phật nói, Ngài Ma Ha Ca Diếp nói rằng “thật vậy, những pháp đó là con đường giác ngộ”, Ngài Ca Diếp vui thích, cảm nhận được giá trị của Chánh Pháp và lập tức khỏi bệnh.
Thế Tôn thuyết như vậy, Tôn giả Mahà Kassapa hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và Tôn giả Mahà Kassapa được thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Tôn giả Mahà Kassapa được đoạn tận như vậy. (Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, II. Phẩm Về Bệnh, bài kinh Bệnh 1)
Chúng ta cả đời đi chùa, cho đến gần chết mới nghe được bài kinh này. Trước giờ mình cứ tưởng các Ngài khi bệnh sẽ niệm cầu đến ai nhưng điều đó không phải, mà khi bệnh phải niệm thân, niệm sự vô thường, bại hoại, sự bất tịnh, bệnh hoạn đau khổ của thân để thấy sự thật và thực chứng nó.
Như khi ngồi hộ niệm cho bà Năm là Minh Thành đang sử dụng Bảy giác chi của Đức Phật chứ không phải ngồi cầu xin ai cả, lúc đó giúp cho bà nhìn thấy thân, thọ, tâm, pháp, làm cho bà sanh khởi Hỷ giác chi. Còn nếu không biết thực tập Hỷ giác chi là mình ngồi đó khóc, sầu, bi, khổ, ưu, não thì làm sao giúp người ta hoan hỷ được. Không có ai mẹ mình đang chết kế bên mà lại kêu mọi người hạnh phúc lên, vui sướng lên, hoan hỷ lên. Cho nên, chỉ có Thánh Pháp mới như vậy, chứ không phải là phàm phu pháp. Bình thường, nếu không tu tập Bảy giác chi thì lúc đó mình đâu có Hỷ giác chi được, chúng ta chỉ “sầu bi” chứ không có “giác chi”.
Vì thế, những bài kinh này là báu vật trị bệnh, Thánh dược bất tử, không chỉ riêng Ngài Ma Ha Ca Diếp, mà cả Ngài Mục Kiền Liên và Đức Thế Tôn đều lấy Bảy giác chi trị bệnh.
Trị bệnh cho Đức Phật
Một thời Thế Tôn ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
Trong kinh dùng từ “bị bệnh”, “khổ đau”, “trọng bệnh”, cho nên, kinh Nikāya mới nói cho mình sự thật, bằng không chúng ta chỉ học Phật trong tưởng tượng. Đức Phật bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, tại sao vậy? Phật đã nói thân này là khổ, vô thường, bệnh hoạn, vì thế, Ngài mới cầu chứng bất sanh, bất tử, Niết-bàn. Còn khi học những kinh khác, mình thấy Phật lạ lắm, nói rằng Ngài “thân kim cang bất hoại” nhưng đó không phải là sự thật, chỉ là tưởng tượng. Sự thật là Phật là thân tứ đại, các vị la hán cũng là thân tứ đại giống y chúng ta, tuy nhiên, các Ngài dù thân khổ nhưng tâm không khổ, thân bệnh nhưng tâm không bệnh, các Ngài biết bản chất của thân này là vậy, còn tâm các Ngài thì bất động, chứng ngộ sự thật. Không phải tu thành Thánh nhân rồi thì thân không còn cảm giác gì, chúng ta cần nhớ kỹ điều này, đừng bị gạt. Chúng ta học Phật trước giờ toàn học theo kiểu mê tín, bị gạt, tưởng tượng.
Rồi Tôn giả Mahà Cunda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Cunda đang ngồi một bên:
-- Này Cunda, hãy thuyết về giác chi.
Đức Phật gọi đệ tử của Ngài nói về Bảy giác chi. Chúng ta thấy rằng, chính pháp này là pháp do Ngài chứng ngộ, tuyên thuyết, giảng nói nhưng Ngài vẫn kêu đệ tử đến nói cho Ngài nghe. Vì vậy, Thánh Pháp, vô cùng tuyệt diệu, có giá trị vĩnh viễn, dù cho Đức Phật còn hay không còn, bất cứ người nào thực tập đúng Thánh Pháp thì người đó sẽ thể nhập Thánh trí và chứng ngộ Niết-bàn.
-- Bạch Thế Tôn, có bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Bạch Thế Tôn, niệm giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Bạch Thế Tôn, Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi… Xả giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Sau đó, Ngài Cunda nói về từng giác chi: chánh niệm – Tứ Niệm Xứ; trạch pháp – quyết trạch chọn lựa những thứ nào là tham, sân, si, bản ngã để diệt tận nó, còn đối với từ, bi, hỷ, xả thì phải phát huy; tinh tấn, nỗ lực tu tập; hoan hỷ; khinh an, nhẹ nhàng; tâm định và đạt đến chỗ hoàn toàn xả niệm thanh tịnh, rốt ráo.
Sau khi nghe về Bảy giác chi, Đức Thế Tôn nói:
-- Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi. Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi.
Tôn giả Mahà Cunda thuyết như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. Và Thế Tôn thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Thế Tôn được đoạn tận như vậy. (Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, II. Phẩm Về Bệnh, bài kinh Bệnh 3), (Kinh Hán Tạng: Tăng, Ðại 2,73la).
Bài kinh này không những bên tạng Pāli mà bên Hán tạng cũng giống hệt như nhau. Đây là bài kinh nói về Đức Thế Tôn và đệ tử thượng thủ của Ngài dùng Bảy giác chi trị bệnh. Ngài Mục Kiền Liên cũng trị bệnh giống y như vậy.
Thường trú niệm bất tử
Qua các bài kinh trên, chúng ta thấy được sự thật, thấy được lí do vì sao nghe đến Bảy giác chi là các Ngài khỏi bệnh.
Nói cho ngắn gọn, Niệm giác chi chính là Tứ Niệm Xứ. Trong Tứ Niệm Xứ, niệm đầu tiên là Niệm thân. Trong Niệm thân gồm: niệm hơi thở, niệm oai nghi, nghi hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chính giai đoạn của một tử thi. Khi chúng ta lên lò thiêu tụng kinh cho bà Năm thì mình cũng tụng Thân Hành Niệm, đó là niệm đầu tiên của Bảy giác chi, đó là niệm bất tử. Mà Niệm thân nói gọn là niệm tính chất bất tịnh, vô thường, khổ não, tan hoại của thân.
Các vị thuở xưa lâu ngày đã tu tập, chứng nhập trí tuệ về Niệm thân nên khi được nhắc lại thì trí tuệ đó bừng sáng lên trong tâm thiền định trí tuệ. Lúc đó các Ngài trú vào tâm định, trú vào trí tuệ sáng tỏ đó và vượt qua được bệnh đau, cái thân đau khi ấy không còn quan trọng nữa, vì “các pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, lúc đó các Ngài tác ý vào pháp. Như khi ngồi nghe pháp, nếu bài pháp đó thâm sâu, vi diệu, đúng ý của mình thì lúc đó chúng ta hân hoan, thích thú, vui sướng, nhiều cảm xúc và quên đi cái đau, cái mỏi, sau khi nghe xong mới nhận ra đau mỏi. Còn các Ngài trú trong pháp rất mạnh nên vượt qua được cả nỗi đau của thân và hết bệnh. Người nào chú trọng pháp, tu tập pháp, hành trì pháp, tha thiết với pháp thì người đó cảm nhận điều này rất dễ.
Cũng như nhiều khi ngồi với đại chúng suốt năm tiếng đồng hồ nhưng Minh Thành vẫn cảm thấy hỷ lạc, sung sướng, hoan hỷ, an lạc, nhẹ nhàng như mây bay, gió thoảng, hơn cả ở trên cảnh trời. Tới khi hết giờ thời khóa, trở ra ngoài thì mới thấy đau chân, đau lưng, nhờ trú vào pháp nên chúng ta mới quên cảm thọ của thân, tâm được hỷ lạc trong pháp. Đó là ví dụ nhỏ cho mình dễ thấy, huống hồ Thế Tôn và các bậc đại thánh A-la-hán, cái đau đối với cái Ngài không là gì cả, chỉ cần các Ngài trú vào pháp thì có thể hết bệnh.
Cho nên, chúng ta cần tu pháp thật nhuần nhuyễn, kiên trú và vững chắc. Trong đại chúng, huynh đệ với nhau, người nào thường có phiền não, giận hờn, gặp chuyện này chuyện kia là do người đó không trú vào pháp, ai trú mạnh vào pháp thì những chuyện như vậy không xâm nhập được, đây là bí kiếp Chánh Pháp. Ngài Mục Kiền Liên bị bệnh cũng trị bệnh giống y như vậy, nghĩa là các thầy Tỳ-kheo đến nói Bảy giác chi, nói đơn giản là Niệm giác chi tức là Tứ Niệm Xứ, đơn giản hơn nữa là Niệm thân để trị bệnh. Cho nên, chúng ta ngồi thiền nếu có đau chân, ngồi nghe pháp nếu bị mỏi lưng, hãy Niệm thân thì có thể đỡ đau. Nếu tu tập pháp này quen rồi thì khi chết chúng ta sẽ được đỡ đau, vì lúc sắp sửa chết chúng ta không trú vào cảm thọ thân mà trú vào tâm bất động thì lúc đó sẽ không đau, hoặc có đau thì đau rất nhẹ. Vì vậy, hằng ngày chúng ta phải luôn luôn thực tập và hành trì pháp này.
Bất cứ việc gì cũng cần luyện tập, như ở ngoài biển, có người rải cát từ từ suốt mấy tiếng đồng hồ để tạo thành nhiều hình đẹp, tuy nhiên nó chỉ tồn tại một chút là bị sóng đánh mất, đó gọi là “trò chơi cũng lắm công phu”. Huống gì chúng ta muốn siêu phàm nhập thánh, thoát ly sanh tử, nếu không nỗ lực và cố gắng thì làm sao thành tựu! Tu tập Thánh Pháp giải thoát, đòi đạt quả cho cao, không muốn luân hồi sanh tử nhưng lại làm biếng, ngồi mát muốn hưởng bát vàng thì sao được, đó chính là tâm tham của chúng ta.
Vì vậy, dùng tâm tham lam để tu thì làm sao tu, lấy tâm làm biếng kiết sử để học đạo thì làm sao thành đạo. Tu mà cái nào khó thì bỏ qua, lựa cái nào dễ mới tu thì sao được, như vậy là bị dụ đi vào tà kiến, mê tín, tà đạo, bị gạt suốt cả cuộc đời. Cứ nghĩ rằng: “Chánh Pháp của Phật thì khó, cao siêu, để cho quý thầy, quý cô tu, còn mình là phàm phu mê muội, nghiệp nặng nên kiếm cái nào nhẹ, dễ để tu”. Nghe qua thì tưởng đâu hay nhưng thật sự thì không phải, đó là một loại kiết sử, phiền não, làm biếng. Cũng như đi Mỹ là một chuyện khó chứ không phải dễ nhưng có người vẫn đi, họ phỏng vấn rớt nhiều lần nhưng luôn cố gắng, dù 3 năm, 5 năm thì vẫn muốn làm cho được. Tu mà muốn thành tựu thì khó hơn đi Mỹ một ngàn lần, cho nên phải luôn tỉnh giác, chánh niệm, suy xét thật là sâu sắc cái nào đúng Chánh Pháp, không phải thấy ai làm gì mình cũng làm theo, chưa chắc đó là đúng. Chánh Pháp rất khó nghe khó gặp, không phải dễ.
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu bài kinh nói về pháp trị bệnh của Đức Thế Tôn và các bậc đại thánh – Ngài Đại Ca Diếp và Ngài Đại Mục Kiền Liên.
Tu tập Bảy giác chi y chỉ viễn ly
Trong Phẩm Về Bệnh, Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Thế Tôn có dạy:
-- Ví như, này các Tỷ-kheo, có những loại hữu tình (pàna) theo bốn cử chỉ, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm. Tất cả những sanh loại ấy y cứ vào đất, an trú vào đất; mà thực hiện bốn cử chỉ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi. (Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, II. Phẩm Về Bệnh, bài kinh Sanh Loại)
Đức Phật nói rằng, tất cả mọi người dù đi, đứng, nằm hay ngồi thì tất cả đều y cứ trên mặt đất, cũng vậy, đối với người tu thì phải y cứ vào giới, giới giống như mặt đất, người tu phải giữ những giới đã thọ, dựa vào đó để tu Bảy giác chi. Quan trọng là tu Bảy giác chi là phải liên hệ đến “viễn ly”, liên hệ đến “ly tham”, liên hệ đến “đoạn diệt”, liên hệ đến “từ bỏ” – những từ này đắt giá vô cùng, đó là khẩu quyết của bậc Thánh, đọc lên không phải dễ hiểu.
Tu Bảy giác chi liên hệ đến viễn ly, tức là liên hệ đến sự xa lìa, đến sự không còn tham muốn, đến sự chấm và hướng đến chỗ từ bỏ. Thế nào là “tu Bảy giác chi liên hệ đến sự xa lìa”? Nói đơn giản là tu Tứ Niệm Xứ, tức là quay trở về trong sự quán thân tâm nhằm mục đích rời xa, không còn tham muốn, chấm dứt, từ bỏ nó, như vậy mới đúng là Chánh Pháp. Nếu tu bất cứ cái gì mà còn yêu thích thân này thì đó không phải là Thánh Pháp. Vì sao? Vì từ thân mà có cái già; từ thân mà có cái bệnh; từ thân mà có sầu, bi, khổ, ưu, não; từ thân mà có cái chết… cho nên nếu còn ưa thích, tham đắm, say mê, khao khát thân này thì làm sao hết khổ! Tu mà cứ đòi đi qua chỗ này, đòi đi qua chỗ kia thì đó là “tu mù”. Tu giải thoát là chấm dứt sanh tử, không còn mang những cái thân mà trong đó là vô thường, khổ, vô ngã. Chúng ta đừng tưởng tượng đến một cái thân không có già, bệnh, chết, bởi lẽ, không có cái thân nào mà không có già, bệnh, chết. Chư Thiên khi rơi xuống thì thường thường rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Cho nên, tu tập theo Chánh Pháp sẽ đưa đến việc rời xa sự tham đắm vào thân thể này. Chính vì vậy, hình ảnh bộ xương, hình ảnh về chín giai đoạn của một tử thi nhằm mục đích đưa đến sự “rời xa”, “nhàm chán”, “không ưa thích”, “chấm dứt”, “từ bỏ” thân thể này. Những chữ này là chuẩn tắc của Chánh Pháp, bất cứ sự tu nào mà Đức Phật dạy đều phải liên hệ đến những chữ này, như vậy mới đúng là Chánh tri kiến.
Trong cơ thể chúng ta gồm 32 thứ: miệng, bao tử, gan… bất cứ thứ nào cũng có thể ung thư được. Chỗ nào cũng có thể bệnh, chỗ nào cũng đều dơ bẩn như vậy nhưng vì sự vô minh nên dẫn đến tham ái. Vô minh là không biết những thứ đó dơ bẩn, khổ đau, bệnh tật mà tưởng chúng sạch, vui, đẹp, vì cái tưởng trong sự vô minh đó nên chúng ta mới yêu thích, say đắm, nắm chặt, chấp thủ chúng. Chính vì vậy mà hết thân này đến thân kia, hết thân kia đến thân nọ, dù là thân giòi, kiến, rùa, gián, trùng, chó, mèo, heo, gà, vịt… thì cũng vẫn ưa thích, khoan khoái trong thân đó. Con chó cũng tự hào vì cái thân của nó, nó cũng có cảm giác dục, cũng say đắm trong ngũ uẩn đó.
Cho nên, tất cả sự tham ái, tham dục trong thân này chính là nguyên nhân của luân hồi, nguyên nhân của sự tái sanh, nguyên nhân của sự tiếp tục một đời sống tiếp nối ở trong ngũ uẩn vô thường. Giáo pháp của Đức Phật gọi là giải thoát sanh tử, dầu chúng ta chưa có chí hướng cao thượng nhưng cần phải nhớ kỹ điều này. Đừng nghĩ điều đó cao siêu, mình không làm được, còn muốn thân khác nữa nên không chấp nhận giáo pháp thật sự của Đức Phật, nghĩ như vậy là không đúng. Mà chúng ta cần phải biết mình đang ở đâu, biết Chánh Pháp là gì thì điều này vô cùng quý giá.
Người học Phật phải biết giáo pháp thật sự của Đức Phật là sự nhàm chán, xa lìa, từ bỏ, chấm dứt đối với những xác thân vô thường nhơ nhớp, bẩn thỉu, hôi tanh, bệnh hoạn, đau khổ. Tuy chưa mong muốn đạt đến chỗ đó nhưng phải biết giáo pháp thật sự của Đức Phật là vậy và biết mình đang ở đâu, như thế mới gọi là người cầu pháp, người học Phật chân chánh. Đừng nói pháp này cao siêu, mình còn muốn có thân khác nên không chịu nghe pháp, không phải như vậy, mà chúng ta cứ nghe để nhận thức được cái đúng và cái không đúng là như thế nào. Chừng nào mình u đầu sứt trán, đau khổ cùng cực thì lúc đó mới thấu hiểu, mới thấm thía lời của Đức Thế Tôn, lúc đó mới đau khổ, mới nhàm chán và Nhập lưu Thánh quả Tu-đà-hoàn.
Cho nên, đừng vội phán xét, đừng nghĩ pháp cao siêu, đừng nghĩ mình vẫn muốn có thân để hưởng thụ nên không chịu nghe pháp. Mọi người cứ nghe để hiểu pháp của Phật là như vậy, còn mình đang ở đâu thì biết bản thân đang ở đó. Nếu không nghe pháp thì chúng ta sẽ hiểu sai, cứ nghĩ tu theo Phật là được về cõi Niết-bàn để hưởng thụ, không có chuyện như vậy, mà Niết-bàn là chỗ đi ra ngoài năm uẩn, không còn tham đắm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức./.