Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tại Sao Có Đại Tam Tai Xảy Ra - Làm Sao Hoá Giải 1

2026-03-03 00:52:42
Kiếp hoại - Tại Sao Có Đại Tam Tai Xảy Ra?

Làm Sao Hoá Giải 1?

Thích Minh Thành

Ngày 28 tháng 09 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trình Pháp PAGEREF _Toc119770454 \h 1

II. Ba sợ hãi PAGEREF _Toc119770455 \h 2

III. Nguồn gốc tai họa PAGEREF _Toc119770456 \h 4

IV. Bài kinh Mặt Trời PAGEREF _Toc119770457 \h 13

V. Trình pháp 2 PAGEREF _Toc119770458 \h 23



I. Trình Pháp

Trong chúng ta có ai muốn trình pháp không? Trong mấy ngày qua tu học ra sao?

Phật tử số 1 trình pháp:

Kính bạch trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con pháp danh Huệ Lý xin trình pháp mấy ngày qua tu học.

Trong mấy ngày qua, con được quý thầy, quý sư dẫn dắt, thì con đã nhìn ra được cái ngu của mình, bao nhiêu lâu nay con cứ tưởng mình là người hiểu biết, giờ con vào trong pháp này cái gì con cũng không biết. Vì con tụng kinh, tụng kệ thì chỉ biết trên chữ, nghĩa con không biết, giờ vào đây con được quý thầy chỉ dạy, con cũng biết ra được nhiều điều.

Con rất tri ân sư phụ đã cho con về đây tu tập và hướng dẫn cho con đi vào dòng pháp Nikāya để con hoàn thiện được nhân cách của người tu. Và con cũng tri ân trên quý thầy, quý sư đã hướng dẫn cho con, dắt dẫn cho con để con biết đường con theo chúng tu tập.

Sáng nay, khi con bước vào đây, thiền đường ấm áp này, sắc con bước vào đây thì tưởng của con suy nghĩ giờ đang mùa bão lụt. Miền Trung chúng con năm nào cũng vậy, phải chịu trong cảnh tan thương, tâm con, cảm xúc của con dâng trào, vừa xót thương cho miền Trung. Đau khổ nhưng cũng có hỷ lạc là mình cũng có được phước duyên mình vào đây mà giờ bao nhiêu người đang ngồi trên nước, trên gió nhưng mình thật hạnh phúc vào đây. Trong đó gia đình mình, bà con, quyến thuộc mình họ đang chịu khổ bởi thiên tai, bão lụt. Hành của con nói là “Đã biết vào đây rồi thì cố gắng lên nữa để theo chúng mà tu tập, để hoàn thiện được nhân cách của người tu.”

Bao nhiêu lâu nay con đã đi lạc đường, con đã làm nên bao nhiêu chuyện, chắc con tu hết đời này cũng không biết con có trả được nợ của con không. Tưởng của con đã biết được thọ, tưởng, hành vẫn hoạt động trong con.

Con tri ân sư phụ nhiều.

II. Ba sợ hãi

Chúng ta nghe bài kinh Các sợ hãi trong Tăng Chi Bộ Kinh, chương Ba Pháp:

1. - Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được người phàm phu không học nói đến.

Thế nào là ba?

Có một thời, này các Tỷ-kheo, một hỏa tai lớn khởi lên. Khi hỏa tai lớn này khởi lên, này các Tỷ-kheo, các làng bị thiêu, các thị trấn bị thiêu, các thành phố bị thiêu. Khi các làng bị thiêu, các thị trấn bị thiêu, các thành phố bị thiêu, mẹ không tìm được con, con không tìm được mẹ. Đây là sợ hãi thứ nhất, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.

2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một thời có mưa lớn khởi lên. Khi mưa lớn khởi lên, này các Tỷ-kheo, lụt lớn sanh khởi. Do có lụt lớn sanh khởi, nên các làng bị cuốn trôi, các thị trấn bị cuốn trôi, các thành phố bị cuốn trôi. Khi các làng bị cuốn trôi, các thị trấn bị cuốn trôi, các thành phố bị cuốn trôi, mẹ không tìm được con, con không tìm được mẹ. Đây là sợ hãi thứ hai, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 - Chương Ba Pháp - Phẩm Lớn - Bài kinh Các sợ hãi)

Ý nói nhà tan cửa nát, tất cả tài sản trôi theo dòng nước, thậm chí là sinh mạng, sự nghiệp chất chứa bao nhiêu năm chỉ trong tích tắc theo dòng nước. Cả một làng mạc, thị trấn, thành phố bị nhấn chìm, cuốn trôi. Mẹ không tìm được con, con không tìm được mẹ. Đây là sợ hãi thứ hai.

3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một thời có sợ hãi về giặc cướp rừng nổi lên, và dân chúng leo lên xe chạy trốn. Khi sợ hãi giặc cướp rừng nổi lên, này các Tỷ- kheo, khi dân chúng leo lên xe chạy trốn, mẹ không tìm được con, con không tìm được mẹ. Đây là sợ hãi thứ ba, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 - Chương Ba Pháp - Phẩm Lớn - Bài kinh Các sợ hãi)

Ý nói chiến tranh nổ ra, giặt giã, cướp giật đầy đường, khắp nơi, mọi người sẽ đi chạy trốn, khi đó mẹ không tìm được con, con không tìm được mẹ.

Có ba sợ hãi này, này các Tỷ-kheo, làm chia rẽ mẹ con, được kẻ phàm phu không học nói đến.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 1 - Chương Ba Pháp - Phẩm Lớn - Bài kinh Các sợ hãi)

Chúng ta đang hứng chịu những thiên tai chưa từng có trong hai mươi năm qua, thậm chí là nhiều hơn nữa. Hiện tại, như ở các nước như Philippines chết chóc thê thảm, Trung Quốc và nhiều nước khác như Pakistan, Bangladesh, Mexico, Nhật Bản, Đài Loan, Ấn Độ cùng khắp. Có những nơi xe trôi lềnh bềnh, nhà cửa cuốn phăng.

Giờ này chúng ta đang ngồi, chung quanh chúng ta là gió bão, hôm qua ở Quảng Trị cây cối đổ ngã, nhà cửa tốc mái, tan nhà nát cửa, di tản hàng triệu người. Chúng ta quán chiếu với những dòng nước mắt, với những cảm xúc sâu xa đó là bao nhiêu sự đau khổ, ly tán, mất mát, bao nhiêu cảnh tang thương đang diễn ra ở khắp mọi nơi.

Trong bài kinh nói về nguyên nhân dịch bệnh, Đức Phật nói chúng sanh ác tham, sân hận, tà kiến, những dục vọng làm cho làng không còn là làng, thị trấn không còn là thị trấn, thành phố không còn là thành phố nữa. Những bản kinh trong Trường Bộ Đức Phật từng nói là khi phong luân nổi lên, nhà cửa bị bay hết, làng mạc bị bay. Giống như bài kinh trên vừa nói, phong luân nổi lên hay thủy tai, phong tai, hỏa tai hay là tam tai nổi lên, cuốn bay hết làng mạc, thị trấn, thành phố hoặc là nhấn chìm cả một thành phố xuống lòng đại dương. Lâu lâu chúng ta thấy các nhà khoa học phát hiện được cả một thành phố dưới lòng đại dương.

Tất cả đều bị nhấn chìm, cuốn trôi, đổ sập, thổi bay hết. Đây là kiếp hoại của thế giới, kiếp hoại của vũ trụ.

Trong kinh sách có nói về tiểu tam tai và đại tam tai. Thế giới sẽ theo bốn thời kỳ: kiếp thành, kiếp trụ, kiếp hoại và kiếp không. Tức là thời kỳ hình thành của thế giới, tồn tại, biến hoại và cuối cùng là thời kỳ diệt tận. Và thế giới của chúng ta đang là hoại kiếp, đang ở trong giai đoạn biến đổi để hoại diệt.

Nói về tiểu tam tai, như chúng ta đã học trong kinh Khởi thế nhân bổn, con người lúc đầu hiền thiện, giữ giới hạnh, giới đức nên tuổi thọ lúc đó khoảng tám mươi ngàn. Nhưng từ sự sát sanh, trộm cướp, tà dâm, tham, sân, si lẫy lừng nên một trăm năm giảm tuổi thọ một lần, giảm cho đến còn chỉ mười tuổi. Tăng giảm như vậy rất nhiều lần, hai mươi lần thì phát sanh ra ba loại tai ách, là nạn đao binh, chém giết lẫn nhau, tai họa dịch bệnh và nạn đói kém.

Như chúng ta thấy, chiến tranh, dịch bệnh, đói kém, mất mùa. Đây là tiểu tam tai của Trái Đất. Chiến tranh sẽ nổ ra, hơn nữa, giờ có những vũ khí hủy diệt hàng loạt, với lòng tham, lòng tham vọng to lớn, với một bản ngã kinh hoàng và với một nội tâm chất đầy những cảm thọ sân hận, hận thù đã chế tạo ra những vũ khí hủy diệt hàng loạt. Thế giới sẽ đi đến chiến tranh, dịch bệnh, đói kém, ba thứ này cùng xảy ra và hiện tại đã hiện hữu. Đây là tiểu tam tai.

Con người càng ác tham, càng sân hận mãnh liệt, tà kiến vô minh sâu đậm chừng nào thì những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành vi đó phát ra những hệ quả của ác nghiệp, đưa đến dị thục tạo ra những thứ làm cho con người tự hủy diệt. Giống như lúc xưa chúng ta chỉ nghe thuốc phiện, giờ là rất nhiều loại, đó là từ lòng tham, ác tham của chúng sanh đã tạo ra những sản phẩm của dục vọng, tạo ra những thành phẩm của ác tham, chế tác ra những sản phẩm để phục vụ cho dục vọng, tham muốn. Chính những cái đó hủy diệt lại tự thân của người chế tác ra và những người khác hữu tình chúng sanh.

III. Nguồn gốc tai họa

Nguồn gốc của tất cả những đại tam tai, tiểu tam tai hay những thứ hủy diệt con người là từ trong tham, sân, si của con người, không phải là bên ngoài. Nhân từ bên trong kết hợp với bên ngoài, hai cái nội ngoại kết hợp lại tạo ra những sản phẩm, thành phẩm, tác phẩm của dục vọng, ác tham, hận thù, sân si, vô minh, tà kiến để hủy diệt lại chúng sanh.

Cũng như những thức ăn của chúng ta tại sao lại có độc tố trong đó? Có phải vì lòng tham không? Muốn cho nó giữ lâu, được nhiều, không nghĩ đến sức khỏe của mọi người khác, thậm chí ngày mai thu hoạch thì hôm nay xịt thuốc. Những thứ đó đều là chất độc, họ nghĩ rằng những cái này họ không ăn, họ bán cho người ta bị độc chứ họ không có độc nhưng họ không biết rằng họ cũng ăn những thức ăn khác, người khác cũng nghĩ như họ thì đó là tất cả đầu độc với nhau những độc tố.

Một trái táo Minh Thành để quên trong thất thì một tháng rưỡi sau vẫn còn y nguyên. Trong đó là ngâm thuốc. Trên mạng cũng đưa những hình ảnh của trái sầu riêng, trái dừa ngâm thuốc để ở ngoài cho đẹp, không bị khô. Kế đến là mít, cam, quýt, nho, nhãn… tất cả đều là thuốc độc, hóa chất, độc tố.

Như vậy là mình ăn chất độc, thuốc độc, nên giờ đầy rẫy bệnh ung thư. Chỉ mới ba, bốn tuổi cũng bị đột quỵ, mười mấy tuổi bị ung thư.

Như vậy tất cả những cái này là cái gì? Đều là từ ác tham của chúng sanh. Nên như chúng ta từng nghe câu “Tham, sân, si là nguồn gốc của tội ác”, Đức Phật đã chỉ cho mình căn nguyên, gốc rễ của sự hủy diệt, đau khổ, nước mắt, máu trên cả thế giới này đều từ tham, sân, si. Và tham, sân, si nằm trong cảm thọ và cảm thọ là nơi hội tụ tất cả pháp.

Chúng ta đọc câu đó thấy rất bình thường “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ!” nhưng câu đó vén bức màn của thế giới về đau khổ, là trong cảm giác của con người mà ra. Chúng ta đang tu cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, ngọt ngào, đó là chúng ta tu trong gốc rễ để tham, sân, si được nhiếp phục, chế ngự, lắng dịu.

Chúng ta thấy được tâm hiền quan trọng ra sao, Minh Thành cũng đã có những bài nói rằng tâm hiền cứu thế giới này, cứu hành tinh, Trái Đất, nhân loại, chúng sanh này. Nếu cái này chúng ta phân tích ra thì tất cả trong sinh hoạt đời sống toàn cầu này.

Khi nãy đã nói về thức ăn, giờ nói về lũ lụt, sạc lở đất, thậm chí là địa chấn, những nguyên nhân dễ thấy nhất, gần gũi nhất là từ đâu? Phá rừng. Nên chúng ta thấy tại sao giờ ở Đà Lạt lại bị ngập kinh hoàng, không ai tưởng tượng được. Sa Pa vừa rồi cũng bị ngập hơn nửa xe. Ở trên cao nguyên, trên núi, đồi cao cách mặt nước biển hàng ngàn mét nhưng bị ngập.

Như vậy thì tại sao phá rừng? Vì tham, là ác tham, không nghĩ tới người khác, chỉ biết tới lợi ích cá nhân của mình. Chúng ta nhìn ra thì thấy được trí tuệ của Đức Phật rất thâm sâu, phổ quát tất cả mọi khía cạnh, phương diện, nhân sinh, vũ trụ, thế giới. Không chỉ đơn giản là như mình đọc tham, sân, si mình thấy đơn giản như vậy.

Như các dòng sông lớn trên khắp hành tinh khô kiệt, trơ đáy, nứt nẻ đất, từ sông Trường Giang, sông Dương Tử, hay những dòng sông lớn nhất của nước Pháp bị khô cạn. Con người làm đập thủy điện ngăn sông, lấn biển, phá rừng, mình muốn thống trị thiên nhiên và cuối cùng bây giờ là “thiên nhiên nổi giận”, đất trời phẫn nộ. Vì mình đã ngăn những dòng chảy, lấp những khe suối, phá rừng, lấn biển, sang bằng những núi đồi, những dòng chảy mình lấp lại hết. Cuối cùng là sụt lún thậm chí là lấy những mạch nước ngầm cho đến nguyên một vùng ở miền Trung, miền Bắc là nhà bị sụt lún, nứt nẻ, không ở được, người ta khóc kêu trời cả một làng khai thác mạch nước ngầm. Mình lấy hết thì nó phải sụp đổ.

Tất cả những cái đó từ đâu? Chúng ta thấy thật thâm sâu từ “tham” của Đức Phật, giáo pháp ly tham, tối thượng giải thoát. Chúng ta thấy một chữ của Đức Phật chứng ngộ là phơi bày sự thật của thế giới. Chúng ta phải chiêm nghiệm thật nhiều để chúng ta run sợ, hãi sợ, hoảng sợ, kinh sợ với những cảm giác tham dục, tham ái, tham vọng, tham lam, cuồng tham, ác tham. Mình sợ, run sợ, nghĩ tới đã sợ, mình không muốn cho những cảm thọ đó ở trong con người của mình, mình muốn tống khứ, trừ khử, tẩy sạch, diệt tận đó.

Mình quán những hình ảnh, sự thật đó, những nhãn tiền ngay trước mắt, chung quanh đời sống của mình, để mình thấy được thủ phạm vô hình, giết người, sát nhân trong cảm giác của chúng ta. Một người, mười người, trăm người, ngàn người, trăm ngàn người, triệu người, chục triệu, trăm triệu, tỉ người như vậy thì Trái Đất này có còn không? Rừng núi, sông hồ có còn không? Đó là kết quả để đi tới hoại kiếp, là lòng tham, ác tham của con người.

Tiếp đến là tâm sân hận. Như nói qua nói lại hai ba câu, nhìn bằng ánh mắt thì cũng chửi lộn, đánh lộn, chém lộn, giết hại với nhau, đó là một người với một người. Mình thấy là một người với một người là hai người nhưng thật sự có phải hai người không? Gia đình, cha mẹ, ông bà, anh chị em, cô chú bác đau khổ như thế nào? Sau đó là cha mẹ của người bên đây, ông bà, anh chị em, vợ con, chồng con đau khổ như thế nào. Đó là chỉ nói có hai người, bây giờ cả làng đấu với làng, quốc gia đấu với quốc gia khác, người chết đã trên một trăm ngàn, đó chỉ là con số trên bề nổi, còn những giấu diếm, lấp bít thì mình không biết thật sự là bao nhiêu.

Như vậy thì hàng trăm ngàn người, hàng nhiều trăm ngàn người, hàng triệu, hàng nhiều triệu người bị giết hại, bị bắt đi trong những làng tên, những viên đạn như vậy, trong những sợ hãi kinh hoàng, chết chóc, khổ đau, nước mắt và máu, đạp trên những thây, da ngựa bọc thây, đạp trên những thây chết. Tất cả là lòng sân hận của con người, lòng tham lam, lòng sân hận, lòng oán thù vì những bản ngã “Dám đụng đến tôi? Tôi cho biết mặt, tôi ném bom nguyên tử cho biết mặt.”, “Ta là nhất, ta là số một, không ai dám đụng đến ta, đụng tới ta là chết.”

Nhưng đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, làm hại mình làm hại người, làm khổ mình làm khổ người, hành hạ mình hành hạ người khác, gây ra tang thương, chết chóc, hận thù, gây ra bao nhiêu dòng nước mắt tận cùng thương đau, máu lệ, huyết lệ, gây ra bao nhiêu bộ xương, bao nhiêu cảnh chiến trường.

Tất cả đó đều từ những cảm thọ sân hận, tức giận, hận thù. Tất cả những tham, sân đó bắt nguồn từ tà kiến, từ vô minh, si mê, từ không thấy không biết về sự thật của thân tâm này, của đời sống này. Như vậy tham, sân, si là nguồn gốc của tội ác, là đạo diễn của tất cả khổ đau trên cuộc đời này, là tổng đạo diễn, tổng chỉ huy, thống soái của tất cả nước mắt, máu, chiến tranh, tai nạn, hiểm họa trên thế giới này.

Chúng ta thấy thật khủng khiếp trí huệ của Đức Phật, Ngài chỉ ra kẻ thù thật sự, vô hình là ở bên trong cảm thọ của chúng sanh, trong cảm giác của hữu tình, trong cảm xúc của các ngũ uẩn, không phải là có một con người nào. Nhưng người này chết rồi thì có người khác, như ngày xưa Hít-le, Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Pon-pót diệt chủng. Tiếp tục ở hiện tại, sau này tiếp diễn hoài những cảm thọ tham, sân, si như vậy. Tất cả đó chỉ là bị thọ dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo, sai khiến, sai sử, gây ra bao nhiêu cảnh tang thương trên thế giới này.

Vì vô minh, vì ngu si, vì không hiểu biết, chúng con đã làm như vậy. Nếu chúng con có hiểu biết thì chúng con không làm như vậy, con đã khiến cho hữu tình chúng sanh oan ức, tức tưởi, mạng chung.

Chúng ta thấy khi chúng ta đi đến những chỗ những người bị oan ức chết thì chúng ta sẽ nghe oán khí hút trời. Oán khí ở chỗ đó thì những hơi, gió, những sự biểu hiện của chỗ đó biểu hiện lên một sự oán hận, tức tưởi, than oán, oán khí.

Trong cây cỏ ở chỗ đó, trong đất đá ở chỗ đó, trong những biểu tượng ở chỗ đó nhưng mình vào thì mình rất run sợ. Vì thọ oán hận còn ở trong đó và những người chết không được siêu thoát cũng ở chỗ đó. Nên đó là làm cho người ta sợ, lập miếu thờ là vì vậy.

Người đó tức tưởi mạng chung như bị chết oan, hoặc bị ám sát, chết một cách tức tưởi mà họ không giãy bày, không nói được nên họ không siêu thoát được. Thù hận đó ngút trời, oán khí đó tràn ngập không gian ở chỗ đó. Vài ngày sau họ chờ đợi cơ hội để ra tay với người đã làm cho họ bị tai họa như vậy. Chúng ta nhớ trong bài xả vô lượng tâm:

Tái sanh và tái tử

Đau khổ đã nát nhừ,

Lại còn ác nghiệp cũ,

Chờ thời để ra tay.

(Trích quyển Cửa vào bất tử)

Tất cả những gì chúng ta đã làm thiện hay bất thiện đều không mất. Các chủ nợ, oan gia đó họ chờ thời cơ rồi đến một lúc mình sẽ biết, họ sẽ ra tay. Vậy nên chúng ta tu tập cảm thọ quán này là tuyệt đối quan trọng. Tuyệt đối quan trọng cảm thọ trong con người của mình, đừng để cho những cảm thọ dục vọng, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã đó xâm chiếm, áp đảo, tác quái trong con người của mình. Mình phải an trú cảm thọ hiền thiện, hiền tịnh, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào.

Lúc nào Minh Thành đến những đạo tràng mới đều nhắc như vậy, để giúp cho họ biết được căn nhà nội tâm, gốc rễ của sự tu tập, biết được lõi cây của sự hành trì. Chính mình tu, mình cạo đầu, an chay, thọ giới, biết nhận diện ngũ uẩn, biết lạy sám hối diệt ngã nhưng nói tới nhẹ thôi là sân si, bản ngã lên. Mình nghĩ những người vô văn phàm phu không biết gì về cảm thọ, không biết gì về ngũ uẩn, bản ngã thì họ sống với cái gì?

Nếu trong con người của mình vẫn còn những sân si, giận dữ, gay gắt, hung hăn như vậy thì địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra đối với tự thân của người đó. Phải lo lắng và sợ hãi, phải hoảng sợ, kinh sợ, khiếp sợ, lo sợ, thao thức, trăn trở, ưu tư. Ngày nào còn những cái đó trong người của mình là còn rắn độc, còn tai nạn, còn những mầm mống của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn những vực thẳm, hầm lửa, vạt dầu sôi sùng sục, còn những cột đồng cháy đỏ ở kế bên cạnh mình bất cứ lúc nào. Chỉ cần tắt hơi là lập tức đi xuống địa ngục ngay lập tức, vào trong loài cô hồn, ngạ quỷ vất vơ vất vưởng, quỷ đói, vào trong những loài ăn nhau, nuốt nhau, xé nhau.

Vì tâm sân hận còn ở đó, còn hung hăn, hung dữ, hung bạo, hung tàn, hung hiểm, hung ác thì nó còn ở trong tâm của súc sanh, của cọp, beo, rắn độc, lang, sói, nó còn đi vào trong đường đó. Đến khi nào cảm thọ của mình lúc nào cũng hiền thiện, bị chửi, bị mắng, bị khinh khi, ủy nhục mà cảm thọ của mình vẫn giữ được tâm hiền thì lúc đó mình biết rằng mình đã đóng cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Mình tuyên bố mình là bậc Dự lưu, không còn những mầm móng của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mình diệt tận hết tất cả những cảm thọ tham, sân, si, bản ngã, ác độc, thô trọng trong con người của mình. Mình diệt tận hết những cái đó, nó không còn có mặt, hiện hữu trong con người của mình nữa.

Mình phải luôn luôn giờ giờ, phút phút, giây giây để nhìn ngó lại cảm thọ của mình, cảm giác, cảm xúc của mình để làm việc cần phải làm, tu tập cảm thọ, quán chiếu, dò xét cảm thọ, quán sát, canh chừng cảm thọ, chăm sóc, nuôi dưỡng cảm thọ, tưới tẩm những cảm thọ ngọt ngào, hiền thiện, tươi mát, thanh lương, dễ chịu, từ ái là tuyệt đối quan trọng trong sự tu. Tu bao nhiêu mà chấm dứt được địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tu bao nhiêu đó thể nhập Dự lưu Thánh quả, mình tu bao nhiêu đó không còn đi vào ba đường ác. Từ đó mình mới bước lên, phá thân kiến, nhiếp phục, diệt tận năm hạ phần kiết sử.

Nên nếu đó mình làm chưa được thì còn xa cổng chùa, xa thành trì Niết-bàn. Bên trong người mình mà còn cảm thọ hung hăn, hung dữ, còn cảm thọ hơn thua, đấu đá, tranh giành, tranh đấu thì nguy hiểm, cực kì nguy hiểm. Giống như con bò đực bị cưa hai sừng, không còn cái gì để mà húc nhau, đấu nhau, không còn bất cứ một thứ vũ khí gì sắc bén trong con người mình, thân tâm mình không còn. Mình an trú như nùi giẻ rách, mình an trú như một người hạ liệt, ăn xin, thấp hèn, người cùng khốn nhất trên xã hội này.

Một người xuất gia phải an trú tâm như vậy. An trú, chính pháp an trú của tôn giả, Thánh đức, bậc chí thượng thanh văn, bậc tướng quân Chánh pháp, bậc tối thượng trong Thánh chúng về trí tuệ, là tôn giả Xá-lợi-phất. Phải thường nhớ, thường nghĩ, thường tác ý, thường nhắc nhở, thường đem những hình ảnh đó an trú trong tâm, cất giữ trong tâm, hiện hữu, bảo trì, bảo dưỡng, trân quý, giữ gìn, tôn thờ, lạy tâm hiền, lạy giẻ rách đó. Cung kính, tôn trọng, trân quý, đảnh lễ, thờ, lạy mỗi ngày tâm hiền.

Nếu không thì tai họa đến với mình bất cứ lúc nào, chỉ cần một lúc cảm xúc của mình bùng lên mà mình nhiếp phục không được, như ở ngoài xã hội, họ giết người, đâm người, chém người, đầu độc, xô người đó rơi xuống cho chết. Một chút cảm xúc hoặc là ái dục, dâm dục, sân hận, bản ngã, hoặc đấu đá, một tích tắc thôi nên không ai đỡ hay kéo mình lại kịp. Trong cảm xúc dâng lên thì lúc đó không ai chạy ra kịp, Phật cũng chạy không kịp. Vì đó là cảm xúc của mình.

Nên Đức Thế Tôn đã nói: hãy làm ngọn đèn cho chính mình, chính mình hãy làm ngọn đèn cho mình. Hãy thắp ngọn đèn Chánh pháp lên, tự mình nương tựa chính mình mà không nương tựa một gì khác. Tự mình soi sáng cho chính mình, bằng ngọn đèn của Thánh trí ngũ uẩn, nhận diện các cảm thọ. Phải nhận diện cảm giác của mình thường xuyên, xem nó đang trong cảm thọ gì.

Chúng sanh là vô văn phàm phu, không được nghe, không được học sự thật về thân tâm, họ bỏ trong bóng đêm, hoang mang trong bóng tối như vậy, họ nghĩ, nói trong mù lòa, làm hành động trong mù lòa, điên loạn, điên cuồng, điên đảo. Như vậy mình may mắn được mở con mắt pháp ra, thấy được sự thật trong thân tâm của mình, nhìn ra các cảm thọ mà mình không nỗ lực quyết tâm lo tu là mình đáng thương, có tội.

Là người xuất gia, mình có tội với cha mẹ, với dòng họ mình, với cửu quyền thất tổ của mình. Tội với những người đàn na tín thí dâng cúng cho mình ăn, mình ở, mình mặc. Tội với các bậc đã đem hết trái tim, tấm lòng, đem hết huyết lệ, hướng dẫn, giảng dạy, đem Thánh nhủ rót vào tim mình, đem Thánh trí soi rọi vào tâm cảm của mình.

Đại tam tai là hoại kiếp, là kiếp cuối cùng thế giới cuối cùng, thế giới bắt đầu hoại diệt dẫn đến thiên tai. Về lửa phá hoại, lửa này cháy lên tới cõi trời, dục giới, Trái Đất này lúc đó trở thành một quả cầu lửa bảy mặt trời xuất hiện. Như chúng ta đã học bài kinh Bảy mặt trời, giờ chỉ có một mặt trời mà các dòng sông lớn nhất của Trung Hoa, trên thế giới đã khô kiệt ba bốn tháng nay, là hàng ngàn năm qua ở Trung Quốc chưa từng có. Giờ bị khô trơ thấy đáy, bị nứt nẻ mà chỉ có một mặt trời, chưa có mặt trời thứ hai xuất hiện. Như bài kinh Đức Phật nói là có bảy mặt trời cùng xuất hiện thì lúc đó cả địa cầu bốc lửa lên. Đó là đại tam tai của kiếp hoại.

Nên quán chiếu nhà sập, đè chết ngay tại chỗ này, bất cứ lúc nào phải quán chiếu như vậy, không có gì an ổn ở trong thứ vô thường này, tất cả đều là bất an, tai họa, sụp đổ, đều bị xô ngã, cuốn trôi, nhận chìm, tất cả đều bị hủy hoại, hủy diệt.

Thầy Pháp Tâm mở bài kinh, Đức Phật đã diễn tả rất kĩ, bởi chúng ta mới thấy được Thánh trí huệ của Đức Phật mình không thể tưởng tượng nổi. Đức Phật diễn tả mặt trời thứ hai xuất hiện thì lúc đó thế giới như thế nào? Khi mặt trời thứ ba xuất hiện thì lúc đó hành tinh này ra sao? Đến cuối cùng, Trái Đất này thành quả cầu lửa, toàn bộ địa cầu thành tàn nhan, như khi mình đốt nhang trầm, cháy hết thì viên trầm của mình còn thành miếng tro, đống tro thì khi đó phong luân nổi lên, bay nguyên đống tro của địa cầu này, bay hết vào hư không, thành cát bụi. Vậy là kiếp này trở thành không.

Nước biển Đức Phật ví dụ lúc đầu cạn cho đến vai, tới hông, tới đầu gối, tới mắc cá chân tất cả các đại dương lớn trên thế giới: Thái Bình Dương, Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương, ngũ hồ tứ hải, bốn biển sẽ cạn kiệt tới mắc cá chân rồi sẽ khô không còn giọt nước nào cả.

Bắt đầu khi mặt trời xuất hiện nhiều hơn thì lúc đó bốc lửa, không chỉ cháy ở phàm giới mà cháy tới cõi trời dục giới. Đó là đại hỏa tai của thế giới. Các tầng trời thấp ở cõi dục đều bị cháy hết.

Nhưng đó là gì mà nó chiêu cảm ra? Đó là tâm sân hận của chúng sanh, chiêu cảm thành đại hỏa tai, vì tâm sân của chúng sanh lúc này rất kinh hoàng, khủng khiếp, chúng ta thấy nhìn nhau có thể giết người, chết người. Càng ngày càng phát triển mạnh lên thì tất cả những cái gì cầm lên trở thành vũ khí hết. Trong kinh Đức Phật cũng có nói là bất cứ thứ gì cầm lên cũng là vũ khí giết người hết. Nó hủy diệt con người.

Những người hiền đức, hiền lành, người ta sợ nên mới dẫn nhau lên núi, vào rừng ẩn dật. Người ta bắt đầu tu tập các thiện pháp, người ta giữ giới trở lại và tuổi thọ bắt đầu tăng lên lại, hễ càng giữ giới nhiều thì tuổi thọ càng tăng lên. Nhưng càng phạm giới, càng tham, sân, si ác độc thì tuổi thọ cứ giảm. Như chúng ta thấy chỉ mười mấy, hai mươi tuổi đã giết người. Thậm chí giết người nhưng khi đưa ra xử án còn nói “Ta thích thì ta giết!” Chúng ta thấy thật khủng khiếp không? Vô tàm vô quý mà tới giây phút cuối cùng chết mà cũng không hối hận. Như vậy thì chết rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Chúng ta thấy rất sợ hãi. Nên chúng ta học cái này để mình có một cái nhìn rộng lớn, toàn diện cả địa cầu, hành tinh này. Không phải cái nhìn nhỏ nhỏ trong chút này mà mình chưa nhàm chán, ly tham, giải thoát, viễn ly được. Mình nhìn cho thấu đáu, nhìn sâu, xuyên, thấu thị bản chất của địa cầu, cả thế giới, hành tinh này, bao nhiêu thái dương hệ, mình nhìn ra tam thiên, đại thiên thế giới. Lúc đó tâm xuất ly, viễn ly, xuất ly, xả ly, từ bỏ, thoát ra của mình mãnh liệt cùng cực, mình có thể vào trong rừng, lên trên núi ở, mình không còn vương vấn bất cứ gì trên cuộc đời này nữa.

Phải quán chiếu, chiêm nghiệm, phải có một cái nhìn thấu thị tâm thức của nhân loại chúng sanh, phải một cái nhìn phổ quát, toàn diện, trùm khắp. Nhìn ra rồi thì mình thấy rất thảm thương, xót thương.

Nhớ hình ảnh lúc miền Trung bị mưa, có một chú này khi chú nhận được hộp cơm, chú khóc nức nở, tức tưởi vì năm ngày chưa được ăn cơm. Chú cầm hộp cơm mà nước mắt đầy mặt, sự đau khổ tận cùng, tủi thân phận của mình. Năm ngày chưa được ăn cơm và người ta đến từ thiện, người ta đưa hộp cơm chú cầm thì nước mắt đầm đìa đầy mặt chú.

Nhưng đó không chỉ có một người, mà đó chỉ là quay một phần ngàn, một phần triệu. Bao nhiêu dòng nước mắt trên toàn cầu này, bao nhiêu những nỗi thương đau tận cùng trên thế giới này làm sao quay được hết? Làm sao nhìn thấy được hết? Mà chúng ta phải thấy được những cái mà mình chưa thấy, không phải chỉ thấy những cái mà mình thấy. Phải nhìn thấy được những cái mà mình chưa thấy, phải hiểu được những cái mà mình chưa hiểu.

Phải lắng nghe những tiếng lòng khổ đau, sầu hận của những cái mình chưa được nghe thì mình phải nghe được. Như vậy thì mình mới nhàm chán, ly tham, viễn ly. Sức mạnh bên trong con người mình phải mạnh mẽ, đại hùng, đại lực, mới có thể từ bỏ được những thứ bọt bóng vô thường, những thứ không đáng là gì trên cuộc đời này. Mình từ bỏ một lần, bằng không là mình bị những bèo bọt, bong bóng, những ác độc, những thứ phù du, ảo ảnh, ảo tửơng, ảo vọng, ảo quyển này phong tỏa, kiềm hãm mình, gông cùm mình, phá chặt mình, xiềng xích mình, phải nhìn thấu thị.

IV. Bài kinh Mặt Trời

Bài kinh Mặt trời trong Tăng Chi Bộ Kinh tập ba:

“Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường.

Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố.

Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn.

Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành.

Núi chúa Sineru, này các Tỷ-kheo, dài 84 ngàn do tuần, rộng 84 ngàn do tuần, chìm xuống biển lớn 84 ngàn do tuần, nổi lên trên biển lớn 84 ngàn do tuần.”

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 3– Chương Bảy Pháp - VII. Đại Phẩm - Bài kinh Mặt Trời )

Ý nói, này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường, hình thể này, những cảm giác này, suy nghĩ này, tưởng trong tâm, những nhận thức, hoàn cảnh này, núi đồi, sông ngòi, kênh rạch, nhà cửa, phố thị, làng mạc, địa cầu này. Này các vị, là biến động, là hoại diệt, là tan rã bất cứ lúc nào. Các sự này, những thứ này là không kiên cố, là bất an, là không đứng vững, không chắc chắn, là không bền bỉ, vô thường, không kiên cố, bất an. Một do tuần bằng mười tám cây số.

“Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, trời không mưa. Khi không có mưa, các loài chủng tử, các loài thực vật, các rừng rậm dược thảo đều khô héo cằn cỗi không có tồn tại.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ hai hiện ra.

3. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ hai có mặt, thời tất cả sông nhỏ, ao nhỏ khô cạn, khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ ba hiện ra

4. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ ba có mặt, thời các sông lớn như sông Hằng, sống Yamunà, Aciravatì, Sarabhù, Mahì, các con sông ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ tư hiện ra.

5. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ tư hiện ra, thời các biển hồ lớn, từ đấy các sông lớn chảy ra, ví như Anotattà, Sìhapapàtà, Rathakàrà, Kannamunda, Kunàlà, Chaddantà, Mandàkinì, các biển hồ ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ năm hiện ra.

6. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm có mặt, thời nước các biển lớn rút lui một trăm do tuần, nước các biển lớn rút lui hai trăm do tuần, các nước biển lớn rút lui ba trăm do tuần... Nước các biển lớn rút lui bảy trăm do tuần; nước các biển lớn dừng lại sâu đến bảy cây sàla, sáu cây sàla, năm cây sàla, bốn cây sàla, ba cây sàla, hai cây sàla, chỉ một cây sàla. Nước biển lớn dừng lại, sâu đến bảy đầu người, sâu đến sáu đầu người, năm đầu người, bốn đầu người, ba đầu người, hai đầu người, một đầu người, nửa đầu người. Nước các biển lớn dừng lại, sâu chỉ đến eo lưng của người, chỉ đến đầu gối của người, chỉ đến mắt cá của người.

Ví như này các Tỷ-kheo, vào mùa thu khi trời mưa hạt lớn, chỗ này chỗ khác, trong các dấu chân của các con bò cái, có những vũng nước nhỏ đọng lại.”

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 3– Chương Bảy Pháp - VII. Đại Phẩm - Bài kinh Mặt Trời )

Thái Bình Dương, Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương mà chỉ còn là những vũng nước đọng lại, giống như những vũng nước đọng lại của dấu chân trâu, chân bò.

“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, chỉ còn những vũng nước nhỏ trong dấu chân các con bò cái là nước của biển lớn còn lại, chỗ này chỗ kia. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, nước biển lớn chỉ bằng độ ngón tay. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ sáu hiện ra.

7. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chúa Sineru, sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên.

Ví như, này các Tỷ-kheo, các lò của người thợ gốm mới đốt lửa lên, sanh khói lên, phun khói lên.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chúa Sineru sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ bảy hiện ra.

8. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ bảy hiện ra, Trái Đất lớn này và núi chúa Sineru bốc cháy, rực cháy, trở thành một màn lửa. Và khi quả đất lớn này và núi chúa Sineru cháy đỏ lên, cháy rực lên ngọn lửa do gió thổi bốc cao đến Phạm thiên giới. Các chóp ngọn của núi Sineru, cao đến một, hai, ba, bốn, năm trăm do tuần, khi bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, bị cả khối lửa to lớn phá hoại và chinh phục, liền sụp đổ xuống.

Sau khi quả đất lớn và núi Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen.

Ví như, này các Tỷ-kheo, khi bơ và dầu được cháy đỏ, được cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi quả đất lớn này và núi chứa Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, ai là người có thể nghĩ rằng, ai là người có thể tin rằng: "Quả đất này và núi chúa Sineru sẽ bị đốt cháy, sẽ bị hủy hoại, sẽ không còn tồn tại nữa", trừ những người đã được chứng kiến.”

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 3– Chương Bảy Pháp - VII. Đại Phẩm - Bài kinh Mặt Trời )

Ai có thể nghĩ rằng cả địa cầu này trở thành quả cầu lửa, ai có thể tin được Trái Đất này sẽ bốc lửa và hoại diệt như một đống tro. Ai có thể nghĩ được, tin được điều đó trừ những bậc đã chứng kiến, trừ những vị đã từng chứng kiến cảnh đó. Các Ngài đã từng thấy được cái đó đã xảy ra từ lúc trước thì những người đó mới nghĩ về điều đó, mới tin tưởng được điều đó. Ai là người chứng kiến? Đức Phật sẽ kể như sau:

9. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Đạo Sư Sunetta thuộc ngoại đạo, được ly tham trong các dục. Này các Tỷ-kheo, Đạo Sư Sunetta có hàng trăm người đệ tử. Đạo Sư Sunetta thuyết pháp cho các đệ tử về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới.

Và tất cả những ai nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời thuyết dạy của Sunetta, về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới, khi thân hoại mạng chung, họ được sanh lên thiện thú Phạm thiên giới.

Những ai không nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời dạy của Sunetta, sau khi thân hoại mạng chung, một số được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tha hóa Tự tại, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Hóa Lạc thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Đâu-suất Thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Dạ-ma Thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Thiên giới Ba mươi ba, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Bốn Thiên vương, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Sát-đế-ly, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Bà-la-môn, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình gia chủ.

10. Rồi này các Tỷ-kheo, Đạo Sư Sunetta suy nghĩ như sau: "Thật không xứng đáng cho ta trong đời sau lại có một sanh thú giống như sanh thú của các đệ tử.

(Bài kinh Mặt Trời, VII. Đại Phẩm – Chương Bảy Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 3)

Ý nói là chúng ta phải làm sao để vượt hơn các đệ tử. Sanh thú là chỗ sanh ở đời sau.

“Vậy ta hãy tu tập tối thượng từ bi”. Rồi này các Tỷ-kheo, bậc Đạo sư Sunetta trong bảy năm tu tập từ tâm. Sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy thành kiếp hoại kiếp, vị ấy không trở lui lại thế giới này.

Trong kiếp thành của thế giới, này các Tỷ-kheo, vị ấy đi đến thế giới của Àbhassara (Quang Âm thiên). Trong kiếp hoại của thế giới, vị ấy được sanh trong Phạm cung trống không. Tại đấy này các Tỷ-kheo, vị ấy là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, bậc chiến thắng, bậc vô năng, bấc biến tri, bậc tự tại.

Ba mươi sáu lần, này các Tỷ-kheo, vị ấy là Thiên chủ Sakka.

Nhiều lần bảy lần, vị ấy là vị Chuyển luân Thánh vương theo Chánh pháp, là vị pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai, là những bậc anh hùng, dũng mãnh, đánh tan địch quân. Và vị ấy chiến thắng quả đất này xa cho đến hải biên, trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng dao, đúng với Chánh pháp.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 3– Chương Bảy Pháp - VII. Đại Phẩm - Bài kinh Mặt Trời )

Vị đó sống cho tới bảy thành kiếp, hoại kiếp của Trái Đất, tức là bảy lần Trái Đất hình thành, tồn tại, biến đổi, hoại diệt mà vị này không thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu bi, khổ, ưu não.

Này các Tỷ-kheo, Đạo sư Sunetta ấy, dầu cho thọ mạng lâu dài như vậy, sống lâu dài như vậy, nhưng không được thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu não. Ta nói rằng vị ấy chưa giải thoát khỏi khổ. Vì cớ sao? Vì rằng vị ấy chưa giác ngộ, chưa thể nhập bốn pháp.

11. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giới; vì không có giác ngộ, không thể nhập Thánh định; vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh trí tuệ; vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giải thoát.

Này các Tỷ-kheo, sự kiện là như sau: Khi Thánh giới được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh định được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh trí tuệ được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh giải thoát được giác ngộ, được thể nhập, cắt đứt là hữu ái; sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận, nay không có tái sanh.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 3– Chương Bảy Pháp - VII. Đại Phẩm - Bài kinh Mặt Trời )

Cảm thấy rợn người, chấn động, từng lỗ chân lông rúng động. Tu tập như vậy, chứng đắc như vậy tức là ly dục, chứng các tầng thiền, tu tâm từ, trú tâm từ suốt bảy năm, có thể sống bảy lần Trái Đất thành hoại.

Ngày trước chúng ta đã học, một khối đá cao, dài, rộng lớn mười tám cây số, mà một trăm năm đem khăn the đến phủi một lần cho tới khi khối đá tan thành hư không, cát bụi thì đó chưa phải là một kiếp. Còn đây là đại kiếp, nhưng sống như vậy và ly các dục vọng tu tâm từ vẫn là sanh, già, bệnh, chết, sầu bi, khổ, ưu não.

Vì chưa thể nhập Thánh giới, Thánh định, Thánh trí huệ và Thánh giải thoát, tức là chưa gặp được bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và không gặp được đệ tử của Ngài hướng dẫn đúng Chánh pháp Nikāya này để ly tham đối với ngũ uẩn. Nên ly tham của Ngài là ly tham đối với dục vọng ở bên ngoài, mà chưa ly tham được đối với cảm giác, với tưởng, hình bóng trong tâm, với các suy nghĩ, các hành, các thức.

Vì nhận ngũ uẩn này là mình, chỉ có ly tham được những cái thô ở bên ngoài, với sắc, thanh, hương, vị, xúc ở bên ngoài. Nhưng không ly tham nổi vì chưa nhìn thấy được bản chất của ngũ uẩn, vô thường, khổ, vô ngã, ung nhọt, mũi tên, rắn độc, kẻ giết người, là hố than hừng, là tai họa. Vì chưa nhìn thấy được nên làm sao ly tham được nhận thức, cảm giác này.

Nên cho đến khi nào giác ngộ được Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ, Thánh giải thoát, tức là được nghe, được học, được tu, được chứng ngộ thì lúc đó mới cắt đứt được hữu ái, sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận.

Nay không tái sanh, cắt đứt hữu ái, hữu ái là yêu thích hiện hữu trong ngũ uẩn. Tham ái, sự hiện hữu trong ngũ uẩn gọi là hữu ái. Trong ba cõi, sắc, vô sắc, dục sắc và vô sắc.

Nên chúng ta nghĩ là chúng ta tu lướt qua như vậy thì tới khi nào mới chấm dứt được ngũ uẩn? Chúng ta nếu không thẳng tay, không hạ độc thủ đối với những thọ, tưởng, hành, thức của mình thì còn lâu, nằm mơ cũng chưa gặp được sự ly tham đối với ngũ uẩn. Là chúng ta phải hạ đòn chí mạng, hạ độc thủ, sát phạt thẳng tay dục, tham, ái đối với ngũ uẩn, trong thọ, tưởng, hành, thức của mình. Từng giờ, từng phút, từng giây, từng ý nghĩ, từng cảm giác, từng hình bóng ở trong tâm là phải kiểm soát hết.

Cắt đứt là hữu ái, sợi dây đưa đến sanh hữu, đoạn tận, nay không tái sanh.

Thế Tôn nói như vậy. Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:

Vô thượng giới và định,

Trí tuệ và giải thoát,

Gotama danh tiếng,

Giác ngộ những pháp này.

Đức Phật với thắng trí,

Thuyết pháp cho Tỷ-kheo,

Bậc Đạo sư đoạn khổ,

Bậc Pháp nhãn tịch tịnh.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 3– Chương Bảy Pháp - VII. Đại Phẩm - Bài kinh Mặt Trời )

Vậy nên gọi Đức Phật là bậc pháp nhãn, là bậc có con mắt thấy được tận cùng chân tướng của các pháp và ngũ uẩn, gọi là bậc pháp nhãn. Tất cả chúng sanh đều sống trong mù lòa, chỉ duy nhất một bậc tối tôn tối thượng là chứng đắc được pháp nhãn, sau đó Ngài mới mở mắt cho đàn con, tức là các Thánh chúng thời đó. Từ các Thánh chúng mới tiếp tục truyền lại Thánh pháp để mở mắt cho những người hiền thiện. Và người hung dữ không vào được pháp này, nếu hung dữ là tự bị đào thải ra hết. Chư hiền là những bậc hiền thiện, hiền trí, hiền đức, hiền hòa, hiền lành, hiền hậu, hiền nhân thì những bậc hiền thiện này sẽ tiếp nhận được Thánh trí tuệ của bậc tối tôn tối thượng giữa chư thiên và loài người. Đó là bậc pháp nhãn tịch tịnh.

Nếu chúng ta không đọc kinh học thì chúng ta đọc cái gì? Chúng ta nghe những lời này thì chúng ta thấy kinh hoàng, bất khả tư nghì không thể tưởng tượng nổi không? Một trăm kiếp, một ngàn đời mình cũng chưa được nghe một lần này nữa. Nhưng mà vẫn không chịu đọc, không chịu nghe, nói cái gì?

Hình ảnh bảy mặt trời khi nãy để chúng ta quán chiếu rất nhiều, nhưng chúng ta không có thời gian lấy đó làm bài quán chiếu. Quán chiếu cho nó rụng rời, rã rời, nhàm chán. Đến mức như vậy, mình quán, thấm, nghĩ, suy tư, ngấm hoài như vậy để đi vào da, thịt, xương, tận trong tủy mình, thấm trong não như vậy rồi ở trong đó luôn thì mình nhìn cả thế gian này như bọt bóng, phù dung, ảo ảnh. Mình có thể bỏ bất cứ lúc nào mọi thứ trên cuộc đời này.

Nhờ sự quán chiếu, quán trí tuệ này, suy tư, nghiền ngẫm, quán xét, thâm nhập trí huệ này, phải nghe, nghiền ngẫm, nhắc đi nhắc lại hoài cho nhớ, an trú hoài trong thọ, tưởng, hành của mình. Như vậy là mình thể nhập trí huệ của bậc Thánh, tri kiến của bậc Thánh, sự thấy biết của bậc Thánh. Sự thật mà Đức Thế Tôn chứng ngộ.

Với trí tuệ như vậy, Ngài đã nói một câu mình rất thấm thía:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, ai là người có thể nghĩ rằng, ai là người có thể tin rằng: "Quả đất này và núi chúa Sineru sẽ bị đốt cháy, sẽ bị hủy hoại, sẽ không còn tồn tại nữa", trừ những người đã được chứng kiến.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 3– Chương Bảy Pháp - VII. Đại Phẩm - Bài kinh Mặt Trời )

Chúng ta nghe thật thấu vào tim, nhức nhối bên trong. Ý nói, này các Tỳ-kheo, ai tin nổi cả địa cầu này sẽ bốc lửa, bốc cháy, rực cháy? Này các Tỳ-kheo, ai sẽ tin nổi Trái Đất này sẽ vỡ nát ra? Trở thành tro tàn? Ai có thể tin nổi điều đó? Nếu người ta tin điều này thì người ta có còn hơn thua, giành giựt, lừa gạt, còn đi cướp bóc, còn tàn hại nhau không? Trừ những vị đã được chứng kiến.

Đức Thế Tôn là người đã chứng kiến không biết bao lần Trái Đất này thành hoại. Khi Ngài thành Chánh Đẳnh Chánh Giác, thiên nhãn Ngài thành tựu, Ngài nhìn ra được tất cả vô lượng vô biên kiếp của Trái Đất này. Ngài đã kể bảy lần, kể về vị tu sĩ ngoại đạo, có lúc Ngài kể về tự thân của Ngài, có lúc Ngài kể về người khác.

Cảm thọ bây giờ ê chề, ngao ngán, rã rời, nếu ai có thấy được cái này, học, nghe được, chiêm nghiệm được cái này thì giảm bớt tham, sân, si được rất nhiều, giảm bớt khổ rất nhiều. Sống với nhau với tâm hiền thiện, từ ái, với lòng thương, lòng cảm thông thì cuộc đời này đỡ khổ biết bao nhiêu. Nó sẽ bình an nhiều hơn bây giờ.

Đó là ngày hôm nay, nhân duyên bão táp phong ba mà chúng ta chiêm nghiệm về tam tai, về bài kinh bảy mặt trời, về sự thành trụ hoại không của Trái Đất này, về sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ, thoát ra.

Chỗ này đang rã rời, đang thấm thía, thấm đẫm một cảm thọ ê chề, ngao ngán, nhàm chán, muốn từ bỏ càng nhanh càng tốt. Cảm thọ sung mãn từ đỉnh đầu đến gót chân.

Mời đại chúng chia sẻ cảm thọ của mình nãy giờ vừa nghe pháp, vừa thực tập thiền quán chiêm nghiệm.

Trong đạo tràng Nikāya tất cả chúng ta viết bài trình pháp về buổi thực tập chiêm nghiệm hôm nay, để duy trì cảm thọ, trí tuệ tối thượng này. Phật tử ở xa, tất cả các nơi cũng nên cố gắng viết bài trình pháp và chiêm nghiệm buổi tu học ngày hôm nay.

V. Trình pháp 2

Phật tử số 2 trình pháp:

Kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng.

Kính thưa sư phụ, sáng hôm nay con được ngồi lắng nghe những bài pháp trên sư phụ đã chia sẻ, hiện tại trong cảm giác của con, ở bên trong lồng ngực này có một cảm giác ngao ngán, một tình thương khởi dào dạt ở bên trong, sự thôi thúc, mong muốn thoát ra đối với năm uẩn, những vật chất vô thường, tạm bợ này. Nó mong manh, dễ tan vỡ với những kiếp nạn mà sư phụ đã chia sẻ, trong con cũng sanh khởi những hình bóng về tai nạn, những sự thống khổ, than khóc đối với bão lũ, sự chia cắt, tình thương của cha mẹ, dòng họ, bà con, từng làm cha, làm mẹ, làm con, anh chị, than khóc.

Đối với sự sanh khởi, hiện hữu của chính mình hoặc chia sẻ, rất nhiều những đau thương, với lòng ác tham của con người chúng ta, sự tham muốn bất chánh, những hành động bất thiện. Vì ngu si, vô minh, không hiểu biết, không thân cận, không thấy được các bậc chân nhân, các bậc Thánh, không lắng nghe được diệu pháp, Thánh pháp tối thượng mà phải chìm trong vô minh, một màn đêm si ám, bước đi trong sự mù mờ, sự đen tối bởi sự dẫn dắt của tà tham, ác tham.

Ở bên trong là đầy rẫy những sân hận, hơn thua, bản ngã cao hút, nhận năm uẩn này là ta, là tôi, là của tôi và làm nên rất nhiều những điều bất thiện, không có những suy nghĩ, tư duy chính chắn. Vì không có sự thấy biết đúng, không có sự thấy biết chân chánh của bậc Thánh đã truyền trao nên những lời nói, hành động, tư duy, sai lầm bất thiện tăng trưởng.

Ngày hôm nay cũng rất nhiều kiếp nạn như tai nạn, hỏa tai về bão tố, lũ lụt, hạn hán cũng như những thiên tai, động đất, sóng thần, nạn đói, mất mùa, đói kém, làm cho rất nhiều các loài hữu tình cũng như con người đã phải nằm xuống, ngã xuống những nấm mồ, bộ xương, càng nhiều hơn, chống chất lên nhau.

Ở trong đó, con thấy bản thân cũng đã trải qua những kiếp nạn về bị lũ lụt, bão tố cũng như sự xâm chiếm của dòng si mê, sự khát ái, tham ái, dục vọng cuồng nhiệt ở bên trong. Con tư duy, quán chiếu, nhìn nhận một đời sống mình thật là nhỏ nhoi, nhỏ bé, đầy rẫy bên trong là nhiều khổ đau, ưu não. Nhờ có tri kiến của Đức Phật mà con thấy được đời sống này thật là to lớn hoặc bao la, nhưng ở trong nó là đầy rẫy sự bất an, bất ổn, không kiên cố, không bền chắc, không thể nương dựa, không thể nào bám víu vào đây được, chỉ có nương vào Thánh trí, nương vào Thánh pháp, thấy rõ bản chất, sự thật, khổ đau, nhiều khổ não để có thể nhàm chán, để có thể không còn tham muốn đối với năm uẩn, không còn nắm chặt đối với sắc thân, đối với những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức sai lầm.

Đó là những cảm giác suy nghĩ ở bên trong con và những cảm thọ trong bài thiền quán và suy tư trong sáng hôm nay.

Phật tử số 3 trình pháp:

Con kính bạch trên sư phụ, các sư thầy, sư cô và toàn thể đại chúng,

Thưa sư phụ, sắc uẩn con đang ngồi đây, rất may mắn khi sáng nay được nghe sư phụ giảng pháp, rất may mắn được trình pháp trong khi ở ngoài kia thiên tai đã và đang cướp đi rất nhiều sinh mạng. Cảm thọ của con rất là thương xót cho chúng sanh. Thật nghẹn lòng khi bỗng các thiên tai đang xảy ra rất nhiều sinh mạng, như vợ mất chồng, con mất mẹ, kêu thảm thiết.

Nó khởi lên trong tâm con, cảm xúc của con rất đau nhói, những hình bóng đó cứ hiện lên. Ý hành của con là con nói với bản thân của mình: Thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất thình lình đến thì không biết lúc nào mình tránh kịp nên mỗi ngày tu của con không phải là con học được bao nhiêu kinh, bao nhiêu pháp mà con nói với mình là mỗi ngày là mình đã tu được bao nhiêu cái thiện, làm được bao nhiêu cái phước. Để khi mình chết đi có thể giảm bớt được một kiếp ngạ quỷ, súc sanh chứ con không nghĩ là mình đạt được chánh quả gì. Con chỉ nghĩ là mỗi ngày của mình sẽ được tu tập, giảm bớt được nghiệp của mình.

Lúc con nghe sư phụ giảng pháp, con nhìn lên ánh đèn cầy, nói thầm với mình là ngọn lửa đó cũng giống như đạo tràng được che chở bởi Thánh pháp và giúp cho ngọn lửa này được thắp sáng, trong khi đó bên ngoài là bão tố phong ba. Con rất may mắn, rất tự hào vì bản thân mình đã biết được Chánh pháp và nó cũng cho con biết được thân tâm, bản ngã, tham dục, sân si, thù hận của mình để con nhìn thấy được điều đó. Để con có thể tu tập được tâm hiền.

Đây là những lời chia sẻ của con.

Phật tử số 4 trình pháp:

Con kính bạch sư phụ, quý thầy, ni sư và đại chúng.

Con được về nơi đây rất lâu, nhưng trước hết con xin sám hối sư phụ trước. Lâu rồi con không nhận ra được vấn đề của con, con không dám trình pháp vì con run, sợ nhiều. Nên giờ con cũng muốn chia sẻ lợi ích tu học của con, là con chưa nhìn thấy sự tu học của con nhiều. Vừa rồi con có xin sư phụ về nhà thì con thấy sự tu học của con không mang được về cho gia đình được nhiều. Khi con lên lại thì con cảm thấy rất hổ thẹn và xấu hổ.

Nhưng hôm qua con có nghe lời của sư phụ giảng dạy hôm qua, lòng con xúc động và lo sợ. Con run quá sợ, con sợ con tu còn kém, con không biết có mắc nợ chùa nhiều không?

Cố gắng tu tập cho tốt, mình tu cho tốt là được.

Điều đó nhắc cho các vị tăng ni ý thức được bổn phận, trách nhiệm của người xuất gia để nỗ lực tu tập. Về các quý Phật tử về chùa tu thì cố gắng tu siêng năng, tinh tấn đã là quý. Không nói cho các Phật tử tu tại gia.

Phật tử số 4 trình pháp:

Con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng.

Bài pháp sáng nay của sư phụ đã đánh thật sâu vào tâm thức của con. Bài pháp sáng nay cũng là những nỗi trăn trở của con, những suy nghĩ trong con trong mấy ngày qua.

Một cảm giác trong con chỉ có thể diễn đạt được sự ngao ngán khi có mặt của sự hiện hữu của thân này trong cuộc đời này. Có những lúc con ngồi thiền con tự thấy thật ngao ngán cho sắc thân, cho thọ, tưởng, hành, thức của mình. Một loạt tưởng, hình ảnh sáng nay, tưởng của con nghĩ là hình bóng của con, con tưởng bàn tay của mình nắm một nắm tro tàn của người thân hoặc người thân mình nắm một nắm tro tàn của mình trong bàn tay rồi đưa ra trước gió, gió bay bụi tro đó đi đâu không biết được.

Đó là mình chấp là mình cũng thành bụi tro thì huống hồ gì mình sống thì có gì là mình, có gì là sự chấp trước. Con tưởng đến hình ảnh đó thì hết sức ngao ngán. Sau đó tưởng tới hình ảnh của bài kinh mới con đọc về cận tử nghiệp và cảm thọ thì thật sự cảm thọ hiền thiện là một yếu tố vô cùng quan trọng trong một cuộc đời tu tập cũng như trong cuộc đời của mỗi kiếp người. Đừng nói gì tới pháp sâu xa, chỉ cần an trú trong tâm hiền thiện, cảm thọ hiền thiện thì đó cũng là một vé, nếu như mình không thoát ly sanh tử được thì cũng là một vé giúp cho mình khi tới giai đoạn cận tử nghiệp đó cũng có thể tái sanh vào cõi lành nào đó nếu như mình an trú tâm hiền thiện trong mọi lúc.

Tưởng hình ảnh của chính con, mẹ con, của những người lớn tuổi và tất cả mọi người, con luôn nguyện cầu cho tất cả, luôn cố gắng an trú trong cảm thọ hiền thiện để lấy đó làm nền tảng cho mình được tái sanh vào cõi lành. Con suy nghĩ, sự cung kính với tất cả những người hạ liệt nhất thì điều đó sẽ vun bồi cho mình được một tâm hiền thiện. Con tự lấy hình ảnh ngày xưa lúc nhỏ bạn con hay con mỗi lần sai trái thì người nhà bắt quỳ xuống đất, úp mặt vô tường thì bây giờ con sẽ lấy hình ảnh đó làm định tướng cho suốt cuộc đời tu học của mình. Và có thể nếu con chưa thoát ly được, con tái sanh, nếu con được làm người thì con nguyện cũng lấy hình ảnh đó, định tướng đó.

Cúi đầu, úp mặt vào tường, quay vô tường, quay vào nội tâm của mình, cúi đầu xuống tất cả, đừng ngẩng đầu lên nữa. Quay vào, không quay ra, nếu có quay ra thì quay ra thương người, xin đừng phán xét tội lỗi của người.

Phật tử số 5 trình pháp:

Con kính bạch thầy và các sư cô, sư thầy, đạo hữu trong đạo tràng.

Khả năng ăn nói của con còn rất hạn chế, nhưng để những điều mà con cảm nhận được, con lĩnh hội được trong những ngày vừa qua. Hiện tại thì con đang gặp rất nhiều rối bời trong cuộc sống, cũng như trong công việc và trong nội tâm.

Con sẽ chia sẻ một chút về cá nhân để đi đến hữu ích của việc con nhận diện được ngũ uẩn như thầy đã giảng dạy. Hiện tại trong đời sống của con gặp nhiều lộn xộn về mặt tình cảm, công việc, con có nhiều cơ sở và công ty. Hiện tại con phải cho dừng mấy cơ sở ở Sài Gòn vì tham, sân của nhân sự tác động đến bản thân con nên nó bào mòn từ nội tại về mặt tài chính tới nhận thức, ý thức và tâm của con người trong những cơ sở kinh doanh của con. Nội tâm và tình cảm cũng vậy. Tức vận trình cứ dính vào bản thân con, bản thân con cũng là một Phật tử học, tu tập như kiểu cưỡi ngựa xem hoa.

Ví dụ như con nhận diện được là họ đang sân với mình, họ đang làm hại mình và mình cũng khởi lên những sân đó, nhưng lúc đó con chưa biết làm thế nào mà chỉ biết là sáng dậy, đôi khi ngồi thiền, hôm nào nhập được thì hôm đó con thấy thoải mái, còn nếu không thì con chỉ trú. Có một điểm yếu là khi con vận nội lực mạnh bao nhiêu thì nó lại khiến cho cái sân của mình nó chỉ nén vào, chứ không dài ra và chờ đến một lúc nào đó thì nó lại bắt đầu sẽ bùng ra. Con tự nhận thấy là như vậy.

Một thời gian trôi đi con thấy không hiệu quả thì con lại bỏ nó sang một bên. Đến thời điểm hữu duyên thì con có mặt tại đạo tràng của sư phụ. Do có hai ngày đầu và sau khi sư phụ chia sẻ, con cũng tu tập trong vô thức thì việc con lên đây không nằm trong kế hoạch, cũng không nằm trong ý thức về việc tu học mà nó dẫn dắt một cái gì đó rất vi diệu, để mà bây giờ con đứng đây chia sẻ với sư phụ.

Con cứ bị cuốn theo, con nhận thấy có một sự sắp xếp nào đó mà con không thể nhận ra được, nhưng con đã nhận ra được qua thầy Nghĩa đã chia sẻ, cũng như với thầy. Mọi người rất tốt và ở đạo tràng, ở chùa của mình không những thanh tịnh mà tràn đầy lòng yêu thương. Con là người hay đưa đạo Phật vào trong công việc hay trong đời sống, còn khi làm được thì con sẽ phát nguyện đi làm, giúp đỡ những mảnh đời, cũng như ai đó đang có nhu cầu để giúp đỡ về mặt tài chính. Vì tri thức của con thì có giới hạn.

Đó là thời điểm qua hai ngày đầu thì con cảm thấy tâm mình lắng xuống, dễ chịu, sau đó đến ngày thứ ba, các sự việc ở mọi nơi ập đến và cảm giác con lại trở về với cái đau nhói, thổn thức, bất an, có những lúc buồn, có phần móng khởi những ý nghĩ sân lên và sau đó con cũng nhận diện được ra nó.

Sau đó con tìm cách, đôi khi là gặp thầy, gặp một số bạn để đánh lừa tâm của con đi, sau khi được sư phụ và thầy Nghĩa chia sẻ về một vài nhận diện ngũ uẩn thì con thực hành trong hai ngày nay. Ví dụ như con nghĩ đến một sự việc nào đó mà của công việc hay bản thân con đang rất buồn thì con lại thấy đó là cảm thọ của mình, hãy để cho nó trôi đi rồi con để ý cảm thọ một chút, dần dần thì nó tan biến. Lúc nào nó đến thì con lại làm như vậy thì hiện tại con mới nhận diện được như vậy. Mặt hạn chế của con thì con sẽ cố gắng.

Lần tới con lên tuy không được nhiều nhưng trong con đã có một ý thức về mặt tu học về đạo tràng cũng như kinh Nikāya thì con sẽ cố gắng trong đời sống, trong từng phút, từng giây, trong công việc, trong đời sống thì cố gắng nhận diện liên tục ngũ uẩn của mình, xem lại cảm thọ của mình, tham, sân, si xảy ra như thế nào. Cố gắng việc này mà mình cho nó lắng xuống được thì cho lắng xuống, việc nào hóa giải nó bằng tâm từ của mình.

Hiện tại thì con cũng xử lý được một vài việc khi nghe bài pháp tâm từ của thầy, vì trước khi con chưa được nghe, con mới được nghe hai bài, chỉ nghe loáng thoáng nhưng con tự thấy ở trong mình vốn dĩ trước kia đã có rất nhiều từ tâm, nhưng do con chưa biết ứng dụng, chưa biết sử dụng nó nên khiến cho ứng dụng của con vào trong đời sống, công việc chưa hiệu quả. Khi một vài công việc con phải xử lý từ xa thì con cũng ngồi thiền, lắng lại một chút và sau đó nhận thấy họ cũng rất khổ đau, không chỉ riêng mình. Sau đó con cũng soạn những dòng tin nhắn mang tính hóa giải những việc đó thì con thấy cũng có một phần hiệu quả.

Con chỉ chia sẻ được đến đây, hy vọng những lần sau, những cảm nhận, năng lực tu tập, cũng như nhờ những định lực của sư phụ, cũng như các thầy, đạo tràng sẽ giúp cho bản thân con có một tâm hiền hơn, thiện hơn, siêng hơn, tinh tấn hơn và nhận biết đúng hơn trong cuộc sống.

Con rất cảm ơn sư phụ và quý thầy, trong mỗi bữa ăn con luôn khởi lên đầu tiên là phải biết ơn sư phụ, đến các thầy, các sư cô, các bạn trong đạo tràng, những người làm từ thiện, những người làm công quả, những người làm ra những thức ăn, hạt gạo này để con có được bữa ăn ngon.

Tâm thương này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.