Thiền Quán - Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 11! Trình Tự Thuyết Pháp Của Chư Phật 3
Nikāya Thiền Quán
Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 11!
Trình Tự Thuyết Pháp Của Chư Phật 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nền tảng Chánh Pháp của Chư Phật PAGEREF _Toc192792258 \h 1
II. Tứ Diệu Đế PAGEREF _Toc192792259 \h 1
III. Trình pháp PAGEREF _Toc192792260 \h 8
IV. Chánh Pháp của Đức Thế Tôn Vipassì PAGEREF _Toc192792261 \h 8
V. Kham nhẫn PAGEREF _Toc192792262 \h 18
VI. Pháp quán cảm thọ PAGEREF _Toc192792263 \h 21
VII. Đức Phật đến cõi trời tịnh cư thiên PAGEREF _Toc192792264 \h 22
VIII. Chư Phật Toàn Giác PAGEREF _Toc192792265 \h 27
IX. Trình pháp 2 PAGEREF _Toc192792266 \h 29
I. Nền tảng Chánh Pháp của Chư Phật
Kính bạch Đức Thế Tôn Thích-Ca Mâu-Ni Đại Cồ Đàm, kính bạch chư tôn thiền đức, chư vị hiền trí, chiều nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu, chiêm nghiệm về cuộc đời, đức hạnh, đạo nghiệp của Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác, Thiên Nhân Sư, Vô Thượng Sĩ, Phật, Như Lai, bậc Thiện Hệ, bậc chiến thắng, chúng ta đang tìm hiểu về phương thức giáo hóa của ba đời Chư Phật.
Cái tâm đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, khi cái tâm mình đã thoát ly ra khỏi dục tham, ra khỏi sân hận, ra khỏi cái trạo hối, hôn trầm, hoài nghi thì lúc đó là một cái tâm cao thượng và an tịnh, thường xuyên ở trong cái trạng thái an tịnh, không bị dao động tại vì nó không chạy theo những đối tượng truy cầu nữa, sắc; thọ; tưởng; hành; thức sẽ lắng dịu cộng với chánh kiến thấy được ngũ uẩn cho nên đây là cái tâm rất là an tịnh và cao thượng. Đây là mình nói theo tinh thần của thánh đạo, còn đối với người chưa nhận diện ngũ uẩn thì trong trạng thái này tâm họ là tâm của chư thiên, tâm họ rất là an tịnh, rất là thanh cao, rất là cao thượng.
Họ đã thoát được năm triền cái, tâm người này ở trong trạng thái rất là tinh minh, rất là sắc bén, rất là trong sáng, rất là tinh anh, tinh vi. Một người thoát cả năm triền cái tâm rất là tinh vi, rất là tế nhị, rất là cẩn trọng, rất là sâu sắc, rất là sắc bén, tâm rất là an tịnh, rất là thanh cao, rất là cao thượng, đây là tâm của chư thiên.
II. Tứ Diệu Đế
Sau đó Đức Phật mới thuyết pháp thoại được Chư Phật đề cao tức là khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt tận khổ đau. Tới cuối cùng Đức Phật mới nói về bốn sự thật của bậc thánh.
"Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng, và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của hai vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà được chư Phật đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh không có tỳ vết, rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, vương tử Khanda và con vương sư Tissa, chính tại chỗ ngồi này chứng được Pháp nhãn xa trần ly cấu: Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt". (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Một vị là vương tử, một vị là vương sư, vương tử là con của vua còn vương sư là thầy của vua, giống như là mình kêu quân sư quốc sư. Hai vị này chính ngay tại chỗ ngồi để chứng được con mắt pháp, con mắt thấy được sự thật xa lìa trần cấu, thấy được sự thật tất cả cái gì đã được sanh ra đều phải hoại diệt. Tức là nhìn thấu được tính chất sanh diệt của các pháp, nhìn thấu là không có bao giờ quên luôn cho nên mới gọi là đắc pháp nhãn tịnh, còn nếu nhìn thấu mà hồi mình quên, hồi mình nhớ thì cái đó không gọi là đắc pháp nhãn tịnh. Hai vị vương tử và vương sư chứng đạt Dự Lưu thánh quả, như vậy Tứ Thánh Đế là cái Đức Phật thuyết pháp sau cùng, chúng ta học một chục buổi tới nay là trình bày về khổ, khổ tập, diệt khổ và khổ diệt đạo, chúng ta học Tứ Thánh Đế là chúng ta đang học về khổ.
Quý vị ràng rụa trong nước mắt, quý vị nói lên cuộc đời trân chuyên, chìm đắm, thăng trầm đau khổ của mình đó là đang trình bày những bài pháp sống động, những sự thật minh chứng hùng hồn cho Khổ Thánh Đế, Khổ Thánh Trí, cho khổ pháp. Không phải con nói, không phải kinh nói mà chính quý vị nói cuộc đời của quý vị, có điều khi trình pháp mà nếu một người có trí thì lấy tất cả cái khổ đó trình ở trong trí tuệ, còn một người chưa thành tựu cái trí là mình trình một hồi sẽ chìm đắm trong cái khổ đó, mình không có cái lối ra, mình bi lụy trong đó. Thành ra có sự khác biệt giữa người cũng khổ nhưng mà có trí tuệ và người khổ nhưng không có trí tuệ.
Có một số vị trình pháp là con thỉnh tiếng chuông vì quý vị chưa có đủ trí tu, quý vị dẫn một hồi là đại chúng sẽ đi theo cái bi lụy của mình, thành ra cái khổ mà có trí tuệ trong đó nó khác, thấy được cái khổ để mình nhìn ra được nguyên nhân của khổ, để mình đoạn tận cái khổ. Chẳng hạn con xá pháp thân của Phật, quý vị nhìn tưởng đâu con xá bụi tre, nhìn lên con thấy có nguyên nhân của khổ nằm trên bụi tre, có thể nó rớt xuống lỗ đầu con, tại vì hôm trước con có chỉ rồi, mấy vị quét ở dưới sân mà không có quét ở phía trên. Mình dọn cũng phải để ý ở trên đầu mình, khi quét nhà mình cứ cúi xuống để quét vì cái tâm của mình rất phiến diện, nó chỉ có một hướng mà nó không biết mấy hướng khác mà mình không ngờ là có khi quét ở trên đầu, rác ở trên đầu chứ không phải rác dưới chân không.
Tâm rộng là mình thấy được nhiều khía cạnh của vấn đề, còn tâm hẹp là nhìn chỉ có một hướng thôi. Trong cái khổ nhìn ra được nhiều khía cạnh lắm, khi một chúng sanh bình chưa nghe thánh pháp thì họ khổ là họ thấy mình khổ "cuộc đời con nó khổ, mấy chục năm qua con khổ", họ đâu có thấy ngũ uẩn khổ, thành ra cái Khổ Thánh Trí nó khác với cái khổ bình thường. Mình tập nhìn ra được cái pháp ở trong cái khổ đó, Thế Tôn nói rằng năm thủ uẩn này là khổ pháp, chữ pháp ở đây nói đơn giản là cái thứ, cái đồ khổ, cái đống khổ. Thành ra khi Đức Thế Tôn nói về Tứ Thánh Đế thì lúc đó hai vị vương sư với vương tử này giống như tấm vải trắng tinh, không tì vết cho nên nhuộm vô đẹp liền tức khắc.
Mình đi học đạo có rất nhiều kiến thức thành ra mình học không được, mình nghĩ mình biết, mình hay, mình hiểu thì đó là những cái tì vết cho nên thánh pháp nhuộm vô không được, nhuộm vô thì những cái tì vết nó còn, không có xóa được cho nên người tu dòng pháp Nikāya mà tâm như trẻ thơ là dễ học, cái tâm cao ngạo là không học được pháp này. Khi vào cái pháp này mình trở thành con đứa con nít không biết gì hết thì học dễ lắm, mình vô trong đây mà mình đem cái kiến thức của mình học toàn là cái phạm phu, toàn là cái chấp thủ, toàn là thân kiến, ngã kiến, biên kiến, kiến thủ, kiến chấp, định kiến, tà kiến, tư kiến thì vô làm sao mình học được thánh tri kiến. Mình phải bỏ hết mấy cái kiến đó, những cái thấy đó, những cái biết đó thì mình mới học được thánh tri kiến.
Tư kiến là cái thấy biết riêng tư của mình, ví dụ mình làm mộc là nhìn cái cây nào nó cũng ra bàn, ra ghế, ra tủ. Có ông có làm tượng Phật, làm tượng này kia thì nhìn cái cây nào cũng ra cái tượng, nhìn cây này ra tượng ông thần tài, nhìn cây kia ra tượng ông Di Lặc, nhìn cây nọ ra tượng ông hộ pháp, nhìn cây nào cũng ra tượng. Còn bác sĩ nhìn đâu cũng thấy bệnh, nhìn chỗ nào cũng thấy bệnh, ông đi kiếm tiền làm ăn thì nhìn chỗ nào cũng thấy tiền hết, có mấy người lên gặp con nói chỗ này thiền nhiều lắm thì con nói chỗ này là chỗ tu, người đầu bếp thì nhìn gì cũng thấy món ăn hết, đó là tư kiến, đó là kiến chấp. Cái tư kiến, cái kiến chấp, cái thành kiến, cái định kiến nghĩa là ông cha làm bác sĩ muốn con phải là bác sĩ mới được mà con không muốn, nó có đầu óc nghệ thuật, nó muốn làm nghệ thuật mà cha không chịu là hai cha con cãi suốt đời. Đó là cái tư kiến của mình, cái định kiến của mình, cái thành kiến của mình, cái kiến chấp của mình, làm cha con khổ nhau, vợ chồng khổ nhau, anh em khổ nhau, huynh đệ tu cũng khổ luôn, thầy trò cũng khổ luôn.
Ông thầy muốn hướng đệ tử học Nikāya nhưng đệ tử lại không, nếu không học thì thôi, vậy thôi cho khỏe. Thành kiến là ví dụ như mình gặp người đó lần đầu tiên, người đó nói chuyện, cử chỉ, hành động rồi mình thấy dễ thương, là mình về nhớ dễ thương cái dễ thương đó, vài bữa sau gặp "Ủa sao kỳ vậy? Sao bây giờ không còn dễ thương nữa?", vậy là người này khổ, hoặc là mình thấy người đó sao khó chịu quá, ngay lúc đó người đó đang bị căng thẳng vấn đề gì đó, đang bực trong mình cho nên họ có lời nói, hành động vậy rồi người này thành kiến luôn, tức là cho rằng cái nhận thức đó là như vậy luôn, đóng cái khung vậy luôn, định kiến vậy luôn, thành kiến vậy, người này hễ gặp người kia là thấy không ưa "bà đó dữ lắm", đó là thành kiến không phải, tại hoàn cảnh lúc đó nó vậy thôi nhưng mà sau này nó khác.
Tư kiến, thành kiến, kiến chấp, cái kiến chấp này nó sâu sắc lắm, kiến chấp này nó ghê lắm, mình học đạo nhiều năm cho tới mình già ở trong chùa, có người chết luôn mà mình cũng không phá nổi kiến chấp. Ví dụ mình học một cái tông, một cái phái, một cái môn, một cái hệ tư tưởng là mình bị cái tư tưởng đó luôn, tức là sống chết với luôn, nói cái khác là không chịu, như vậy là không thấy được chân lý. Khi con vào Nikāya là lập tức tất cả những cái kiến này nó rụng hết cùng một lúc, rớt hết tất cả, cũng may mắn tại vì cái tâm mình tha thiết trong sự thật, tự nhiên nó quên hết, bỏ hết chứ còn khó lắm, rất là khó vì đã huân tập nhiều năm, nhất là những vị lớn tuổi có thành kiến rất nặng, kiến chấp rất nặng. Ngã kiến là kiến chấp về tự ngã, đó cũng là thân kiến luôn, kiến chấp về tự thân.
Nếu như làm công việc với nhau có người đó làm cái này, người kia kêu làm cái khác mới hay, thế là hai người cãi lộn, cái này làm cho người ta khổ rất nhiều, trong gia đình, trong nhà ngoài phố, thậm chí trong chùa, ai cũng cho cái thấy mình là đúng hết. Đó là những cái những cái tì vết, những cái dính dơ ở trong cái tấm vải khi nhuộm màu nó không ăn, cho nên các vị không biết gì hết mà vào học Nikāya là rất dễ, chỉ có tâm thuần tịnh trong sáng cầu đạo là học dễ lắm, biết nhiều quá mà giỏi là khó học, nếu mà bỏ được thì người này là tuyệt vời, học chắc. Cái sâu xa nhất của tất cả các kiến là thân kiến, chúng ta đang có những bài phá thân kiến, kiến chấp về tự thân, cho ngũ uẩn là mình, là của mình, là tự ngã của mình, cái đó là quan trọng nhất, phá cái đó là tất cả cái khác sụp hết, đó là sào huyệt, là căn cứ địa, hang ổ, là nền móng cho tất cả các kiến chấp khác hình thành, đó là thân kiến. Mình tu tập ở đây là đang phá thân kiến.
"Hai vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự, diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: 'Thật di diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Bậc Dự Lưu là bậc không còn dựa vào một người nào khác nữa trong cái thấy, trong cái trí tuệ của người đó, có thể tự mình đi tới sự chứng ngộ thánh quả A-la-hán, nếu có các bậc thiện tri thức lớn hơn thì quá tốt nhưng nếu không có ai thì vị này vẫn có thể tự mình đi tới sự diệt tận tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã. Thành ra ở đây nói là chứng được tự tín không có y cứ, là không có dựa vào người khác đối với đạo pháp của đức bổn sư, đó là lý do con nói chúng ta cố gắng, nỗ lực để Nhập Lưu là vậy, khi Nhập Lưu xong là tự động dòng chảy đưa mình về phía trước, mình không có thể lùi lại nữa, tự động dòng pháp sẽ đưa mình về phía trước. Cho nên giờ ráng chịu khổ giờ đi rồi Nhập Lưu xong là khỏe lắm, sau đó dù là mau hay chậm, sớm hay muộn, nhanh nhất ngay trong đời này luôn, chậm tận cùng luôn là bảy lần, tức là còn sáu lần nữa nhưng sư phụ không có cho Nhập Lưu không mà ngài kêu phải là ứng cử viên lậu tận A-la-hán. Ngay trong đời này phải xong.
Hai vị này xin xuất gia, khi Nhập Lưu rồi hai vị này xin xuất gia liền, thấy pháp rồi, vào dòng thánh tức là thấy tận cùng rốt ráo sắc; thọ; tưởng; hành; thức này chỉ là khổ đau, ngoài khổ đau ra không có gì khác thì xuất gia thôi.
"Này các Tỳ-kheo, vương tử Khanda và con vương sư Tissa được xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy hai vị này, khuyến khích làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết-bàn. Và hai vị này nhờ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Hồi nãy nói về cái dục, bây giờ nói về các pháp hữu vi là cao cấp hơn cái hồi nãy, ngày hôm qua là nói về sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các vị các dục vọng nhưng mà bây giờ không phải nữa, bây giờ là sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi, nó khác chứ đừng tưởng nó giống nhau, ở đây là lên một cấp bậc nữa. Hữu vi là pháp gì? Hữu là có, vi là làm, vi là thi vi, là tạo tác, là những pháp do làm ra, đó là pháp duyên sanh, chính là ngũ uẩn, còn hồi nãy chỉ nói về dục vọng thôi, bây giờ nói luôn tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều là nguy hiểm, là hạ liệt, là nhiễm ô.
"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'. " (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
Hữu vi là pháp duyên sanh, là do nhân duyên nó làm ra cho nên cái gì do nhân duyên tạo thành thì cái đó là những thứ nguy hiểm, tác hại, hạ liệt, nhiễm ô. Cái gì do nhân duyên làm ra? Chính là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, những thứ đó là nguy hiểm, là tác hại, là hạ liệt, là thấp kém, là nhiễm ô. Đức Phật giảng cái này cho hai vị này rồi sau đó Đức Phật tuyên thuyết lợi ích của Niết-bàn đệ nhất lạc, không có niềm vui nào bằng Niết-bàn hết. Niết-bàn là lắng dịu hết tất cả các pháp hữu vi, không còn sắc; thọ; tưởng; hành; thức nào nữa hết. Niết-bàn là ái diệt, là sự từ bỏ, là sự ly tham, là sự đoạn tận, chấm dứt vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn này. Chỉ có hết tham ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức mới là niềm vui tối thượng, lợi ích cao tột, hạnh phúc tột cùng đệ nhất.
Đức Phật thuyết pháp cho hai vị này sau khi hai vị đã chứng nhập, tiếp theo Đức Phật khuyến khích làm cho họ phấn khởi, làm cho hoan hỉ với những lời pháp của ngài, song song đó là nêu rõ sự nguy hiểm, sự tác hại, sự thấp kém, sự hạ liệt, sự nhơ nhớt, bẩn thỉu, sự ô nhiễm của các pháp hữu vi, pháp duyên sanh của năm thủ uẩn này, đồng thời trình bày lợi ích, an lạc, sự hạnh phúc, vi diệu tối thượng của tâm dập tắt tham, sân, si, tâm thanh tịnh, tâm vượt thoát, tâm ly tham, cái tâm nhàm chán, cái tâm từ bỏ, tâm đoạn diệt đối vô minh và khát ái ở trong năm thủ uẩn.
Chỉ có hỷ lạc mới chứng thánh quả, ngài thuyết pháp, giảng dạy, khích lệ hai vị này hoan hỉ, vui mừng bằng pháp thoại cho nên ngày nào mình cũng nghe pháp suốt tám tiếng, mười hai tiếng như vậy là bảo đảm vào thánh quả. Vì trú trong pháp liên tục sẽ làm cho mình phấn khởi, hoan hỉ, an lạc thì những dục lạc bên ngoài không còn nữa. Sau đó hai vị này chứng Thánh quả A-la-hán, thành tựu cứu cánh tột cùng của người xuất gia.
III. Trình pháp
Sư cô Ấn Liên: Con chân thành Đức Phật Tỳ-bà-thi, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và các bậc hiền trí. Khi con nghe sư phụ nói đảnh lễ hai vị A-la-hán nhị Thánh thì lúc đó cảm thọ của con thấy hạnh phúc, mấy ngày nay khi con nghe thiền quán của sư phụ thì cảm thọ hỷ lạc và hạnh phúc lắm, ý hành con nói "sao mà định lý chứng ngộ giống nhau". Khi sư phụ hướng dẫn về thiền quán sự sỉ nhục về cái thân hiện hữu trên cuộc đời này thì lúc đó toàn cảnh trong thân con nó hiện ra, con thấy rất là rõ ràng. Lúc con lạy xuống lần thứ hai thì trong suy nghĩ của con thật sự mình đã biết con đường của mình đi, đây là con đường thánh đạo, khi mà con đã học qua trước đây sư phụ dạy nhân đạo, thiên đạo và thật sự con đường mình đi hiện tại bây giờ là thánh đạo.
Trong tâm con nghĩ rằng mình cần phải tu học cẩn trọng hơn nữa vì những lời Phật dạy đã rõ ràng. Lúc đó con suy nghĩ đây là cái pháp cuối cùng trong pháp cuối cùng để đi đến an lạc và giải thoát, thật sự tâm con hoan hỉ lắm, lúc sư phụ gọi cũng hơi hồi hộp, trong cảm giác con hồi hộp, gần đây thì được mấy ngày lên nghe pháp sư phụ giảng thiền quán thì con cảm nhận là mình phải sống trong pháp nhiều hơn, phải cố gắng nghe pháp thật nhiều. Lúc nghe thì con thấy tâm khác với bình thường, khi không nghe pháp thì tâm con khác, lúc nghe pháp thì cái tâm con nó dừng lại và nó định tĩnh hơn. Con rất là hoan hỉ trong giây phút đó, có lúc con cũng lơ là trong việc học pháp của mình nhưng khi nghĩ lại thì con thấy thời gian rất là quý, con rất trân trọng những giây phút đó, được đảnh lễ các vị thánh các vị thánh thì con thấy đây là một nhân cái duyên mà sư phụ đã đưa tâm con về với các vị thánh, đây những tấm gương, những lời dạy mà con cần phải học. Nhưng không biết sao có lúc con cũng hơi lo, trong cảm thọ con cũng rất là lo trong việc tu học của mình.
Sư Phụ: Lo sao?
Sư cô Ấn Liên: Con thấy mình còn thiếu sót nhiều lắm.
IV. Chánh Pháp của Đức Thế Tôn Vipassì
Sư Phụ: Cái đó là tốt, không có cái lo đó thì tu đâu có tiến, phải có cái lo đó.
"Hai vị này nhờ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Đây là khi đã Nhập Lưu rồi đó, ra khỏi tâm mê một cách hoàn toàn một trăm phần trăm.
"Này các Tỳ-kheo, trong khi kinh thành Bandhumatì có đại chúng khoảng tám vạn bốn ngàn vị được nghe: 'Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh thành Bandhumatì và ở tại Lộc Uyển Khema. Vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn, Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác'. Khi nghe vậy, các vị này tự nghĩ: 'Chắc chắn, pháp luật này không thể tầm thường, sự xuất gia này không thể tầm thường, vì vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Tại sao chúng ta lại không làm vậy?'
Này các Tỳ-kheo, rồi đại chúng ấy gồm khoảng tám vạn bốn ngàn vị đi ra khỏi kinh thành Bandhumatì đến Lộc Uyển Khema, chỗ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở. Khi đến nơi, các vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Một hoàng tử xuất gia đã thành Chánh Giác, thành Phật rồi, có thêm một vị vương tử và một vị vương sư đi theo xuất gia nữa thì đường lối hành trì này chắc chắn không thể bình thường cho nên mấy chục ngàn người này đi đến Lộc Uyển nơi Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi thuyết pháp để đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp như lúc trước, đầu tiên ngài nói về bố thí và quả báo của bố thí, ngài nói về giữ giới và lợi ích của giữ giới, ngày trình bày về các phước báo, an lạc, hạnh phúc của cõi trời, ngài nêu lên sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các dục vọng và lợi ích an lạc của việc thoát ra, xuất ly các dục vọng đó.
"Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của các vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh, không có tỳ vết rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy tám vạn bốn ngàn vị này, chính tại chỗ ngồi này, chứng được pháp nhãn xa trần ly cấu: 'Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt'.
Những vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: 'Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, Như người dựng đứng lại, những gì bị quăng xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới!'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Tám mươi bốn ngàn vị này thấy sự thật, chứng sự thật, ngộ sự thật, thể nhập vào sự thật của khổ thánh khí, nghi ngờ tiêu tan, do dự diệt tận, tịnh tín bất động đối với thánh trí ngũ uẩn. Chúng ta có thể tưởng tượng ra cái cảnh lúc đó không ạ? Tám vạn bốn ngàn người, tám mươi bốn ngàn người cùng một lúc Nhập Lưu, mọi người có thấy sự thuyết pháp của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không? Mình ở đây có bốn mươi tám người, xong mùa hạ này Nhập Lưu hết, chúng ta phải nỗ lực, chúng ta rất là tiếc sanh ra thời không có gặp Phật tuy nhiên cũng còn vớt vát được sau hai ngàn sáu trăm năm mà vẫn được nghe thánh pháp nguyên chất này, cho nên phải nỗ lực chuyến đò cuối, đây là đò chiều chuyến chót, chậm sẽ bị bỏ lại, thuyền đã đi rồi.
Mình sẽ bơ vơ, không còn thuyền nào nữa để bước lên hết, khi mà Đức Thế Tôn và các bậc thánh còn tại thế lúc đó là những con thuyền vĩ đại, còn bây giờ là những chiếc thuyền, chiếc xuồng nhỏ, lại là đò chiều chuyến chót rồi mưa bão nữa, sình lầy trơn trợt, đường lại tối, chỉ có đom đóm lập lòe thôi, không có mặt trời mặt trăng cho nên càng an trú vô pháp nhiều chừng nào là càng tốt chừng đó đừng có kể sinh mạng, đừng có kể mệt mỏi gì hết, đừng có quan trọng nuông chiều cái thân này quá. Trời thì giông bão, đường thì sình lầy, màn đêm thì bao phủ, đò xuồng thì nhỏ lại là chuyến chót nữa, chân mình thì không phải là bàn chân có sức khỏe, trợt lên trợt xuống mà nếu mình không cố gắng, không bò lên, không nắm tay nhau đi thì mình sẽ tuột mất, chuyến đò đã rời đi rồi mình sẽ ở trong mưa bão, bão tố phong ba, sình lầy lạnh lẽo, gió mưa trơn trượt, bốn chữ đó chiêm nghiệm làm đề tài thiền quán "đò chiều chuyến chót".
Chúng ta phải như lý tác ý, đừng có phi như lý tác ý, suy nghĩ ngược lại những suy nghĩ trước nay của mình. Có lúc nào đó cái vị mà đánh khánh, tuy là đánh con sẽ nằm dưới năm phút luôn để cho mọi người thiền quán, không nhất thiết là cúi xuống là phải đánh lên liền, khi thấy con nằm dưới là đừng có đánh mà phải chờ. Hễ cầm cái khánh vô rồi là cứ đánh vô tội vạ, cái tâm của mình chấp thủ cho nên làm gì cũng chấp thủ trong đó hết, như vậy là phải vậy, không được khác vậy. Có khi chúng ta phải nằm mọp dưới chứ đó thiền quán sanh khởi lên cái tâm cung kính đối với bậc đại giác, sanh khởi lên lòng khát ngưỡng đối với các bậc thánh chúng, sanh khởi lên lòng tha thiết chân thành muốn đi theo các ngài, con muốn nối tiếp, con muốn nối bước, con nằm rạp hết cái bản ngã này xuống, con chôn nó xuống tại lòng đất tại Linh Quy Pháp Ấn này, có thể mình sẽ nằm luôn tại đó năm phút, lâu hơn nữa cũng được chứ không nhất thiết đánh xuống là phải đánh lên liền.
Lâu lâu con cũng để ý coi người đánh khánh này có thể nghiệm được pháp không, con nằm không ngồi dậy thì con thấy cũng dẫn đánh như thường. Thành ra tất cả mọi cái trong đó đều có sự tu tập, cái tâm mình làm gì là mình sẽ làm như vậy không có làm khác, có lúc mình phải nằm rạp xuống dưới đó thiền quán luôn. Có các vị chia sẻ với con là có những chỗ người ta tuy không thực hành thánh đạo Nikāya gì hết nhưng người ta cho chết thử, bên nước ngoài phải đóng bao nhiêu tiền để trải nghiệm cái chết, có đốt đèn cầy, có hình, có hòm, có đào cái huyệt để mình chui xuống dưới đó nằm, người ta có chừa cái lỗ để cho mình thở, cho mình trải nghiệm sự chết. Ở bên nước ngoài đâu có hiểu Nikāya gì đâu, những người nằm xuống là lo lắm, sợ hãi, sau khi người ta trở lên rồi trân quý sự sống hơn, đó là cái pháp thế gian. Khi mình thực hành thánh pháp là có những lúc mình sẽ không phải chỉ đưa bộ xương nữa mà sẽ nâng cấp từ từ lên, biết đâu sau này con làm đào một số lỗ, làm thật cho mấy thiền sinh về tu, hôm trước là trải nghiệm mù rồi, mai này cho trải nghiệm chết. Con sẽ cho đào mấy chục cái lỗ, có hình đàng hoàng, đó đèn hình đàng hoàng, kêu người thân lại đàng hoàng kế bên, lúc đó họ thọ; tưởng; hành của mình như thế nào.
Mình không bao giờ mình nghĩ cái đó nên mình hôn mê hoài, trở lại vấn đề khi mình nằm rạp xuống như vậy có những lúc thiền quán là mình đang lạy chứ không phải sư phụ lên thiền quán thì lúc đó mới thiền quán. Mình nằm rạp xuống dưới đó khao khát, khát ngưỡng, mình tôn kính, mình dập đầu gấp đôi giống như nằm vạ với Phật luôn vậy đó, mình ràng rụa nước mắt, mình đau xót cho cái tự thân vô minh nghiệp chướng, ngu si, dục cái này. Mình thấy mình thấp kém, hèn hạ, xấu hổ, nhục nhã, tồi bại, bẩn thỉu, ngu si, chấp thủ, cứng đầu, khó dạy, mình nằm dài dưới đó cảm nhận hơi lạnh của lòng đất, tự mình quán tưởng chôn vùi cái tấm thân này xuống, trong vùi cái tôi, ta ác độc này, không biết nhục này, không biết xấu hổ này, cái tâm vênh váo, ngã mạn, kiêu mạn này, mình chôn sống nó, vùi lấp nó.
Ở bên Tây Tạng, ở bên Nepal có cách lạy Phật nằm dài cả người xuống đất, chúng ta phải thực hành vì có rất nhiều pháp, nhiều phương tiện, nhiều cách thức cho mình làm, nếu mình cứ làm đều đều như vậy mãi thì mình không có thọ gì nữa, mình tu riết rồi mình trơ ra, không còn cảm thọ gì nữa. Mình dập đầu trước các ngài, thấy mình thật là nhỏ bé, thật là ngu muội, thật là thấp kém, mình thấy mình thật là bỉ ổi, hạ liệt đối trước các bậc Chánh Đẳng Giác, các bậc thánh Tăng, thánh nhân, các bậc hiền thánh, mình khao khát, mình thèm khát, mình khát ngưỡng, mình tôn kính, mình đau lòng, mình tủi phận, tủi thân, tủi nhục, tủi hổ. Nếu cảm giác này sanh khởi nhiều nhiều, tăng trưởng lên nữa thì mình đi rất là nhanh, mình đi tới sự Nhập Lưu rất là mau, đó là sức bật, đó là động lực, đó là sức đẩy nhanh đi vào trong thánh đạo. Mình phải đau khổ lắm, con nhập thất mà đập đầu vô vách tường, con lạy Phật đến nỗi cái trán này đỏ sưng lên hết, hai cái đầu gối này chai hết vậy mà vẫn chưa xong, vẫn còn rất nhiều vấn đề xấu hổ, bỉ ổi, nhục nhã, thấp hèn, hạ liệt, đê tiện, bẩn thỉu, xú uế.
Mình không chăm lo cho đời tu của mình thì uổng lắm, phải tự tạo cho mình những cú sốc, tự đặt mình vào những cái hiểm nạn, nguy nan, đừng cho mình an nhàn, bắt mình phải chịu cực chịu khổ, bắt mình phải chịu đựng những cái tai họa, tự mình đưa vào thiền quán. Mình cho mình an nhàn là mình sẽ chết mãi mãi, chết vô biên kiếp, mình phải phát huy sức mạnh tận cùng của nội lực, đạo lực của mình cho đến chừng nào mình chịu hết nổi thì mới thôi, sức mạnh tiềm tàng bên trong mình là nó vô tận nhưng do mình chưa chịu phát huy. Mình để cho cuộc đời mình như lục bình trôi sông, giậm chân tại chỗ thậm chí là thối đọa, đi lùi.
"Này các Tỳ-kheo, lúc bấy giờ đại chúng Tỳ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh đô Bandhumatì, Này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, trong khi yên lặng tịnh cư đã suy nghĩ như sau: 'Nay đại chúng Tỳ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh thành Bandhumatì. Sao Ta lại không khuyến dạy các vị Tỳ-kheo ấy: 'Này các Tỳ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Thời đại của Đức Phật Tỳ-bà-thi sống tám chục ngàn tuổi, hội chúng của ngài là sáu trăm tám mươi vạn vị Tỳ-kheo, Đức Phật khuyến khích các vị Tỳ-kheo hãy đi cùng khắp, đem chánh pháp này hướng dẫn cho chư thiên và loài người, đừng có đi hai người cùng một nơi.
"Này các Tỳ-kheo, một vị Ðại Phạm thiên khác, với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Như một vị lực sĩ duỗi cánh tay co lại hay co lại cánh tay đã duỗi ra, vị này biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ kheo, lúc bấy giờ vị Ðại Phạm thiên, đắp thượng y trên một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bạch Ngài: 'Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy khuyến dạy đại chúng Tỳ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị ở kinh đô Bandhumati: 'Này các Tỳ-kheo hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp'. Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm như các vị Tỳ-kheo. Sau sáu năm, các vị này đến kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Suy nghĩ của mình chư thiên đọc được hết, đừng tưởng rằng mình nghĩ mà người ta không biết.
Này các Tỳ-kheo, Ðại Phạm thiên thuyết như vậy. Sau khi nói xong, vị này đảnh lễ Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, lưng bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.
Này các Tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vào buổi chiều xuất định đứng dậy và nói với các vị Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, trong khi Ta yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, ý nghĩ sau đây khởi lên: 'Nay đại chúng Tỳ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh thành Bandhamatì. Sao Ta lại không khuyến dạy các Tỳ-kheo ấy: 'Này các Tỳ-kheo, hãy đi cùng khắp vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sau sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn'.
Này các Tỳ-kheo, một Ðại Phạm thiên khác với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Ta. Như một vị lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại hay co lại cánh tay đã duỗi ra, vị này biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra trước mắt Ta. Này các Tỳ-kheo, vị Ðại Phạm thiên, đắp thượng y trên một bên vai, chấp tay hướng đến Ta và bạch với ta: 'Như vậy là phải, Bạch Thế Tôn! Như vậy là phải. Bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy khuyến dạy đại chúng Tỳ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị ở kinh đô Bandhumatì: 'Này các Tỳ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp, sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm như các Tỳ-kheo. Sau sáu năm các vị này sẽ đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn'. Này các Tỳ-kheo, vị Ðại Phạm thiên thuyết như vậy. Sau khi nói xong, vị này đảnh lễ Ta, lưng bên hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ.
Này các Tỳ-kheo, Ta khuyến dạy các ngươi: 'Này các Tỳ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe giảng chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sau sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn'.
Này các Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo ấy, một phần lớn trong ngày ấy đã lên đường đi khắp quốc độ" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Các vị Tỳ-kheo rất nghe lời Đức Phật. ngài nói ra là gần hết các vị Tỳ-kheo đều làm theo, đó là hiền trí, là tâm nhu thuận, là tâm thuần thục của các bậc thánh, Đức Phật nói ra là hơn sáu trăm mấy chục vạn người trong ngày đi liền, còn mình chắc nói "dạ để từ từ con sắp xếp thầy ơi". Thành ra tâm của các ngài tuyệt vời lắm, những cái chi tiết nhỏ đó là mình phải nhìn thấy cái đặc tính của bậc hiền trí, phần lớn trong ngày các vị đã lên đường đi khắp quốc độ, nhớ các vị này toàn là thánh Tăng không thôi, mình chưa phải thánh Tăng là đừng bắt chước "Thôi bây giờ con học ngũ uẩn cũng được rồi, cũng bộn rồi để con đi độ sanh" là rất nguy hiểm.
"Này các Tỳ-kheo, lúc bấy giờ tại Jambudìpa (Diêm phù đề) có tám vạn bốn ngàn túc xá. Khi một năm vừa mãn, chư Thiên tuyên bố: 'Này Hiền giả, một năm vừa mãn, nay còn lại năm năm. Sau năm năm, hãy đến tại kinh đô Bandhamatì để tụng đọc giới bổn!'
Hai năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: "Này Hiền giả, hai năm vừa mãn, nay còn lại bốn năm. Sau bốn năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!".
Ba năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: 'Này Hiền giả, ba năm đã mãn, nay còn lại ba năm. Sau ba năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!'.
Bốn năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: 'Này Hiền giả, bốn năm đã mãn, nay còn hai năm. Sau hai năm, hãy đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!'
Năm năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: 'Này Hiền giả, năm năm đã mãn, nay còn lại một năm. Sau một năm, hãy đến tại đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn!'
Sáu năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: 'Này Hiền giả, sáu năm đã mãn. Nay đã đến ngày đi đến kinh đo Bandhumati để tụng đọc giới bổn'. (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Mỗi một năm chư thiên đều nhắc nhở sáu năm phải về kinh đô trùng tuyên giới bổn vì tuổi thọ con người khi đó rất dài, còn mình bây giờ phải nửa tháng bố tác một lần, còn ngày xưa sáu năm mới bố tác.
"Này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo ấy, một số vị với thần lực của mình, một số với thần lực của chư Thiên trong ngày ấy đã đi đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn.
Này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giữa chúng Tỳ-kheo, tụng đọc giới bổn này:
'Chư Phật dạy Niết-bàn là đệ nhất.
'Nhẫn nhục, khổ hạnh, kham nhẫn, là đệ nhất.
'Người xuất gia hại người xuất gia khác.
'Hại người khác như vậy không xứng gọi là Sa-môn.
'Mọi điều ác không làm, hướng tâm các thiện nghiệp.
"Giữ tâm trí thanh tịnh, chính lời chư Phật dạy.
"Không chỉ trích, không đánh đập, giữ mình trong giới bổn.
'Ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ riêng một mình.
'Hướng tâm đến cao khiết, chính lời chư Phật dạy'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Các vị này dùng thần lực cũng như dùng thần lực của chư thiên đưa các vị đó đi tại lúc này con người là thuần thiện, cực thiện, chí thiện, chỉ toàn là các bậc thánh thiện nên lúc này sử dụng thần thông là bình thường. Bây giờ tâm quá ác, quá tham làm sao bay nổi, còn lúc đó tâm con người hiền thiện, thuần thiện nên phần lớn các ngài dùng thần thông, tâm rất nhẹ nhàng, cao thượng, thanh tịnh. Giới bổn ngày xưa chỉ có bấy nhiêu đó, không có mấy trăm giới như mình bây giờ vì tâm người ta thuần thiện, người ta đâu có những cái ác xấu đâu, Đức Phật chỉ nói pháp thôi.
Chư Phật dạy Niết-bàn là đệ nhất, cái tâm dập tắt hoàn toàn tham, sân, si là cái tâm cùng tột, chỉ có Niết-bàn là tối cao, tối thượng, tối thắng. Muốn tu thì phải đặt mình vào sự kham nhẫn, sự chịu khó, chịu kham khổ, nhẫn nại, cái đó là số 1 của một người muốn tu.
V. Kham nhẫn
Người muốn xuất gia, người muốn thành đạo là người đó phải chịu đựng, phải kham nhẫn, phải chịu khó, chịu khổ, xả phú cầu bần, xả tâm cầu đạo. Đối với người tu sự kham nhẫn, sự chịu khó, sự chịu đựng, sự chịu khổ là bậc nhất để tiến đạo, nếu không có cái này thì không có tiến đạo, không có làm chút là than, làm chút là thở, làm chút kể lể mà phải chịu khó, chịu khổ, chịu đựng khổ hạnh, đó là bậc nhất để cho mình tiến đạo.
Chúng ta thấy đây mình có chịu khó nhiều không ạ? Ngồi tu bốn-năm tiếng có đáng tán dương không? Con nghe các chú kể lúc nhỏ luyện võ là 12h trưa buộc dây ôm bánh xe, trong những người thành đạt hiện nay trên thế giới, cầu thủ, võ sư, những người thực hành công phu, thậm chí người ta xem thường sinh mạng để khổ luyện thành tài, còn mình khổ luyện để thành đạo. Mình tu mà cứ muốn đều đều mãi là không được, phải đưa mình vô cái cảnh khó khăn rèn luyện, tôi luyện, tu luyện, tập luyện, khổ luyện, những cái đó là để phá cái chấp thủ, phá thân kiến, mình muốn gì cũng phải vừa ý mình, không vừa ý là mình không tu, vừa ý mình mới ở, không vừa ý thì mình đi. Như vậy làm sao mình tu thành thánh pháp, thánh đạo, thánh trí, thánh quả, thánh nhân được? Đi đâu cũng muốn vừa ý vừa lòng mình, ở đâu mình cũng không vừa lòng, đi đâu cũng bất mãn, nếu mình tu với tâm ái thì mình đi tìm ái chứ không phải tìm đạo, không phải cầu pháp, mình đi tìm những cái vừa lòng mình cho nên cái nhẫn nhục, khổ hạnh, kham nhẫn là đệ nhất, đây là giới kinh của Phật Tỳ-bà-thi.
Con nghe thầy Nghĩa có nói lại là trời mưa cho mọi người ngồi luôn, phải tập như vậy chứ mưa chút là chạy, mai này chết có chạy không, mai này cái mồ đó mưa rồi chạy đi đâu. Chúng ta phải tập sự bất động, lâu lâu phải tập như vậy, mình nuông chiều bản thân quen rồi nên tu không được, nuông chiều chính tham ái, ái dục. Ngày xưa ngồi thiền lúc đầu mười lăm phút, sau đó tăng lên từ từ bốn mươi lăm phút, một tiếng, rồi lên một tiếng rưỡi, hai tiếng là mình ngồi khỏe re, những lúc đó là phải chịu cay đắng, đau đớn. Bậc đạo sư kể hồi xưa ngài ngồi thiền đau quá nước mắt chảy xuống không chịu nổi, đau quá đau, ngài điện thoại cho chị nói rằng chị nói chuyện gì cũng được, em nghe để cho em không mở cái chân ra, nước mắt chảy ròng ròng xuống, có bữa ngài ngất xỉu luôn, đó là ngài tự tu một mình, không có người hướng dẫn kèm kẹp kế bên.
Đó là cái tập để ngồi thiền thôi, khi vượt qua cái ngưỡng 2 tiếng hết đau nữa rồi là sau này dễ, ngài nói sau đó là không có ngồi nhiều nữa. Thành ra đó là những sự kham nhẫn, khổ hạnh chứ không phải kêu mình làm giống như hồi xưa của thái tử, không phải như vậy, mình không có đi lại con đường đó mà mình chỉ làm cho được những gì Đức Phật dạy Bát Chánh Đạo thôi. Nhiều khi con chia sẻ với các vị, khi mình ngồi thiền, khi mình nghe pháp, khi mình thiền quán thì cố gắng làm sao mình thực tập cái sự nhiếp phục được cái thân mình trước, ngồi cho yên, đừng có lắc qua lắc lại, đừng có sửa áo, sửa y, đừng có nhúc nhích qua lại, bấy nhiêu đó thôi cũng là sự luyện tập chứ không phải không luyện, mình phải luyện từ những cái nhỏ nhặt.
Mình tập cái chỗ nào nó yên là mình cho nó yên, chỗ nào nó tịnh là mình cho nó tịnh. Tất cả những cái đó là mình phải để tâm rất là nhiều, không để tâm cũng làm không được dầu chuyện rất nhỏ, còn những người già bệnh là khỏi nói rồi, các vị đó là mình phải thông cảm. Các vị đó ngồi lựa cái gốc ngoài rìa nhất để đừng động người khác, cho nên tất cả mọi cái mình đều phải rèn luyện hết, hồi xưa ở bên thiền tạng có quyển thiền môn đoán luyện thuyết, sự rèn luyện ở trong nhà thiền, cái đó rất là gian truân, không có đơn giản. Mình bây giờ không có rèn gì nhiều, chỉ có rèn nghe pháp thôi, ngồi thiền tu thôi, có nhiêu đó thôi mà không được nữa là thôi luôn. Thành ra phải để ý vấn đề, phải chiến đấu với cái buồn ngủ trong khi ngồi thiền pháp, thức khuya dậy sớm, phải chịu khó luyện tác ý, đó cũng là sự khổ luyện.
Mình tác ý đâu có ai thấy, mình đâu có nghe nhưng mà mình phải khổ luyện, nếu nói "con làm biếng tác ý quá, khó quá", vậy là khỏi tu, chỉ có vỏ chứ không có ruột. Mình muốn có được chất lượng bên trong thì mình phải khổ luyện, tất cả cái đó là phải do tự mình, không thể nào do một người khác của bên ngoài, sự tác ý nào cũng khổ luyện, các bậc thánh ngày xưa cũng vậy, đâu có ai tự nhiên thành thánh. Mình xem trong Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật rồi đó, khủng khiếp lắm, đi ăn xin, thắt cổ tự vẫn, chết lên chết xuống, chồng chết, con chết, cha chết, mẹ chết cùng một ngày, năm người chết, đó là những cái cảnh khổ đẩy các ngài đi tới một cái tâm cầu đạo mãnh liệt, quyết liệt, hùng liệt, quyết tử. Các ngài đạp đổ hết tất cả những cái chướng ngại khó khổ, các ngài mới thành tựu, đại thành tựu.
Thành ra là khó khăn, tai nạn, chướng ngại con không sợ, con sợ là cái bình bình an an, yên yên ổn ổn, con rất sợ cái đó cho nên con thấy mình an an bình bình là không được, nhất định là không được, phải làm cái gì đó cho khổ, tu là phải hành. Trong ba cảm thọ đó thì cảm thọ sướng và cảm thọ khổ khá ít, nhưng cảm thọ đều đều là nhiều nhất, mình chết trong cảm thọ đều đều, mình tu trong cảm thọ đó rất nhiều, người nào không nhìn ra cái này là không tu được, không tiến bộ được.
Con đi chỗ này chỗ kia, gặp người này người khác, dự lễ này nọ, con ngồi giống như trời chồng vậy đó, người ta cười, người ta nói, người ta vui nhưng con thấy sao khổ vậy, con xót thương đau lòng, con ngồi đó không lẽ giờ không mở miệng ra nổi nữa, giống như bị á khẩu luôn. Mình nhìn thấy không có cái gì vui hết, mình thấy xót xa, mình đau lòng, mình quặng thắt, thành ra phá cái cảm thọ đều đều đó thì Đức Phật dạy mình quán cái cảm thọ bất khổ bất lạc đó là vô thường, quán cảm thọ khổ là gì.
VI. Pháp quán cảm thọ
Sư cô Pháp Linh: Con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Khi cảm thọ dễ chịu quá thì con sẽ quán vô thường, khổ, còn khi cảm thọ khó chịu thì con sẽ quán từ bi.
Sư Phụ: Không thể nói tự ý mình được, kinh của Đức Phật không thuộc thì cầu trợ giúp đi chứ không có tự ý nói được, về học lại cho thuộc.
Sư cô Pháp Linh: Dạ mô Phật, con quên rồi sư phụ.
Sư Phụ: Bây giờ nghe sự trợ giúp rồi về học cho thuộc, cái này là pháp hành, là công thức, là định lý nên phải thuộc.
Sư cô 1: Mô Phật, con kính bạch sư phụ, kính thưa các quý thầy, quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng, quán thọ dễ chịu hay là thọ lạc thì chúng ta quán khổ, còn quán cảm thọ khó chịu thì chúng ta quán nó là mũi tên và quán cảm thọ không khổ không lạc thì chúng ta quán về vô thường. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Đó là bài kinh Cần Phải Quán Kiến.
"Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau" (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, V. Cần Phải Quán Kiến)
Khi mình gặp một cảm giác vui mình phải nhìn thấy nó là khổ, cho nên nãy con nói người ta vui, người ta cười còn con thấy khổ, là mình nghe lời Đức Phật. Khi mình gặp một cảm giác khổ mình phải quán nó là mũi tên xuyên thủng vô tim mình, cái khổ này nó phải ăn sâu hơn nữa để mình thành tựu trí tuệ trong cái khổ đó chứ không phải than vãn bứt tóc, đấm ngực, ngất xỉu, bất tỉnh, mình quán cái trí tuệ về khổ cho nó thấm thía. Còn cái cảm thọ không khổ không vui là Đức Phật quán vô thường, con thường hay nói vô thường là 4 đột: Đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, quán như vậy thì làm gì có cái cảm giác đều đều, bình thường. Cái cảm giác đều đều đó phải quán nó như vậy, không có đều đều đâu, để mình phá cái cảm giác bất khổ bất lạc thọ đó, phá cái si đó, trong cảm giác đó là vô minh tùy miên, si tùy miên.
Cho nên các vị tu nhẫn, kham nhẫn, khổ hạnh là người ta phá cái cảm giác bất khổ bất lạc, không có khổ hạnh là không phá được cái đó, còn không quán nữa thì càng không có phá được mà cái cảm giác bất khổ bất lạc, cái cảm giác đều đều chiếm tám mươi, chín mươi phần trăm trong cái đời sống thường nhật của mình. Nếu mà mình không quán thì đợi tới khổ, tới vui làm sao quán?
VII. Đức Phật đến cõi trời tịnh cư thiên
"Này các Tỳ-kheo, một thời ta ở tại Ukkhattha (Úc-Già La), trong rừng Subhaga, dưới gốc cây ta-la vương. Này các Tỳ-kheo, trong khi Ta an lặng tịnh cư, tư tưởng sau đây khởi lên: 'Có một trú xứ, một loại chúng sanh rất dễ đến mà Ta từ trước không đến ở trong một thời gian khá lâu! Ðó là chư Thiên Suddhàvàsa (Tịnh Cư thiên). Vậy nay Ta hãy đến chư Thiên ở Tịnh Cư thiên!'
Này các Tỳ-kheo, như một lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại, hay có lại cánh tay đã duỗi ra, Ta biến mất ở Ukkattha, trong rừng Subhaga, dưới gốc cây Ta-La vương và hiện ra trước chư Thiên ở Tịnh Cư thiên. Trong đại chúng chư Thiên ấy một số vài ngàn chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau:
'Này Hiền giả, nay đã được chín mươi mốt kiếp, từ khi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sanh, thuộc chủng tánh Sát Ðế Ly. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna (Câu-Ly-Nhã). Này Hiền giả, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây Pàtali (Ba-ba-la). Này Hiền giả, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Khanda (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này Hiền giả, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội, một Tăng hội sáu trăm tám mươi vạn Tỳ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỳ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỳ-kheo. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có vị thị giả Tỳ-kheo tên Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này Hiền giả, phụ vương Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Bandhuma, mẫu hậu tên là Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề). Kinh thành của vua Bandhuma tên là Bandhumatì. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất thế tục như thế này, xuất gia như thế này, tinh tấn như thế này, giác ngộ như thế này, chuyển pháp luân như thế này. Này Hiền giả, chúng con là những người đã tu phạm hạnh với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã diệt trừ dục vọng và đã sanh ra tại chỗ này'.
Này các Tỳ-kheo, lại trong đại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên (... ... ) một số vài trăm chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỳ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta: 'Này Hiền giả, trong tiền kiếp này, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ra đời. Này Hiền giả, Thế Tôn, thuộc chủng tánh Sát-đế -lỵ, thuộc gia tộc Sát-đế-lỵ. Này Hiền giả, Thế Tôn thuộc danh tánh Gotama (Cù-đàm). Này Hiền giả, Thế Tôn tuổi thọ không bao nhiêu, ít oi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút. Này Hiền giả, Thế Tôn giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát-đa- la). Này Hiền giả, Thế Tôn có hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử tên là Sàriputta và Moggallàna (Xá-lợi-phất và Mục kiền-liên). Này Hiền giả, Thế Tôn có một Tăng hội một ngàn hai trăm năm mươi vị. Này Hiền giả, Tăng hội này của Thế Tôn gồm toàn những vị đã diệt trừ lậu hoặc. Này Hiền giả, Thế Tôn có vị thị giả Tỳ-kheo tên là Ananda (A-nan), vị này là thị giả đệ nhất. Này Hiền giả, phụ vương của Thế Tôn tên là Suddhodana (Tịnh Phạn), Hoàng hậu là Màyà (Ma-gia) kinh đô là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Này Hiền giả, Thế Tôn xuất thế tục như thế này, xuất gia như thế này, tinh tấn như thế này, giác ngộ như thế này, chuyển pháp luân như thế này. Này Hiền giả, chúng tôi là những người đã tu phạm hạnh với Thế Tôn, đã diệt trừ dục vọng và đã sanh ra tại chỗ này'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Sau khi Đức Phật kể lại câu chuyện của Đức Phật Tỳ-bà-thi thì ngài kể tiếp mình lên Tịnh Cư Thiên, khi lên đó các vị chư thiên đến đảnh lễ ngài và kể lại ngày xưa mình học với Đức Phật Tỳ-bà-thi. Các vị chư thiên này không biết đây là Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nên mới gọi ngài là hiền giả.
"Này các Tỳ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà (Vô Nhiệt thiên) đến chư Thiên Atappà (Vô Phiền thiên). Này các Tỳ-kheo, rồi cùng với chư Thiên Avihà và chư Thiên Atappà đến chư Thiên Sudassà (Thiện Kiến thiên). Này các Tỳ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà, chư Thiên Atappà và chư Thiên Sudassa đến chư Thiên Sudassi (Thiện Hiện thiên).
Này các Tỳ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà, chư Thiên Atappà, chư Thiên Sudassà và chư Thiên Sudassì đến chư Thiên Akanitthà (Sắc Cứu Kính thiên). Này các Tỳ-kheo, lại trong Ðại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỳ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau: "Này Hiền giả, nay đã được chín mươi mốt kiếp, từ khi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời..." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Có rất nhiều chư thiên đi đến đảnh lễ Đức Phật rồi cũng kể lại như vậy.
"Này các Tỳ-kheo, lại trong đại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên (như trước) một số vài trăm chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỳ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau: 'Này Hiền giả, trong tiền kiếp này đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ra đời...
Này các Tỳ-kheo, như vậy Như Lai khéo chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: 'Các bậc Thế Tôn này, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy''.
Thế Tôn thuyết pháp như vậy. Các vị Tỳ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời dạy của Thế Tôn" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Khi đọc giới bản xong là kết thúc câu chuyện của Đức Phật Tỳ-bà-thi, từ đó trở về sau là Đức Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni của mình kể lại ngài đi lên Tịnh Cư Thiên, đó là chỗ của các bậc thánh đệ tử thiên, ở đó toàn các vị chư thiên đệ tử của các Đức Phật nhưng có những vị không nhận ra ngài, kêu ngài là hiền giả. Trí tuệ của các Đức Phật là siêu khủng, các ngài nhớ sự thành lập, hoại diệt của trái đất này trong trăm ngàn, nhiều trăm ngàn, nhiều triệu, nhiều trăm triệu, nhiều ngàn triệu, nhiều ức, nhiều ngàn ức, nhiều tỷ, nhiều trăm tỷ, ngàn tỷ lần cái trái đất này thành hoại. Các ngài muốn nhớ là nhớ hết, nhớ tên tuổi, nhớ dòng họ, nhớ tập tính, nhớ sinh ra sao, lớn lên thế nào, rồi trải qua như thế nào để tu hành, chứng ngộ ra sao, giải thoát ra sao, độ đệ tử như thế nào, trong đó những người đệ tử lớn Đức Phật nhớ được hết, trong thời kỳ đó sinh hoạt ra sao. Đức Phật đó giới hạnh như thế nào, pháp hạnh của ngài như thế nào, tuệ hạnh ngài như thế nào, trí hạnh ngài như thế nào, giải thoát ngài như thế nào Đức Phật biết hết, cần nhớ là Đức Phật nhớ hết.
Mình bây giờ nhớ thử đời trước xem, nhớ thử hồi nhỏ xem còn nhớ không, mình bị ăn cháo lú, qua cầu Nại Hà có bà già cho ăn tô cháo lú. Cái đó là hình ảnh thôi, cái đó tức là vô minh, là cái tâm hôn mê trong năm triền cái che hết, mình cứ dục, cứ tham hoài, cứ sân si cho nên chúng ta nhớ trong kinh ghi lại có những vị có thần thông bay từ ở trên núi, trong rừng xuống hoàng cung để ứng phó trai đàn, xuống hoàng hậu đảnh lễ cúng dường, mỗi bữa cứ bay xuống rồi thọ thực nhưng hôm đó bay ngang hoàng hậu đang tắm, thế là khởi dục rớt xuống liền, từ trên hư không lọt xuống cho nên năm triền cái khởi lên là nó chướng ngại tâm, làm yếu ớt trí huệ, làm mù mắt, tác thành vô trí, tác thành mù mắt.
"Một hôm, Bồ-tát đi đến quá trễ, hoàng hậu sửa soạn các món ăn xong, tắm rửa, trang điểm và soạn một chỗ nằm thấp. Trong khi chờ đợi Bồ-tát đến, bà đắp sơ sài một tấm áo trên thân rồi nằm nghỉ. Bố Tát xem giờ, liền cầm bình bát, đi ngang qua hư không và đến cửa sổ.
Nghe tiếng áo vỏ cây sột soạt của Bồ-tát, hoàng hậu hấp tấp đứng dậy, và áo vàng của bà rơi xuống. Bồ-tát để các căn bị chi phối bởi đối tượng đặc biệt khác thường này và đứng nhìn bà như bị thôi miên. Ác dục phiền não đã được chế ngự nhờ Thiền lực trước kia, nay lại khởi lên giống như con rắn hổ phồng mang, ngóc đầu lên từ cái giỏ nó bị cầm giữ, giống như cây vú sữa bị búa chém. Do phiền não khởi lên, thiền định thối thất, các căn trở nên không thanh tịnh, khi ấy Bồ-tát giống như con quạ bị gãy cánh. Bồ-tát không thể ngồi xuống như trước nữa và không thể ăn uống gì được. Dầu được hoàng hậu mời ngồi, Bồ-tát không thể ngồi yên.
Rồi hoàng hậu đặt các món ăn đủ loại cứng loại mềm vào trong bình bát, nhưng Bồ-tát không thể ăn như trước được, và cũng không thể đi ra cửa sổ rồi bay ngang qua hư không. Cầm lấy các thức ăn, Bồ-tát đi xuống bằng thang lầu lớn và đi về khu vườn" (Tiểu Bộ Kinh - Tập V. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (II), Chương Ba. Phẩm Sankappa, 251. Chuyện Dục Tầm (Tiền thân Sankappa))
Người không có năm triền cái là người đó mau chứng đắc thần thông, vào định dễ dàng, thành ra dục tham che đậy cái tâm mình, nó làm mình thành vô trí, thành mù mắt, trí huệ của mình yếu ớt cho nên mình không có nhớ được, thế gian này ngũ trược ác thế cho nên mình quên hết, không nhớ gì hết, còn các ngài muốn nhớ là nhớ tận cùng, nhớ tột cùng, nhớ vô lượng, vô số, vô biên kiếp về trước.
VIII. Chư Phật Toàn Giác
Chúng ta trở lại phần đầu của bài kinh này vì hôm trước chúng ta thiền quán cho nên con không đọc phần đầu của bài kinh.
"- Này các Tỳ-kheo, chín mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Vipassì (Tỳ-bà-thi), bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo, ba mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Sikhì (Thi-khí) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo, cũng trong ba mươi mốt kiếp ấy, Thế Tôn Vessabhù (Tỳ-xá-bà) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kakusandha (Câu-lâu-tôn) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Konàgamana (Câu-na-hàm) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, nay Ta, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Chúng ta nhớ chín mươi mốt kiếp này không phải là mình chết đi sống lại chín mươi mốt lần mà chín mươi mốt lần trái đất thành hoại, lúc đó là Đức Phật Tỳ-bà-thi này xuất hiện. Trái đây này hiện tại hình thành lần thứ chín mươi hai, chín mươi mốt lần trước Đức Phật Tỳ-bà-thi, các nhà nghiên cứu cho mình biết con số để trái đất hình thành và hoại diệt là khoảng một trăm bốn chục con số 0, nó cũng tạm vậy thôi chứ không có chính xác, nhân lên chín mươi mốt lần là nó ra bao nhiêu con số 0, lúc đó Đức Phật Tỳ-bà-thi xuất hiện.
"Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là tám vạn năm. Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là bảy vạn năm. Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là sáu vạn năm. Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là bốn vạn năm. Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là ba vạn năm. Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ của loài người là hai vạn năm. Này các Tỳ-kheo, nay tuổi thọ của Ta không bao nhiêu, ít oi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Mình học cái này để làm gì? Để thấy kiếp sống của con người là nhỏ nhoi, là ngắn ngủi, nhiều khổ đau, nhiều ưu não, chẳng có một cái giá trị gì cả, không đáng gì hết. Mình học để thấy được điều đó, đừng nghĩ rằng những lời kinh này nói ghê quá, giống như câu truyện cổ tích, ngược lại mình phải tin tuyệt đối vào lời Đức Phật để thấy đời sống của loài người mình hiện tại bây giờ do ác nghiệp quá nhiều, nó mãnh liệt, nó cường liệt cho nên ngắn ngủi, nhỏ nhoi, nhiều khổ não, nhiều ưu não, chẳng có một cái gì đáng giá hết, chỉ có chứng đạt được pháp tín.
Chúng ta cứ ôm cái đống phân, đống nước tiểu, đống phèo, phổi, gan ruột dơ bẩn này rồi dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn. Tại sao cái đó là của mình mà nói tới cái đó là tự nhiên muốn né hết? Thành ra đời sống mình không là gì cả, chư thiên bước ra bước vào nhìn xuống đã thấy mình chết hết rồi, chúng ta có câu "hoa phù dung sớm nở tối tàn", ngoài ra còn có phù vân là đám mây nổi một chút rồi tan rã. Mình nhớ Chư Phật, nhớ các bậc Chánh Đẳng Giác thấy tủi cái thân của mình, để mình có sự khát ngưỡng, khao khát, hướng thượng.
Mình thấy các Đức Phật sao mà hạnh phúc quá, các bậc thánh sao an lạc quá. Hạnh phúc thay là các bậc A-la-hán! Đau khổ thay là những chúng sanh vô minh và tham ái này! Hãy luôn luôn mỗi ngày làm cho tâm mình khao khát, thèm khát, khát ngưỡng cảnh giới Niết-bàn, sự đoạn tận các cái hữu, phá vỡ sanh y, diệt hết tất cả lậu hoặc, thoát ra tâm mê. Vậy là chúng ta học xong bài kinh Đại Bổn, chúng ta được biết thêm một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác đức hạnh, trí đức, giới đức, pháp hạnh, giới hạnh, pháp tuệ, giải thoát, pháp trí của ngài. Mong rằng những hình ảnh này, những cảm thọ này, những pháp nghĩa thâm sâu này thấm vào tâm chúng ta không bao giờ mất, hãy lấy những hình ảnh này làm đối tượng thiêng liêng tối thượng để mình quy ngưỡng, để mình phát khởi được tín tâm, được tâm hướng thượng, tâm cao thượng, tâm thánh thiện.
Con có một cái nguyện, nếu sau này đủ duyên con sẽ làm lại bộ phim cuộc đời của Đức Phật đúng theo kinh tạng Nikāya, đủ duyên sẽ làm luôn cuộc đời của Đức Phật Tỳ-bà-thi này. Những hình ảnh này cần được lan tỏa, cần được phổ biến, cần được tuyên truyền, cần được nhân rộng để cho thật nhiều người biết, như cuộc đời Đức Phật này mấy người học Phật biết, ngay cả xuất gia luôn chứ đừng nói chi cư sĩ.
IX. Trình pháp 2
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ quý Tăng, Ni sư, sư cô cùng các bậc hiền trí. Dạ thưa thầy thật là đầy đủ nhân duyên cho con khi con được về chùa Linh Quy tu tập trong những ngày qua, con cảm thấy thật là biết ơn và hạnh phúc khi con được nghe nhiều bài giảng pháp của thầy, thực sự con rất là ấn tượng và con cảm thọ cái sự đau khổ nhiều nhất về bài pháp sự nhục nhã của sanh, bệnh, già, chết. Trong 2 ngày liên tục con được nghe thầy giảng và quý sư trình pháp cũng như các vị hiền trí trình pháp, thật sự con cảm giác rất là đau khổ và con liên tưởng tới mẹ con, tới bà nội con, tới ba con và người để cho con suy nghĩ nhiều nhất và con để con cố gắng thoát khỏi con đường của mẹ con đã đi là một người phụ nữ sinh chín người con và cũng không được chồng yêu thương, hay bị đánh đập.
Con thấy cái sự nhục nhã, ê chề của mẹ con và trước đó con nghĩ đó là cái sự thống khổ. Nhiều khi sanh chưa được hai mươi ngày ba con đã bắt mẹ con suốt vườn hái cà phê trong khi đó không cho thuê người làm, nhiều khi những cái sự ghen tuông vô cớ về đánh đập những trận đòn thật tử nhất sinh. Sau này khi con lớn lên con cố gắng, quyết tâm ra ngoài kiếm tiền phụ mẹ nuôi tám đứa em, trong những lần đi xa nhà khi có nghe em gọi điện cho con hoặc là những người hàng xóm gọi điện cho con khoảng 11h-12h đêm ba còn đánh mẹ, thực sự lòng con lúc đó rất đau. Là một đứa con mà con không phụ được mẹ cái gì, nhìn mẹ bị ba đánh những trận động thập tử nhất sinh, sau khi bị đánh cũng không được nghỉ ngơi mà phải lam lũ làm để có tiền nuôi những đứa con thơ dại.
Có lần mẹ nói với con mẹ muốn cùng mấy chị em con quyên sinh, nhưng khi nhìn những đứa em thơ dại mẹ nghĩ tụi nó không có tội gì mà phải chịu đựng cùng mẹ như vậy. Thật sự những lúc đi làm xa con thấy mẹ như vậy con rất muốn về bên mẹ, nhưng nếu con về thì kinh tế rất khó khăn, con cũng không muốn để những đứa em con thiếu học nên con đã cố gắng. Có lần mẹ bị ba đánh đến nỗi không thở được, đầu chảy máu, tay nứt xương, những vết bầm tím khắp người, mẹ giấu không cho con biết nhưng hàng xóm tốt bụng gọi điện cho con. Con cố gắng sắp xếp về đưa mẹ đi khám, con đã nói với ba rằng nếu ba cảm thấy không ở được với mẹ con con thì con mong ba hãy li dị, đó là một điều con không muốn nhưng cũng là con người với nhau tại sao ba lại đánh mẹ những trận đòn thật vô lý, không phải một-hai lần mà từ khi được gả tới nay, con được bao nhiêu tuổi thì những năm tháng ấy đều là trận đòn của ba.
Bây giờ tụi con cũng có đứa lớn, đứa lớn có thể nuôi được đứa nhỏ, ba nếu cảm thấy không ở được thì xin giải thoát cho mẹ con để mẹ con được về quê sống với bà ngoại, còn ba có thể cưới vợ mới. Lúc đó cuộc đời con lần đầu tiên nhìn thấy ba con khóc khi nói với con một câu, nuôi con ăn học, cho con ra nước ngoài làm việc để nhận thức con cao nhưng không ngờ quay về lại nói một câu là kêu ba mẹ li dị, những giọt nước mắt của ba tuôn dài và ba bỏ đi, từ đó con để ý ba thay đổi nhiều hơn. Sau khi này con được biết đến Phật pháp thì con sẽ cố gắng tu tập và nhiều khi con nguyện con gánh những cái nghiệp của ba mẹ, những công đức con làm được sẽ hồi hướng cho ba mẹ.
Sau những năm tháng làm việc xứ người thì hơn ba tháng nay con quay về nhà nhìn hình ảnh ba mẹ yêu thương con. Mỗi lần con đi ra ngoài về ba mẹ ân cần hỏi han, có lần con cắt tóc cho ba con cảm thấy những sợi tóc bạc của ba càng nhiều hơn, con tự hỏi bản thân liệu con còn bao nhiêu lần cắt tóc cho ba, còn bao nhiều trò chuyện với mẹ, mỗi lần mẹ ra ngoài về đều vào phòng tìm con. Tất cả những cảm xúc đó của con thực sự có lúc con kìm nén nhưng mà khi về đây được nghe những bài pháp của thầy, con mới ngộ ra được nhiều điều, con mới hiểu được nhiều điều và con sẽ cố gắng quyết tâm để con thoát khỏi cái sự luân hồi để không vậy như mẹ con, một người phải khổ về chồng, khổ vì con, phải cáng đáng kinh tế nuôi chín đứa con.
Thực sự bây giờ cảm xúc trong con vừa hạnh phúc vì con gặp được thầy, gặp được quý sư, các quý vị hiền trí đã cho con hiểu biết được rất nhiều cảm giác cực khổ đau. Con cảm thấy con được biết đến chỗ này có hơi quá trễ nhưng dù trễ con cũng sẽ cố gắng từng ngày, cố gắng tu tập, cố gắng hiểu bài pháp thầy giảng và cố gắng thực hành. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Rất là tốt, cô lên đây thời gian rất là ngắn, tìm được đạo lộ của mình, tìm được con đường cho mình, rất là tốt. Chúc mừng cho cô trong vòng luân hồi sinh tử đầy oan nghiệt đau khổ này tìm thấy được quanh minh đạo lộ, tìm thấy được ánh sáng. Nếu cô cố gắng tu tập cô sẽ báo hiếu được cho cha mẹ bằng thiện pháp, bằng thánh pháp, bằng tình thương, bằng lòng hiếu thảo chân thành nhất của một người con là thánh đệ tử của Đức Phật. Rất là tốt, cố gắng lên, ở càng nhiều càng tốt, đem những cái chất liệu hiểu thương này, thông cảm này, trí tuệ này làm món quà tối thượng để cúng dường lên cho cha mẹ, không phải bằng lời nói mà bằng hành động, không phải chỉ ở lời nói mà còn bằng hành động, bằng cách sống, sự khéo léo, thiện xảo của mình để dìu dắt, an trú cha mẹ mình vào trong thiện pháp, vào trong chánh pháp.
Cô Diệu An: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ sư phụ, con chân thành đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Thật là phước lành thay cho con khi con được nghe, được biết và được hiểu những lời sư phụ giảng pháp về sự sỉ nhục của sanh, già, bệnh, chết. Khi con nghe quý sư trình pháp thì tưởng con cũng hiện ra, trong con cũng là một cuộc sống đầy khó khăn khi con cũng được sanh ra đời, cũng nhờ những khổ đau đó mà con được gặp Phật pháp và con cũng hiểu được nhân quả. Con cũng đã thương cho chính bản thân con, thương cho gia đình và những người xung quanh.
Lúc nhỏ con ở miền Trung, mỗi khi con thấy những cảnh khổ đau thì con cứ khóc cả ngày mà con cũng không biết tại sao, giờ con hiểu được là con thấy những người khổ, cũng chính bản thân con khổ và con muốn đi theo con đường của Đức Phật để con được thoát khổ và con cũng có thể làm tròn bổn phận một người con trả hiếu cho ba mẹ và những người xung quanh con đã mang đến cho con cuộc đời này. Khi con đi tu ba mẹ và tất cả mọi người ai cũng cho con đi, điều đó làm cho con rất là vui, con sẽ cố gắng, con cũng hi vọng ba mẹ con bớt khổ. Con cũng thành tâm tri ân sư phụ và quý thầy, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí nơi đây đã cho con một môi trường và một đạo lộ của Đức Thế Tôn để con tu tập và con thoát khỏi khổ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Bé Ngân: Con kính thưa sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư bà, quý sư cô và các cô chú có mặt ở đây. Từ lúc mẹ con dẫn con lên đây thì con nhận diện ngũ uẩn rành hơn, con học nhiều kinh hơn ở nhà, con lên đây thì con hiền hơn ở nhà, tại ở nhà con có chị em họ cãi hoài nhưng mà con lên đây thì con thấy ở đây vui hơn, con không muốn về dưới.
Sư Phụ: Con lên đây thấy các thầy, các sư cô có hiền không?
Bé Ngân: Dạ có.
Sư Phụ: Con có thay đổi được cái gì không?
Bé Ngân: Dạ có, hồi đó lúc mà mẹ con la con thì con giận mẹ con nhiều lắm nhưng mà con lên đây mẹ con la thì con giận một chút rồi con nghỉ giận.
Sư Phụ: Mai mốt con tập không giận luôn, mẹ thương mà mới la phải không.
Bé Ngân: Dạ, con học được nhiêu đó.
Phật tử 2: Con nam mô Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi Phật, con nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con đem hết lòng thành kính cúi lạy ân trên sư phụ, con xin đem hết lòng thành kính cúi lạy chư Tăng Ni và các vị hiền trí. Con đã tham gia cái đi tu vừa rồi và khoảng độ chục ngày con trả y giới và xuống núi, con cũng đi khắp những người thân ở quanh vùng Tây Nguyên này. Chiều hôm qua con lại trở về, thời gian này tâm còn cũng có những phần bất an bởi vì con cũng đang bị mông lung về những con đường đạo phía trước của mình.
Hạnh nguyện của con là luôn luôn canh cánh được thoát sanh, thoát luân hồi thoát sinh tử và thực sự thì con nhận ra là ở Linh Quy Pháp Ấn này, trong giáo pháp sư phụ dạy, trong những hành mà các chư Tăng Ni đang hành là điều mà con thấy rốt ráo nhất, điều mà hiện hữu nhất để đi đến cứu cánh Niết-bàn bởi vì trần thế thì mọi sự tất cả mọi sự mọi người đang mê, bản thân con cũng như thầy nói rằng xuống núi rồi lại bị cái sanh kéo đi chứ cũng không có tỉnh thức được, và lại càng thấy ngổn ngang bộn bề. Con có những cái đấu tranh về làm thân cư sĩ hay là làm thân xuất gia, có những điều mưu cầu là nên có một cái mảnh đất riêng để mình yên tu theo cái nguyện chọn lựa trước đây, hay là với cái sự gặp gỡ bây giờ, bởi vì con thấy đều rất là tốt nhưng con cũng đang bị mâu thuẫn, rồi đôi khi con thấy công việc mà con đang làm ngay cả chữa bệnh cho mọi người cũng đều rất là huyễn hóa và vô nghĩa.
Ở con cũng đấu tranh là không biết là mình có nên hành hay là phải buông xả để đi vào sự tu tập, tức là trong lòng con bộn bề nhiều điều và chiều hôm nay con nghe sư phụ giảng về con đường đi đến vô thượng bồ đề của Đức Phật Tỳ-bà-thi tâm con khởi lên rất nhiều cái buồn thương cho chính bản thân mình là nhiều hơn, bởi vì con cũng nhận ra con cứ đang đi truy tìm những cái điều để an ổn nhưng thực ra con lại bất an ở trong những cái truy tìm đó.
Con càng bị kéo dài, trượt dài, trượt dốc và đi xuống trong những cái truy tìm đó, những khi con rơi nước mắt là con chỉ mong cầu đức Tỳ-bà-thi, đức bổn sư Thích-ca, hết thảy tất cả các Chư Phật che chở và chỉ dạy cho tất cả chúng sinh trong đó có con, hãy cứu rỗi tâm con bởi vì con nhận ra nó cứ ở trong năm triền cái nghi hoặc, rồi sân si, rồi tham cầu, nó vi tế rồi nó quỷ quyệt. Con thấy cái xác thân này nó như cái nhà tù của muôn ngàn, muôn triệu kiếp mà mình vẫn còn bị mê, rồi con thấy mình hằn bao nhiêu cái tầng xích vào cái cổ mình, tự mình xích rồi mà mình không thể thoát ra được. Khi sư phụ cho đại chúng quỳ lạy hai vị A-la-hán, tâm con khi đó chỉ mong hết thảy các Chư Phật hãy gia hộ để con có bản lĩnh, để con có thể ngồi bất động trong nửa tiếng, lên một tiếng, bốn mươi lăm phút như sư phụ dạy, bởi vì khóa tu vừa rồi có khi tâm con bị thúc giục muốn đứng lên, không yên được, có những cái con thấy ghê gớm quá, sắc thân này khống chế mình, không làm cho mình mong muốn.
Khi ở thế tục đã thấy khổ sở vì tham cầu các thứ, bây giờ ngồi yên để theo dõi thân tâm này mà nó cũng nhức nhối. Con cũng bắt đầu nhận ra như sư phụ dạy rằng có phải làm một cái điều gì quá ghê gớm ở ngoài đời như đi làm hành bồ tát đạo đâu, ngồi yên bất động cũng chính là mình đang kham nhẫn rồi. Con thầm mong là bản thân con cũng phải cố gắng để làm sao ngồi thiền được, đấy là cái khởi đầu và con cầu mong cho trên hết tất cả những gì mà sư phụ giảng ngày hôm nay hoặc là khi mà sư phụ nói rằng tám ngàn bốn trăm vị chứng đắc quả Nhập Lưu ở trong tưởng con có hình cái hình bóng bát ngát, mênh mông của các chư vị đang ngồi và một cái vầng hào quang hiện lên choáng cả thân tâm con làm con vừa hạnh phúc vừa có sự buồn tủi, buồn thương.
Con cầu mong là con có thể an trú ở trong pháp từng thời từng khắc vì con cứ bị mông lung và phóng giật, kéo theo những cái pháp thế tục hữu lậu rồi con thấy đều là vô minh nhưng không thể nào thoát ra được.
Sư Phụ: Trước mắt cô cứ ở đây tu học thêm một thời gian nữa để cho cô có cái tín tâm, có tín giải rồi từ từ cô sẽ quyết định.
Phật tử 2: Dạ vâng, con xin nghe lắng nghe sư phụ ạ. Con cảm ơn sư phụ và tất cả các quý chư Tăng Ni ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, nam mô đức Phật Tỳ-bà-thi.
Sư Phụ: Đừng quyết định vội, cứ học thêm một thời gian nữa, tu thêm thời gian nữa rồi mình sẽ tìm thấy được con đường mà mình cần đi, mình phải đi, mình nên đi.
Phật tử 2: Nhiều khi con cũng rất muốn được gần sư phụ và được bạch sư phụ nhưng mà hình như cái hành của con nó ngăn cản lại, con lại chưa dám để gần và bộc bạch vì con vẫn có những cái điều mà con cũng không biết là con đang đứng đang sai, nhưng mà hôm nay con cũng mạnh dạn để con được nói ra cái điều đang ẩn ở trong tâm con và con cảm ơn, con biết ơn và con cũng mong sư phụ chỉ dạy cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 11!
Trình Tự Thuyết Pháp Của Chư Phật 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nền tảng Chánh Pháp của Chư Phật PAGEREF _Toc192792258 \h 1
II. Tứ Diệu Đế PAGEREF _Toc192792259 \h 1
III. Trình pháp PAGEREF _Toc192792260 \h 8
IV. Chánh Pháp của Đức Thế Tôn Vipassì PAGEREF _Toc192792261 \h 8
V. Kham nhẫn PAGEREF _Toc192792262 \h 18
VI. Pháp quán cảm thọ PAGEREF _Toc192792263 \h 21
VII. Đức Phật đến cõi trời tịnh cư thiên PAGEREF _Toc192792264 \h 22
VIII. Chư Phật Toàn Giác PAGEREF _Toc192792265 \h 27
IX. Trình pháp 2 PAGEREF _Toc192792266 \h 29
I. Nền tảng Chánh Pháp của Chư Phật
Kính bạch Đức Thế Tôn Thích-Ca Mâu-Ni Đại Cồ Đàm, kính bạch chư tôn thiền đức, chư vị hiền trí, chiều nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu, chiêm nghiệm về cuộc đời, đức hạnh, đạo nghiệp của Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Giác, Thiên Nhân Sư, Vô Thượng Sĩ, Phật, Như Lai, bậc Thiện Hệ, bậc chiến thắng, chúng ta đang tìm hiểu về phương thức giáo hóa của ba đời Chư Phật.
Cái tâm đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, khi cái tâm mình đã thoát ly ra khỏi dục tham, ra khỏi sân hận, ra khỏi cái trạo hối, hôn trầm, hoài nghi thì lúc đó là một cái tâm cao thượng và an tịnh, thường xuyên ở trong cái trạng thái an tịnh, không bị dao động tại vì nó không chạy theo những đối tượng truy cầu nữa, sắc; thọ; tưởng; hành; thức sẽ lắng dịu cộng với chánh kiến thấy được ngũ uẩn cho nên đây là cái tâm rất là an tịnh và cao thượng. Đây là mình nói theo tinh thần của thánh đạo, còn đối với người chưa nhận diện ngũ uẩn thì trong trạng thái này tâm họ là tâm của chư thiên, tâm họ rất là an tịnh, rất là thanh cao, rất là cao thượng.
Họ đã thoát được năm triền cái, tâm người này ở trong trạng thái rất là tinh minh, rất là sắc bén, rất là trong sáng, rất là tinh anh, tinh vi. Một người thoát cả năm triền cái tâm rất là tinh vi, rất là tế nhị, rất là cẩn trọng, rất là sâu sắc, rất là sắc bén, tâm rất là an tịnh, rất là thanh cao, rất là cao thượng, đây là tâm của chư thiên.
II. Tứ Diệu Đế
Sau đó Đức Phật mới thuyết pháp thoại được Chư Phật đề cao tức là khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt tận khổ đau. Tới cuối cùng Đức Phật mới nói về bốn sự thật của bậc thánh.
"Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng, và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của hai vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà được chư Phật đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh không có tỳ vết, rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, vương tử Khanda và con vương sư Tissa, chính tại chỗ ngồi này chứng được Pháp nhãn xa trần ly cấu: Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt". (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Một vị là vương tử, một vị là vương sư, vương tử là con của vua còn vương sư là thầy của vua, giống như là mình kêu quân sư quốc sư. Hai vị này chính ngay tại chỗ ngồi để chứng được con mắt pháp, con mắt thấy được sự thật xa lìa trần cấu, thấy được sự thật tất cả cái gì đã được sanh ra đều phải hoại diệt. Tức là nhìn thấu được tính chất sanh diệt của các pháp, nhìn thấu là không có bao giờ quên luôn cho nên mới gọi là đắc pháp nhãn tịnh, còn nếu nhìn thấu mà hồi mình quên, hồi mình nhớ thì cái đó không gọi là đắc pháp nhãn tịnh. Hai vị vương tử và vương sư chứng đạt Dự Lưu thánh quả, như vậy Tứ Thánh Đế là cái Đức Phật thuyết pháp sau cùng, chúng ta học một chục buổi tới nay là trình bày về khổ, khổ tập, diệt khổ và khổ diệt đạo, chúng ta học Tứ Thánh Đế là chúng ta đang học về khổ.
Quý vị ràng rụa trong nước mắt, quý vị nói lên cuộc đời trân chuyên, chìm đắm, thăng trầm đau khổ của mình đó là đang trình bày những bài pháp sống động, những sự thật minh chứng hùng hồn cho Khổ Thánh Đế, Khổ Thánh Trí, cho khổ pháp. Không phải con nói, không phải kinh nói mà chính quý vị nói cuộc đời của quý vị, có điều khi trình pháp mà nếu một người có trí thì lấy tất cả cái khổ đó trình ở trong trí tuệ, còn một người chưa thành tựu cái trí là mình trình một hồi sẽ chìm đắm trong cái khổ đó, mình không có cái lối ra, mình bi lụy trong đó. Thành ra có sự khác biệt giữa người cũng khổ nhưng mà có trí tuệ và người khổ nhưng không có trí tuệ.
Có một số vị trình pháp là con thỉnh tiếng chuông vì quý vị chưa có đủ trí tu, quý vị dẫn một hồi là đại chúng sẽ đi theo cái bi lụy của mình, thành ra cái khổ mà có trí tuệ trong đó nó khác, thấy được cái khổ để mình nhìn ra được nguyên nhân của khổ, để mình đoạn tận cái khổ. Chẳng hạn con xá pháp thân của Phật, quý vị nhìn tưởng đâu con xá bụi tre, nhìn lên con thấy có nguyên nhân của khổ nằm trên bụi tre, có thể nó rớt xuống lỗ đầu con, tại vì hôm trước con có chỉ rồi, mấy vị quét ở dưới sân mà không có quét ở phía trên. Mình dọn cũng phải để ý ở trên đầu mình, khi quét nhà mình cứ cúi xuống để quét vì cái tâm của mình rất phiến diện, nó chỉ có một hướng mà nó không biết mấy hướng khác mà mình không ngờ là có khi quét ở trên đầu, rác ở trên đầu chứ không phải rác dưới chân không.
Tâm rộng là mình thấy được nhiều khía cạnh của vấn đề, còn tâm hẹp là nhìn chỉ có một hướng thôi. Trong cái khổ nhìn ra được nhiều khía cạnh lắm, khi một chúng sanh bình chưa nghe thánh pháp thì họ khổ là họ thấy mình khổ "cuộc đời con nó khổ, mấy chục năm qua con khổ", họ đâu có thấy ngũ uẩn khổ, thành ra cái Khổ Thánh Trí nó khác với cái khổ bình thường. Mình tập nhìn ra được cái pháp ở trong cái khổ đó, Thế Tôn nói rằng năm thủ uẩn này là khổ pháp, chữ pháp ở đây nói đơn giản là cái thứ, cái đồ khổ, cái đống khổ. Thành ra khi Đức Thế Tôn nói về Tứ Thánh Đế thì lúc đó hai vị vương sư với vương tử này giống như tấm vải trắng tinh, không tì vết cho nên nhuộm vô đẹp liền tức khắc.
Mình đi học đạo có rất nhiều kiến thức thành ra mình học không được, mình nghĩ mình biết, mình hay, mình hiểu thì đó là những cái tì vết cho nên thánh pháp nhuộm vô không được, nhuộm vô thì những cái tì vết nó còn, không có xóa được cho nên người tu dòng pháp Nikāya mà tâm như trẻ thơ là dễ học, cái tâm cao ngạo là không học được pháp này. Khi vào cái pháp này mình trở thành con đứa con nít không biết gì hết thì học dễ lắm, mình vô trong đây mà mình đem cái kiến thức của mình học toàn là cái phạm phu, toàn là cái chấp thủ, toàn là thân kiến, ngã kiến, biên kiến, kiến thủ, kiến chấp, định kiến, tà kiến, tư kiến thì vô làm sao mình học được thánh tri kiến. Mình phải bỏ hết mấy cái kiến đó, những cái thấy đó, những cái biết đó thì mình mới học được thánh tri kiến.
Tư kiến là cái thấy biết riêng tư của mình, ví dụ mình làm mộc là nhìn cái cây nào nó cũng ra bàn, ra ghế, ra tủ. Có ông có làm tượng Phật, làm tượng này kia thì nhìn cái cây nào cũng ra cái tượng, nhìn cây này ra tượng ông thần tài, nhìn cây kia ra tượng ông Di Lặc, nhìn cây nọ ra tượng ông hộ pháp, nhìn cây nào cũng ra tượng. Còn bác sĩ nhìn đâu cũng thấy bệnh, nhìn chỗ nào cũng thấy bệnh, ông đi kiếm tiền làm ăn thì nhìn chỗ nào cũng thấy tiền hết, có mấy người lên gặp con nói chỗ này thiền nhiều lắm thì con nói chỗ này là chỗ tu, người đầu bếp thì nhìn gì cũng thấy món ăn hết, đó là tư kiến, đó là kiến chấp. Cái tư kiến, cái kiến chấp, cái thành kiến, cái định kiến nghĩa là ông cha làm bác sĩ muốn con phải là bác sĩ mới được mà con không muốn, nó có đầu óc nghệ thuật, nó muốn làm nghệ thuật mà cha không chịu là hai cha con cãi suốt đời. Đó là cái tư kiến của mình, cái định kiến của mình, cái thành kiến của mình, cái kiến chấp của mình, làm cha con khổ nhau, vợ chồng khổ nhau, anh em khổ nhau, huynh đệ tu cũng khổ luôn, thầy trò cũng khổ luôn.
Ông thầy muốn hướng đệ tử học Nikāya nhưng đệ tử lại không, nếu không học thì thôi, vậy thôi cho khỏe. Thành kiến là ví dụ như mình gặp người đó lần đầu tiên, người đó nói chuyện, cử chỉ, hành động rồi mình thấy dễ thương, là mình về nhớ dễ thương cái dễ thương đó, vài bữa sau gặp "Ủa sao kỳ vậy? Sao bây giờ không còn dễ thương nữa?", vậy là người này khổ, hoặc là mình thấy người đó sao khó chịu quá, ngay lúc đó người đó đang bị căng thẳng vấn đề gì đó, đang bực trong mình cho nên họ có lời nói, hành động vậy rồi người này thành kiến luôn, tức là cho rằng cái nhận thức đó là như vậy luôn, đóng cái khung vậy luôn, định kiến vậy luôn, thành kiến vậy, người này hễ gặp người kia là thấy không ưa "bà đó dữ lắm", đó là thành kiến không phải, tại hoàn cảnh lúc đó nó vậy thôi nhưng mà sau này nó khác.
Tư kiến, thành kiến, kiến chấp, cái kiến chấp này nó sâu sắc lắm, kiến chấp này nó ghê lắm, mình học đạo nhiều năm cho tới mình già ở trong chùa, có người chết luôn mà mình cũng không phá nổi kiến chấp. Ví dụ mình học một cái tông, một cái phái, một cái môn, một cái hệ tư tưởng là mình bị cái tư tưởng đó luôn, tức là sống chết với luôn, nói cái khác là không chịu, như vậy là không thấy được chân lý. Khi con vào Nikāya là lập tức tất cả những cái kiến này nó rụng hết cùng một lúc, rớt hết tất cả, cũng may mắn tại vì cái tâm mình tha thiết trong sự thật, tự nhiên nó quên hết, bỏ hết chứ còn khó lắm, rất là khó vì đã huân tập nhiều năm, nhất là những vị lớn tuổi có thành kiến rất nặng, kiến chấp rất nặng. Ngã kiến là kiến chấp về tự ngã, đó cũng là thân kiến luôn, kiến chấp về tự thân.
Nếu như làm công việc với nhau có người đó làm cái này, người kia kêu làm cái khác mới hay, thế là hai người cãi lộn, cái này làm cho người ta khổ rất nhiều, trong gia đình, trong nhà ngoài phố, thậm chí trong chùa, ai cũng cho cái thấy mình là đúng hết. Đó là những cái những cái tì vết, những cái dính dơ ở trong cái tấm vải khi nhuộm màu nó không ăn, cho nên các vị không biết gì hết mà vào học Nikāya là rất dễ, chỉ có tâm thuần tịnh trong sáng cầu đạo là học dễ lắm, biết nhiều quá mà giỏi là khó học, nếu mà bỏ được thì người này là tuyệt vời, học chắc. Cái sâu xa nhất của tất cả các kiến là thân kiến, chúng ta đang có những bài phá thân kiến, kiến chấp về tự thân, cho ngũ uẩn là mình, là của mình, là tự ngã của mình, cái đó là quan trọng nhất, phá cái đó là tất cả cái khác sụp hết, đó là sào huyệt, là căn cứ địa, hang ổ, là nền móng cho tất cả các kiến chấp khác hình thành, đó là thân kiến. Mình tu tập ở đây là đang phá thân kiến.
"Hai vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự, diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: 'Thật di diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Bậc Dự Lưu là bậc không còn dựa vào một người nào khác nữa trong cái thấy, trong cái trí tuệ của người đó, có thể tự mình đi tới sự chứng ngộ thánh quả A-la-hán, nếu có các bậc thiện tri thức lớn hơn thì quá tốt nhưng nếu không có ai thì vị này vẫn có thể tự mình đi tới sự diệt tận tất cả tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã. Thành ra ở đây nói là chứng được tự tín không có y cứ, là không có dựa vào người khác đối với đạo pháp của đức bổn sư, đó là lý do con nói chúng ta cố gắng, nỗ lực để Nhập Lưu là vậy, khi Nhập Lưu xong là tự động dòng chảy đưa mình về phía trước, mình không có thể lùi lại nữa, tự động dòng pháp sẽ đưa mình về phía trước. Cho nên giờ ráng chịu khổ giờ đi rồi Nhập Lưu xong là khỏe lắm, sau đó dù là mau hay chậm, sớm hay muộn, nhanh nhất ngay trong đời này luôn, chậm tận cùng luôn là bảy lần, tức là còn sáu lần nữa nhưng sư phụ không có cho Nhập Lưu không mà ngài kêu phải là ứng cử viên lậu tận A-la-hán. Ngay trong đời này phải xong.
Hai vị này xin xuất gia, khi Nhập Lưu rồi hai vị này xin xuất gia liền, thấy pháp rồi, vào dòng thánh tức là thấy tận cùng rốt ráo sắc; thọ; tưởng; hành; thức này chỉ là khổ đau, ngoài khổ đau ra không có gì khác thì xuất gia thôi.
"Này các Tỳ-kheo, vương tử Khanda và con vương sư Tissa được xuất gia với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được thọ đại giới. Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy hai vị này, khuyến khích làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ với pháp thoại, nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết-bàn. Và hai vị này nhờ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Hồi nãy nói về cái dục, bây giờ nói về các pháp hữu vi là cao cấp hơn cái hồi nãy, ngày hôm qua là nói về sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các vị các dục vọng nhưng mà bây giờ không phải nữa, bây giờ là sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi, nó khác chứ đừng tưởng nó giống nhau, ở đây là lên một cấp bậc nữa. Hữu vi là pháp gì? Hữu là có, vi là làm, vi là thi vi, là tạo tác, là những pháp do làm ra, đó là pháp duyên sanh, chính là ngũ uẩn, còn hồi nãy chỉ nói về dục vọng thôi, bây giờ nói luôn tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều là nguy hiểm, là hạ liệt, là nhiễm ô.
"Người ấy không như thật biết rõ: 'Sắc là kẻ giết người'; 'Thọ là kẻ giết người'... 'Tưởng là kẻ giết người'... 'Các hành là kẻ giết người'... 'Thức là kẻ giết người', người ấy không như thật biết rõ: 'Thức là kẻ giết người'. " (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, III. Yamaka)
Hữu vi là pháp duyên sanh, là do nhân duyên nó làm ra cho nên cái gì do nhân duyên tạo thành thì cái đó là những thứ nguy hiểm, tác hại, hạ liệt, nhiễm ô. Cái gì do nhân duyên làm ra? Chính là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, những thứ đó là nguy hiểm, là tác hại, là hạ liệt, là thấp kém, là nhiễm ô. Đức Phật giảng cái này cho hai vị này rồi sau đó Đức Phật tuyên thuyết lợi ích của Niết-bàn đệ nhất lạc, không có niềm vui nào bằng Niết-bàn hết. Niết-bàn là lắng dịu hết tất cả các pháp hữu vi, không còn sắc; thọ; tưởng; hành; thức nào nữa hết. Niết-bàn là ái diệt, là sự từ bỏ, là sự ly tham, là sự đoạn tận, chấm dứt vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn này. Chỉ có hết tham ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức mới là niềm vui tối thượng, lợi ích cao tột, hạnh phúc tột cùng đệ nhất.
Đức Phật thuyết pháp cho hai vị này sau khi hai vị đã chứng nhập, tiếp theo Đức Phật khuyến khích làm cho họ phấn khởi, làm cho hoan hỉ với những lời pháp của ngài, song song đó là nêu rõ sự nguy hiểm, sự tác hại, sự thấp kém, sự hạ liệt, sự nhơ nhớt, bẩn thỉu, sự ô nhiễm của các pháp hữu vi, pháp duyên sanh của năm thủ uẩn này, đồng thời trình bày lợi ích, an lạc, sự hạnh phúc, vi diệu tối thượng của tâm dập tắt tham, sân, si, tâm thanh tịnh, tâm vượt thoát, tâm ly tham, cái tâm nhàm chán, cái tâm từ bỏ, tâm đoạn diệt đối vô minh và khát ái ở trong năm thủ uẩn.
Chỉ có hỷ lạc mới chứng thánh quả, ngài thuyết pháp, giảng dạy, khích lệ hai vị này hoan hỉ, vui mừng bằng pháp thoại cho nên ngày nào mình cũng nghe pháp suốt tám tiếng, mười hai tiếng như vậy là bảo đảm vào thánh quả. Vì trú trong pháp liên tục sẽ làm cho mình phấn khởi, hoan hỉ, an lạc thì những dục lạc bên ngoài không còn nữa. Sau đó hai vị này chứng Thánh quả A-la-hán, thành tựu cứu cánh tột cùng của người xuất gia.
III. Trình pháp
Sư cô Ấn Liên: Con chân thành Đức Phật Tỳ-bà-thi, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và các bậc hiền trí. Khi con nghe sư phụ nói đảnh lễ hai vị A-la-hán nhị Thánh thì lúc đó cảm thọ của con thấy hạnh phúc, mấy ngày nay khi con nghe thiền quán của sư phụ thì cảm thọ hỷ lạc và hạnh phúc lắm, ý hành con nói "sao mà định lý chứng ngộ giống nhau". Khi sư phụ hướng dẫn về thiền quán sự sỉ nhục về cái thân hiện hữu trên cuộc đời này thì lúc đó toàn cảnh trong thân con nó hiện ra, con thấy rất là rõ ràng. Lúc con lạy xuống lần thứ hai thì trong suy nghĩ của con thật sự mình đã biết con đường của mình đi, đây là con đường thánh đạo, khi mà con đã học qua trước đây sư phụ dạy nhân đạo, thiên đạo và thật sự con đường mình đi hiện tại bây giờ là thánh đạo.
Trong tâm con nghĩ rằng mình cần phải tu học cẩn trọng hơn nữa vì những lời Phật dạy đã rõ ràng. Lúc đó con suy nghĩ đây là cái pháp cuối cùng trong pháp cuối cùng để đi đến an lạc và giải thoát, thật sự tâm con hoan hỉ lắm, lúc sư phụ gọi cũng hơi hồi hộp, trong cảm giác con hồi hộp, gần đây thì được mấy ngày lên nghe pháp sư phụ giảng thiền quán thì con cảm nhận là mình phải sống trong pháp nhiều hơn, phải cố gắng nghe pháp thật nhiều. Lúc nghe thì con thấy tâm khác với bình thường, khi không nghe pháp thì tâm con khác, lúc nghe pháp thì cái tâm con nó dừng lại và nó định tĩnh hơn. Con rất là hoan hỉ trong giây phút đó, có lúc con cũng lơ là trong việc học pháp của mình nhưng khi nghĩ lại thì con thấy thời gian rất là quý, con rất trân trọng những giây phút đó, được đảnh lễ các vị thánh các vị thánh thì con thấy đây là một nhân cái duyên mà sư phụ đã đưa tâm con về với các vị thánh, đây những tấm gương, những lời dạy mà con cần phải học. Nhưng không biết sao có lúc con cũng hơi lo, trong cảm thọ con cũng rất là lo trong việc tu học của mình.
Sư Phụ: Lo sao?
Sư cô Ấn Liên: Con thấy mình còn thiếu sót nhiều lắm.
IV. Chánh Pháp của Đức Thế Tôn Vipassì
Sư Phụ: Cái đó là tốt, không có cái lo đó thì tu đâu có tiến, phải có cái lo đó.
"Hai vị này nhờ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ với pháp thoại, không bao lâu tâm trí không còn chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Đây là khi đã Nhập Lưu rồi đó, ra khỏi tâm mê một cách hoàn toàn một trăm phần trăm.
"Này các Tỳ-kheo, trong khi kinh thành Bandhumatì có đại chúng khoảng tám vạn bốn ngàn vị được nghe: 'Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh thành Bandhumatì và ở tại Lộc Uyển Khema. Vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn, Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác'. Khi nghe vậy, các vị này tự nghĩ: 'Chắc chắn, pháp luật này không thể tầm thường, sự xuất gia này không thể tầm thường, vì vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vương tử Khanda và con vương sư Tissa đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Tại sao chúng ta lại không làm vậy?'
Này các Tỳ-kheo, rồi đại chúng ấy gồm khoảng tám vạn bốn ngàn vị đi ra khỏi kinh thành Bandhumatì đến Lộc Uyển Khema, chỗ Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở. Khi đến nơi, các vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Một hoàng tử xuất gia đã thành Chánh Giác, thành Phật rồi, có thêm một vị vương tử và một vị vương sư đi theo xuất gia nữa thì đường lối hành trì này chắc chắn không thể bình thường cho nên mấy chục ngàn người này đi đến Lộc Uyển nơi Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi thuyết pháp để đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp như lúc trước, đầu tiên ngài nói về bố thí và quả báo của bố thí, ngài nói về giữ giới và lợi ích của giữ giới, ngày trình bày về các phước báo, an lạc, hạnh phúc của cõi trời, ngài nêu lên sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các dục vọng và lợi ích an lạc của việc thoát ra, xuất ly các dục vọng đó.
"Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của các vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà chư Phật đã đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh, không có tỳ vết rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy tám vạn bốn ngàn vị này, chính tại chỗ ngồi này, chứng được pháp nhãn xa trần ly cấu: 'Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt'.
Những vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: 'Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, Như người dựng đứng lại, những gì bị quăng xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới!'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Tám mươi bốn ngàn vị này thấy sự thật, chứng sự thật, ngộ sự thật, thể nhập vào sự thật của khổ thánh khí, nghi ngờ tiêu tan, do dự diệt tận, tịnh tín bất động đối với thánh trí ngũ uẩn. Chúng ta có thể tưởng tượng ra cái cảnh lúc đó không ạ? Tám vạn bốn ngàn người, tám mươi bốn ngàn người cùng một lúc Nhập Lưu, mọi người có thấy sự thuyết pháp của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không? Mình ở đây có bốn mươi tám người, xong mùa hạ này Nhập Lưu hết, chúng ta phải nỗ lực, chúng ta rất là tiếc sanh ra thời không có gặp Phật tuy nhiên cũng còn vớt vát được sau hai ngàn sáu trăm năm mà vẫn được nghe thánh pháp nguyên chất này, cho nên phải nỗ lực chuyến đò cuối, đây là đò chiều chuyến chót, chậm sẽ bị bỏ lại, thuyền đã đi rồi.
Mình sẽ bơ vơ, không còn thuyền nào nữa để bước lên hết, khi mà Đức Thế Tôn và các bậc thánh còn tại thế lúc đó là những con thuyền vĩ đại, còn bây giờ là những chiếc thuyền, chiếc xuồng nhỏ, lại là đò chiều chuyến chót rồi mưa bão nữa, sình lầy trơn trợt, đường lại tối, chỉ có đom đóm lập lòe thôi, không có mặt trời mặt trăng cho nên càng an trú vô pháp nhiều chừng nào là càng tốt chừng đó đừng có kể sinh mạng, đừng có kể mệt mỏi gì hết, đừng có quan trọng nuông chiều cái thân này quá. Trời thì giông bão, đường thì sình lầy, màn đêm thì bao phủ, đò xuồng thì nhỏ lại là chuyến chót nữa, chân mình thì không phải là bàn chân có sức khỏe, trợt lên trợt xuống mà nếu mình không cố gắng, không bò lên, không nắm tay nhau đi thì mình sẽ tuột mất, chuyến đò đã rời đi rồi mình sẽ ở trong mưa bão, bão tố phong ba, sình lầy lạnh lẽo, gió mưa trơn trượt, bốn chữ đó chiêm nghiệm làm đề tài thiền quán "đò chiều chuyến chót".
Chúng ta phải như lý tác ý, đừng có phi như lý tác ý, suy nghĩ ngược lại những suy nghĩ trước nay của mình. Có lúc nào đó cái vị mà đánh khánh, tuy là đánh con sẽ nằm dưới năm phút luôn để cho mọi người thiền quán, không nhất thiết là cúi xuống là phải đánh lên liền, khi thấy con nằm dưới là đừng có đánh mà phải chờ. Hễ cầm cái khánh vô rồi là cứ đánh vô tội vạ, cái tâm của mình chấp thủ cho nên làm gì cũng chấp thủ trong đó hết, như vậy là phải vậy, không được khác vậy. Có khi chúng ta phải nằm mọp dưới chứ đó thiền quán sanh khởi lên cái tâm cung kính đối với bậc đại giác, sanh khởi lên lòng khát ngưỡng đối với các bậc thánh chúng, sanh khởi lên lòng tha thiết chân thành muốn đi theo các ngài, con muốn nối tiếp, con muốn nối bước, con nằm rạp hết cái bản ngã này xuống, con chôn nó xuống tại lòng đất tại Linh Quy Pháp Ấn này, có thể mình sẽ nằm luôn tại đó năm phút, lâu hơn nữa cũng được chứ không nhất thiết đánh xuống là phải đánh lên liền.
Lâu lâu con cũng để ý coi người đánh khánh này có thể nghiệm được pháp không, con nằm không ngồi dậy thì con thấy cũng dẫn đánh như thường. Thành ra tất cả mọi cái trong đó đều có sự tu tập, cái tâm mình làm gì là mình sẽ làm như vậy không có làm khác, có lúc mình phải nằm rạp xuống dưới đó thiền quán luôn. Có các vị chia sẻ với con là có những chỗ người ta tuy không thực hành thánh đạo Nikāya gì hết nhưng người ta cho chết thử, bên nước ngoài phải đóng bao nhiêu tiền để trải nghiệm cái chết, có đốt đèn cầy, có hình, có hòm, có đào cái huyệt để mình chui xuống dưới đó nằm, người ta có chừa cái lỗ để cho mình thở, cho mình trải nghiệm sự chết. Ở bên nước ngoài đâu có hiểu Nikāya gì đâu, những người nằm xuống là lo lắm, sợ hãi, sau khi người ta trở lên rồi trân quý sự sống hơn, đó là cái pháp thế gian. Khi mình thực hành thánh pháp là có những lúc mình sẽ không phải chỉ đưa bộ xương nữa mà sẽ nâng cấp từ từ lên, biết đâu sau này con làm đào một số lỗ, làm thật cho mấy thiền sinh về tu, hôm trước là trải nghiệm mù rồi, mai này cho trải nghiệm chết. Con sẽ cho đào mấy chục cái lỗ, có hình đàng hoàng, đó đèn hình đàng hoàng, kêu người thân lại đàng hoàng kế bên, lúc đó họ thọ; tưởng; hành của mình như thế nào.
Mình không bao giờ mình nghĩ cái đó nên mình hôn mê hoài, trở lại vấn đề khi mình nằm rạp xuống như vậy có những lúc thiền quán là mình đang lạy chứ không phải sư phụ lên thiền quán thì lúc đó mới thiền quán. Mình nằm rạp xuống dưới đó khao khát, khát ngưỡng, mình tôn kính, mình dập đầu gấp đôi giống như nằm vạ với Phật luôn vậy đó, mình ràng rụa nước mắt, mình đau xót cho cái tự thân vô minh nghiệp chướng, ngu si, dục cái này. Mình thấy mình thấp kém, hèn hạ, xấu hổ, nhục nhã, tồi bại, bẩn thỉu, ngu si, chấp thủ, cứng đầu, khó dạy, mình nằm dài dưới đó cảm nhận hơi lạnh của lòng đất, tự mình quán tưởng chôn vùi cái tấm thân này xuống, trong vùi cái tôi, ta ác độc này, không biết nhục này, không biết xấu hổ này, cái tâm vênh váo, ngã mạn, kiêu mạn này, mình chôn sống nó, vùi lấp nó.
Ở bên Tây Tạng, ở bên Nepal có cách lạy Phật nằm dài cả người xuống đất, chúng ta phải thực hành vì có rất nhiều pháp, nhiều phương tiện, nhiều cách thức cho mình làm, nếu mình cứ làm đều đều như vậy mãi thì mình không có thọ gì nữa, mình tu riết rồi mình trơ ra, không còn cảm thọ gì nữa. Mình dập đầu trước các ngài, thấy mình thật là nhỏ bé, thật là ngu muội, thật là thấp kém, mình thấy mình thật là bỉ ổi, hạ liệt đối trước các bậc Chánh Đẳng Giác, các bậc thánh Tăng, thánh nhân, các bậc hiền thánh, mình khao khát, mình thèm khát, mình khát ngưỡng, mình tôn kính, mình đau lòng, mình tủi phận, tủi thân, tủi nhục, tủi hổ. Nếu cảm giác này sanh khởi nhiều nhiều, tăng trưởng lên nữa thì mình đi rất là nhanh, mình đi tới sự Nhập Lưu rất là mau, đó là sức bật, đó là động lực, đó là sức đẩy nhanh đi vào trong thánh đạo. Mình phải đau khổ lắm, con nhập thất mà đập đầu vô vách tường, con lạy Phật đến nỗi cái trán này đỏ sưng lên hết, hai cái đầu gối này chai hết vậy mà vẫn chưa xong, vẫn còn rất nhiều vấn đề xấu hổ, bỉ ổi, nhục nhã, thấp hèn, hạ liệt, đê tiện, bẩn thỉu, xú uế.
Mình không chăm lo cho đời tu của mình thì uổng lắm, phải tự tạo cho mình những cú sốc, tự đặt mình vào những cái hiểm nạn, nguy nan, đừng cho mình an nhàn, bắt mình phải chịu cực chịu khổ, bắt mình phải chịu đựng những cái tai họa, tự mình đưa vào thiền quán. Mình cho mình an nhàn là mình sẽ chết mãi mãi, chết vô biên kiếp, mình phải phát huy sức mạnh tận cùng của nội lực, đạo lực của mình cho đến chừng nào mình chịu hết nổi thì mới thôi, sức mạnh tiềm tàng bên trong mình là nó vô tận nhưng do mình chưa chịu phát huy. Mình để cho cuộc đời mình như lục bình trôi sông, giậm chân tại chỗ thậm chí là thối đọa, đi lùi.
"Này các Tỳ-kheo, lúc bấy giờ đại chúng Tỳ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh đô Bandhumatì, Này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, trong khi yên lặng tịnh cư đã suy nghĩ như sau: 'Nay đại chúng Tỳ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh thành Bandhumatì. Sao Ta lại không khuyến dạy các vị Tỳ-kheo ấy: 'Này các Tỳ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Thời đại của Đức Phật Tỳ-bà-thi sống tám chục ngàn tuổi, hội chúng của ngài là sáu trăm tám mươi vạn vị Tỳ-kheo, Đức Phật khuyến khích các vị Tỳ-kheo hãy đi cùng khắp, đem chánh pháp này hướng dẫn cho chư thiên và loài người, đừng có đi hai người cùng một nơi.
"Này các Tỳ-kheo, một vị Ðại Phạm thiên khác, với tâm tư của mình biết được tâm tư của Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Như một vị lực sĩ duỗi cánh tay co lại hay co lại cánh tay đã duỗi ra, vị này biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ kheo, lúc bấy giờ vị Ðại Phạm thiên, đắp thượng y trên một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bạch Ngài: 'Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy khuyến dạy đại chúng Tỳ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị ở kinh đô Bandhumati: 'Này các Tỳ-kheo hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp'. Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm như các vị Tỳ-kheo. Sau sáu năm, các vị này đến kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Suy nghĩ của mình chư thiên đọc được hết, đừng tưởng rằng mình nghĩ mà người ta không biết.
Này các Tỳ-kheo, Ðại Phạm thiên thuyết như vậy. Sau khi nói xong, vị này đảnh lễ Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, lưng bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ.
Này các Tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassi, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vào buổi chiều xuất định đứng dậy và nói với các vị Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, trong khi Ta yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, ý nghĩ sau đây khởi lên: 'Nay đại chúng Tỳ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị trú tại kinh thành Bandhamatì. Sao Ta lại không khuyến dạy các Tỳ-kheo ấy: 'Này các Tỳ-kheo, hãy đi cùng khắp vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sau sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn'.
Này các Tỳ-kheo, một Ðại Phạm thiên khác với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Ta. Như một vị lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại hay co lại cánh tay đã duỗi ra, vị này biến mất ở cõi Phạm thiên và hiện ra trước mắt Ta. Này các Tỳ-kheo, vị Ðại Phạm thiên, đắp thượng y trên một bên vai, chấp tay hướng đến Ta và bạch với ta: 'Như vậy là phải, Bạch Thế Tôn! Như vậy là phải. Bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy khuyến dạy đại chúng Tỳ-kheo khoảng sáu trăm tám mươi vạn vị ở kinh đô Bandhumatì: 'Này các Tỳ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe chánh pháp, sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ làm như các Tỳ-kheo. Sau sáu năm các vị này sẽ đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn'. Này các Tỳ-kheo, vị Ðại Phạm thiên thuyết như vậy. Sau khi nói xong, vị này đảnh lễ Ta, lưng bên hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ.
Này các Tỳ-kheo, Ta khuyến dạy các ngươi: 'Này các Tỳ-kheo, hãy đi cùng khắp, vì hạnh phúc cho đại chúng, vì an lạc cho đại chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì an lạc cho loài Người, loài Trời. Chớ có đi hai người cùng một chỗ. Này các Tỳ-kheo, hãy thuyết giảng chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý đầy đủ, văn cú vẹn toàn. Hãy nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh. Có những chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe giảng chánh pháp sẽ bị nguy hại. Nếu được nghe, sẽ thâm hiểu chánh pháp. Cứ sau sáu năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn'.
Này các Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo ấy, một phần lớn trong ngày ấy đã lên đường đi khắp quốc độ" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Các vị Tỳ-kheo rất nghe lời Đức Phật. ngài nói ra là gần hết các vị Tỳ-kheo đều làm theo, đó là hiền trí, là tâm nhu thuận, là tâm thuần thục của các bậc thánh, Đức Phật nói ra là hơn sáu trăm mấy chục vạn người trong ngày đi liền, còn mình chắc nói "dạ để từ từ con sắp xếp thầy ơi". Thành ra tâm của các ngài tuyệt vời lắm, những cái chi tiết nhỏ đó là mình phải nhìn thấy cái đặc tính của bậc hiền trí, phần lớn trong ngày các vị đã lên đường đi khắp quốc độ, nhớ các vị này toàn là thánh Tăng không thôi, mình chưa phải thánh Tăng là đừng bắt chước "Thôi bây giờ con học ngũ uẩn cũng được rồi, cũng bộn rồi để con đi độ sanh" là rất nguy hiểm.
"Này các Tỳ-kheo, lúc bấy giờ tại Jambudìpa (Diêm phù đề) có tám vạn bốn ngàn túc xá. Khi một năm vừa mãn, chư Thiên tuyên bố: 'Này Hiền giả, một năm vừa mãn, nay còn lại năm năm. Sau năm năm, hãy đến tại kinh đô Bandhamatì để tụng đọc giới bổn!'
Hai năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: "Này Hiền giả, hai năm vừa mãn, nay còn lại bốn năm. Sau bốn năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!".
Ba năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: 'Này Hiền giả, ba năm đã mãn, nay còn lại ba năm. Sau ba năm, hãy đến tại kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!'.
Bốn năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: 'Này Hiền giả, bốn năm đã mãn, nay còn hai năm. Sau hai năm, hãy đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn!'
Năm năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: 'Này Hiền giả, năm năm đã mãn, nay còn lại một năm. Sau một năm, hãy đến tại đô Bandhumati để tụng đọc giới bổn!'
Sáu năm đã mãn, chư Thiên tuyên bố: 'Này Hiền giả, sáu năm đã mãn. Nay đã đến ngày đi đến kinh đo Bandhumati để tụng đọc giới bổn'. (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Mỗi một năm chư thiên đều nhắc nhở sáu năm phải về kinh đô trùng tuyên giới bổn vì tuổi thọ con người khi đó rất dài, còn mình bây giờ phải nửa tháng bố tác một lần, còn ngày xưa sáu năm mới bố tác.
"Này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo ấy, một số vị với thần lực của mình, một số với thần lực của chư Thiên trong ngày ấy đã đi đến kinh đô Bandhumatì để tụng đọc giới bổn.
Này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giữa chúng Tỳ-kheo, tụng đọc giới bổn này:
'Chư Phật dạy Niết-bàn là đệ nhất.
'Nhẫn nhục, khổ hạnh, kham nhẫn, là đệ nhất.
'Người xuất gia hại người xuất gia khác.
'Hại người khác như vậy không xứng gọi là Sa-môn.
'Mọi điều ác không làm, hướng tâm các thiện nghiệp.
"Giữ tâm trí thanh tịnh, chính lời chư Phật dạy.
"Không chỉ trích, không đánh đập, giữ mình trong giới bổn.
'Ăn uống có tiết độ, ngủ nghỉ riêng một mình.
'Hướng tâm đến cao khiết, chính lời chư Phật dạy'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Các vị này dùng thần lực cũng như dùng thần lực của chư thiên đưa các vị đó đi tại lúc này con người là thuần thiện, cực thiện, chí thiện, chỉ toàn là các bậc thánh thiện nên lúc này sử dụng thần thông là bình thường. Bây giờ tâm quá ác, quá tham làm sao bay nổi, còn lúc đó tâm con người hiền thiện, thuần thiện nên phần lớn các ngài dùng thần thông, tâm rất nhẹ nhàng, cao thượng, thanh tịnh. Giới bổn ngày xưa chỉ có bấy nhiêu đó, không có mấy trăm giới như mình bây giờ vì tâm người ta thuần thiện, người ta đâu có những cái ác xấu đâu, Đức Phật chỉ nói pháp thôi.
Chư Phật dạy Niết-bàn là đệ nhất, cái tâm dập tắt hoàn toàn tham, sân, si là cái tâm cùng tột, chỉ có Niết-bàn là tối cao, tối thượng, tối thắng. Muốn tu thì phải đặt mình vào sự kham nhẫn, sự chịu khó, chịu kham khổ, nhẫn nại, cái đó là số 1 của một người muốn tu.
V. Kham nhẫn
Người muốn xuất gia, người muốn thành đạo là người đó phải chịu đựng, phải kham nhẫn, phải chịu khó, chịu khổ, xả phú cầu bần, xả tâm cầu đạo. Đối với người tu sự kham nhẫn, sự chịu khó, sự chịu đựng, sự chịu khổ là bậc nhất để tiến đạo, nếu không có cái này thì không có tiến đạo, không có làm chút là than, làm chút là thở, làm chút kể lể mà phải chịu khó, chịu khổ, chịu đựng khổ hạnh, đó là bậc nhất để cho mình tiến đạo.
Chúng ta thấy đây mình có chịu khó nhiều không ạ? Ngồi tu bốn-năm tiếng có đáng tán dương không? Con nghe các chú kể lúc nhỏ luyện võ là 12h trưa buộc dây ôm bánh xe, trong những người thành đạt hiện nay trên thế giới, cầu thủ, võ sư, những người thực hành công phu, thậm chí người ta xem thường sinh mạng để khổ luyện thành tài, còn mình khổ luyện để thành đạo. Mình tu mà cứ muốn đều đều mãi là không được, phải đưa mình vô cái cảnh khó khăn rèn luyện, tôi luyện, tu luyện, tập luyện, khổ luyện, những cái đó là để phá cái chấp thủ, phá thân kiến, mình muốn gì cũng phải vừa ý mình, không vừa ý là mình không tu, vừa ý mình mới ở, không vừa ý thì mình đi. Như vậy làm sao mình tu thành thánh pháp, thánh đạo, thánh trí, thánh quả, thánh nhân được? Đi đâu cũng muốn vừa ý vừa lòng mình, ở đâu mình cũng không vừa lòng, đi đâu cũng bất mãn, nếu mình tu với tâm ái thì mình đi tìm ái chứ không phải tìm đạo, không phải cầu pháp, mình đi tìm những cái vừa lòng mình cho nên cái nhẫn nhục, khổ hạnh, kham nhẫn là đệ nhất, đây là giới kinh của Phật Tỳ-bà-thi.
Con nghe thầy Nghĩa có nói lại là trời mưa cho mọi người ngồi luôn, phải tập như vậy chứ mưa chút là chạy, mai này chết có chạy không, mai này cái mồ đó mưa rồi chạy đi đâu. Chúng ta phải tập sự bất động, lâu lâu phải tập như vậy, mình nuông chiều bản thân quen rồi nên tu không được, nuông chiều chính tham ái, ái dục. Ngày xưa ngồi thiền lúc đầu mười lăm phút, sau đó tăng lên từ từ bốn mươi lăm phút, một tiếng, rồi lên một tiếng rưỡi, hai tiếng là mình ngồi khỏe re, những lúc đó là phải chịu cay đắng, đau đớn. Bậc đạo sư kể hồi xưa ngài ngồi thiền đau quá nước mắt chảy xuống không chịu nổi, đau quá đau, ngài điện thoại cho chị nói rằng chị nói chuyện gì cũng được, em nghe để cho em không mở cái chân ra, nước mắt chảy ròng ròng xuống, có bữa ngài ngất xỉu luôn, đó là ngài tự tu một mình, không có người hướng dẫn kèm kẹp kế bên.
Đó là cái tập để ngồi thiền thôi, khi vượt qua cái ngưỡng 2 tiếng hết đau nữa rồi là sau này dễ, ngài nói sau đó là không có ngồi nhiều nữa. Thành ra đó là những sự kham nhẫn, khổ hạnh chứ không phải kêu mình làm giống như hồi xưa của thái tử, không phải như vậy, mình không có đi lại con đường đó mà mình chỉ làm cho được những gì Đức Phật dạy Bát Chánh Đạo thôi. Nhiều khi con chia sẻ với các vị, khi mình ngồi thiền, khi mình nghe pháp, khi mình thiền quán thì cố gắng làm sao mình thực tập cái sự nhiếp phục được cái thân mình trước, ngồi cho yên, đừng có lắc qua lắc lại, đừng có sửa áo, sửa y, đừng có nhúc nhích qua lại, bấy nhiêu đó thôi cũng là sự luyện tập chứ không phải không luyện, mình phải luyện từ những cái nhỏ nhặt.
Mình tập cái chỗ nào nó yên là mình cho nó yên, chỗ nào nó tịnh là mình cho nó tịnh. Tất cả những cái đó là mình phải để tâm rất là nhiều, không để tâm cũng làm không được dầu chuyện rất nhỏ, còn những người già bệnh là khỏi nói rồi, các vị đó là mình phải thông cảm. Các vị đó ngồi lựa cái gốc ngoài rìa nhất để đừng động người khác, cho nên tất cả mọi cái mình đều phải rèn luyện hết, hồi xưa ở bên thiền tạng có quyển thiền môn đoán luyện thuyết, sự rèn luyện ở trong nhà thiền, cái đó rất là gian truân, không có đơn giản. Mình bây giờ không có rèn gì nhiều, chỉ có rèn nghe pháp thôi, ngồi thiền tu thôi, có nhiêu đó thôi mà không được nữa là thôi luôn. Thành ra phải để ý vấn đề, phải chiến đấu với cái buồn ngủ trong khi ngồi thiền pháp, thức khuya dậy sớm, phải chịu khó luyện tác ý, đó cũng là sự khổ luyện.
Mình tác ý đâu có ai thấy, mình đâu có nghe nhưng mà mình phải khổ luyện, nếu nói "con làm biếng tác ý quá, khó quá", vậy là khỏi tu, chỉ có vỏ chứ không có ruột. Mình muốn có được chất lượng bên trong thì mình phải khổ luyện, tất cả cái đó là phải do tự mình, không thể nào do một người khác của bên ngoài, sự tác ý nào cũng khổ luyện, các bậc thánh ngày xưa cũng vậy, đâu có ai tự nhiên thành thánh. Mình xem trong Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật rồi đó, khủng khiếp lắm, đi ăn xin, thắt cổ tự vẫn, chết lên chết xuống, chồng chết, con chết, cha chết, mẹ chết cùng một ngày, năm người chết, đó là những cái cảnh khổ đẩy các ngài đi tới một cái tâm cầu đạo mãnh liệt, quyết liệt, hùng liệt, quyết tử. Các ngài đạp đổ hết tất cả những cái chướng ngại khó khổ, các ngài mới thành tựu, đại thành tựu.
Thành ra là khó khăn, tai nạn, chướng ngại con không sợ, con sợ là cái bình bình an an, yên yên ổn ổn, con rất sợ cái đó cho nên con thấy mình an an bình bình là không được, nhất định là không được, phải làm cái gì đó cho khổ, tu là phải hành. Trong ba cảm thọ đó thì cảm thọ sướng và cảm thọ khổ khá ít, nhưng cảm thọ đều đều là nhiều nhất, mình chết trong cảm thọ đều đều, mình tu trong cảm thọ đó rất nhiều, người nào không nhìn ra cái này là không tu được, không tiến bộ được.
Con đi chỗ này chỗ kia, gặp người này người khác, dự lễ này nọ, con ngồi giống như trời chồng vậy đó, người ta cười, người ta nói, người ta vui nhưng con thấy sao khổ vậy, con xót thương đau lòng, con ngồi đó không lẽ giờ không mở miệng ra nổi nữa, giống như bị á khẩu luôn. Mình nhìn thấy không có cái gì vui hết, mình thấy xót xa, mình đau lòng, mình quặng thắt, thành ra phá cái cảm thọ đều đều đó thì Đức Phật dạy mình quán cái cảm thọ bất khổ bất lạc đó là vô thường, quán cảm thọ khổ là gì.
VI. Pháp quán cảm thọ
Sư cô Pháp Linh: Con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng toàn thể các bậc hiền trí. Khi cảm thọ dễ chịu quá thì con sẽ quán vô thường, khổ, còn khi cảm thọ khó chịu thì con sẽ quán từ bi.
Sư Phụ: Không thể nói tự ý mình được, kinh của Đức Phật không thuộc thì cầu trợ giúp đi chứ không có tự ý nói được, về học lại cho thuộc.
Sư cô Pháp Linh: Dạ mô Phật, con quên rồi sư phụ.
Sư Phụ: Bây giờ nghe sự trợ giúp rồi về học cho thuộc, cái này là pháp hành, là công thức, là định lý nên phải thuộc.
Sư cô 1: Mô Phật, con kính bạch sư phụ, kính thưa các quý thầy, quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng, quán thọ dễ chịu hay là thọ lạc thì chúng ta quán khổ, còn quán cảm thọ khó chịu thì chúng ta quán nó là mũi tên và quán cảm thọ không khổ không lạc thì chúng ta quán về vô thường. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Đó là bài kinh Cần Phải Quán Kiến.
"Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau" (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, V. Cần Phải Quán Kiến)
Khi mình gặp một cảm giác vui mình phải nhìn thấy nó là khổ, cho nên nãy con nói người ta vui, người ta cười còn con thấy khổ, là mình nghe lời Đức Phật. Khi mình gặp một cảm giác khổ mình phải quán nó là mũi tên xuyên thủng vô tim mình, cái khổ này nó phải ăn sâu hơn nữa để mình thành tựu trí tuệ trong cái khổ đó chứ không phải than vãn bứt tóc, đấm ngực, ngất xỉu, bất tỉnh, mình quán cái trí tuệ về khổ cho nó thấm thía. Còn cái cảm thọ không khổ không vui là Đức Phật quán vô thường, con thường hay nói vô thường là 4 đột: Đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, quán như vậy thì làm gì có cái cảm giác đều đều, bình thường. Cái cảm giác đều đều đó phải quán nó như vậy, không có đều đều đâu, để mình phá cái cảm giác bất khổ bất lạc thọ đó, phá cái si đó, trong cảm giác đó là vô minh tùy miên, si tùy miên.
Cho nên các vị tu nhẫn, kham nhẫn, khổ hạnh là người ta phá cái cảm giác bất khổ bất lạc, không có khổ hạnh là không phá được cái đó, còn không quán nữa thì càng không có phá được mà cái cảm giác bất khổ bất lạc, cái cảm giác đều đều chiếm tám mươi, chín mươi phần trăm trong cái đời sống thường nhật của mình. Nếu mà mình không quán thì đợi tới khổ, tới vui làm sao quán?
VII. Đức Phật đến cõi trời tịnh cư thiên
"Này các Tỳ-kheo, một thời ta ở tại Ukkhattha (Úc-Già La), trong rừng Subhaga, dưới gốc cây ta-la vương. Này các Tỳ-kheo, trong khi Ta an lặng tịnh cư, tư tưởng sau đây khởi lên: 'Có một trú xứ, một loại chúng sanh rất dễ đến mà Ta từ trước không đến ở trong một thời gian khá lâu! Ðó là chư Thiên Suddhàvàsa (Tịnh Cư thiên). Vậy nay Ta hãy đến chư Thiên ở Tịnh Cư thiên!'
Này các Tỳ-kheo, như một lực sĩ duỗi cánh tay đã co lại, hay có lại cánh tay đã duỗi ra, Ta biến mất ở Ukkattha, trong rừng Subhaga, dưới gốc cây Ta-La vương và hiện ra trước chư Thiên ở Tịnh Cư thiên. Trong đại chúng chư Thiên ấy một số vài ngàn chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau:
'Này Hiền giả, nay đã được chín mươi mốt kiếp, từ khi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sanh, thuộc chủng tánh Sát Ðế Ly. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuộc danh tánh Kondanna (Câu-Ly-Nhã). Này Hiền giả, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, giác ngộ dưới gốc cây Pàtali (Ba-ba-la). Này Hiền giả, hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tên là Khanda (Kiển-trà) và Tissa (Ðề-xá). Này Hiền giả, trong thời Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có ba Tăng hội, một Tăng hội sáu trăm tám mươi vạn Tỳ-kheo, một Tăng hội mười vạn Tỳ-kheo, một Tăng hội tám vạn Tỳ-kheo. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có vị thị giả Tỳ-kheo tên Asoka (A-dục), vị này là vị thị giả đệ nhất. Này Hiền giả, phụ vương Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tên là Bandhuma, mẫu hậu tên là Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề). Kinh thành của vua Bandhuma tên là Bandhumatì. Này Hiền giả, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất thế tục như thế này, xuất gia như thế này, tinh tấn như thế này, giác ngộ như thế này, chuyển pháp luân như thế này. Này Hiền giả, chúng con là những người đã tu phạm hạnh với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã diệt trừ dục vọng và đã sanh ra tại chỗ này'.
Này các Tỳ-kheo, lại trong đại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên (... ... ) một số vài trăm chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỳ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta: 'Này Hiền giả, trong tiền kiếp này, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ra đời. Này Hiền giả, Thế Tôn, thuộc chủng tánh Sát-đế -lỵ, thuộc gia tộc Sát-đế-lỵ. Này Hiền giả, Thế Tôn thuộc danh tánh Gotama (Cù-đàm). Này Hiền giả, Thế Tôn tuổi thọ không bao nhiêu, ít oi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút. Này Hiền giả, Thế Tôn giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát-đa- la). Này Hiền giả, Thế Tôn có hai vị hiền sĩ, đệ nhất đệ tử tên là Sàriputta và Moggallàna (Xá-lợi-phất và Mục kiền-liên). Này Hiền giả, Thế Tôn có một Tăng hội một ngàn hai trăm năm mươi vị. Này Hiền giả, Tăng hội này của Thế Tôn gồm toàn những vị đã diệt trừ lậu hoặc. Này Hiền giả, Thế Tôn có vị thị giả Tỳ-kheo tên là Ananda (A-nan), vị này là thị giả đệ nhất. Này Hiền giả, phụ vương của Thế Tôn tên là Suddhodana (Tịnh Phạn), Hoàng hậu là Màyà (Ma-gia) kinh đô là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Này Hiền giả, Thế Tôn xuất thế tục như thế này, xuất gia như thế này, tinh tấn như thế này, giác ngộ như thế này, chuyển pháp luân như thế này. Này Hiền giả, chúng tôi là những người đã tu phạm hạnh với Thế Tôn, đã diệt trừ dục vọng và đã sanh ra tại chỗ này'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Sau khi Đức Phật kể lại câu chuyện của Đức Phật Tỳ-bà-thi thì ngài kể tiếp mình lên Tịnh Cư Thiên, khi lên đó các vị chư thiên đến đảnh lễ ngài và kể lại ngày xưa mình học với Đức Phật Tỳ-bà-thi. Các vị chư thiên này không biết đây là Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nên mới gọi ngài là hiền giả.
"Này các Tỳ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà (Vô Nhiệt thiên) đến chư Thiên Atappà (Vô Phiền thiên). Này các Tỳ-kheo, rồi cùng với chư Thiên Avihà và chư Thiên Atappà đến chư Thiên Sudassà (Thiện Kiến thiên). Này các Tỳ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà, chư Thiên Atappà và chư Thiên Sudassa đến chư Thiên Sudassi (Thiện Hiện thiên).
Này các Tỳ-kheo, rồi Ta cùng với chư Thiên Avihà, chư Thiên Atappà, chư Thiên Sudassà và chư Thiên Sudassì đến chư Thiên Akanitthà (Sắc Cứu Kính thiên). Này các Tỳ-kheo, lại trong Ðại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỳ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau: "Này Hiền giả, nay đã được chín mươi mốt kiếp, từ khi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời..." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Có rất nhiều chư thiên đi đến đảnh lễ Đức Phật rồi cũng kể lại như vậy.
"Này các Tỳ-kheo, lại trong đại chúng chư Thiên ấy, một số vài ngàn chư Thiên (như trước) một số vài trăm chư Thiên đến chỗ Ta ở, đảnh lễ Ta và đứng một bên. Này các Tỳ-kheo, sau khi đứng một bên, chư Thiên ấy đã nói với Ta như sau: 'Này Hiền giả, trong tiền kiếp này đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nay ra đời...
Này các Tỳ-kheo, như vậy Như Lai khéo chứng đạt pháp giới này, Như Lai nhớ chư Phật quá khứ, những vị này đã nhập Niết-bàn, đã đoạn các chướng đạo, đã chấm dứt sự luân hồi, đã thoát ly mọi đau khổ. Như Lai cũng nhớ đến chủng tánh các vị này cũng nhớ đến danh tánh, cũng nhớ đến tộc tánh, cũng nhớ đến tuổi thọ, cũng nhớ đến hai vị đệ tử, cũng nhớ đến các Tăng hội như sau: 'Các bậc Thế Tôn này, sanh tánh là như vậy, danh tánh là như vậy, tộc tánh là như vậy, giới hạnh là như vậy, pháp hạnh là như vậy, tuệ hạnh là như vậy, trí hạnh là như vậy, giải thoát là như vậy''.
Thế Tôn thuyết pháp như vậy. Các vị Tỳ-kheo ấy hoan hỉ tín thọ lời dạy của Thế Tôn" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Khi đọc giới bản xong là kết thúc câu chuyện của Đức Phật Tỳ-bà-thi, từ đó trở về sau là Đức Thế Tôn Thích-ca Mâu-ni của mình kể lại ngài đi lên Tịnh Cư Thiên, đó là chỗ của các bậc thánh đệ tử thiên, ở đó toàn các vị chư thiên đệ tử của các Đức Phật nhưng có những vị không nhận ra ngài, kêu ngài là hiền giả. Trí tuệ của các Đức Phật là siêu khủng, các ngài nhớ sự thành lập, hoại diệt của trái đất này trong trăm ngàn, nhiều trăm ngàn, nhiều triệu, nhiều trăm triệu, nhiều ngàn triệu, nhiều ức, nhiều ngàn ức, nhiều tỷ, nhiều trăm tỷ, ngàn tỷ lần cái trái đất này thành hoại. Các ngài muốn nhớ là nhớ hết, nhớ tên tuổi, nhớ dòng họ, nhớ tập tính, nhớ sinh ra sao, lớn lên thế nào, rồi trải qua như thế nào để tu hành, chứng ngộ ra sao, giải thoát ra sao, độ đệ tử như thế nào, trong đó những người đệ tử lớn Đức Phật nhớ được hết, trong thời kỳ đó sinh hoạt ra sao. Đức Phật đó giới hạnh như thế nào, pháp hạnh của ngài như thế nào, tuệ hạnh ngài như thế nào, trí hạnh ngài như thế nào, giải thoát ngài như thế nào Đức Phật biết hết, cần nhớ là Đức Phật nhớ hết.
Mình bây giờ nhớ thử đời trước xem, nhớ thử hồi nhỏ xem còn nhớ không, mình bị ăn cháo lú, qua cầu Nại Hà có bà già cho ăn tô cháo lú. Cái đó là hình ảnh thôi, cái đó tức là vô minh, là cái tâm hôn mê trong năm triền cái che hết, mình cứ dục, cứ tham hoài, cứ sân si cho nên chúng ta nhớ trong kinh ghi lại có những vị có thần thông bay từ ở trên núi, trong rừng xuống hoàng cung để ứng phó trai đàn, xuống hoàng hậu đảnh lễ cúng dường, mỗi bữa cứ bay xuống rồi thọ thực nhưng hôm đó bay ngang hoàng hậu đang tắm, thế là khởi dục rớt xuống liền, từ trên hư không lọt xuống cho nên năm triền cái khởi lên là nó chướng ngại tâm, làm yếu ớt trí huệ, làm mù mắt, tác thành vô trí, tác thành mù mắt.
"Một hôm, Bồ-tát đi đến quá trễ, hoàng hậu sửa soạn các món ăn xong, tắm rửa, trang điểm và soạn một chỗ nằm thấp. Trong khi chờ đợi Bồ-tát đến, bà đắp sơ sài một tấm áo trên thân rồi nằm nghỉ. Bố Tát xem giờ, liền cầm bình bát, đi ngang qua hư không và đến cửa sổ.
Nghe tiếng áo vỏ cây sột soạt của Bồ-tát, hoàng hậu hấp tấp đứng dậy, và áo vàng của bà rơi xuống. Bồ-tát để các căn bị chi phối bởi đối tượng đặc biệt khác thường này và đứng nhìn bà như bị thôi miên. Ác dục phiền não đã được chế ngự nhờ Thiền lực trước kia, nay lại khởi lên giống như con rắn hổ phồng mang, ngóc đầu lên từ cái giỏ nó bị cầm giữ, giống như cây vú sữa bị búa chém. Do phiền não khởi lên, thiền định thối thất, các căn trở nên không thanh tịnh, khi ấy Bồ-tát giống như con quạ bị gãy cánh. Bồ-tát không thể ngồi xuống như trước nữa và không thể ăn uống gì được. Dầu được hoàng hậu mời ngồi, Bồ-tát không thể ngồi yên.
Rồi hoàng hậu đặt các món ăn đủ loại cứng loại mềm vào trong bình bát, nhưng Bồ-tát không thể ăn như trước được, và cũng không thể đi ra cửa sổ rồi bay ngang qua hư không. Cầm lấy các thức ăn, Bồ-tát đi xuống bằng thang lầu lớn và đi về khu vườn" (Tiểu Bộ Kinh - Tập V. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (II), Chương Ba. Phẩm Sankappa, 251. Chuyện Dục Tầm (Tiền thân Sankappa))
Người không có năm triền cái là người đó mau chứng đắc thần thông, vào định dễ dàng, thành ra dục tham che đậy cái tâm mình, nó làm mình thành vô trí, thành mù mắt, trí huệ của mình yếu ớt cho nên mình không có nhớ được, thế gian này ngũ trược ác thế cho nên mình quên hết, không nhớ gì hết, còn các ngài muốn nhớ là nhớ tận cùng, nhớ tột cùng, nhớ vô lượng, vô số, vô biên kiếp về trước.
VIII. Chư Phật Toàn Giác
Chúng ta trở lại phần đầu của bài kinh này vì hôm trước chúng ta thiền quán cho nên con không đọc phần đầu của bài kinh.
"- Này các Tỳ-kheo, chín mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Vipassì (Tỳ-bà-thi), bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo, ba mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Sikhì (Thi-khí) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo, cũng trong ba mươi mốt kiếp ấy, Thế Tôn Vessabhù (Tỳ-xá-bà) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kakusandha (Câu-lâu-tôn) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Konàgamana (Câu-na-hàm) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỳ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, nay Ta, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Chúng ta nhớ chín mươi mốt kiếp này không phải là mình chết đi sống lại chín mươi mốt lần mà chín mươi mốt lần trái đất thành hoại, lúc đó là Đức Phật Tỳ-bà-thi này xuất hiện. Trái đây này hiện tại hình thành lần thứ chín mươi hai, chín mươi mốt lần trước Đức Phật Tỳ-bà-thi, các nhà nghiên cứu cho mình biết con số để trái đất hình thành và hoại diệt là khoảng một trăm bốn chục con số 0, nó cũng tạm vậy thôi chứ không có chính xác, nhân lên chín mươi mốt lần là nó ra bao nhiêu con số 0, lúc đó Đức Phật Tỳ-bà-thi xuất hiện.
"Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Vipassì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là tám vạn năm. Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là bảy vạn năm. Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Vessabhù, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là sáu vạn năm. Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là bốn vạn năm. Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Konàgamana, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ loài người là ba vạn năm. Này các Tỳ-kheo, trong thời Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuổi thọ của loài người là hai vạn năm. Này các Tỳ-kheo, nay tuổi thọ của Ta không bao nhiêu, ít oi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Mình học cái này để làm gì? Để thấy kiếp sống của con người là nhỏ nhoi, là ngắn ngủi, nhiều khổ đau, nhiều ưu não, chẳng có một cái giá trị gì cả, không đáng gì hết. Mình học để thấy được điều đó, đừng nghĩ rằng những lời kinh này nói ghê quá, giống như câu truyện cổ tích, ngược lại mình phải tin tuyệt đối vào lời Đức Phật để thấy đời sống của loài người mình hiện tại bây giờ do ác nghiệp quá nhiều, nó mãnh liệt, nó cường liệt cho nên ngắn ngủi, nhỏ nhoi, nhiều khổ não, nhiều ưu não, chẳng có một cái gì đáng giá hết, chỉ có chứng đạt được pháp tín.
Chúng ta cứ ôm cái đống phân, đống nước tiểu, đống phèo, phổi, gan ruột dơ bẩn này rồi dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn. Tại sao cái đó là của mình mà nói tới cái đó là tự nhiên muốn né hết? Thành ra đời sống mình không là gì cả, chư thiên bước ra bước vào nhìn xuống đã thấy mình chết hết rồi, chúng ta có câu "hoa phù dung sớm nở tối tàn", ngoài ra còn có phù vân là đám mây nổi một chút rồi tan rã. Mình nhớ Chư Phật, nhớ các bậc Chánh Đẳng Giác thấy tủi cái thân của mình, để mình có sự khát ngưỡng, khao khát, hướng thượng.
Mình thấy các Đức Phật sao mà hạnh phúc quá, các bậc thánh sao an lạc quá. Hạnh phúc thay là các bậc A-la-hán! Đau khổ thay là những chúng sanh vô minh và tham ái này! Hãy luôn luôn mỗi ngày làm cho tâm mình khao khát, thèm khát, khát ngưỡng cảnh giới Niết-bàn, sự đoạn tận các cái hữu, phá vỡ sanh y, diệt hết tất cả lậu hoặc, thoát ra tâm mê. Vậy là chúng ta học xong bài kinh Đại Bổn, chúng ta được biết thêm một bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác đức hạnh, trí đức, giới đức, pháp hạnh, giới hạnh, pháp tuệ, giải thoát, pháp trí của ngài. Mong rằng những hình ảnh này, những cảm thọ này, những pháp nghĩa thâm sâu này thấm vào tâm chúng ta không bao giờ mất, hãy lấy những hình ảnh này làm đối tượng thiêng liêng tối thượng để mình quy ngưỡng, để mình phát khởi được tín tâm, được tâm hướng thượng, tâm cao thượng, tâm thánh thiện.
Con có một cái nguyện, nếu sau này đủ duyên con sẽ làm lại bộ phim cuộc đời của Đức Phật đúng theo kinh tạng Nikāya, đủ duyên sẽ làm luôn cuộc đời của Đức Phật Tỳ-bà-thi này. Những hình ảnh này cần được lan tỏa, cần được phổ biến, cần được tuyên truyền, cần được nhân rộng để cho thật nhiều người biết, như cuộc đời Đức Phật này mấy người học Phật biết, ngay cả xuất gia luôn chứ đừng nói chi cư sĩ.
IX. Trình pháp 2
Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ quý Tăng, Ni sư, sư cô cùng các bậc hiền trí. Dạ thưa thầy thật là đầy đủ nhân duyên cho con khi con được về chùa Linh Quy tu tập trong những ngày qua, con cảm thấy thật là biết ơn và hạnh phúc khi con được nghe nhiều bài giảng pháp của thầy, thực sự con rất là ấn tượng và con cảm thọ cái sự đau khổ nhiều nhất về bài pháp sự nhục nhã của sanh, bệnh, già, chết. Trong 2 ngày liên tục con được nghe thầy giảng và quý sư trình pháp cũng như các vị hiền trí trình pháp, thật sự con cảm giác rất là đau khổ và con liên tưởng tới mẹ con, tới bà nội con, tới ba con và người để cho con suy nghĩ nhiều nhất và con để con cố gắng thoát khỏi con đường của mẹ con đã đi là một người phụ nữ sinh chín người con và cũng không được chồng yêu thương, hay bị đánh đập.
Con thấy cái sự nhục nhã, ê chề của mẹ con và trước đó con nghĩ đó là cái sự thống khổ. Nhiều khi sanh chưa được hai mươi ngày ba con đã bắt mẹ con suốt vườn hái cà phê trong khi đó không cho thuê người làm, nhiều khi những cái sự ghen tuông vô cớ về đánh đập những trận đòn thật tử nhất sinh. Sau này khi con lớn lên con cố gắng, quyết tâm ra ngoài kiếm tiền phụ mẹ nuôi tám đứa em, trong những lần đi xa nhà khi có nghe em gọi điện cho con hoặc là những người hàng xóm gọi điện cho con khoảng 11h-12h đêm ba còn đánh mẹ, thực sự lòng con lúc đó rất đau. Là một đứa con mà con không phụ được mẹ cái gì, nhìn mẹ bị ba đánh những trận động thập tử nhất sinh, sau khi bị đánh cũng không được nghỉ ngơi mà phải lam lũ làm để có tiền nuôi những đứa con thơ dại.
Có lần mẹ nói với con mẹ muốn cùng mấy chị em con quyên sinh, nhưng khi nhìn những đứa em thơ dại mẹ nghĩ tụi nó không có tội gì mà phải chịu đựng cùng mẹ như vậy. Thật sự những lúc đi làm xa con thấy mẹ như vậy con rất muốn về bên mẹ, nhưng nếu con về thì kinh tế rất khó khăn, con cũng không muốn để những đứa em con thiếu học nên con đã cố gắng. Có lần mẹ bị ba đánh đến nỗi không thở được, đầu chảy máu, tay nứt xương, những vết bầm tím khắp người, mẹ giấu không cho con biết nhưng hàng xóm tốt bụng gọi điện cho con. Con cố gắng sắp xếp về đưa mẹ đi khám, con đã nói với ba rằng nếu ba cảm thấy không ở được với mẹ con con thì con mong ba hãy li dị, đó là một điều con không muốn nhưng cũng là con người với nhau tại sao ba lại đánh mẹ những trận đòn thật vô lý, không phải một-hai lần mà từ khi được gả tới nay, con được bao nhiêu tuổi thì những năm tháng ấy đều là trận đòn của ba.
Bây giờ tụi con cũng có đứa lớn, đứa lớn có thể nuôi được đứa nhỏ, ba nếu cảm thấy không ở được thì xin giải thoát cho mẹ con để mẹ con được về quê sống với bà ngoại, còn ba có thể cưới vợ mới. Lúc đó cuộc đời con lần đầu tiên nhìn thấy ba con khóc khi nói với con một câu, nuôi con ăn học, cho con ra nước ngoài làm việc để nhận thức con cao nhưng không ngờ quay về lại nói một câu là kêu ba mẹ li dị, những giọt nước mắt của ba tuôn dài và ba bỏ đi, từ đó con để ý ba thay đổi nhiều hơn. Sau khi này con được biết đến Phật pháp thì con sẽ cố gắng tu tập và nhiều khi con nguyện con gánh những cái nghiệp của ba mẹ, những công đức con làm được sẽ hồi hướng cho ba mẹ.
Sau những năm tháng làm việc xứ người thì hơn ba tháng nay con quay về nhà nhìn hình ảnh ba mẹ yêu thương con. Mỗi lần con đi ra ngoài về ba mẹ ân cần hỏi han, có lần con cắt tóc cho ba con cảm thấy những sợi tóc bạc của ba càng nhiều hơn, con tự hỏi bản thân liệu con còn bao nhiêu lần cắt tóc cho ba, còn bao nhiều trò chuyện với mẹ, mỗi lần mẹ ra ngoài về đều vào phòng tìm con. Tất cả những cảm xúc đó của con thực sự có lúc con kìm nén nhưng mà khi về đây được nghe những bài pháp của thầy, con mới ngộ ra được nhiều điều, con mới hiểu được nhiều điều và con sẽ cố gắng quyết tâm để con thoát khỏi cái sự luân hồi để không vậy như mẹ con, một người phải khổ về chồng, khổ vì con, phải cáng đáng kinh tế nuôi chín đứa con.
Thực sự bây giờ cảm xúc trong con vừa hạnh phúc vì con gặp được thầy, gặp được quý sư, các quý vị hiền trí đã cho con hiểu biết được rất nhiều cảm giác cực khổ đau. Con cảm thấy con được biết đến chỗ này có hơi quá trễ nhưng dù trễ con cũng sẽ cố gắng từng ngày, cố gắng tu tập, cố gắng hiểu bài pháp thầy giảng và cố gắng thực hành. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Sư Phụ: Lành thay! Lành thay! Rất là tốt, cô lên đây thời gian rất là ngắn, tìm được đạo lộ của mình, tìm được con đường cho mình, rất là tốt. Chúc mừng cho cô trong vòng luân hồi sinh tử đầy oan nghiệt đau khổ này tìm thấy được quanh minh đạo lộ, tìm thấy được ánh sáng. Nếu cô cố gắng tu tập cô sẽ báo hiếu được cho cha mẹ bằng thiện pháp, bằng thánh pháp, bằng tình thương, bằng lòng hiếu thảo chân thành nhất của một người con là thánh đệ tử của Đức Phật. Rất là tốt, cố gắng lên, ở càng nhiều càng tốt, đem những cái chất liệu hiểu thương này, thông cảm này, trí tuệ này làm món quà tối thượng để cúng dường lên cho cha mẹ, không phải bằng lời nói mà bằng hành động, không phải chỉ ở lời nói mà còn bằng hành động, bằng cách sống, sự khéo léo, thiện xảo của mình để dìu dắt, an trú cha mẹ mình vào trong thiện pháp, vào trong chánh pháp.
Cô Diệu An: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ sư phụ, con chân thành đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Thật là phước lành thay cho con khi con được nghe, được biết và được hiểu những lời sư phụ giảng pháp về sự sỉ nhục của sanh, già, bệnh, chết. Khi con nghe quý sư trình pháp thì tưởng con cũng hiện ra, trong con cũng là một cuộc sống đầy khó khăn khi con cũng được sanh ra đời, cũng nhờ những khổ đau đó mà con được gặp Phật pháp và con cũng hiểu được nhân quả. Con cũng đã thương cho chính bản thân con, thương cho gia đình và những người xung quanh.
Lúc nhỏ con ở miền Trung, mỗi khi con thấy những cảnh khổ đau thì con cứ khóc cả ngày mà con cũng không biết tại sao, giờ con hiểu được là con thấy những người khổ, cũng chính bản thân con khổ và con muốn đi theo con đường của Đức Phật để con được thoát khổ và con cũng có thể làm tròn bổn phận một người con trả hiếu cho ba mẹ và những người xung quanh con đã mang đến cho con cuộc đời này. Khi con đi tu ba mẹ và tất cả mọi người ai cũng cho con đi, điều đó làm cho con rất là vui, con sẽ cố gắng, con cũng hi vọng ba mẹ con bớt khổ. Con cũng thành tâm tri ân sư phụ và quý thầy, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí nơi đây đã cho con một môi trường và một đạo lộ của Đức Thế Tôn để con tu tập và con thoát khỏi khổ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Bé Ngân: Con kính thưa sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư bà, quý sư cô và các cô chú có mặt ở đây. Từ lúc mẹ con dẫn con lên đây thì con nhận diện ngũ uẩn rành hơn, con học nhiều kinh hơn ở nhà, con lên đây thì con hiền hơn ở nhà, tại ở nhà con có chị em họ cãi hoài nhưng mà con lên đây thì con thấy ở đây vui hơn, con không muốn về dưới.
Sư Phụ: Con lên đây thấy các thầy, các sư cô có hiền không?
Bé Ngân: Dạ có.
Sư Phụ: Con có thay đổi được cái gì không?
Bé Ngân: Dạ có, hồi đó lúc mà mẹ con la con thì con giận mẹ con nhiều lắm nhưng mà con lên đây mẹ con la thì con giận một chút rồi con nghỉ giận.
Sư Phụ: Mai mốt con tập không giận luôn, mẹ thương mà mới la phải không.
Bé Ngân: Dạ, con học được nhiêu đó.
Phật tử 2: Con nam mô Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi Phật, con nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con đem hết lòng thành kính cúi lạy ân trên sư phụ, con xin đem hết lòng thành kính cúi lạy chư Tăng Ni và các vị hiền trí. Con đã tham gia cái đi tu vừa rồi và khoảng độ chục ngày con trả y giới và xuống núi, con cũng đi khắp những người thân ở quanh vùng Tây Nguyên này. Chiều hôm qua con lại trở về, thời gian này tâm còn cũng có những phần bất an bởi vì con cũng đang bị mông lung về những con đường đạo phía trước của mình.
Hạnh nguyện của con là luôn luôn canh cánh được thoát sanh, thoát luân hồi thoát sinh tử và thực sự thì con nhận ra là ở Linh Quy Pháp Ấn này, trong giáo pháp sư phụ dạy, trong những hành mà các chư Tăng Ni đang hành là điều mà con thấy rốt ráo nhất, điều mà hiện hữu nhất để đi đến cứu cánh Niết-bàn bởi vì trần thế thì mọi sự tất cả mọi sự mọi người đang mê, bản thân con cũng như thầy nói rằng xuống núi rồi lại bị cái sanh kéo đi chứ cũng không có tỉnh thức được, và lại càng thấy ngổn ngang bộn bề. Con có những cái đấu tranh về làm thân cư sĩ hay là làm thân xuất gia, có những điều mưu cầu là nên có một cái mảnh đất riêng để mình yên tu theo cái nguyện chọn lựa trước đây, hay là với cái sự gặp gỡ bây giờ, bởi vì con thấy đều rất là tốt nhưng con cũng đang bị mâu thuẫn, rồi đôi khi con thấy công việc mà con đang làm ngay cả chữa bệnh cho mọi người cũng đều rất là huyễn hóa và vô nghĩa.
Ở con cũng đấu tranh là không biết là mình có nên hành hay là phải buông xả để đi vào sự tu tập, tức là trong lòng con bộn bề nhiều điều và chiều hôm nay con nghe sư phụ giảng về con đường đi đến vô thượng bồ đề của Đức Phật Tỳ-bà-thi tâm con khởi lên rất nhiều cái buồn thương cho chính bản thân mình là nhiều hơn, bởi vì con cũng nhận ra con cứ đang đi truy tìm những cái điều để an ổn nhưng thực ra con lại bất an ở trong những cái truy tìm đó.
Con càng bị kéo dài, trượt dài, trượt dốc và đi xuống trong những cái truy tìm đó, những khi con rơi nước mắt là con chỉ mong cầu đức Tỳ-bà-thi, đức bổn sư Thích-ca, hết thảy tất cả các Chư Phật che chở và chỉ dạy cho tất cả chúng sinh trong đó có con, hãy cứu rỗi tâm con bởi vì con nhận ra nó cứ ở trong năm triền cái nghi hoặc, rồi sân si, rồi tham cầu, nó vi tế rồi nó quỷ quyệt. Con thấy cái xác thân này nó như cái nhà tù của muôn ngàn, muôn triệu kiếp mà mình vẫn còn bị mê, rồi con thấy mình hằn bao nhiêu cái tầng xích vào cái cổ mình, tự mình xích rồi mà mình không thể thoát ra được. Khi sư phụ cho đại chúng quỳ lạy hai vị A-la-hán, tâm con khi đó chỉ mong hết thảy các Chư Phật hãy gia hộ để con có bản lĩnh, để con có thể ngồi bất động trong nửa tiếng, lên một tiếng, bốn mươi lăm phút như sư phụ dạy, bởi vì khóa tu vừa rồi có khi tâm con bị thúc giục muốn đứng lên, không yên được, có những cái con thấy ghê gớm quá, sắc thân này khống chế mình, không làm cho mình mong muốn.
Khi ở thế tục đã thấy khổ sở vì tham cầu các thứ, bây giờ ngồi yên để theo dõi thân tâm này mà nó cũng nhức nhối. Con cũng bắt đầu nhận ra như sư phụ dạy rằng có phải làm một cái điều gì quá ghê gớm ở ngoài đời như đi làm hành bồ tát đạo đâu, ngồi yên bất động cũng chính là mình đang kham nhẫn rồi. Con thầm mong là bản thân con cũng phải cố gắng để làm sao ngồi thiền được, đấy là cái khởi đầu và con cầu mong cho trên hết tất cả những gì mà sư phụ giảng ngày hôm nay hoặc là khi mà sư phụ nói rằng tám ngàn bốn trăm vị chứng đắc quả Nhập Lưu ở trong tưởng con có hình cái hình bóng bát ngát, mênh mông của các chư vị đang ngồi và một cái vầng hào quang hiện lên choáng cả thân tâm con làm con vừa hạnh phúc vừa có sự buồn tủi, buồn thương.
Con cầu mong là con có thể an trú ở trong pháp từng thời từng khắc vì con cứ bị mông lung và phóng giật, kéo theo những cái pháp thế tục hữu lậu rồi con thấy đều là vô minh nhưng không thể nào thoát ra được.
Sư Phụ: Trước mắt cô cứ ở đây tu học thêm một thời gian nữa để cho cô có cái tín tâm, có tín giải rồi từ từ cô sẽ quyết định.
Phật tử 2: Dạ vâng, con xin nghe lắng nghe sư phụ ạ. Con cảm ơn sư phụ và tất cả các quý chư Tăng Ni ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, nam mô đức Phật Tỳ-bà-thi.
Sư Phụ: Đừng quyết định vội, cứ học thêm một thời gian nữa, tu thêm thời gian nữa rồi mình sẽ tìm thấy được con đường mà mình cần đi, mình phải đi, mình nên đi.
Phật tử 2: Nhiều khi con cũng rất muốn được gần sư phụ và được bạch sư phụ nhưng mà hình như cái hành của con nó ngăn cản lại, con lại chưa dám để gần và bộc bạch vì con vẫn có những cái điều mà con cũng không biết là con đang đứng đang sai, nhưng mà hôm nay con cũng mạnh dạn để con được nói ra cái điều đang ẩn ở trong tâm con và con cảm ơn, con biết ơn và con cũng mong sư phụ chỉ dạy cho con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ:
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.