Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tự Mình Tiến Lên 2 - Kinh Tăng Thượng - Tăng Chi Bộ

2026-03-03 00:52:43
TỰ MÌNH TIẾN LÊN 2

KINH TĂNG THƯỢNG - TĂNG CHI BỘ

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ngã tăng thượng PAGEREF _Toc113197735 \h 1

II.Thế giới tăng thượng PAGEREF _Toc113197736 \h 3

III.Pháp tăng thượng PAGEREF _Toc113197737 \h 11

Ngã tăng thượng

Này các Tỳ-kheo, có ba tăng thượng này. Thế nào là ba? Ngã tăng thượng, thế giới tăng thượng, pháp tăng thượng.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là ngã tăng thượng?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quan sát như sau: "Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): "Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, sự đoạn tận tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên (cho ta). Và ta đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy, lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia hay còn ác tệ hơn. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)

Ngã tăng thượng nghĩa là tự mình tiến lên. Người xuất gia đi vào rừng, gốc cây, trong ngôi nhà trống suy nghĩ, quán sát rằng không phải vì cơm áo mà từ bỏ gia đình. Không phải vì nhà cửa, chùa chiền, đất đai, xe cộ, tài sản vật chất mà ta bỏ cha bỏ mẹ. Vì sanh, già, bệnh, chết, vì sầu, bi, khổ, ưu, não, vì ta muốn đoạn tận tất cả sự đau khổ này cho nên ta mới sống đời sống không nhà. Những bài kinh này nên học thuộc lòng vì nó rất quan trọng, đây là đề mục cho chúng ta thiền tập. Vì ta đã xuất gia từ bỏ những dục vọng của thế gian nhưng tại sao vào tu ta lại đeo đuổi những tham muốn như vậy, còn tệ hơn lúc trước, còn nặng nề hơn trước khi đi tu. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta.

Vị ấy quan sát như sau: "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm". Vị ấy làm cho tăng thượng tự ngã, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tự ngã tăng thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)

Vị xuất gia ấy quán sát phải nỗ lực tinh tấn tiến lên, không sống đời sống thụ động, không thể sống đời sống lững lờ, vô cảm, vô ích mà ta phải nỗ lực tinh tấn, tinh cần, ta phải luôn an trú trong chánh niệm, không để cho thất niệm, không để mất đi sự quán sát thân thể, cảm giác nội tâm và những tham sân si phải luôn được nhiếp phục, luôn có sự chú tâm nỗ lực để đoạn tận các ác và bất thiện pháp. Thân thể của ta phải được nhẹ nhàng, khinh an, không dao động, mỗi cử chỉ hành vi phải an tịnh, lắng dịu, người xuất gia không thô tháo, không dao động, phải tập an tịnh, lắng dịu trong tất cả mọi cử chỉ hành vi, không chỉ trong thời ngồi thiền, khi làm gì phải hạn chế tối đa việc phát ra âm thanh, cho nên khinh an là thân của ta, không có dao động. Học những bài kinh này làm chúng ta thay da đổi thịt, thay xương đổi cốt, học cái này mới trở thành đa văn thánh đệ tử còn không vĩnh viễn và mãi mãi là vô văn phàm phu, chỉ khác ở cái đầu trọc và tấm y thôi còn bên trong giống người thế tục, thậm chí còn tệ hơn. Phải thực tập tâm an tịnh, định tĩnh, thuần nhất, không được huyên thuyên, tất cả đều phải được thực tập hành trì. Học Phật không phải chỉ là học kiến thức để làm học giả Phật giáo, điều này cư sĩ giỏi hơn mình, mình phải là một hành giả, đời sống của mình phải là đời sống biểu hiện của pháp, thực hành pháp, tất cả mọi sinh hoạt trú trong pháp, pháp là thức ăn của mình, là gường chõng, phòng ốc, chùa chiền của mình, pháp phải là hơi thở, là sinh mạng của mình. Tự ngã tăng thượng là tự mình tiến lên, bằng cách từ bỏ bất thiện, tu tập thiện pháp, những suy nghĩ xấu ác, tham sân si phải từ bỏ, dẹp trừ, những suy nghĩ từ, bi, hỷ, xả, khiêm hạ, khiêm tốn, nhúng nhường, từ ái thì tăng trưởng, phát triển cho quảng đại, làm cho nó thành cỗ xe, thành căn cứ địa, làm cho nó thành thành trì, thành lũy, tu tập tâm từ viên mãn, biến mãn cùng khắp trên dưới mười phương, thực hành quán bất tịnh mỗi ngày mỗi giờ để chứng nhập trí tuệ vô ngã, phát huy những thiện pháp, đó là làm cho chính mình tiến lên bằng cách diệt ác tu thiện. Minh Thành chọn lọc những tinh túy, tinh hoa trong cả một đại tạng kinh Nikāya để giới thiệu cho đại chúng, mọi người ghi âm lại để mở ra nghe hằng ngày để thuộc lòng. Tất cả các Tăng Ni trên Linh Quy Pháp Ấn đều học thuộc lòng kinh Tứ Niệm Xứ, ở Myanmar thuộc hết cả đại tạng kinh thì bài kinh Tứ Niệm Xứ này có là gì đâu mà mình không học được? Vì mình không học, không làm, mình nghĩ đó là khó, còn tại Linh Quy Pháp Ấn tất cả mọi người đều tụng kinh Nikāya thuộc lòng một tiếng mỗi buổi sáng, ngồi thiền cũng hô kinh Nikāya, tụng kinh cũng là Nikāya, học cũng là kinh Nikāya, ăn cơm cũng đọc trong kinh Nikāya theo cách ăn cơm của Đức Phật… tất cả đều lấy toàn bộ trong kinh Nikāya, trở về thời Đức Phật. Vào ngày 25/10/2020, tức nhằm ngày mùng 9/9/2020 âm lịch sẽ diễn ra khóa tu Nikāya lần thứ hai tại chùa Hoằng Pháp, Thượng Tọa trụ trì tạo điều kiện để mở khóa tu Nikāya lúc 7h sáng đến 4h chiều Chủ Nhật tại chùa Hoằng Pháp. Từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh, khi thấy cái gì có tội thì phải ngăn chặn, từ bỏ, khi thấy cái gì không có tội thì phải tu tập, ví như tâm tham, tâm sân là có tội, tâm bản ngã là có tội thì đừng đi theo cái tâm đó và phải từ bỏ tâm đó, từ bỏ nó là không tội.

Thế giới tăng thượng

Như thế nào, này các Tỳ-kheo, là thế giới tăng thượng?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: "Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): "Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể làm như vậy, đoạn tận của tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Và ta đã xuất gia như vậy, lại có thể suy nghĩ về dục tầm hay có thể suy nghĩ về sân tầm, hay có thể suy nghi về hại tầm. To lớn là đại chúng này sống ở trong đời. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)

Thẩm sát là quán sát một cách thẩm thấu, sâu sắc. Vì để đoạn tận tất cả khổ uẩn này nên mới đi xuất gia, mỗi khi sanh khởi lên những suy nghĩ về dục, ái, tham thì mình suy nghĩ "khi đã bỏ hết để đi xuất gia thì tại sao ta lại suy nghĩ về những thứ tham dục này?". Hằng ngày mình có tu tập, quán chiếu như vậy thì khi nó sanh khởi lên mới có khả năng nhiếp phục, còn mình không tu tập, không nhớ nghĩ, không quán sát nên khi nó sanh khởi lên sẽ dẫn dắt mình đi theo nó. Dục tầm là những suy tầm về dục, tìm kiếm dục, hướng tâm về dục vọng, tham ái. Khi quán sát được như vậy thì mình sẽ cắt đứt, ngăn chặn được những suy nghĩ đó, còn nếu không có chánh niệm tỉnh giác, không có sức mạnh của trí tuệ lực, không nhận diện ngũ uẩn thì nó sẽ dẫn dắt để mình trở lại lối mòn của ngày chưa xuất gia, thậm chí còn phát triển mạnh hơn cả khi chưa đi tu. "Tại sao ta đi tu rồi lại có những suy nghĩ về dục vọng như vậy?", tự quở trách, dò xét lại bản thân mình khi có những suy nghĩ về dục vọng, tham ái, đây là sự tác động tâm ý đúng như chân lý (Như lý tác ý), đây là phương pháp tu tuyệt đối quan trọng, nếu không biết cái này tu không bao giờ tiến bộ. Như lý tác ý là một sự trách tâm, la rầy, huấn luyện cái tâm, cái này gọi là chánh tư duy hoặc là thánh tư duy, tuệ lực… Làm sao để tu tập được pháp này? Minh Thành đã nói từ đầu, chính là thực tập ba pháp, thực tập nhận diện năm uẩn, thường nhìn lại cảm giác nghĩ tưởng trong tâm mới phát hiện tham dục ái sanh khởi, tại đó mình mới dùng Như lý tác ý đánh đuổi nó ngay lập tức, nếu không những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó sẽ dẫn mình đi vào ma đạo, tà đạo, đi vào con đường của tham dục ái. Cho nên Như lý tác ý cực kì quan trọng, trong Tăng Chi Bộ kinh, Đức Phật đã nói:

Này chư Hiền, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).

Tất cả pháp lấy sự tác ý làm cho sanh khởi, nếu không tác ý thì thiện pháp không sanh khởi, trí huệ không sanh khởi. Cho nên sự tác động tâm ý theo thiện pháp, theo chánh pháp, theo trí huệ là tuyệt đối quan trọng, mình ngồi đơ ra không tác ý thì không bao giờ trí huệ sanh ra được, phải tác ý bằng cách suy nghĩ, suy xét, quở trách tâm mình. Khi có những suy nghĩ về dục tầm như thích cái xe, cái áo đẹp, cái phòng rộng, thích cảnh đẹp, thích người đẹp… thì phải tác ý cho mạnh mẽ, dùng những từ ngữ mạnh nhất để đánh tan những suy nghĩ tham dục, tham ái đó thì gọi là Như lý tác ý, chánh tư duy, tuệ lực, thánh tư duy… Còn khi khởi lên mà mình nhập cuộc suy nghĩ theo luôn thì làm sao tu? Đó là tà tư duy, những suy nghĩ hướng về dục tham ái, những suy nghĩ cho rằng đây là tôi, đây là tự ngã của tôi cần phải thẳng tay trừng trị, diệt tận. Như vậy mới làm cho thế giới tăng thượng, trong kinh Nikāya từ thế giới dùng để chỉ ngũ uẩn: Sắc; thọ; tưởng; hành; thức và cũng là chính mình. "Ta đã xuất gia như vậy tại sao lại nghĩ về dục tầm. Thật là xấu hổ cho ta! Thật là nhục nhã cho ta! Thật là tội lỗi cho ta! Thật là đau khổ cho ta!". Mình phải có những sự tác ý rất mạnh, ở đây Minh Thành nói nhẹ thôi chứ thật ra phải tác ý rất mạnh, mình phải tác ý đến mức "lột cái y xuống đi rồi đội cái quần lên", khi có những suy nghĩ xấu ác phải tác ý như vậy, càng mạnh chừng nào thì mới sanh khởi sự tàm quý xấu hổ lớn chừng đó, mới đánh được ác pháp ra khỏi tâm, tác ý nhẹ nhàng không thể đánh thắng được nó vì cái dục này đã tồn tại vô lượng vô biên kiếp rồi, khi nó khởi rồi chỉ ngồi đó biết là nó khởi, không làm gì nữa là thất bại với nó, mình phải ra công gắng sức chiến đấu mạnh mẽ với nó. Mọi người đừng nghĩ Đức Thế Tôn ngồi im lặng dưới cội Bồ Đề 49 ngày rồi tự nhiên bừng lên thành Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài phải chiến đấu với dục vọng trong từng giây từng phút, vì vậy mà hình ảnh các ma nữ vừa thể hiện cho dục bên ngoài và cả bên trong, đó là hình ảnh của người vợ Da-du-đà-la, của La-hầu-la, hình ảnh của vương triều, của ngai vàng, Thái tử phải chiến đấu, dùng Như lý tác ý đánh đuổi những sự nhớ mong, thương yêu, luyến tiếc đó, chứ không phải như mình nghĩ đơn giản ngồi im ru rồi bừng lên là hoát nhiên đại ngộ, Ngài chiến đấu với từng tâm niệm, với từng suy nghĩ, cảm giác, hình bóng trong tâm. "Thật là xấu hổ cho ta! Thật là hèn hạ cho ta khi tu mà nói như vậy, suy nghĩ như vậy", phải tác ý để thấy sự xấu hổ, nhục nhã, tội lỗi khi có những tâm dục, tâm ái, tâm sân. "Thật là đau khổ cho ta khi tu lâu như vậy rồi mà sân si càng ngày càng to ra", tất cả đều dùng Như lý tác ý, tác động tâm ý bằng sự chỉ trích, la mắng.

Tự mình chỉ trích mình,

Tự mình dò xét mình,

Tỳ-kheo tự phòng hộ

Chánh niệm, trú an lạc.

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 379)

Tu mà lúc nào cũng nhìn ra ngoài thì đến khi nào mới thấy được tâm chính mình? Mình phải nhìn những cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng trong tâm thường xuyên và liên tục, phải nắm bắt được những cái tâm lậu hoặc đó, phải tẩy sạch nó ra khỏi thân tâm mình, Đức Phật gọi là chặt nó như chặt cây tala để không mọc trở lại thì mới đi đến chỗ lậu tận, đằng này lậu còn không biết thì làm sao đi đến chỗ tận được? Nó qua mặt mình suốt ngày, mình nhập chung rồi sống chung với nó luôn, khi giận mà người ta lại khuyên thì "đừng có nói gì hết" thì mình đã nhận giặc làm con. Mình không phân rõ ranh giới giữa địch và ta, tham sân si, vô minh và bản ngã là giặc mà nó khởi lên là nhập cuộc vào thì cái gì phân biệt địch và ta? Muốn vạch rõ ranh giới giữa mình và phiền não, giữa mình và vô minh, bản ngã, sân hận thì phải có sự quán chiếu nhìn nhận thân tâm miên mật thường trực, sự tu phải là như vậy chứ không phải tu là đợi đến đúng giờ lên công phu, lên chánh điện tụng niệm là xong. Phải nhìn rõ sắc; thọ; tưởng; hành; thức trong tâm, xem cái nào là tham rồi trị nó, cái nào là sân thì dập tắt, cái nào là si rồi phá tan nó trong mọi lúc mọi nơi, mọi thời mọi chốn, đó là Tứ Niệm Xứ cũng là thiền quán của đạo Phật, đó là tự ngã tăng thượng, thế giới tăng thượng, tự mình tiến lên siêu phàm nhập thánh. "Tại sao ta xuất gia đi tu lại có thể suy nghĩ hại tầm như vậy? Làm sao ta có thể suy nghĩ hại người khác như vậy?", tức người nào rồi nghĩ muốn hại người ta, muốn người ta khổ hoặc người ta gặp chuyện gì là mình mừng, mình thích "thật là tội lỗi cho ta khi có những ý niệm như vậy", những người mình ghét mà khổ là mình cười, mình thích, mình sung sướng trên sự đau khổ của người khác, chuyện này xảy ra rất nhiều, ngoài miệng không nói ra nhưng trong bụng thấy đã khi người mình không ưa không thích gặp chuyện "cho vừa", đó gọi là hại tầm, là bất thiện pháp mà mình không nhìn thấy nó, không diệt nó thì nó sẽ làm tổ trong thân mình, không diệt hại tầm thì tu tập từ tâm sẽ không viên mãn, khi tu tập tâm từ bị hại tầm làm chướng ngại, một người bình an tu tâm từ sẽ mở rộng nó ra làm vô lượng, còn mình đang tu tập mở rộng tâm từ mà hình bóng người mình ghét hiện ra chắn đường làm mình khựng lại, không mở tâm từ ra được nữa, nó là chướng ngại vật trong khi tu tâm từ. Người nào mình giận là dùng từ tâm giải quyết trong suy nghĩ, trong cảm giác hoàn toàn thì lúc tu tập tâm từ trải rộng ra khắp mười phương không bị chướng ngại. Minh Thành đã chia sẻ về việc quán tâm từ vô lượng cho 200 vị ở Linh Quy Pháp Ấn, một khi đã trải tâm từ rộng lớn thành thói quen rồi thì về nhà mình vẫn trải tâm từ xuyên thủng tường vách, trải xuống phương dưới sẽ xuyên qua hết đại địa, thời Đức Phật tu cái này rất bình thường còn bây giờ mình không tu nên thấy rất lạ, vì vậy phải diệt được tâm hại này, nếu nó còn thì mầm móng của hiểm họa sẽ còn, một ngày nào đó tâm hại sẽ giết mình chứ không phải người bên ngoài hại mình, chính cái tâm sân sẽ đốt thiêu mình, vì vậy diệt là diệt từ bên trong chứ không phải diệt ở bên ngoài. Bây giờ có người mắng chửi mình mà mình không giận thì mình có khổ không? Mình thường đổ thừa tác nhân bên ngoài người này, người kia, người nọ nhưng sự thật là do mình chưa diệt tận được tâm sân hận của mình mà thôi. "Tại món đồ đó đẹp nên tôi mới lấy", nếu không còn tham thì mình có lấy không? Đức Phật ví dụ cái cây bị cưa hay bị tróc vỏ thì bên trong cây đó chảy ra lớp nhựa cây, còn nếu cái cây đã khô hoàn toàn có làm gì cũng không chảy nhựa ra, người còn lậu hoặc, còn sân si, bản ngã thì chạm vào lậu hoặc sẽ rỉ chảy ra, còn người đã sạch hết tham sân si thì không thể giống như cây chảy nhựa, mình không lo làm sạch thân tâm mà cứ lo bên ngoài nên tu mãi không thành tựu.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây có nhựa, hoặc cây Bồ-đề (assattha), hoặc cây bàng (nigrodha), hoặc cây sanh (pilakkha), hoặc cây udumbara, hoặc một loại cây còn tươi. Rồi một người với cái búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Vì sao?

-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy có nhựa.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào còn có tham, còn có sân, còn có si, tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận; dầu chỉ có phần nhỏ, khi các sắc do mắt nhận thức đi vào trong tầm mắt nhận thức, chúng chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì cả phần lớn. Vì sao? Này các Tỳ-kheo, vì còn có tham, còn có sân, còn có si, và tham ấy chưa đoạn tận, sân ấy chưa đoạn tận, si ấy chưa đoạn tận... Ðối với các tiếng do tai nhận thức... Ðối với các hương do mũi nhận thức... Ðối với các vị do lưỡi nhận thức... Ðối với các xúc do thân nhận thức...

Này các Tỳ-kheo, đối với các pháp do ý nhận thức, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo ni nào không có tham, không có sân, không có si, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm của vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỳ-kheo, vì không có tham, không có sân, không có si, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây có nhựa, cây Bồ-đề hay cây bàng, hay cây sanh, hay cây udumbara đã khô héo, không có nhựa, đã quá mùa. Rồi một người với cây búa sắc bén chặt vào cây ấy. Nước nhựa cây ấy có chảy ra không?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Vì sao?

-- Vì rằng, bạch Thế Tôn, cây ấy không có nhựa.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với các sắc do mắt nhận thức, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào không có tham, không có sân, không có si... si ấy đã đoạn tận... Ðối với các pháp do ý nhận thức, tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận; dầu cho cả phần lớn, khi các pháp do ý nhận thức đi vào trong tầm ý nhận thức, chúng không chinh phục tâm vị ấy, còn nói gì chỉ có phần nhỏ. Vì sao? Này các Tỳ-kheo, vì không có tham ấy, không có sân ấy, không có si ấy, và tham ấy đã đoạn tận, sân ấy đã đoạn tận, si ấy đã đoạn tận. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, IV. Cây Có Nhựa)

Mình cứ tu ở hình thức bên ngoài, có người khác mới tu còn không có thì ngủ, thậm chí bây giờ có người khác ở đây mà cũng ngủ như thường thì làm sao tăng thượng, vượt lên chính mình được? Cho nên phải diệt tận những suy nghĩ dục tầm, sân tầm, hại tầm. Ở đây Đức Phật đưa ra những cái chủ chốt chứ thực tế còn rất nhiều những cái khác: Đố kị, ganh tị, nhỏ mọn, mưu mô, lừa dối… cái tâm lậu hoặc của chúng sanh cực kì khủng khiếp. Khi tu ngũ uẩn, ngồi thiền nhìn vào nội tâm rồi sẽ bất ngờ vì không ngờ nó ghê gớm đến vậy, nhìn ra được cái tâm lậu hoặc sẽ thấy chán chê, ê chề, ngao ngán lắm, không còn muốn gì trên đời này nữa mà chỉ muốn chấp dứt hết tất cả những thứ cấu nhiễm đó, dập tắt các lậu hoặc, đó là trí huệ của bậc hướng Dự lưu cho đến Nhập lưu thánh quả, con mắt trí huệ mở ra phải đến mức độ đó, khi đã nhìn ra được lậu hoặc chính mình và chúng sanh thì vĩnh biệt luân hồi, không muốn trở lại nữa, đoạn tận sanh tử vì ngũ uẩn này rất ghê gớm, trước mặt thì ngọt ngào còn sau lưng lại cầm dao phòng thủ, bản chất của ngũ uẩn là dối trá, rõ ràng mình nói là mình tu nên không sân giận mà giờ gặp chuyện có giận không? Rõ ràng mình nói mình tu là không tham nhưng gặp chuyện vẫn tham, vậy là thân này dối lừa mình, nó mâu thuẫn với chính mình, đó là bản chất của ngũ uẩn, mới nói như vậy mà lát sau đã khác, cho nên chính mình nói với mình còn vậy thì làm sao nói với người ta như vậy được? Vì vậy Đức Thế Tôn đã nói trong kinh Pháp Cú:

Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa.

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)

Khung sườn của thân này làm bằng xương, quét tô bên ngoài là thịt và máu, lớp da bọc bên ngoài, còn bên trong là già, bệnh, chết, ngã mạn, ta đây. Kẻ ăn mày cũng có ngã mạn của kẻ ăn mày, con chó cũng có bản ngã của nó, con chó bên này sủa thì con bên kia cũng sủa mà còn sủa to hơn… Con nào cũng có bản ngã nên mới vào thân ngũ uẩn, còn vô ngã thì đã đến Niết-bàn, vì vậy khi phát hiện ra những thứ này rất xấu hổ nên bước đi sẽ cúi xuống, đó là thánh, bắt đầu bước vào thánh đạo, còn ngước lên, hất mặt lên vẫn còn là phàm, chỉ có tu mới có con đường xuất ly để đi ra.

Trong đại chúng sống ở đời, có các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thể thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Chúng biết về ta như sau: "Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện". Lại có các chư Thiên có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Các vị ấy có thể biết về ta như sau: "Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)

Đoạn kinh này ý nói trong đại chúng của Đức Phật, những bậc tu chánh pháp có thần thông đọc được suy nghĩ người khác. Vì cái tưởng của mình có hình ảnh, suy nghĩ, có âm thanh, cho nên những vị tu chứng đạt hoặc là các vị long thần, sơn thần, địa thần thấy được những suy nghĩ, các tưởng của mình nên đừng nghĩ không ai biết mình đang nghĩ gì. Họ thấy hết mình đang nghĩ gì, đang có hình bóng gì trong tâm, mình nói gì họ đều nghe. Bất cứ lúc nào ở một mình cũng có hàng chục cặp mắt nhìn mình chứ đừng nghĩ không có ai thấy, không ai biết. Lại có các chư Thiên có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng, tức là họ có ở gần mình thì mình cũng không thể biết được, hiện tại bây giờ long thiên hộ pháp, chư thiên đang nghe pháp ở đây mình cũng không thấy được. Làm sao mình thấy được họ? Ngoài mình ra còn có những chúng sanh khác ở thế giới khác đến đây, trong khóa tu Nikāya trên núi Linh Quy, có một chú tiến sĩ ở Hà Lan cũng học kinh Nikāya hơn 10 năm, chú dẫn chị của chú lên núi tu 7 ngày. Cô này có người âm theo, sắp đến giờ giảng pháp cô vừa lạy vừa khóc 40 phút, xin gặp thầy trụ trì nên con ra gặp. Cô nói "thưa thầy, con sợ quá, con muốn vào nghe pháp mà long thiên hộ pháp đầy rẫy trong hư không làm con không vào được. Con xin phép thầy cho con vào để nghe pháp", cô khóc nức nở, sau đó Minh Thành đồng ý cho cô vào "dạ, được". Khi xong thời pháp rồi cô ngã xuống không biết gì hết, nghĩa là lúc thời pháp diễn ra thì có người mượn thân xác của cô để vào nghe còn bản thân cô không biết gì, hỏi cô lúc đó cô ở trạng thái ra sao thì cô nói chỉ nghe văng vẳng tiếng gì trong hư không nhưng không biết âm thanh đó là gì, lúc đó không phải là cô đó nữa. Cho nên mình đừng tin vào mắt thấy tai nghe của mình, ngoài thế giới loài người còn có thế giới khác, mình phải cẩn thận trong sự tu học, đừng nghĩ ở chỗ vắng rồi muốn làm gì thì làm, địa thần, thổ thần, sơn thần ở đó, thần cây, thần núi, thần rừng ở đó, các phi nhân, vong linh ở đó rất nhiều. Chính vì vậy trong kinh nói có các chư Thiên có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa… họ có thể thấy từ khoảng cách rất xa, nửa vòng Trái Đất hoặc ở thế giới khác họ vẫn có thể biết được mình đang nghĩ gì, trong tâm mình đang có cái tưởng gì, dù cho vị đó ở gần mình cũng không thể biết được họ. Các vị ấy có thể biết về ta như sau: "Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện." Như vậy trong phần thế giới tăng thượng nói rằng mình phải từ bỏ dục tầm, sân tầm, hại tầm, phải biết rằng ngoài loài người chúng ta còn các chư thiên, chư thần, những phi nhân, những chúng sanh khác có thần thông, có tha tâm thông nhìn thấy được mình, nếu mình tu học không đúng họ sẽ cười chê, "tại sao mình đi tu lại còn chất chứa những tâm niệm như vậy?".

Vị ấy lại quan sát như sau: "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm". Vị ấy làm cho tăng thượng thế giới, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thế giới tăng thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)

Tinh tấn nỗ lực, không thụ động, an trú chánh niệm, không có thất niệm, khinh an không dao động, định tĩnh để đạt đến nhất tâm. Từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thế giới tăng thượng, tu tập được như vậy thì cảnh giới của mình càng được lên cao.

Pháp tăng thượng

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là pháp tăng thượng?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: "Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): "Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, đoạn tận tất cả các khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả ngay tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Nay ta có những người đồng Phạm hạnh, chúng sống biết và thấy. Ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta". (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, 40.- Tăng Thượng)

Phải suy nghĩ rằng mình đi tu vì muốn chấm dứt sầu, bi, khổ, ưu, não, diệt tận tham sân si, đoạn tận tất cả đống khổ ngũ uẩn này. Những câu kinh này rất thấm thía, phải chiêm nghiệm nhắc nhở bản thân hằng ngày. Chỉ cần nhiếp phục được tham là mình bớt khổ, nhiếp phục được sân là giảm khổ, phá được si mê hết khổ, đó là pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả ngay lập tức, đến để cảm nhận được, có khả năng làm mình hướng thượng, người nào có trí huệ, thực hành rồi tự mình sẽ giác ngộ, sẽ thấu hiểu. Nay ta có những người đồng Phạm hạnh, chúng sống biết và thấy, tức là biết trí huệ và thấy chân lý. Bây giờ ta đã xuất gia bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ gia đình, bỏ tất cả để ở trong pháp và luật được khéo giảng mà không lẽ ta lại sống biếng nhác, buông lung phóng dật? Như vậy pháp tăng thượng là sự tăng tiến trong thánh pháp, sự hướng thượng trong chánh pháp, sự bước lên trong trí huệ mà Đức Phật đã truyền trao. "Chẳng lẽ ta bỏ nhà đi tu để vào đây ăn ngủ hay sao? Để được sống nhàn nhã sao? Để thoát khỏi cảnh cực khổ giống những người cùng tuổi với ta sao? Chẳng lẽ ta tu để sống đời sống biếng nhác, sống qua ngày đoạn tháng sao? Như vậy thật xấu hổ, nhục nhã, thấp hèn, sự xuất gia của ta phải có thành tích, có thành công". Sự xuất gia của chúng ta phải có lợi ích, có ý nghĩa, có giá trị. Sự xuất gia của chúng ta phải thành tựu thánh đạo, thánh trí, thánh quả, thánh pháp. Sự xuất gia của chúng ta phải tiến lên, vượt lên chính mình. Sự xuất gia của chúng ta phải làm cho quang tông diệu tổ.

Tiếp ánh sáng, nối mùi hương,

Rạng rỡ Tổ đăng, huy hoàng Phật nhật.

Sự xuất gia của chúng ta phải báo đáp bốn ân, cứu giúp ba cõi. "Ta không thể làm người xuất gia biếng nhác, giải đãi như vậy. Ta phải tăng thượng trong pháp, thành tựu pháp, chứng đạt pháp, giác ngộ giáo pháp, hoằng truyền chánh pháp", mình phải luôn nhắc nhở bản thân như vậy thì mới tăng thượng trong pháp. Người xuất gia phải có được cốt lõi của trí tuệ, không phải chỉ là vỏ cây bên ngoài, thậm chí đến giờ oan nghi tế hạnh bên ngoài còn không có được thì làm sao có được cái lõi? Oai nghi không có, đây là sự đau lòng, con xuất gia được 30 năm mà mỗi cử chỉ hành động đều phải xem có được hay không, không dám lơ là cẩu thả, khi con nói một điều gì đó với các chú làm việc chung mà con thấy điều đó không được là con phải nhắn tin xin lỗi. Đến bây giờ sau khi đã xuất gia 30 năm mà vẫn thấy oai nghi của mình vẫn chưa đầy đủ, không dám xem thường, đó chỉ mới là vỏ ngoài của phạm hạnh thôi. Con rất quý kinh các thầy, các cô trẻ, con thấy những vị không được giáo dục đào tạo, không được nhắc nhở thì rất đau lòng, con không giận mà rất thương, vì sự xuất gia như vậy là đại thảm họa cho tự thân người đó, sau khi nhắm mắt sẽ đau khổ lâu dài trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Người tu rất dễ đọa tam đồ ác đạo hơn người đời vì sự nhận cúng dường của mình rất khủng khiếp, người ta cho mình một bữa ăn thì mình có thiếu nợ họ không? Ngoài đời đãi một bữa ăn thì người đó phải tìm dịp đãi ngược lại để trả nợ, còn mình đã ăn bao nhiêu bữa? Không những được ăn mà họ còn quỳ lạy mình, những người đó có khi đáng tuổi ông bà, cha mẹ mình. Chỉ bao nhiêu đây thôi cũng đủ để ghê sợ rồi mà có những người không hề biết suy nghĩ gì cả, không hề lo sợ, thấy chuyện đó rất bình thường, nếu người xuất gia không đắn đo suy nghĩ thật kĩ là đại thảm họa, rất nguy hiểm. Thưa thật nếu ở Linh Quy mà con chịu nhận là có đến 50 người xuất gia, khi thấy người đó không có đức hạnh, nết hạnh, không có đủ tiêu chuẩn của một người có nhân cách đạo đức là con không nhận, những người đó phải hơn người bình thường. Vậy mà những người con nhận cũng rơi rớt, xuống núi rất nhiều, vì vậy phải trải qua 5 năm tập sự xuất gia mới được cạo tóc, có những trường hợp được cạo tóc rồi ra đi, năn nỉ phải cạo, vậy mà cạo rồi lại bỏ đi nhưng con vẫn thương. Con rất thương các vị Tăng Ni vì điếc không sợ súng, súng bắn ầm ầm bên tai nhưng vì điếc có biết gì đâu, còn người có tai thính mới biết sợ.

Chính những bài học này là những bài học cực kì quan trọng cho chúng ta, con biết có những cô không được vui "sao thầy làm gì nghiêm trọng quá vậy?", nhưng thời gian sau khi các cô lên lớn tuổi rồi thì những lời này sẽ là một phần nào tư lương trong đời tu. Không ai thích nghe điều nặng nề, nghiêm trọng, người ta chỉ thích vui cười nhưng cái đó không phải là pháp. Lời thật khó nghe, gây cảm thọ khó chịu nhưng có lợi ích cho mình, nó trị cho mình hết bệnh, nó chỉ cho mình thấy chân lý vì vậy đừng ham thích nghe những lời êm dịu, ngọt ngào, đó là ái. Mục đích của người xuất gia là cầu pháp, cầu sự thật, cầu chân lý mà những lời này rất ít người nói cho nghe. Phải biết lo lắng và sợ hãi những ác, bất thiện pháp trong tâm mình, phải run sợ, khiếp sợ, mỗi ngày phải dập đầu lạy sám hối, điều chỉnh, sửa đổi, còn không là đại thảm hòa, cực kì nguy hiểm. Chẳng thà mình là cư sĩ, đi cày sâu cuốc mướn, đổ mồ hôi kiếm tiền rồi lấy tiền đó ăn uống, sinh hoạt, còn mình đã nhận cúng dường mà tu không có giới hạnh, không có thiền định, không có trí huệ thì chắc chắn sẽ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mọi người phải cố gắng lên!

./.