Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

MẬT MÃ THẾ GIỚI 10 - BẢY MẶT TRỜI - BỊ BỐC CHÁY

2026-03-03 00:52:43
Kinh Nikāya Thiền Quán

MẬT MÃ THẾ GIỚI 10

BẢY MẶT TRỜI – BỊ BỐC CHÁY

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Mặt Trời” PAGEREF _Toc89180607 \h 1

1.Các hành là vô thường PAGEREF _Toc89180608 \h 1

2.Sự đốt cháy của bảy mặt trời PAGEREF _Toc89180609 \h 2

II.Bài kinh “Bị Bốc Cháy” PAGEREF _Toc89180610 \h 8

1.Tất cả đều bốc cháy PAGEREF _Toc89180611 \h 8

2.Thoát khỏi ngọn lửa đang bốc cháy PAGEREF _Toc89180612 \h 13

Bài kinh “Mặt Trời”

Chúng ta hãy hướng tâm vào trong cảm thọ để những lời dạy của Đức Phật đi sâu vào trong cảm giác, cảm xúc của chính tự thân mình, từ đó thấm đượm được trí tuệ mà Đức Thế Tôn truyền trao cho chúng ta.

Các hành là vô thường

Trong Tăng Chi Bộ Kinh III, bài kinh “Mặt Trời”, Đức Phật có dạy:

Một thời Thế Tôn ở Vesàlì, tại rừng Ambapàli.

Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

- Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường.

Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố.

Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn.

Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành.

Đức Phật nói rằng mọi sự vận hành của vạn vật, hiện tượng đều ở trong trạng thái đổi thay, dịch chuyển, biến hoại. Tất cả mọi hình sắc, thân xác, đồ vật, cảnh vật xung quanh và cả trái đất, vũ trụ này đang dịch chuyển, đang thiên lưu, đang biến hoại, đang đổi dời, đang đổ vỡ, đang đi đến chỗ biến hoại, băng hoại, hủy hoại, tan hoại và đổ nát. Mọi sự vận hành đều không thường còn, tất cả là đổi thay, bất chợt, bất ngờ, bất thường, bất thình lình, đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử. Mọi sự vận hành của năm uẩn: hình sắc, cảm xúc, hình bóng trong tâm, suy tư, nghĩ ngợi, nhận thức, rõ biết… đều là vô thường, không bền chắc, không kiên cố, luôn dịch chuyển, thiên lưu, tan nát, hủy hoạt, băng hoại, biến hoại, hư hoại. Tất cả mọi sự vận hành này đều là bất an, bất trắc, bất thường, bất định, không an ổn, không kiên cố, không trường cửu, mà luôn nằm trong lo lắng, sợ hãi, khổ sầu, khổ đau.

Cho đến như vậy là vừa đủ để lìa tham và thoát ra mọi sự vận hành trong năm uẩn. Cho đến như vậy là vừa đủ để chúng ta nhàm chán. Cho đến như vậy là vừa đủ cho chúng ta yểm ly, viễn ly, xả ly, xuất ly, đoạn ly. Cho đến như vậy là vừa đủ cho chúng ta ly tham, lìa dục, không còn tham muốn. Cho đến như vậy là vừa đủ cho chúng ta thoát khỏi quy luật vô thường khắc nghiệt của ngũ uẩn, sự oan nghiệt của dòng luân hồi này.

Sự đốt cháy của bảy mặt trời

Núi chúa Sineru, này các Tỷ-kheo, dài 84 ngàn do tuần, rộng 84 ngàn do tuần, chìm xuống biển lớn 84 ngàn do tuần, nổi lên trên biển lớn 84 ngàn do tuần.

Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, trời không mưa. Khi không có mưa, các loài chủng tử, các loài thực vật, các rừng rậm dược thảo đều khô héo cằn cỗi không có tồn tại.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Đức Phật nói núi Sineru to lớn, vĩ đại, cứng chắc, kiên cố, sâu dày như vậy nhưng khi không có mưa trong một khoảng thời gian thì những loài có hạt giống, những loài thực vật, cây cối, rừng rậm, cỏ thuốc, dược thảo đều bị khô héo, cằn cỗi, biến hoại, không thể sống nổi. Cho nên, mọi sự vận hành là vô thường; mọi sự vận hành là không kiên cố, không bền chắc; mọi sự vận hành là bất an, lo lắng, sợ hãi, khổ sầu. Như vậy là vừa đủ để cho chúng ta nhàm chán, ly tham, không còn tham muốn đối với những hình sắc, cảm giác, hình dáng, suy tư, nghĩ tưởng và nhận thức. Như vậy là vừa đủ để chúng ta giải thoát đối với tất cả mọi sự vận hành trong ngũ uẩn và tứ đại này.

Như vậy, khi trời không mưa trong nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm, khắp nơi đại hạn thì tất cả cây cỏ, dược thảo đều chết hết như vậy thì huống hồ gì là con người. Khi đó, tất cả sẽ đi đến chỗ biến hoại, khô cằn, hủy diệt.

Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ hai hiện ra.

Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ hai có mặt, thời tất cả sông nhỏ, ao nhỏ khô cạn, khô kiệt, không có tồn tại.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ ba hiện ra.

Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ ba có mặt, thời các sông lớn như sông Hằng, sông Yamunà, Aciravatì, Sarabhù, Mahì, các con sông ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Cùng một lúc ba mặt trời xuất hiện trên trái đất này. Khi đó, các dòng sông lớn như sông Hằng bị khô kiệt, cạn kiệt, không còn nước nữa, như vậy là vừa đủ để các vị nhàm chán. Bởi vì sự vận hành của sắc uẩn, sắc pháp, hình sắc, trái đất là vô thường, là không kiên cố, là bất an, là đáng để nhàm chán, là đáng để không tham, là đáng để thoát ra, bước ra, đi ra, từ bỏ.

Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ tư hiện ra.

Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ tư hiện ra, thời các biển hồ lớn, từ đấy các sông lớn chảy ra, ví như Anotattà, Sìhapapàtà, Rathakàrà, Kannamunda, Kunàlà, Chaddantà, Mandàkinì, các biển hồ ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Đầu tiên là các dòng sông nhỏ, ao nhỏ khô cạn, rồi sau đó đến các sông lớn cạn kiệt và khi mặt trời thứ tư xuất hiện thì tứ đại hải dương: Thái Bình Dương, Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương đều khô cạn, khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, các hành là vô thường, sự vận hành của tứ đại đổi thay, dịch chuyển, thiên lưu, biến hoại, hư hoại, hoại diệt, tan hoại, băng hoại, hủy hoại như vậy khi mặt trời thứ tư xuất hiện.

Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ năm hiện ra.

Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm có mặt, thời nước các biển lớn rút lui một trăm do tuần, nước các biển lớn rút lui hai trăm do tuần, các nước biển lớn rút lui ba trăm do tuần... Nước các biển lớn rút lui bảy trăm do tuần; nước các biển lớn dừng lại sâu đến bảy cây sàla, sáu cây sàla, năm cây sàla, bốn cây sàla, ba cây sàla, hai cây sàla, chỉ một cây sàla. Nước biển lớn dừng lại, sâu đến bảy đầu người, sâu đến sáu đầu người, năm đầu người, bốn đầu người, ba đầu người, hai đầu người, một đầu người, nửa đầu người. Nước các biển lớn dừng lại, sâu chỉ đến eo lưng của người, chỉ đến đầu gối của người, chỉ đến mắt cá của người.

Ví như này các Tỷ-kheo, vào mùa thu khi trời mưa hạt lớn, chỗ này chỗ khác, trong các dấu chân của các con bò cái, có những vũng nước nhỏ đọng lại.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, chỉ còn những vũng nước nhỏ trong dấu chân các con bò cái là nước của biển lớn còn lại, chỗ này chỗ kia.

Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, nước biển lớn chỉ bằng độ ngón tay.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Tứ đại hải dương khi mặt trời thứ năm xuất hiện chỉ còn lại vũng nước bằng dấu chân bò.

Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ sáu hiện ra.

Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chúa Sineru, sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên.

Khi mặt trời thứ sáu xuất hiện, trái đất sẽ bốc khói, đại địa sẽ thổi khói, phun khói lên.

Ví như, này các Tỷ-kheo, các lò của người thợ gốm mới đốt lửa lên, sanh khói lên, phun khói lên.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chúa Sineru sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Cả đại địa, cả quả đất này trở thành núi lửa. Cả đại địa bốc khói khi sáu mặt trời xuất hiện cùng một lúc. Như vậy, mọi sự vận hành ở trong hình thể, hình hài, thân xác, đồ vật, cảnh sắc, sắc tướng, tứ đại, trái đất đều là vô thường, không thường còn, không thường trú, không thường hằng, không trường cửu mà luôn biến dịch, thiên lưu, vận hành, đổi dời, đi tới để rồi hư hoại, bại hoại, biến hoại, tan hoại và hoại diệt. Cả đại địa, cả trái đất này còn trở thành núi lửa, cả rừng rậm trên toàn địa cầu này còn khô kiệt, diệt vong, tất cả nước của tứ đại hải dương chỉ còn lại một vũng bằng dấu chân bò… thì sắc thân nhỏ bé, yểu thọ, khát ái này làm sao có thể đứng vững trong sự vận hành vô thường, khắc nghiệt, khốc liệt của thành trụ hoại không, sanh trụ hoại diệt, sanh già bệnh chết.

Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ bảy hiện ra.

Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ bảy hiện ra, trái đất lớn này và núi chúa Sineru bốc cháy, rực cháy, trở thành một màn lửa.

Khi mặt trời thứ bảy xuất hiện, toàn thể địa cầu, toàn thể đại địa, toàn thể mặt đất này và núi chúa Tu Di bốc cháy, rực cháy và trở thành một màn lửa, một quả cầu lửa.

Và khi quả đất lớn này và núi chúa Sineru cháy đỏ lên, cháy rực lên ngọn lửa do gió thổi bốc cao đến Phạm thiên giới. Các chóp ngọn của núi Sineru, cao đến một, hai, ba, bốn, năm trăm do tuần, khi bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, bị cả khối lửa to lớn phá hoại và chinh phục, liền sụp đổ xuống.

Đỉnh chóp của núi chúa Tu Di bị cháy đỏ lên, cháy rực lên và cả khối lửa to lớn đó bùng vỡ ra, sụp đổ xuống.

Sau khi quả đất lớn và núi Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen.

Ví như, này các Tỷ-kheo, khi bơ và dầu được cháy đỏ, được cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi quả đất lớn này và núi chứa Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen.

Sự vận hành của sắc thân, đồ vật, cảnh vật, tứ đại, trái đất này là không thường còn, là không bền chắc, là tan vỡ, là tan hoại, là tan nát, là tan rã, là tiêu tan, tiêu ma, hoại diệt, hủy hoại, hủy diệt, băng hoại. Mọi sự vận hành trong sắc uẩn, sắc tướng, sắc pháp, sắc chất này là đi đến sự đổ vỡ, tan nát, bại hoại, tiêu vong, diệt vong, hủy diệt. Sự vận hành của sắc uẩn, của tổ hợp sắc chất, của cả hành tinh này còn trở thành quả cầu lửa, huống hồ chi tấm thân nhỏ bé do dục ái sanh ra, do vô minh kết thành, yểu thọ, nhỏ nhoi, ngắn ngủi này làm sao có thể đứng vững được.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố.

Tất cả mọi thứ: thân, tâm, cảnh, căn, trần, thức, xúc, ái, thọ, những cảm giác, suy tư, nghĩ tưởng… là đổi dời, đổi thay, biến dịch, không kiên cố. Mọi sự vận hành này là bất an, không an ổn, phải luôn lo lắng, suy tư, nghĩ ngợi, toan tính để giữ gìn, nắm giữ, chiếm hữu những thứ vô thường, bệnh tật, già nua, chết chóc, khổ đau.

Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn.

Các hành là không an ổn, các hành là bất an. Sắc hành là bất an – sự vận hành trong sắc thân này là bất an, lo lắng, sợ hãi, khổ sầu.. Sự vật hành trong những đồ vật: tiền bạc, của cải, nhà cửa, xe cộ, ruộng vườn này là bất an, là lo lắng, là sợ hãi. Sự vật hành trong cảnh vật này là bất an: đồi sạt, núi lở, lũ lụt, hỏa hoạn, dịch bệnh, thiên tai, sóng thần, động đất. Sự vận hành của ngũ uẩn này là không kiên cố. Mọi sự vận hành trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là bất an, bất ổn, bất trắc, bất thườn, bất định.

Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, ai là người có thể nghĩ rằng, ai là người có thể tin rằng: "Quả đất này và núi chúa Sineru sẽ bị đốt cháy, sẽ bị hủy hoại, sẽ không còn tồn tại nữa", trừ những người đã được chứng kiến. (Tăng Chi Bộ Kinh III, 7. Chương Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, bài kinh Mặt Trời)

Chỉ có Như Lai và các bậc Thánh thuở xưa đã chứng kiến. Ngoài ra, không ai có thể suy nghĩ được trái đất này sẽ trở thành một quả cầu lửa, cả đỉnh Everest có thể bốc cháy, đổ nát trong đống lửa đỏ, cả núi Tu Di sụp đổ, cả quả địa cầu bốc cháy và cũng không ai có thể suy nghĩ được sẽ có bảy mặt trời sẽ xuất hiện cùng một lúc. Không một ai tin được điều đó trừ những người đã chứng kiến. Và chính Đức Thế Tôn đã thấy, đã biết, đã chứng kiến điều đó xảy ra và nói lại cho các vị sau này nghe. Qua đó, chúng ta thấy được một trí tuệ thâm sâu, thăm thẳm, dài sâu và rộng lớn, bao trùm vô lượng đại kiếp trong sanh tử vừa qua của Như Lai.

Bài kinh “Bị Bốc Cháy”

Phần trên nói về sự bốc cháy bên ngoài địa cầu, tiếp theo chúng ta sẽ thiền quán về sự bốc cháy trong thân tâm của chính mình.

Tất cả đều bốc cháy

Bài kinh “Bị Bốc Cháy”, Tương Ưng Bộ IV, Đức Phật có dạy:

Một thời Thế Tôn trú ở Gàya, tại Gàyasìsa cùng với một ngàn Tỷ-kheo.

Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Tất cả, này các Tỷ-kheo, đều bị bốc cháy. Và này các Tỷ-kheo, tất cả cái gì đều bị bốc cháy?

Mắt, này các Tỷ-kheo, bị bốc cháy. Các sắc bị bốc cháy. Nhãn thức bị bốc cháy. Nhãn xúc bị bốc cháy. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não...

Đức Phật nói rằng, mắt bị bốc cháy, các hình sắc – đối tượng của mắt: người đẹp, món đồ đẹp, cảnh đẹp bị bốc cháy; sự rõ biết những hình sắc – nhãn thức bị bốc cháy. Con mắt, các sắc, sự rõ biết các sắc – ba pháp này giao thoa là sự tiếp xúc của con mắt tức là nhãn xúc và nhãn xúc này cũng bị bốc cháy. Khi ba pháp này tiếp xúc như vậy thì sanh khởi ra cảm thọ: cảm thọ thích hoặc không thích, ưa hoặc không ưa, muốn hoặc không muốn, những cảm thọ lạc vui, những cảm thọ khổ, những cảm thọ không vui không khổ… và các cảm thọ này cũng bị bốc cháy. Khi tiếp xúc với cái đẹp thì cảm giác tham dục bốc cháy. Khi con mắt nhìn thấy thứ khó chịu hoặc cái xấu thì cảm giác sân hận bốc cháy. Khi con mắt nhìn thấy thứ không đẹp không xấu thì cảm giác si mê bốc cháy. Như vậy, những cảm thọ đó bị bốc cháy bị lửa tham, lửa sân, lửa si; bị bốc cháy bởi những cảm giác thúc giục; bị bốc cháy bởi những cảm giác yêu thích, ưa muốn, ham muốn, nắm giữ, dính mắc, bám víu, chiếm hữu, thương yêu, yêu thích, mong muốn, khao khát, thèm thuồng, ái luyến, khái ái; bị bốc cháy bởi ngọn lửa bức xúc, bực bội, bực dọc, bực mình, bực quạo, bực tức, sân hận; bị bốc cháy khi nhìn thấy những thứ không vừa ý, gai con mắt, chướng lỗ tai… Như vậy, tất cả đều bị bốc cháy trong ngọn lửa của tham, sân, si.

Chính vì bị bốc cháy trong dục vọng, dục ái, dục tham, dục mê, dục si, dục buồn, dục nhiệt não nên ngũ uẩn này bị sanh ra, bị tái sanh, bị lôi vào guồng máy của sanh tử. Vì sức đẩy của dục tham nên bị sanh ra với tiếng khóc “oa oa” qua con đường dơ hôi, bẩn thỉu, hèn hạ, thấp kém, dơ bẩn. Sau khi sanh ra thì bị lo lắng, bị khao khát chi phối và xâm chiếm. Vì khát ái mà sanh ra một tâm nghèo thiếu, nghèo hèn, nghèo khổ, thèm thuồng khao khát, dục vọng. Bên cạnh đó luôn bị khát ái hành hạ, bị sự thèm thuồng hành hạ, đay nghiếng, dày vò. Cả cuôc đời phải chịu đau khổ vì sự mong cầu, tìm cầu mà không được; đau khổ vì yêu thương phải chia lìa; ghét thù phải gặp gỡ. Lúc nào cũng muốn hủy diệt, thiêu rụi, hủy hoại, đốt cháy, phóng hỏa, chiếm hữu, tranh giành, tranh đua, cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh, cướp giật, cướp đoạt và cuối cùng chỉ toàn đau khổ.

Sau khi đau khổ cả đời thì lại bị già nua, bệnh tật đốt cháy. Đầu tóc bị đốt cháy đến bạc trắng; da bị đốt cháy đến nhăn nheo; mắt bị đốt cháy đến mù mờ, không thấy gì nữa; lỗ tai bị đốt cháy đến điếc tai, lãng tai; thân người bị đốt cháy đến lưng còng, gối mỏi, mắt mờ, tai điếc. Đến cuối cùng phải nằm trên đống phân và nước tiểu của chính mình. Kế tiếp là bên trong tâm, suốt ngày bị những cảm giác bức xúc, sân hận, bất mãn, bất toại nguyện, bực mình dày xéo, hành hạ, bốc cháy. Từ đó dẫn đến biết bao sầu bi, đau khổ, lo lắng, bất an, sợ hãi, tạo nghiệp và lãnh lấy quả báu khổ của dị thục là bất khả tư nghì, không thể tưởng tượng nổi. Đó là sự bốc cháy của sanh, già, bệnh, chết. Và sau tất cả, sự bốc cháy cuối cùng để kết thúc một kiếp sống của sắc uẩn này là ngọn lửa trong lò hỏa táng. Đó là sự bốc cháy cuối cùng của sắc thân này và cái nhận được là một mâm tro, một đống tro, một hũ tro. Chính vì vậy, Đức Phật tuyên bố “Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não”.

Thật là tội nghiệp cho chúng ta, thật là đáng thương cho chúng ta, thật là đau khổ cho chúng ta khi phải chịu những sự bốc cháy từ bên trong lẫn bên ngoài. Chúng ta bị thiêu đốt, thiêu rụi, thiêu cháy, thiêu hủy không ngừng nghỉ bởi ngọn lửa tham, sân, si này. Và đáng thương nhất trong tất cả sự đáng thương là đang bị bốc cháy mà không biết mình đang bốc cháy. Chúng ta như những đứa trẻ thơ đang chạy loanh quanh, đùa giỡn trong một ngôi nhà đang bốc cháy. Chúng không biết đâu là lửa, không biết đâu là sự nguy hiểm và tác hại của lửa, rồi cứ vô tư, ngu ngơ, ngu muội, si mê, vô minh, dại khờ. Đáng thương cho sự ngu muội này, đáng thương cho sự si ám này, đáng thương cho sự dại khờ này, đáng thương cho sự vây khốn trong biển lửa, trong quả cầu lửa, trong cảnh sắc lửa, trong những món đồ bốc cháy rực lửa này.

Tất cả mọi thứ đều đang bị bốc cháy: nhà bốc cháy, ruộng bốc cháy, xe bốc cháy, tiền bốc cháy, vàng bạc bốc cháy, đô la bốc cháy, sổ hồng, sổ đỏ, sổ xanh bốc cháy. Thân xác này bốc cháy, con mắt này bốc cháy, lỗ tai này bốc cháy, lỗ mũi, cái lưỡi, đôi môi này bốc cháy. Tất cả đều bốc cháy trong sự bất mãn, bất toại nguyện; bốc cháy trong sự thèm khát, khao khát, tìm kiếm, truy đuổi; bốc cháy trong sự ước ao, ước mơ, hy vọng, đợi chờ; bốc cháy trong một nội tâm nghèo hèn, hèn hạ, thiếu thốn, khao khát, khát ái… Đó là sự bốc cháy từ trong lẫn ngoài, từ ngoài vào trong.

Thật là đáng thương cho chúng ta! Thật là đau khổ cho chúng ta! Chúng ta cứ đùa giỡn trong căn nhà đang bốc cháy. Dù bị thiêu đốt như vậy nhưng vẫn cứ hơn thua, mưu sĩ, mưu tính, mưu hại, giành giật, đấu đá trong căn nhà bốc cháy để giành những món đồ chơi bằng đất sét, bằng nhựa, bằng mũ. Thậm chí, vì tranh giành, ganh đua mà những vụ việc đâm nhau, chém nhau, hại nhau, giết nhau nhan nhãn mỗi ngày trên mặt báo. Đó chính là khát ái, ngu si, mê muội, si ám. Chúng ta phải ngấm những lời này sâu vào da, dính vào thịt, hòa vào xương và thấm vào tủy não để chúng ta thật sự thấy rằng tất cả đều đáng bốc cháy, nhờ đó chúng ta có tâm thoát ra, chạy xa, bước ra. Tâm như vậy mới là tâm của người con Phật chân chánh, tâm như vậy mới gọi là tâm cầu giải thoát, tâm bồ đề, tâm giác ngộ thật sự của một người tu. Tâm như vậy mới là tâm viễn ly, xuất ly, xả ly khỏi ngũ uẩn đầy đau đớn, khổ sở, bất an, đầy lo lắng, sợ hãi và bốc cháy này. Hãy cố gắng nuôi dưỡng, phát huy, tăng trưởng, an trú, chứng ngộ, thành tựu cái này tâm, vì đó là tâm của bậc Thánh đệ tử.

Lỗ tai này bị bốc cháy bởi những tiếng karaoke, bị bốc cháy bởi những lời khen tiếng chê, bị bốc cháy bởi những cảm giác khoan khoái. Khi nghe một cú điện thoại không vừa ý thì bực bội, sân hận sanh khởi, bốc cháy trong lồng ngực. Khi nghe một tiếng gì ngơ ngơ, ngáo ngáo, đơ đơ, đẫn đẫn, ngu ngu, si si, dại dại trong sự không thấy, không biết các pháp thì ngọn lửa si mê cũng bốc cháy. Lỗ mũi này bị bốc cháy với những mùi hương; cái lưỡi này bị bốc cháy bởi những món ăn… từ đó sanh khởi sự rõ biết đối với những hương, vị. Từ sự tiếp xúc của mũi, lưỡi sẽ sanh khởi ra những cảm giác ưa thích, khoan khoái, hoặc cảm giác bực bội, bốc cháy, hoặc cảm giác thường thường, đều đều, si si, mê mê, dại dại.

Như vậy, ba ngọn lửa tham muốn, nóng giận, si mê đó cứ bốc cháy, thiêu đốt bên trong thân này suốt cả ngày đêm, qua bao năm tháng, bốc cháy suốt cả cuộc đời, bốc cháy trong nhiều kiếp. Dù đang ngồi yên nhưng những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ về tham, sân, si, bản ngã, dục vọng, tham ái, hơn thua, đúng sai, cao thấp, ngang bằng luôn vận hành bên trong. Những ngọn lửa tham, sân, si đó bốc cháy khắp cả thế giới này.

Lưỡi bị bốc cháy. Các vị bị bốc cháy. Thiệt thức bị bốc cháy. Thiệt xúc bị bốc cháy. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si.

Lưỡi bị bốc cháy; các vị bị bốc cháy; sự rõ biết các vị – thiệt thức bị bốc cháy; sự tiếp xúc của lưỡi bị bốc cháy; những cảm giác, cảm xúc, cảm thọ sanh khởi từ sự tiếp xúc của lưỡi, như ngon, dở, bình thường cũng bị bốc cháy. Tất cả những thứ đó bị bốc cháy bởi ngọn lửa tham muốn, nóng giận, si mê.

Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Tất cả bị bốc cháy vì bị sanh ra, muốn được yêu thương, thèm được yêu thương, cần được yêu thương, cần ái luyến, cần ràng buộc, muốn trói trăn, muốn được nghe mắng chửi, hành hạ. Tất cả đều tham, sân, si và muốn bị tham, sân, si. Tất cả đều yêu thích và muốn được yêu thích. Tất cả đều bản ngã và muốn được thể hiện bản ngã. Như vậy, tất cả bị sanh thiêu đốt, bị già bốc cháy, bị bệnh nung nấu và cuối cùng là chết, kết thúc cuộc đời trong sầu, bi, khổ, ưu, não.

Thân này cũng bị bốc cháy; sự tiếp xúc, đụng chạm bị bốc cháy; những cảm giác sanh khởi khi đụng chạm bị bốc cháy.

Ý bị bốc cháy. Các pháp bị bốc cháy. Ý thức bị bốc cháy. Ý xúc bị bốc cháy. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi cái gì? Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Sự để ý bị bốc cháy; những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm bị bốc cháy. Những suy nghĩ, cảm giác đó dâng lên, làm nóng đầu, nóng khắp lồng ngực và bị bốc cháy, bức xúc. Càng suy nghĩ thì càng bốc cháy, càng tưởng mơ thì những hình bóng, cảm giác đó càng ám ảnh, rực lửa trong tâm. Sự tiếp xúc với những hình bóng, cảm giác, nghĩ, tưởng đó sẽ lại làm sanh ra những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ thứ hai và tiếp tục bốc cháy. Cứ như vậy thì những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, những thọ, tưởng, hành thứ ba, thứ tư… liên tục sanh khởi. Hết hình này đến bóng khác, hết cảm giác này đến cảm giác kia, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ nọ cứ tiếp tục sanh khởi, chúng nó sanh khởi như vậy nên gọi là chúng sanh. Những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó sanh khởi trong tham muốn, thích thú, bực bội, sân hận, ta đây, bản ngã, hơn thua. Như vậy là ý bị bốc cháy, các pháp thọ, tưởng, hành bị bốc cháy trong ngọn lửa tham, sân, si.

Thoát khỏi ngọn lửa đang bốc cháy

Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy... đối với tai... đối với mũi... đối với lưỡi... đối với thân... nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy.

Đa văn Thánh đệ tử tức là đệ tử của bậc Thánh, là vị được nghe nhiều về Chánh Pháp, được suy tư nhiều về Chánh Pháp, được chiêm nghiệm nhiều về sự thật của sự bốc cháy, được nhìn thấy sự bốc cháy, được quán chiếu sự bốc cháy, được suy tư sự bốc cháy, được sống trong sự thấy biết về sự bốc cháy. Nhờ vậy, vị Thánh đệ tử nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với sự rõ biết các sắc, nhàm chán đối với sự tiếp xúc của con mắt. Vị này không mong tiếp xúc, không muốn tiếp xúc, không ưa tiếp xúc, không muốn đi tìm để tiếp xúc, không muốn nhìn, không muốn ngó, không muốn dòm, không muốn xem. Vị này nhàm chán đối với những cảm giác sanh khởi do con mắt tiếp xúc. Cảm giác thích hoặc không thích, ưa hoặc không ưa, vui sướng hoặc khó chịu… vị này đều nhàm chán đối với tất cả những cảm thọ đó, không cho cảm thọ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Vị này không nắm giữ, không chấp thủ, không nhận lấy những cảm thọ đó rồi cho đó là mình, là của mình. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy.

Như vậy, bậc Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; nhàm chán đối với các trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; nhàm chán đối với những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác trong tâm. Vị ấy nhàm chán những cảm giác sanh khởi lên: vui, khổ, hoặc không vui không khổ. Vì vị ấy biết các hành là vô thường, các hành là không kiên cố. Các sự vận hành đó thay đổi liên tục. Sự vận hành đó là bất an, bất ổn và chỉ đưa đến khổ. Nếu tham muốn, nắm giữ, ưa thích những thứ đó thì chỉ có duy nhất một con đường đau khổ mà thôi.

Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí hiểu biết rằng: " Ta đã giải thoát ". Vị ấy biết rõ: " Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui với trạng thái này nữa".

Do nhàm chán nên vị ấy ly tham, rời tham, lìa tham, không tham muốn nữa. Do lìa tham nên vị ấy thoát ra. Vị ấy thoát ra khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; thoát ra những cảm thọ, cảm xúc, cảm xúc. Trong sự thoát ra đó, vị ấy thấy một cách chân xác, rành rõ, minh bạch rằng “Ta đã thoát ra”. Tức là vị ấy thấy biết một cách rõ ran rằng: “Ta đã thật sự thoát ra khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Ta đã thật sự thoát ra khỏi nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Ta đã thật sự thoát ra khỏi nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Ta đã thật sự thoát ra khỏi sáu cảm giác từ sự tiếp xúc của sáu căn: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Ta đã thoát ra căn, trần, thức, xúc, thọ, ái”. Sau khi đã thoát ra tất cả thì vị ấy biết rõ rằng: “Sự sanh ra của Ta đến đây là cùng tận, đức hạnh thanh tịnh đã viên thành, những việc nên làm đã làm xong, không còn trở lui với trạng thái bị bốc cháy như vậy nữa”. Vị ấy đạt được nội tâm hoàn toàn mát mẻ, thanh lương, tịch tịnh, bình an, bất động.

Sau khi Đức Thế Tôn thuyết xong bài kinh này thì các vị Tỳ-kheo rất vui mừng. Và khi lời giải đáp của Đức Phật được nói lên thì tâm của một ngàn vị Tỳ-kheo thoát ra khỏi tất cả các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Đồng thời một ngàn vị Tỳ-kheo chứng Thánh quả A-la-hán nhờ bài kinh “Bị Bốc Cháy” này!

./.