1. Hiệu chỉnh lưu kho - Ái Là Nguyên Nhân Của Khổ Đau
ÁI LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ ĐAU
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nỗi khổ của thế gian PAGEREF _Toc62632970 \h 1
II. Nguyên nhân của khổ PAGEREF _Toc62632971 \h 3
III. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc62632972 \h 8
IV. Thường xuyên quán chiếu PAGEREF _Toc62632973 \h 10
V. Thánh quả PAGEREF _Toc62632974 \h 13
VI. Tổng kết PAGEREF _Toc62632975 \h 15
VII. Chân nhân PAGEREF _Toc62632976 \h 16
I. Nỗi khổ của thế gian
Kính bạch trên Ni trưởng viện chủ và chư đại đức Ni ở tại bổn tự. Kính thưa toàn thể quý nam nữ Phật tử hiện diện trong đạo tràng. Hôm nay Minh Thành muốn giới thiệu với quý vị một bài kinh rất quan trọng và có thể quý vị ít được nghe hoặc chưa từng được nghe. Hôm nay Minh Thành muốn quý vị nắm được yếu nghĩa thâm sâu của đạo Phật chứ không phải giống như nghe thông thường những nghĩa lý thường gieo duyên với Phật. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu yếu nghĩa trong kinh Xúc Chạm, Tương Ưng Bộ Kinh, tập II. Bài kinh này rất sâu sắc nên Minh Thành mong quý vị cố gắng nhiếp tâm cho thanh tịnh để nghe những điều chưa từng nghe, hiểu được những điều trước nay chưa từng hiểu, quý vị sẽ thấy được trí huệ mà trước nay chưa từng thấy.
“Thế Tôn nói như sau:
-- Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc, nắm giữ nội xúc như sau: "Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Nội dung câu kinh này Đức Phật nói rằng sự đau khổ của chúng sanh, của con người trên cuộc đời này rất đa dạng, nhiều loại nhưng nó sanh khởi đối với già và chết. Quý vị có chiêm nghiệm tất cả nỗi khổ trên cuộc đời này không?
Quý vị có biết nỗi khổ của một người mẹ mất đứa con? Có một gia đình 7-8 người từ dưới quê lên thành phố ở một đêm để ngày mai qua Mỹ đoàn tụ gia đình, đứa bé này chỉ mới 5-6 tuổi bước ra ngoài chơi vào buổi trưa rồi bị thất lạc trong khi cả nhà nằm nghỉ trưa, không ai biết. Đến khi người mẹ thức giấc đã đi kiếm khắp mọi nơi nhưng không gặp, đăng báo chụp hình, tìm kiếm mọi nơi vẫn không thấy.
Người mẹ này tìm đứa con suốt hơn 30 năm, sau này cả khi gia đình qua Mỹ rồi nhưng mỗi ngày người mẹ vẫn cầm tấm hình đứa con nhớ thương mong đợi. Mọi người có cảm nhận được nỗi khổ của người mẹ suốt hơn 30 năm trông đợi con không? Ngày nào cũng khóc cũng nhớ con, khổ nỗi không biết con còn sống hay chết, không biết con đang ở nơi nào.
Quý vị có tưởng tượng được nỗi khổ của những đứa trẻ mới sanh ra bị bỏ trước cổng chùa hay bệnh viện không? Quý vị có cảm nhận được nỗi khổ của những người bị mù lòa, câm ngọng, hay nỗi khổ của những người nằm liệt giường hơn 20 năm không? Quý vị có thấy những hoàn cảnh bị chất độc màu da cam sanh ra không được lành lặn, phải ngồi xe lăn cả đời không?
Cho nên Đức Thế Tôn nói nỗi khổ này rất đa dạng, mọi người có thấy được nỗi khổ của những người trong trại tâm thần không? Họ không có sự bình tĩnh, không có sáng suốt cho nên nếu quán chiếu nỗi khổ trên cuộc đời này thì mọi người mới thấy mình có phước mới thoát được những nỗi khổ đó.
Minh Thành chỉ mới nói một phần triệu, một phần tỉ nỗi khổ của chúng sanh thôi, có những người mang bàn chân bị giòi đục lở loét bên trong, nỗi khổ của những người sống thực vật hằng ngày phải cho ăn bằng cách đưa thức ăn được nghiền nát qua đường ống xuống thẳng dạ dày, quý vị có thấy cảnh tượng bác sĩ phải cưa hộp sọ lấy não ra nuôi không? Có những người bị tai nạn giao thông phải cưa chân, cụt tay… Có những chúng sanh không phải là người, gọi là phi nhân, chưa kể trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh…
Phải có một giây phút chúng ta lắng tâm quán chiếu sâu sắc nỗi khổ của cuộc đời này chứ không chúng ta sẽ lãng quên, Minh Thành chỉ mới nói đến loài người để chúng ta có thể thấy rõ chứ thật ra còn biết bao nhiêu loài chúng sanh khác mà mình không thấy được, có những chúng sanh ôm thù hận từ thuở trẻ cho đến già, có những trường hợp rơi vào chiến tranh, cả gia đình đang ăn cơm và bị bom rơi trúng làm cả nhà chết tại chỗ, có hàng trăm triệu người chết đói trong chiến tranh vì bom đạn tàn phá mọi thứ.
Cho nên Đức Thế Tôn nói sự đau khổ đa loại, đa dạng vì vậy mọi người đừng học Tứ Thánh Đế phất phơ bên ngoài hay biết Tứ Diệu Đế là Khổ – Tập – Diệt – Đạo là xong. Khi mình thành tựu được khổ trí thì ít nhất mình cũng là bậc Tu-đà-hoàn, thánh quả thứ nhất, tức là thành tựu được trí huệ thấu suốt đau khổ của cuộc đời này chứ không phải đơn giản như mình nghĩ.
Mình quán chiếu như vậy để thấy Đức Phật nói bao nhiêu cái khổ đó đối với già chết, tất cả cái khổ đó không có cái nào bằng cái khổ đối diện với sự chết chóc tử vong, đó mới là cái khổ lớn nhất. Bây giờ mình thấy cuộc sống cứ đều đều, ăn ngủ rồi làm việc, chơi đùa, nói cười… rất bình thường, đây là mình đang lãng quên, mình chuẩn bị đối diện với một nỗi khổ khủng khiếp là tử vong, nhất định rồi ai cũng sẽ đi đến lúc đó nhưng mình lại quên đi, không có sự chuẩn bị, nếu có cũng chỉ làm sơ sài không có kĩ.
II. Nguyên nhân của khổ
Phải có sự chuẩn bị thật là kĩ lưỡng, thật là đầy đủ. Mọi người chuẩn bị đi Mỹ có kĩ không, nào vé, hành lý, tiền bạc, quần áo, thuốc uống đau bụng, nhức đầu… Bây giờ mình chuẩn bị đi một chuyến rất xa mà sao không biết chuẩn bị cho kĩ? Cho nên Đức Phật hỏi sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt thì già chết có mặt, cái gì không có mặt thì già chết không có mặt? Sau đây là những gì rất quan trọng, nếu không chú tâm, lắng lòng sâu sắc sẽ không hiểu được.
“Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi, lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Sanh y là cái mà mình y cứ vào đó để mình thọ sanh, từ cái đó mình mới sanh ra cuộc đời này thì gọi là sanh y. Giống như ngồi cái ghế có chỗ dựa lưng, do có chỗ dựa nên dựa lưng vào không bị ngã, nếu không có chỗ dựa thì sẽ té. Hoặc mọi người đang ngồi phía dưới thì chỗ tựa của mọi người chính là cái nền, nếu không có nền thì làm sao ngồi được cho nên sanh y là chỗ y cứ để thọ sanh. Sở dĩ có ra đau khổ như vầy là từ chỗ y cứ để thọ sanh, chỗ y cứ thọ sanh được Đức Phật nói như sau:
“Sanh y lấy ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh, lấy ái làm hiện hữu. Do ái có mặt, sanh y hiện hữu. Do ái không có mặt, sanh y không hiện hữu.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Do ái có mặt nên mới có sự y cứ để sanh ra cuộc đời này, nếu không có ái thì không có sanh tử. Ái là sự yêu thích, cái này rất thâm sâu phải quán chiếu mới thấy được, đây là trí của Phật, bậc Chánh Đẳng Giác, nói ra là đúng muôn đời vạn kiếp không ai có thể thay thế được lời nói này. Do ái có mặt nên mình mới có mặt, mới có những sự đau khổ, những sự sống đó. Do có sự yêu thích, ham muốn, tham ái, tham dục nên mới có sanh tử luân hồi. Có phải do mình với người mình yêu có sự yêu thương với nhau mới ở chung nhà rồi có con, con của mình ái người khác mới có vợ rồi cũng sanh con đẻ cái, cứ ái rồi sanh ra như vậy và mình cũng giống như vậy cho nên ái là chỗ y cứ để mình thọ sanh.
“Nhưng ái này, khởi lên tại chỗ nào được khởi lên, an trú tại chỗ nào được an trú?”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Tức là cái ái này từ đâu phát khởi ra và chỗ ở của nó là chỗ nào? Chỗ này rất sâu sắc cho nên không phải cái trí thường của phàm phu có thể thấy được, mình y cứ vào lời của bậc Chánh Đẳng Giác mới thấy được, lời này đòi hỏi mình phải tư duy quán chiếu tu tập mới thấy được chứ hiểu phớt rồi đi ra là quên hết, phải tìm bài kinh này đọc tụng rồi thiền quán thì mình mới hiểu ra được. Đức Phật đã trả lời cho câu hỏi chỗ này phát khởi ra ái và chỗ trú ngụ của nó.
“Tất cả những gì ở đời khả ái, hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Tất cả những gì đáng yêu, hấp dẫn thì ái khởi lên ngay đó, đây là câu trả lời chung phổ quát. Mọi người có biết ở đời cái gì là đáng yêu, hấp dẫn không? Chắc có lẽ ai cũng nghĩ là xe hơi, biệt thự, kim cương, vàng bạc… đây là những thứ thông thường của người phàm, còn Đức Phật nói sâu hơn nữa
Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú.
... Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Đây là những chỗ đáng yêu, hấp dẫn và chính tại chỗ đó mà yêu thích của mình sanh khởi ngay đó, ẩn nấp ngay đó. Có phải năm xưa quý vị đã gặp đôi mắt người thương lúc mới gặp chồng hoặc vợ của mình bây giờ không? Có phải vì con mắt đáng yêu đó mà bây giờ mình buộc vào nhau 40 năm rồi? Có phải vì lỗ mũi đáng yêu đó, có phải vì gương mặt đó, có phải vì cái miệng dễ thương đó mà bắt đầu phát sanh ra sầu, bi, khổ, ưu, não rồi đến gặp thầy nói "thầy ơi, hồi xưa con mà biết là con đi tu bây giờ khỏe biết nhiêu rồi".
Cho nên Đức Phật nói trí huệ rất thâm sâu chứ không phải như cái bên ngoài mình nghĩ, sự yêu, sự ái sâu sắc là yêu thích con mắt của mình. Thật sự là mình ái tự thân của mình, mọi người thử nghĩ mình yêu thương người đó nhưng họ chọc vào mắt mình thì lúc đó mình còn thương không? Hay là họ cắt đi lỗ mũi mình thì mình còn thương không? Họ phát hủy dung nhan của mình thì mình còn thương không? Cho nên cái ái thật sự là tự thể ái, là yêu cái thân thể của chính mình.
Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, này các Tỳ-kheo là chỗ sanh khởi nên tham ái. Sanh khởi lên sự yêu thương, bám chấp. Mình có yêu thương cái thân này không? Chỉ mới ngồi tụng kinh có một chút mà mỏi quá nên thôi, không tụng nữa. Giờ khuya thức dậy tu thì cái thân bảo giờ này còn sớm lắm, thức khuya bệnh nên ngủ tiếp chút nữa. Mình thương, mình cưng chiều tấm thân này lắm rồi cuối cùng nó đưa mình đến chỗ làm biếng, giải đãi, yếu đuối không tinh tấn.
Mọi người đã thấy được chỗ quan trọng này chưa? Tham ái ở ngay chính bản thân mình chứ không phải ở đâu hết, suốt cuộc đời mình lo cái miệng ăn cho ngon, lo cho cái lưỡi thưởng thức đồ ngon, lo cho cái thân mặc cho đẹp, ở chỗ sang… những tiện nghi này mình đã lo hết 30-40 năm rồi mà đã xong chưa? Đầy đủ hết chưa hay vẫn còn muốn kiếm thêm? Mọi người đã thấy sự vô minh, tham ái của mình nặng nề không? Đi máy bay của hãng Vietnam Ariline chỉ cho mang hành lí có 20kg thôi mà cái tham ái của mình nặng đến cả ngàn cân, đây là chỗ sâu sắc để mình quán chiếu tu tập chứ không mình cứ nghĩ ái những thứ bên ngoài nhưng thật chất là mình ái chính nơi tự thân này.
“Này các Tỳ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, thấy là tự ngã, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Liên hệ với thực tế trong cuộc đời mình sẽ thấy rất rõ, khi thấy cái gì đẹp thì mình có thấy cái đẹp này là vô thường không, sau này sẽ tan rã, biến hoại, trở thành trống rỗng không? Nhìn thấy cái đẹp 10 lần thì có được 2 lần quán như vậy không? Khi mình gặp cái gì hấp dẫn, lôi cuốn thì lúc đó mình có thấy nó là sắc pháp vô thường, mong manh tạm bợ, không bền chắc không? Hay mình thấy nó là thường còn, là đẹp, là tôi, là của tôi? Với căn nhà của mình thì mình có thấy nó là của mình không? Nếu còn thấy căn nhà của mình đẹp đẽ thì lúc đó ái sẽ tăng trưởng, sự yêu thích căn nhà tăng trưởng, ai gọi đi tu Phật thất 7 ngày thì từ chối "đi rồi ai coi nhà" không thì "thầy ơi, đi tu rồi không có ai ở nhà cho chó mèo ăn", như vậy mình có thương con chó đó không? Nó có đáng yêu không? Mình thấy nó đáng yêu, dễ thương, hoặc cưng cháu nội, cháu ngoại, đi xa là nhớ thì ái tăng trưởng, mà ái tăng trưởng thì chỗ dựa của sanh tử tăng trưởng, vậy thì làm sao về cực lạc?
III. Khuyến tấn tu tập
Chỗ dựa của sanh tử luân hồi tăng trưởng thì đau khổ tăng trưởng, không phải mình học là mình chấm dứt được hết nhưng mình từ từ chuyển hóa, giảm thiểu từ từ nhưng ít nhất phải thấy, phải biết nguyên nhân làm cho mình khổ. Đây chính là trí huệ của bậc thánh chứ không phải trí huệ của người thường, ngoài Đức Phật ra không có ai chỉ được cho mình biết cho nên mình rất may mắn được làm đệ tử Phật để nghe được Chánh Pháp, có người suốt cả cuộc đời từ lúc sanh ra đến khi nhắm mắt cũng chưa được nghe một câu kinh trong tạng kinh Nikāya này.
Vì thế nếu thấy cái thân này là an ổn, khỏe mạnh, tốt đẹp thì cái ái của mình sẽ tăng trưởng, Đức Phật dạy phải quán cái thân tứ đại này là bệnh, vô thường, bị biến hoại, không bền chắc, phải luôn nhớ già, bệnh, chết. Ba chữ này là diệu dược, linh dược, Phật dược trị tất cả phiền não, lúc nào quý vị buồn giận thì cứ nhớ "chết tới nơi rồi không lo mà ở đó lo giận, bỏ cái giận qua một bên đi", mọi người có thực tập được không? Có dễ nhớ không?
Không thì mọi người xăm chữ chết ngay trên trán cho nhớ, xăm hình quá nhiều mà sao không ai xăm chữ chết để nhớ hết vậy, ngày nào soi gương cũng thấy chữ chết trên trán để cố gắng tu học chứ không để mê chơi, ham ăn ham ngủ hoài. Cho nên mình phải thấy được sự bất an, bất toàn, bất toại nguyện là bản chất của cuộc đời này, mọi người xem thử trong cả vũ trụ này có cái gì là an ổn không?
Ở miền Bắc bị sạt lở núi đá làm chết 40-50 người, chiếc xe 16 chỗ rơi xuống vực làm chết 13 người, cả một đoàn đi rước dâu chết hơn 10 người, rạp đại hỷ biến thành đại tang, những người đó 5 phút trước khi chết thì họ có biết mình sẽ chết không? Trước đó 4 phút họ biết không? Trước đó 3 phút cũng không biết mà ngay sát giờ chết thì họ mới biết nhưng muộn rồi, có những trường hợp chết mà không biết tại sao mình chết rồi không thể siêu thoát được vì tâm luyến ái quá mạnh, cho nên cái vô thường ập đến một cách bất ngờ làm mình không trở tay kịp, không cảnh giác sự vô thường mà nó đến thình lình thì mình sẽ như thế nào? Trời mưa nước ngập dâng cao có một cô đi mà không để ý nên bước hụt vào ống cống gãy chân, cái thân này mong manh như vậy đó, Đức Phật nói thân này là đồ gốm nên dù cho nó còn là đất sét hay đã cho vào lò nung thì tính chất bể ở trong món đồ gốm đó rồi cũng như cái chết ở trong sự sống, cái già đã ở trong cái trẻ, cái bệnh đã ở sẵn trong cái khỏe rồi.
“Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Phải thấy được như vậy để quán chiếu tu tập chứ mình đừng nghĩ mình cứ như vậy hoài, mình cứ nghĩ là mình an ổn hoài, khỏe mạnh hoài, điều này là không thể có được, mà thay vào đó sẽ là sự bất an, bất toàn, bất toại nguyện là bản chất của cuộc đời này. Bất toàn là không có gì vẹn toàn, tất cả chỉ là tương đối mà thôi. Bất toại nguyện là trong lòng mình không có gì có thể làm mình thỏa mãn, cho nên chỉ có bậc giác ngộ thành tựu trí huệ mới đạt đến chỗ vô nguyện giải thoát môn, tức là bậc đó không còn tham dục, không còn hi vọng, mong chờ nữa vì thấy rõ tất cả pháp đều là trống rỗng, vì thế bậc này đạt đến vô nguyện giải thoát môn, vô tướng giải thoát môn và không giải thoát môn là ba cánh cửa giải thoát, cho nên ở chỗ của Minh Thành để ba cánh cửa giải thoát mà những người trẻ gọi là Cổng Trời.
“Và này các Tỳ-kheo, những ai trong quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy từ bỏ ái.
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy đã được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ đã giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
IV. Thường xuyên quán chiếu
Minh Thành đang chỉ cho mọi người cái lõi của sự tu tập, trái tim của Tam Tạng thánh điển. Mọi người phải nhớ khi nhìn thấy cái gì đáng yêu, hấp dẫn, đáng thích thì phải quán xét nó là vô thường, không có gì đáng tham mê ở đây, nếu mình có được thì vẫn hưởng nhưng không bị dính chặt vào trong đó, vì khi nắm chặt mà nó biến đổi thì mình sẽ khổ đau. Dù cho mình có thì cũng phải quán chiếu như vậy thì huống hồ gì mình không có sẽ khỏe hơn rất nhiều, mình sẽ không khổ, bây giờ được thì mình cũng không tham mà mất đi mình cũng không tiếc nuối vì mình biết nó vô thường nên mình sống một cách điềm nhiên, an nhiên.
Nhưng người có phước, luôn nghĩ lời thiện, nói lời thiện, làm việc thiện thì người đó thường sẽ sống với những cái thấy, cái nghe, tiếp xúc với những điều tốt lành, đẹp đẽ, quý báu. Mọi người có muốn như vậy không? Nếu muốn thì phải nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện, làm tất cả công đức nhưng không chấp trước, không tham ái vào đó, không đi khoe khoang mọi nơi, khi làm xong là buông bỏ, không cần ai biết, không cần thông báo gì hết.
Cho nên Đức Phật nói thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, một người con trai thấy một cô gái rất đẹp thì đối tượng đó có phải là đáng hấp dẫn không? Nhưng người con trai này có vợ rồi thì sao? Nếu lúc đó không có sự tu tập, không biết quán như Minh Thành đã nói ở trên mà để cho cái tâm ưa thích phát triển mạnh lên thì sẽ tan nhà nát cửa, gia đình đổ vỡ. Có phải nên quán chiếu sự hấp dẫn này là đáng sợ hãi không? Phải tránh né nó.
Bây giờ người ta quảng cáo, chèo kéo mình vào buôn bán đa cấp với những lời dụ dỗ ngon ngọt, có lời rất nhiều thì mình nghe có hấp dẫn không? Nếu mình nhảy vào thì hậu quả ra sao? Cho nên mình phải quán sự hấp dẫn, lôi cuốn, ngon lành này là khổ, phải cẩn thận nếu không tiền mất tật mang. Mọi người có thấy pháp ứng dụng rất nhiều vào cuộc sống không? Nó giúp cho mình có trí huệ, tỉnh táo sáng suốt, không bị lòng tham che mờ, tham thì thâm, thâm thì hụt, mà hụt thì nợ, thậm chí bán nhà bán cửa vì lòng tham.
Vì vậy khi thấy cái gì đáng yêu, hấp dẫn, thích thú thì phải đặc biệt cẩn thật, và phải quán nó là vô thường, là khổ, là vô ngã, là đáng sợ hãi nên những người này từ bỏ cái ái. Nếu mình có phước thì tự động nó sẽ đến với mình, có muốn bỏ cũng không bỏ được, đây mới là chỗ độc đáo, nếu đúng là phước báu của mình thì có bỏ cũng bỏ không được, còn những gì không phải của mình mà có muốn nắm cũng không nắm được cho nên cái nào không phải của mình thì đừng cố tranh giành, nắm chặt lấy nó, cuối cùng cũng chỉ mang khổ vào thân.
Những lời kinh này mọi người phải học thuộc lòng, đây chính là bí kíp chánh pháp, mọi người có thấy Đức Phật dạy tuyệt diệu không? Phật dạy trí huệ rất tuyệt vời mà do mình không biết ứng dụng, không chịu để tâm thực tập, còn nếu đã thực tập thường xuyên rồi sẽ thấy rất lợi lạc. Một khi đã từ bỏ được ái thì chỗ dựa của luân hồi sanh tử được từ bỏ, đau khổ được từ bỏ, sầu, bi, khổ, ưu, não được từ bỏ.
Ta nói rằng họ đã giải thoát khỏi đau khổ, vì thế phải cẩn thận với những cái ái luyến, sự tham muốn của mình, muốn nhìn thấy tham muốn của mình thì phải luôn để ý cảm giác vì tham muốn trú trong cảm giác của mình. Khi có cảm giác khoan khoái, thích thú thì phải nhìn lại cảm giác đó, khi nóng giận lên thì nhìn lại cảm giác sân đó, đừng để nó làm chủ, dẫn dắt mình. Luôn nhìn lại cảm giác gọi là quán thọ trên các thọ trong Tứ Niệm Xứ, quán chiếu, để ý cảm giác của mình rồi làm chủ nó chứ đừng để nó làm chủ mình.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc, có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy: "Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương, có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết".
Và này các Tỳ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: "Ở đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu, hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô), hay nhiếp phục với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ lâu dài". Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Quý vị thấy giữa hai người này thì người nào thông minh? Người trước hay người sau? Người uống thông minh hay người nhiếp phục không uống là thông minh? Người uống thứ nước này vào mà có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết chính là mình đây, Đức Phật đã nói rất rõ ở trên tham ái sẽ đi vào khổ, sân si là khổ mà mình vẫn không từ bỏ được, có chuyện xảy ra là "thưa thầy, ai bỏ được chứ con là không thể bỏ qua cho bà đó được", như vậy có phải mình uống thuốc độc không?
Phật đã cảnh báo đây là nguyên nhân của khổ mà mình vẫn không nghe, cứ uống đại đi rồi tính sau, mình không có nhẫn sắc, nhẫn dục, không kiềm lòng được trước những cái tham nên khi gặp cái gì hấp dẫn, đẹp đẽ là mình bị lôi cuốn hay gặp đối tượng sân hận là mình nhảy vào là lửa phựt, mình không nhiếp phục, không nhịn được cơn khát là uống vào, giãy giụa gọi xe cấp cứu chở đi. Còn người trí huệ là khi nghe nói nguy hiểm quyết định không uống thứ nước này, đó mới là người thông minh, cũng như khi nghe nói tham ái là chỗ dựa của luân hồi sanh tử nên mình ráng cố gắng nhiếp phục thì đó là người thông minh, còn nghe rồi mà vẫn làm biếng, tìm mọi lý do để không tu, nào là bệnh, già, đau nhức…
V. Thánh quả
Tại sao không nghĩ rằng già rồi không còn nhiều thời gian nữa nên phải tu mau lẹ lên, chứ chết rồi sẽ không kịp tu nữa, sao mọi người không ai nghĩ như vậy? Sâu sắc như vậy mà mình lại không để ý, mình nghe rồi tụng niệm mà trở về cũng như cũ, không điều chỉnh, không nỗ lực tinh tấn để thay đổi, hướng thượng, tu tập giới – định – tuệ, làm tăng trưởng trong thiện pháp, làm lớn mạnh trong công đức, làm cho mình càng ngày càng sâu sắc đối với trí huệ khổ thánh trí, thấy rõ nguyên nhân của khổ và con đường chấm dứt khổ đau là trí huệ siêu việt, người nào đạt được trí huệ này còn hơn thống lãnh quả đất, hơn làm chủ địa cầu.
Hơn thống lãnh cõi đất,
Hơn được sanh cõi trời,
Hơn chủ trì vũ trụ,
Quả Dự Lưu tối thắng.
(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 178)
Ai thành tựu trí huệ này còn hơn làm vua trời vì đây là trí huệ của bậc thánh. Nếu mình thấy và thành tựu được trí huệ này thì siêu việt tất cả thế gian, gọi là trí huệ xuất thế gian, thành tựu được trí huệ này thì chấm dứt khổ, chậm nhất là bảy đời thẳng tiến đến Chánh Giác của bậc Dự Lưu, tức là tham dự vào dòng pháp, mở con mắt trí huệ, sớm nhất là trong một đời và đời này là đời cuối cùng của bậc thánh giả khi đã nhìn thấy được như vậy, người ta quán chiếu sắc thân này là vô thường, bất tịnh, từ bỏ, không còn đam mê, thích thú nữa. Đến lúc chuẩn bị ra đi thì người ta sẽ quán thâm sâu vào tứ đại ngũ uẩn là từ bỏ, không muốn tiếp tục nữa thì lúc đó từ bỏ hẳn và nhập Niết-bàn, không còn đi trong vòng luân hồi sanh tử nữa.
Còn mình lúc chuẩn bị ra đi là hoảng loạn, sợ hãi rồi chụp vào đủ thứ thân, nếu là khóc oa oa là vào thân đứa con nít, còn không thì kêu chít chít hay be be, gâu gâu… Vì lúc đó thấy mất cái thân này sợ quá nên cứ nhào đại vào thân nào thì hay thân đó, nhào vào thân nào thì ra những cái thân đó, mang lông đội sừng là khổ, không có trí huệ sẽ khổ như vậy đó.
Cho nên mình tu là để đạt được trí huệ, mà cái quan trọng là trí huệ đối với dòng sanh tử luân hồi này. Phải học, phải nghe kinh cho thật nhiều, kèm theo đó phải tư duy, quán chiếu, tu tập thì cuộc đời này không còn gì bằng nữa, đừng bỏ phí thời gian, bây giờ tóc ai cũng bạc hoa râm hết rồi mà không chạy nước rút tu tập thì đợi đến khi nào nữa?
VI. Tổng kết
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, những ai trong thời hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là đau khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ đoạn trừ ái.
Những ai đoạn trừ ái, những người ấy đoạn trừ sanh y. Những ai đoạn trừ sanh y, những người ấy đoạn trừ đau khổ. Những ai đoạn trừ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ được giải thoát khỏi đau khổ.
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Bài kinh này rất dài nhưng Minh Thành chỉ trích những yếu nghĩa để giới thiệu cho mọi người. Như vậy đầu tiên Đức Phật nói cuộc đời có nhiều cái khổ mà tất cả cái khổ đó đều là già chết và cái chết là cái khổ lớn nhất. Sở dĩ cái đau khổ hiện hữu, có mặt trên đời này từ chỗ dựa của sự sanh tử luân hồi, chỗ dựa đó là chính là ái, tham ái, luyến ái, yêu thích, đam mê, đây là chỗ cội gốc của vấn đề. Cái ái này sanh khởi ở mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý ngay nơi bản thân mình, từ chỗ mình yêu mình rồi mới yêu cái của mình, từ cái tôi mới có cái của tôi.
Con tôi, tài sản tôi,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu.
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)
Bây giờ phải thấy được những điều này, còn đợi đến khi nhắm mắt là muộn màn rồi, phải thấy từ lúc này để làm các thiện pháp công đức, làm tất cả các hạnh lành: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Tu tập tất cả các thiện pháp, đó là tư lương cho đời sau, còn bây giờ cứ lo gom góp, tạo nghiệp, đến lúc nhắm mắt ra đi tất cả đều bỏ lại hết, cho người sống sử dụng còn bị nói ngu, còn mình mang nghiệp ra đi.
Vì thế phải nhớ ái là chỗ dựa của sanh tử, từ cái ái mà mình đi vào khổ đau. Ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh, lấy ái làm hiện hữu, bất cứ một người nào trên cuộc đời này đối với những điều đáng yêu, hấp dẫn mà cho nó là vui, là an ổn thì người đó làm ái tăng trưởng, đau khổ tăng trưởng. Ngược lại, khi thấy những điều hấp dẫn, đáng yêu, đáng thích mà biết nó là vô thường, là khổ, là đáng sợ hãi, không đam mê thì cái khổ chấm dứt, giải thoát sanh tử luân hồi. Đó là trọng tâm, là yếu nghĩa của Phật pháp, là con đường chấm dứt luân hồi sanh tử, giải thoát khổ đau.
VII. Chân nhân
Xin thưa với quý Phật tử, trong sự học Phật và tu Phật rất sâu sắc, không đơn giản như cái mình đang hiểu. Thậm chí những sách mình đọc mà mình hiểu theo chữ trong đó chưa chắc đã đúng, cho nên Đức Phật nói sanh ở trong đời mà gặp được chánh pháp rất khó, bậc Chân nhân là khó tìm, Chân nhân là những vị thấy được chánh pháp, thành tựu được chánh tri kiến và rất khó gặp những vị này.
Cho nên quý vị phải nắm cho vững tổng cương lĩnh của Phật pháp thì mới không hoang mang, còn nếu tụng mỗi bộ kinh khác nhau là mình sẽ không biết đường tu, nên bây giờ chỉ cần nắm tổng cương lĩnh là được, giống như đi chùa chỉ cần vào đúng chánh điện lạy Phật là xem như đi chùa xong rồi chứ không cần vào phòng này phòng kia.
Giáo pháp cũng giống như vậy, toàn bộ giáo pháp của Đức Phật trình bày sự thật của cuộc đời này, bản chất của nó là khổ, cái khổ ở đây không đơn giản như mình thấy người đó bệnh, già, chết hay bị tai nạn… là khổ, những cái khổ này rất nhỏ. Cái khổ sâu sắc của đạo Phật là cái khổ của sự vô minh, không thấy bản chất, không thấy sự thật.
Giống như quý vị nhìn Minh Thành thì cứ nghĩ là Minh Thành, có thật sự là thấy Minh Thành không? Nếu không thấy Minh Thành thì thấy cái gì? Thấy mà như không thấy, tại sao vậy? Vì chỉ cần rọc một lớp da ra thì trong đây là gì, có còn là Minh Thành nữa không? Thành ra Phật pháp rất thâm sâu, đòi hỏi mình phải gặp được bậc thành tựu chánh tri kiến mới chỉ cho mình thấy được căn nguyên của đau khổ và phương pháp chấm dứt khổ đau, vì thế trong kinh tạng Nikāya Đức Phật luôn nhấn mạnh bậc đa văn thánh đệ tử gặp được bậc Chân nhân, gặp được Đức Thế Tôn, gặp được bậc hiền thánh Tăng, nghe được chánh pháp, tư duy tu tập và quán chiếu thì mới chấm dứt hết khổ đau.
Lúc Đức Phật và các vị Tỳ-kheo đi trong rừng Simsapa thì Phật cúi xuống nắm một nắm lá và hỏi các thầy Tỳ-kheo lá trong rừng nhiều hay lá trong lòng bàn tay ta nhiều thì các thầy Tỳ-kheo bạch Đức Phật lá trong rừng rất nhiều, lá trong bàn tay Thế Tôn rất ít. Đức Phật nói cái trí huệ, sự chứng đạt, thấy biết của Ta nhiều như lá trong rừng mà lời Ta nói cho các ông ít như lá trong lòng bàn tay, vì Ta chỉ nói những gì liên hệ với mục đích, mà mục đích đó là bản chất của cuộc đời là khổ và Ta chỉ ra con đường chấm dứt khổ đau.
Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà.
Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỷ-kheo:
-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?
-- Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra!
Nhưng tại sao, này các Tỳ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.
Và này các Tỳ-kheo, điều gì mà Ta nói? "Ðây là Khổ", này các Tỳ-kheo, là điều Ta nói. "Ðây là Khổ tập", là điều Ta nói. "Ðây là Khổ diệt", là điều Ta nói. "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", là điều Ta nói.
Nhưng tại sao, này các Tỳ-kheo, Ta lại nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, IV. Phẩm Rừng Simsapà, I. Cây Keo)
Mình lấy hai điều này làm kim chỉ nam để tu học, làm sao mà trong thường ngày tiếp duyên xúc cảnh thì quý vị phải khởi lên trí quán thấy được bản chất của nó là khổ và không đam mê nó, danh từ chuyên môn là nhất hướng nhàm chán, một mực nhàm chán, đừng yêu thích nó. Nhàm chán không có nghĩa là không ăn, không uống, không làm việc mà nhàm chán để không đam mê, si mê, không điên đảo trong đó, cho nên khi mình mới 18-20 tuổi mà mình đi dự đám cưới người ta thì mình có cảm giác khác, còn giờ mình lên hàng 60-70 tuổi đi dự đám cưới cháu thì có khác không? Mình thấy tội nghiệp nó vì khổ đến rồi mà nó không thấy, chỉ thấy vui sướng. Mọi người có thấy sự khác biệt không? Vì mình đã trưởng thành rồi, mình đã trải qua rồi và đã thấu hiểu rồi.
Đối với trí huệ Phật pháp cũng như vậy, người đã thành tựu trí huệ nhìn rất sâu sắc chứ không phải chỉ nhìn vào cái vỏ bên ngoài, họ nhìn thấy hoa đẹp nhưng họ biết bảy ngày sau nó sẽ nằm trong thùng rác chứ không phải thấy hoa tươi đẹp rồi đam mê, họ biết rằng chỉ vài ngày nữa nó sẽ bị vứt đi không thương tiếc. Nhìn thấy được như vậy là thấy bằng con mắt trí tuệ, những nguyên nhân nào đưa đến khổ thì phải nhiếp phục, giảm thiểu và chấm dứt và mình biết rằng nguyên nhân của khổ là tham sân si và bản ngã, những thứ đó đưa đến khổ.
Tham thì phải quán bất tịnh, thân này nhơ nhớp. Sân thì phải trải tâm từ, tình thương để hóa giải oan gia. Si thì phải tinh tấn, nỗ lực chấn chỉnh mạnh mẽ, quán chiếu trí huệ. Bản ngã thì phải tu vô ngã. Như vậy mình nhiếp phục, chuyển hóa thì cái khổ bớt từ từ, trí huệ càng sáng lên cho đến lúc sáng như Mặt Trời thì chứng A-la-hán.
./.
HYPERLINK "https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-12c.htm" https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-12c.htm
https://www.youtube.com/watch?v=ZwvUH1Mja4w
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nỗi khổ của thế gian PAGEREF _Toc62632970 \h 1
II. Nguyên nhân của khổ PAGEREF _Toc62632971 \h 3
III. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc62632972 \h 8
IV. Thường xuyên quán chiếu PAGEREF _Toc62632973 \h 10
V. Thánh quả PAGEREF _Toc62632974 \h 13
VI. Tổng kết PAGEREF _Toc62632975 \h 15
VII. Chân nhân PAGEREF _Toc62632976 \h 16
I. Nỗi khổ của thế gian
Kính bạch trên Ni trưởng viện chủ và chư đại đức Ni ở tại bổn tự. Kính thưa toàn thể quý nam nữ Phật tử hiện diện trong đạo tràng. Hôm nay Minh Thành muốn giới thiệu với quý vị một bài kinh rất quan trọng và có thể quý vị ít được nghe hoặc chưa từng được nghe. Hôm nay Minh Thành muốn quý vị nắm được yếu nghĩa thâm sâu của đạo Phật chứ không phải giống như nghe thông thường những nghĩa lý thường gieo duyên với Phật. Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu yếu nghĩa trong kinh Xúc Chạm, Tương Ưng Bộ Kinh, tập II. Bài kinh này rất sâu sắc nên Minh Thành mong quý vị cố gắng nhiếp tâm cho thanh tịnh để nghe những điều chưa từng nghe, hiểu được những điều trước nay chưa từng hiểu, quý vị sẽ thấy được trí huệ mà trước nay chưa từng thấy.
“Thế Tôn nói như sau:
-- Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc, nắm giữ nội xúc như sau: "Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Nội dung câu kinh này Đức Phật nói rằng sự đau khổ của chúng sanh, của con người trên cuộc đời này rất đa dạng, nhiều loại nhưng nó sanh khởi đối với già và chết. Quý vị có chiêm nghiệm tất cả nỗi khổ trên cuộc đời này không?
Quý vị có biết nỗi khổ của một người mẹ mất đứa con? Có một gia đình 7-8 người từ dưới quê lên thành phố ở một đêm để ngày mai qua Mỹ đoàn tụ gia đình, đứa bé này chỉ mới 5-6 tuổi bước ra ngoài chơi vào buổi trưa rồi bị thất lạc trong khi cả nhà nằm nghỉ trưa, không ai biết. Đến khi người mẹ thức giấc đã đi kiếm khắp mọi nơi nhưng không gặp, đăng báo chụp hình, tìm kiếm mọi nơi vẫn không thấy.
Người mẹ này tìm đứa con suốt hơn 30 năm, sau này cả khi gia đình qua Mỹ rồi nhưng mỗi ngày người mẹ vẫn cầm tấm hình đứa con nhớ thương mong đợi. Mọi người có cảm nhận được nỗi khổ của người mẹ suốt hơn 30 năm trông đợi con không? Ngày nào cũng khóc cũng nhớ con, khổ nỗi không biết con còn sống hay chết, không biết con đang ở nơi nào.
Quý vị có tưởng tượng được nỗi khổ của những đứa trẻ mới sanh ra bị bỏ trước cổng chùa hay bệnh viện không? Quý vị có cảm nhận được nỗi khổ của những người bị mù lòa, câm ngọng, hay nỗi khổ của những người nằm liệt giường hơn 20 năm không? Quý vị có thấy những hoàn cảnh bị chất độc màu da cam sanh ra không được lành lặn, phải ngồi xe lăn cả đời không?
Cho nên Đức Thế Tôn nói nỗi khổ này rất đa dạng, mọi người có thấy được nỗi khổ của những người trong trại tâm thần không? Họ không có sự bình tĩnh, không có sáng suốt cho nên nếu quán chiếu nỗi khổ trên cuộc đời này thì mọi người mới thấy mình có phước mới thoát được những nỗi khổ đó.
Minh Thành chỉ mới nói một phần triệu, một phần tỉ nỗi khổ của chúng sanh thôi, có những người mang bàn chân bị giòi đục lở loét bên trong, nỗi khổ của những người sống thực vật hằng ngày phải cho ăn bằng cách đưa thức ăn được nghiền nát qua đường ống xuống thẳng dạ dày, quý vị có thấy cảnh tượng bác sĩ phải cưa hộp sọ lấy não ra nuôi không? Có những người bị tai nạn giao thông phải cưa chân, cụt tay… Có những chúng sanh không phải là người, gọi là phi nhân, chưa kể trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh…
Phải có một giây phút chúng ta lắng tâm quán chiếu sâu sắc nỗi khổ của cuộc đời này chứ không chúng ta sẽ lãng quên, Minh Thành chỉ mới nói đến loài người để chúng ta có thể thấy rõ chứ thật ra còn biết bao nhiêu loài chúng sanh khác mà mình không thấy được, có những chúng sanh ôm thù hận từ thuở trẻ cho đến già, có những trường hợp rơi vào chiến tranh, cả gia đình đang ăn cơm và bị bom rơi trúng làm cả nhà chết tại chỗ, có hàng trăm triệu người chết đói trong chiến tranh vì bom đạn tàn phá mọi thứ.
Cho nên Đức Thế Tôn nói sự đau khổ đa loại, đa dạng vì vậy mọi người đừng học Tứ Thánh Đế phất phơ bên ngoài hay biết Tứ Diệu Đế là Khổ – Tập – Diệt – Đạo là xong. Khi mình thành tựu được khổ trí thì ít nhất mình cũng là bậc Tu-đà-hoàn, thánh quả thứ nhất, tức là thành tựu được trí huệ thấu suốt đau khổ của cuộc đời này chứ không phải đơn giản như mình nghĩ.
Mình quán chiếu như vậy để thấy Đức Phật nói bao nhiêu cái khổ đó đối với già chết, tất cả cái khổ đó không có cái nào bằng cái khổ đối diện với sự chết chóc tử vong, đó mới là cái khổ lớn nhất. Bây giờ mình thấy cuộc sống cứ đều đều, ăn ngủ rồi làm việc, chơi đùa, nói cười… rất bình thường, đây là mình đang lãng quên, mình chuẩn bị đối diện với một nỗi khổ khủng khiếp là tử vong, nhất định rồi ai cũng sẽ đi đến lúc đó nhưng mình lại quên đi, không có sự chuẩn bị, nếu có cũng chỉ làm sơ sài không có kĩ.
II. Nguyên nhân của khổ
Phải có sự chuẩn bị thật là kĩ lưỡng, thật là đầy đủ. Mọi người chuẩn bị đi Mỹ có kĩ không, nào vé, hành lý, tiền bạc, quần áo, thuốc uống đau bụng, nhức đầu… Bây giờ mình chuẩn bị đi một chuyến rất xa mà sao không biết chuẩn bị cho kĩ? Cho nên Đức Phật hỏi sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt thì già chết có mặt, cái gì không có mặt thì già chết không có mặt? Sau đây là những gì rất quan trọng, nếu không chú tâm, lắng lòng sâu sắc sẽ không hiểu được.
“Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi, lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Sanh y là cái mà mình y cứ vào đó để mình thọ sanh, từ cái đó mình mới sanh ra cuộc đời này thì gọi là sanh y. Giống như ngồi cái ghế có chỗ dựa lưng, do có chỗ dựa nên dựa lưng vào không bị ngã, nếu không có chỗ dựa thì sẽ té. Hoặc mọi người đang ngồi phía dưới thì chỗ tựa của mọi người chính là cái nền, nếu không có nền thì làm sao ngồi được cho nên sanh y là chỗ y cứ để thọ sanh. Sở dĩ có ra đau khổ như vầy là từ chỗ y cứ để thọ sanh, chỗ y cứ thọ sanh được Đức Phật nói như sau:
“Sanh y lấy ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh, lấy ái làm hiện hữu. Do ái có mặt, sanh y hiện hữu. Do ái không có mặt, sanh y không hiện hữu.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Do ái có mặt nên mới có sự y cứ để sanh ra cuộc đời này, nếu không có ái thì không có sanh tử. Ái là sự yêu thích, cái này rất thâm sâu phải quán chiếu mới thấy được, đây là trí của Phật, bậc Chánh Đẳng Giác, nói ra là đúng muôn đời vạn kiếp không ai có thể thay thế được lời nói này. Do ái có mặt nên mình mới có mặt, mới có những sự đau khổ, những sự sống đó. Do có sự yêu thích, ham muốn, tham ái, tham dục nên mới có sanh tử luân hồi. Có phải do mình với người mình yêu có sự yêu thương với nhau mới ở chung nhà rồi có con, con của mình ái người khác mới có vợ rồi cũng sanh con đẻ cái, cứ ái rồi sanh ra như vậy và mình cũng giống như vậy cho nên ái là chỗ y cứ để mình thọ sanh.
“Nhưng ái này, khởi lên tại chỗ nào được khởi lên, an trú tại chỗ nào được an trú?”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Tức là cái ái này từ đâu phát khởi ra và chỗ ở của nó là chỗ nào? Chỗ này rất sâu sắc cho nên không phải cái trí thường của phàm phu có thể thấy được, mình y cứ vào lời của bậc Chánh Đẳng Giác mới thấy được, lời này đòi hỏi mình phải tư duy quán chiếu tu tập mới thấy được chứ hiểu phớt rồi đi ra là quên hết, phải tìm bài kinh này đọc tụng rồi thiền quán thì mình mới hiểu ra được. Đức Phật đã trả lời cho câu hỏi chỗ này phát khởi ra ái và chỗ trú ngụ của nó.
“Tất cả những gì ở đời khả ái, hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Tất cả những gì đáng yêu, hấp dẫn thì ái khởi lên ngay đó, đây là câu trả lời chung phổ quát. Mọi người có biết ở đời cái gì là đáng yêu, hấp dẫn không? Chắc có lẽ ai cũng nghĩ là xe hơi, biệt thự, kim cương, vàng bạc… đây là những thứ thông thường của người phàm, còn Đức Phật nói sâu hơn nữa
Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú.
... Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn...
... Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Đây là những chỗ đáng yêu, hấp dẫn và chính tại chỗ đó mà yêu thích của mình sanh khởi ngay đó, ẩn nấp ngay đó. Có phải năm xưa quý vị đã gặp đôi mắt người thương lúc mới gặp chồng hoặc vợ của mình bây giờ không? Có phải vì con mắt đáng yêu đó mà bây giờ mình buộc vào nhau 40 năm rồi? Có phải vì lỗ mũi đáng yêu đó, có phải vì gương mặt đó, có phải vì cái miệng dễ thương đó mà bắt đầu phát sanh ra sầu, bi, khổ, ưu, não rồi đến gặp thầy nói "thầy ơi, hồi xưa con mà biết là con đi tu bây giờ khỏe biết nhiêu rồi".
Cho nên Đức Phật nói trí huệ rất thâm sâu chứ không phải như cái bên ngoài mình nghĩ, sự yêu, sự ái sâu sắc là yêu thích con mắt của mình. Thật sự là mình ái tự thân của mình, mọi người thử nghĩ mình yêu thương người đó nhưng họ chọc vào mắt mình thì lúc đó mình còn thương không? Hay là họ cắt đi lỗ mũi mình thì mình còn thương không? Họ phát hủy dung nhan của mình thì mình còn thương không? Cho nên cái ái thật sự là tự thể ái, là yêu cái thân thể của chính mình.
Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, này các Tỳ-kheo là chỗ sanh khởi nên tham ái. Sanh khởi lên sự yêu thương, bám chấp. Mình có yêu thương cái thân này không? Chỉ mới ngồi tụng kinh có một chút mà mỏi quá nên thôi, không tụng nữa. Giờ khuya thức dậy tu thì cái thân bảo giờ này còn sớm lắm, thức khuya bệnh nên ngủ tiếp chút nữa. Mình thương, mình cưng chiều tấm thân này lắm rồi cuối cùng nó đưa mình đến chỗ làm biếng, giải đãi, yếu đuối không tinh tấn.
Mọi người đã thấy được chỗ quan trọng này chưa? Tham ái ở ngay chính bản thân mình chứ không phải ở đâu hết, suốt cuộc đời mình lo cái miệng ăn cho ngon, lo cho cái lưỡi thưởng thức đồ ngon, lo cho cái thân mặc cho đẹp, ở chỗ sang… những tiện nghi này mình đã lo hết 30-40 năm rồi mà đã xong chưa? Đầy đủ hết chưa hay vẫn còn muốn kiếm thêm? Mọi người đã thấy sự vô minh, tham ái của mình nặng nề không? Đi máy bay của hãng Vietnam Ariline chỉ cho mang hành lí có 20kg thôi mà cái tham ái của mình nặng đến cả ngàn cân, đây là chỗ sâu sắc để mình quán chiếu tu tập chứ không mình cứ nghĩ ái những thứ bên ngoài nhưng thật chất là mình ái chính nơi tự thân này.
“Này các Tỳ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, thấy là tự ngã, những người ấy làm ái tăng trưởng.
Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Liên hệ với thực tế trong cuộc đời mình sẽ thấy rất rõ, khi thấy cái gì đẹp thì mình có thấy cái đẹp này là vô thường không, sau này sẽ tan rã, biến hoại, trở thành trống rỗng không? Nhìn thấy cái đẹp 10 lần thì có được 2 lần quán như vậy không? Khi mình gặp cái gì hấp dẫn, lôi cuốn thì lúc đó mình có thấy nó là sắc pháp vô thường, mong manh tạm bợ, không bền chắc không? Hay mình thấy nó là thường còn, là đẹp, là tôi, là của tôi? Với căn nhà của mình thì mình có thấy nó là của mình không? Nếu còn thấy căn nhà của mình đẹp đẽ thì lúc đó ái sẽ tăng trưởng, sự yêu thích căn nhà tăng trưởng, ai gọi đi tu Phật thất 7 ngày thì từ chối "đi rồi ai coi nhà" không thì "thầy ơi, đi tu rồi không có ai ở nhà cho chó mèo ăn", như vậy mình có thương con chó đó không? Nó có đáng yêu không? Mình thấy nó đáng yêu, dễ thương, hoặc cưng cháu nội, cháu ngoại, đi xa là nhớ thì ái tăng trưởng, mà ái tăng trưởng thì chỗ dựa của sanh tử tăng trưởng, vậy thì làm sao về cực lạc?
III. Khuyến tấn tu tập
Chỗ dựa của sanh tử luân hồi tăng trưởng thì đau khổ tăng trưởng, không phải mình học là mình chấm dứt được hết nhưng mình từ từ chuyển hóa, giảm thiểu từ từ nhưng ít nhất phải thấy, phải biết nguyên nhân làm cho mình khổ. Đây chính là trí huệ của bậc thánh chứ không phải trí huệ của người thường, ngoài Đức Phật ra không có ai chỉ được cho mình biết cho nên mình rất may mắn được làm đệ tử Phật để nghe được Chánh Pháp, có người suốt cả cuộc đời từ lúc sanh ra đến khi nhắm mắt cũng chưa được nghe một câu kinh trong tạng kinh Nikāya này.
Vì thế nếu thấy cái thân này là an ổn, khỏe mạnh, tốt đẹp thì cái ái của mình sẽ tăng trưởng, Đức Phật dạy phải quán cái thân tứ đại này là bệnh, vô thường, bị biến hoại, không bền chắc, phải luôn nhớ già, bệnh, chết. Ba chữ này là diệu dược, linh dược, Phật dược trị tất cả phiền não, lúc nào quý vị buồn giận thì cứ nhớ "chết tới nơi rồi không lo mà ở đó lo giận, bỏ cái giận qua một bên đi", mọi người có thực tập được không? Có dễ nhớ không?
Không thì mọi người xăm chữ chết ngay trên trán cho nhớ, xăm hình quá nhiều mà sao không ai xăm chữ chết để nhớ hết vậy, ngày nào soi gương cũng thấy chữ chết trên trán để cố gắng tu học chứ không để mê chơi, ham ăn ham ngủ hoài. Cho nên mình phải thấy được sự bất an, bất toàn, bất toại nguyện là bản chất của cuộc đời này, mọi người xem thử trong cả vũ trụ này có cái gì là an ổn không?
Ở miền Bắc bị sạt lở núi đá làm chết 40-50 người, chiếc xe 16 chỗ rơi xuống vực làm chết 13 người, cả một đoàn đi rước dâu chết hơn 10 người, rạp đại hỷ biến thành đại tang, những người đó 5 phút trước khi chết thì họ có biết mình sẽ chết không? Trước đó 4 phút họ biết không? Trước đó 3 phút cũng không biết mà ngay sát giờ chết thì họ mới biết nhưng muộn rồi, có những trường hợp chết mà không biết tại sao mình chết rồi không thể siêu thoát được vì tâm luyến ái quá mạnh, cho nên cái vô thường ập đến một cách bất ngờ làm mình không trở tay kịp, không cảnh giác sự vô thường mà nó đến thình lình thì mình sẽ như thế nào? Trời mưa nước ngập dâng cao có một cô đi mà không để ý nên bước hụt vào ống cống gãy chân, cái thân này mong manh như vậy đó, Đức Phật nói thân này là đồ gốm nên dù cho nó còn là đất sét hay đã cho vào lò nung thì tính chất bể ở trong món đồ gốm đó rồi cũng như cái chết ở trong sự sống, cái già đã ở trong cái trẻ, cái bệnh đã ở sẵn trong cái khỏe rồi.
“Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Phải thấy được như vậy để quán chiếu tu tập chứ mình đừng nghĩ mình cứ như vậy hoài, mình cứ nghĩ là mình an ổn hoài, khỏe mạnh hoài, điều này là không thể có được, mà thay vào đó sẽ là sự bất an, bất toàn, bất toại nguyện là bản chất của cuộc đời này. Bất toàn là không có gì vẹn toàn, tất cả chỉ là tương đối mà thôi. Bất toại nguyện là trong lòng mình không có gì có thể làm mình thỏa mãn, cho nên chỉ có bậc giác ngộ thành tựu trí huệ mới đạt đến chỗ vô nguyện giải thoát môn, tức là bậc đó không còn tham dục, không còn hi vọng, mong chờ nữa vì thấy rõ tất cả pháp đều là trống rỗng, vì thế bậc này đạt đến vô nguyện giải thoát môn, vô tướng giải thoát môn và không giải thoát môn là ba cánh cửa giải thoát, cho nên ở chỗ của Minh Thành để ba cánh cửa giải thoát mà những người trẻ gọi là Cổng Trời.
“Và này các Tỳ-kheo, những ai trong quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy từ bỏ ái.
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy đã được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ đã giải thoát khỏi đau khổ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
IV. Thường xuyên quán chiếu
Minh Thành đang chỉ cho mọi người cái lõi của sự tu tập, trái tim của Tam Tạng thánh điển. Mọi người phải nhớ khi nhìn thấy cái gì đáng yêu, hấp dẫn, đáng thích thì phải quán xét nó là vô thường, không có gì đáng tham mê ở đây, nếu mình có được thì vẫn hưởng nhưng không bị dính chặt vào trong đó, vì khi nắm chặt mà nó biến đổi thì mình sẽ khổ đau. Dù cho mình có thì cũng phải quán chiếu như vậy thì huống hồ gì mình không có sẽ khỏe hơn rất nhiều, mình sẽ không khổ, bây giờ được thì mình cũng không tham mà mất đi mình cũng không tiếc nuối vì mình biết nó vô thường nên mình sống một cách điềm nhiên, an nhiên.
Nhưng người có phước, luôn nghĩ lời thiện, nói lời thiện, làm việc thiện thì người đó thường sẽ sống với những cái thấy, cái nghe, tiếp xúc với những điều tốt lành, đẹp đẽ, quý báu. Mọi người có muốn như vậy không? Nếu muốn thì phải nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện, làm tất cả công đức nhưng không chấp trước, không tham ái vào đó, không đi khoe khoang mọi nơi, khi làm xong là buông bỏ, không cần ai biết, không cần thông báo gì hết.
Cho nên Đức Phật nói thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, một người con trai thấy một cô gái rất đẹp thì đối tượng đó có phải là đáng hấp dẫn không? Nhưng người con trai này có vợ rồi thì sao? Nếu lúc đó không có sự tu tập, không biết quán như Minh Thành đã nói ở trên mà để cho cái tâm ưa thích phát triển mạnh lên thì sẽ tan nhà nát cửa, gia đình đổ vỡ. Có phải nên quán chiếu sự hấp dẫn này là đáng sợ hãi không? Phải tránh né nó.
Bây giờ người ta quảng cáo, chèo kéo mình vào buôn bán đa cấp với những lời dụ dỗ ngon ngọt, có lời rất nhiều thì mình nghe có hấp dẫn không? Nếu mình nhảy vào thì hậu quả ra sao? Cho nên mình phải quán sự hấp dẫn, lôi cuốn, ngon lành này là khổ, phải cẩn thận nếu không tiền mất tật mang. Mọi người có thấy pháp ứng dụng rất nhiều vào cuộc sống không? Nó giúp cho mình có trí huệ, tỉnh táo sáng suốt, không bị lòng tham che mờ, tham thì thâm, thâm thì hụt, mà hụt thì nợ, thậm chí bán nhà bán cửa vì lòng tham.
Vì vậy khi thấy cái gì đáng yêu, hấp dẫn, thích thú thì phải đặc biệt cẩn thật, và phải quán nó là vô thường, là khổ, là vô ngã, là đáng sợ hãi nên những người này từ bỏ cái ái. Nếu mình có phước thì tự động nó sẽ đến với mình, có muốn bỏ cũng không bỏ được, đây mới là chỗ độc đáo, nếu đúng là phước báu của mình thì có bỏ cũng bỏ không được, còn những gì không phải của mình mà có muốn nắm cũng không nắm được cho nên cái nào không phải của mình thì đừng cố tranh giành, nắm chặt lấy nó, cuối cùng cũng chỉ mang khổ vào thân.
Những lời kinh này mọi người phải học thuộc lòng, đây chính là bí kíp chánh pháp, mọi người có thấy Đức Phật dạy tuyệt diệu không? Phật dạy trí huệ rất tuyệt vời mà do mình không biết ứng dụng, không chịu để tâm thực tập, còn nếu đã thực tập thường xuyên rồi sẽ thấy rất lợi lạc. Một khi đã từ bỏ được ái thì chỗ dựa của luân hồi sanh tử được từ bỏ, đau khổ được từ bỏ, sầu, bi, khổ, ưu, não được từ bỏ.
Ta nói rằng họ đã giải thoát khỏi đau khổ, vì thế phải cẩn thận với những cái ái luyến, sự tham muốn của mình, muốn nhìn thấy tham muốn của mình thì phải luôn để ý cảm giác vì tham muốn trú trong cảm giác của mình. Khi có cảm giác khoan khoái, thích thú thì phải nhìn lại cảm giác đó, khi nóng giận lên thì nhìn lại cảm giác sân đó, đừng để nó làm chủ, dẫn dắt mình. Luôn nhìn lại cảm giác gọi là quán thọ trên các thọ trong Tứ Niệm Xứ, quán chiếu, để ý cảm giác của mình rồi làm chủ nó chứ đừng để nó làm chủ mình.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc, có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy: "Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương, có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết".
Và này các Tỳ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: "Ở đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu, hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô), hay nhiếp phục với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ lâu dài". Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Quý vị thấy giữa hai người này thì người nào thông minh? Người trước hay người sau? Người uống thông minh hay người nhiếp phục không uống là thông minh? Người uống thứ nước này vào mà có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết chính là mình đây, Đức Phật đã nói rất rõ ở trên tham ái sẽ đi vào khổ, sân si là khổ mà mình vẫn không từ bỏ được, có chuyện xảy ra là "thưa thầy, ai bỏ được chứ con là không thể bỏ qua cho bà đó được", như vậy có phải mình uống thuốc độc không?
Phật đã cảnh báo đây là nguyên nhân của khổ mà mình vẫn không nghe, cứ uống đại đi rồi tính sau, mình không có nhẫn sắc, nhẫn dục, không kiềm lòng được trước những cái tham nên khi gặp cái gì hấp dẫn, đẹp đẽ là mình bị lôi cuốn hay gặp đối tượng sân hận là mình nhảy vào là lửa phựt, mình không nhiếp phục, không nhịn được cơn khát là uống vào, giãy giụa gọi xe cấp cứu chở đi. Còn người trí huệ là khi nghe nói nguy hiểm quyết định không uống thứ nước này, đó mới là người thông minh, cũng như khi nghe nói tham ái là chỗ dựa của luân hồi sanh tử nên mình ráng cố gắng nhiếp phục thì đó là người thông minh, còn nghe rồi mà vẫn làm biếng, tìm mọi lý do để không tu, nào là bệnh, già, đau nhức…
V. Thánh quả
Tại sao không nghĩ rằng già rồi không còn nhiều thời gian nữa nên phải tu mau lẹ lên, chứ chết rồi sẽ không kịp tu nữa, sao mọi người không ai nghĩ như vậy? Sâu sắc như vậy mà mình lại không để ý, mình nghe rồi tụng niệm mà trở về cũng như cũ, không điều chỉnh, không nỗ lực tinh tấn để thay đổi, hướng thượng, tu tập giới – định – tuệ, làm tăng trưởng trong thiện pháp, làm lớn mạnh trong công đức, làm cho mình càng ngày càng sâu sắc đối với trí huệ khổ thánh trí, thấy rõ nguyên nhân của khổ và con đường chấm dứt khổ đau là trí huệ siêu việt, người nào đạt được trí huệ này còn hơn thống lãnh quả đất, hơn làm chủ địa cầu.
Hơn thống lãnh cõi đất,
Hơn được sanh cõi trời,
Hơn chủ trì vũ trụ,
Quả Dự Lưu tối thắng.
(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 178)
Ai thành tựu trí huệ này còn hơn làm vua trời vì đây là trí huệ của bậc thánh. Nếu mình thấy và thành tựu được trí huệ này thì siêu việt tất cả thế gian, gọi là trí huệ xuất thế gian, thành tựu được trí huệ này thì chấm dứt khổ, chậm nhất là bảy đời thẳng tiến đến Chánh Giác của bậc Dự Lưu, tức là tham dự vào dòng pháp, mở con mắt trí huệ, sớm nhất là trong một đời và đời này là đời cuối cùng của bậc thánh giả khi đã nhìn thấy được như vậy, người ta quán chiếu sắc thân này là vô thường, bất tịnh, từ bỏ, không còn đam mê, thích thú nữa. Đến lúc chuẩn bị ra đi thì người ta sẽ quán thâm sâu vào tứ đại ngũ uẩn là từ bỏ, không muốn tiếp tục nữa thì lúc đó từ bỏ hẳn và nhập Niết-bàn, không còn đi trong vòng luân hồi sanh tử nữa.
Còn mình lúc chuẩn bị ra đi là hoảng loạn, sợ hãi rồi chụp vào đủ thứ thân, nếu là khóc oa oa là vào thân đứa con nít, còn không thì kêu chít chít hay be be, gâu gâu… Vì lúc đó thấy mất cái thân này sợ quá nên cứ nhào đại vào thân nào thì hay thân đó, nhào vào thân nào thì ra những cái thân đó, mang lông đội sừng là khổ, không có trí huệ sẽ khổ như vậy đó.
Cho nên mình tu là để đạt được trí huệ, mà cái quan trọng là trí huệ đối với dòng sanh tử luân hồi này. Phải học, phải nghe kinh cho thật nhiều, kèm theo đó phải tư duy, quán chiếu, tu tập thì cuộc đời này không còn gì bằng nữa, đừng bỏ phí thời gian, bây giờ tóc ai cũng bạc hoa râm hết rồi mà không chạy nước rút tu tập thì đợi đến khi nào nữa?
VI. Tổng kết
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, những ai trong thời hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là đau khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ đoạn trừ ái.
Những ai đoạn trừ ái, những người ấy đoạn trừ sanh y. Những ai đoạn trừ sanh y, những người ấy đoạn trừ đau khổ. Những ai đoạn trừ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ được giải thoát khỏi đau khổ.
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, VI. Xúc Chạm, Biết Rõ)
Bài kinh này rất dài nhưng Minh Thành chỉ trích những yếu nghĩa để giới thiệu cho mọi người. Như vậy đầu tiên Đức Phật nói cuộc đời có nhiều cái khổ mà tất cả cái khổ đó đều là già chết và cái chết là cái khổ lớn nhất. Sở dĩ cái đau khổ hiện hữu, có mặt trên đời này từ chỗ dựa của sự sanh tử luân hồi, chỗ dựa đó là chính là ái, tham ái, luyến ái, yêu thích, đam mê, đây là chỗ cội gốc của vấn đề. Cái ái này sanh khởi ở mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý ngay nơi bản thân mình, từ chỗ mình yêu mình rồi mới yêu cái của mình, từ cái tôi mới có cái của tôi.
Con tôi, tài sản tôi,
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu.
(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 62)
Bây giờ phải thấy được những điều này, còn đợi đến khi nhắm mắt là muộn màn rồi, phải thấy từ lúc này để làm các thiện pháp công đức, làm tất cả các hạnh lành: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Tu tập tất cả các thiện pháp, đó là tư lương cho đời sau, còn bây giờ cứ lo gom góp, tạo nghiệp, đến lúc nhắm mắt ra đi tất cả đều bỏ lại hết, cho người sống sử dụng còn bị nói ngu, còn mình mang nghiệp ra đi.
Vì thế phải nhớ ái là chỗ dựa của sanh tử, từ cái ái mà mình đi vào khổ đau. Ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh, lấy ái làm hiện hữu, bất cứ một người nào trên cuộc đời này đối với những điều đáng yêu, hấp dẫn mà cho nó là vui, là an ổn thì người đó làm ái tăng trưởng, đau khổ tăng trưởng. Ngược lại, khi thấy những điều hấp dẫn, đáng yêu, đáng thích mà biết nó là vô thường, là khổ, là đáng sợ hãi, không đam mê thì cái khổ chấm dứt, giải thoát sanh tử luân hồi. Đó là trọng tâm, là yếu nghĩa của Phật pháp, là con đường chấm dứt luân hồi sanh tử, giải thoát khổ đau.
VII. Chân nhân
Xin thưa với quý Phật tử, trong sự học Phật và tu Phật rất sâu sắc, không đơn giản như cái mình đang hiểu. Thậm chí những sách mình đọc mà mình hiểu theo chữ trong đó chưa chắc đã đúng, cho nên Đức Phật nói sanh ở trong đời mà gặp được chánh pháp rất khó, bậc Chân nhân là khó tìm, Chân nhân là những vị thấy được chánh pháp, thành tựu được chánh tri kiến và rất khó gặp những vị này.
Cho nên quý vị phải nắm cho vững tổng cương lĩnh của Phật pháp thì mới không hoang mang, còn nếu tụng mỗi bộ kinh khác nhau là mình sẽ không biết đường tu, nên bây giờ chỉ cần nắm tổng cương lĩnh là được, giống như đi chùa chỉ cần vào đúng chánh điện lạy Phật là xem như đi chùa xong rồi chứ không cần vào phòng này phòng kia.
Giáo pháp cũng giống như vậy, toàn bộ giáo pháp của Đức Phật trình bày sự thật của cuộc đời này, bản chất của nó là khổ, cái khổ ở đây không đơn giản như mình thấy người đó bệnh, già, chết hay bị tai nạn… là khổ, những cái khổ này rất nhỏ. Cái khổ sâu sắc của đạo Phật là cái khổ của sự vô minh, không thấy bản chất, không thấy sự thật.
Giống như quý vị nhìn Minh Thành thì cứ nghĩ là Minh Thành, có thật sự là thấy Minh Thành không? Nếu không thấy Minh Thành thì thấy cái gì? Thấy mà như không thấy, tại sao vậy? Vì chỉ cần rọc một lớp da ra thì trong đây là gì, có còn là Minh Thành nữa không? Thành ra Phật pháp rất thâm sâu, đòi hỏi mình phải gặp được bậc thành tựu chánh tri kiến mới chỉ cho mình thấy được căn nguyên của đau khổ và phương pháp chấm dứt khổ đau, vì thế trong kinh tạng Nikāya Đức Phật luôn nhấn mạnh bậc đa văn thánh đệ tử gặp được bậc Chân nhân, gặp được Đức Thế Tôn, gặp được bậc hiền thánh Tăng, nghe được chánh pháp, tư duy tu tập và quán chiếu thì mới chấm dứt hết khổ đau.
Lúc Đức Phật và các vị Tỳ-kheo đi trong rừng Simsapa thì Phật cúi xuống nắm một nắm lá và hỏi các thầy Tỳ-kheo lá trong rừng nhiều hay lá trong lòng bàn tay ta nhiều thì các thầy Tỳ-kheo bạch Đức Phật lá trong rừng rất nhiều, lá trong bàn tay Thế Tôn rất ít. Đức Phật nói cái trí huệ, sự chứng đạt, thấy biết của Ta nhiều như lá trong rừng mà lời Ta nói cho các ông ít như lá trong lòng bàn tay, vì Ta chỉ nói những gì liên hệ với mục đích, mà mục đích đó là bản chất của cuộc đời là khổ và Ta chỉ ra con đường chấm dứt khổ đau.
Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại rừng Simsapà.
Rồi Thế Tôn lấy tay nhặt lên một ít lá Simsapà, rồi bảo các Tỷ-kheo:
-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, một số ít lá Simsapà mà Ta nắm lấy trong tay, hay lá trong rừng Simsapà?
-- Thật là quá ít, bạch Thế Tôn, một ít lá Simsapà mà Thế Tôn nắm lấy trong tay, và thật là quá nhiều lá trong rừng Simsapà.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, thật là quá nhiều, những gì Ta đã thắng tri mà không nói cho các Ông! Thật là quá ít những gì mà Ta đã nói ra!
Nhưng tại sao, này các Tỳ-kheo, Ta lại không nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, những điều ấy không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta không nói lên những điều ấy.
Và này các Tỳ-kheo, điều gì mà Ta nói? "Ðây là Khổ", này các Tỳ-kheo, là điều Ta nói. "Ðây là Khổ tập", là điều Ta nói. "Ðây là Khổ diệt", là điều Ta nói. "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", là điều Ta nói.
Nhưng tại sao, này các Tỳ-kheo, Ta lại nói ra những điều ấy? Vì rằng, này các Tỳ-kheo, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
(Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, IV. Phẩm Rừng Simsapà, I. Cây Keo)
Mình lấy hai điều này làm kim chỉ nam để tu học, làm sao mà trong thường ngày tiếp duyên xúc cảnh thì quý vị phải khởi lên trí quán thấy được bản chất của nó là khổ và không đam mê nó, danh từ chuyên môn là nhất hướng nhàm chán, một mực nhàm chán, đừng yêu thích nó. Nhàm chán không có nghĩa là không ăn, không uống, không làm việc mà nhàm chán để không đam mê, si mê, không điên đảo trong đó, cho nên khi mình mới 18-20 tuổi mà mình đi dự đám cưới người ta thì mình có cảm giác khác, còn giờ mình lên hàng 60-70 tuổi đi dự đám cưới cháu thì có khác không? Mình thấy tội nghiệp nó vì khổ đến rồi mà nó không thấy, chỉ thấy vui sướng. Mọi người có thấy sự khác biệt không? Vì mình đã trưởng thành rồi, mình đã trải qua rồi và đã thấu hiểu rồi.
Đối với trí huệ Phật pháp cũng như vậy, người đã thành tựu trí huệ nhìn rất sâu sắc chứ không phải chỉ nhìn vào cái vỏ bên ngoài, họ nhìn thấy hoa đẹp nhưng họ biết bảy ngày sau nó sẽ nằm trong thùng rác chứ không phải thấy hoa tươi đẹp rồi đam mê, họ biết rằng chỉ vài ngày nữa nó sẽ bị vứt đi không thương tiếc. Nhìn thấy được như vậy là thấy bằng con mắt trí tuệ, những nguyên nhân nào đưa đến khổ thì phải nhiếp phục, giảm thiểu và chấm dứt và mình biết rằng nguyên nhân của khổ là tham sân si và bản ngã, những thứ đó đưa đến khổ.
Tham thì phải quán bất tịnh, thân này nhơ nhớp. Sân thì phải trải tâm từ, tình thương để hóa giải oan gia. Si thì phải tinh tấn, nỗ lực chấn chỉnh mạnh mẽ, quán chiếu trí huệ. Bản ngã thì phải tu vô ngã. Như vậy mình nhiếp phục, chuyển hóa thì cái khổ bớt từ từ, trí huệ càng sáng lên cho đến lúc sáng như Mặt Trời thì chứng A-la-hán.
./.
HYPERLINK "https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-12c.htm" https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-12c.htm
https://www.youtube.com/watch?v=ZwvUH1Mja4w