Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm tắt Ngũ uẩn Giảng Giải 9

2026-03-03 00:52:09
Tinh Hoa Nikāya

TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 9

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế nào là chân tu PAGEREF _Toc129613283 \h 1

II.Bản chất của ngũ uẩn PAGEREF _Toc129613284 \h 4

Thế nào là chân tu

Khi sanh khởi những cảm giác, tham muốn thì ngũ uẩn vận hành như thế nào? Khi sanh khởi lên những cảm giác bực bội, khó chịu thì ngũ uẩn lúc đó như thế nào? Hay khi có những cảm xúc đúng sai, hơn thua, cái tôi, cái ta thì những cảm giác, nghĩ, tưởng sanh khởi như thế nào? Trong mỗi trường hợp như vậy, chúng ta cần dùng cái gì, dùng cách gì, dùng phương pháp gì và tác ý như thế nào để nhiếp phục, chế ngự tất cả những ác, bất thiện pháp đó? Kinh tạng Nikāya sẽ đưa ra từng phương pháp đối trị cụ thể, rõ ràng để chúng ta tu học. Chính vì vậy, môn học này là Pháp hành Kinh tạng Nikāya chứ không phải là những lý thuyết, tri thức, nhận thức suông. Đây là phương pháp thực tập và hành trì thực tế; chúng ta có thực hành thì mới có thể cảm nhận được những công năng, tác dụng, giá trị, lợi ích của Thánh Pháp này.

Sự tu học của chúng ta là quay trở về cảm nhận cảm giác thân tâm; dòm ngó, chăm sóc và quản lý cảm xúc, cảm giác, cảm thọ; quán chiếu cảm giác trong mọi lúc mọi nơi mà nhất là những lúc tham sân si, bản ngã, vô minh sanh khởi. Nếu không có sự an trú cảm giác toàn thân, tâm không có mặt ở nơi thân, không định tâm trên thân; chúng ta để tâm đi chơi, đi rông, thả lỏng, buông lơi, buông lung, không biết rõ việc mình đang làm, không kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê, kiểm toán, kiểm điểm cảm xúc, tư tưởng, suy tư… thì chúng ta sẽ khiến tâm này trở nên hỗn độn, hoang vu, rừng rú, không được huấn luyện. Đến khi những cảm xúc tiêu cực sanh khởi, bị những duyên xúc bên ngoài tác động thì không có cách nào có thể nhiếp phục, chế ngự được.

Thế nên, trong sự tu học này, chúng ta là một nhà điều ngự, gọi là điều ngự sư, tức là chúng ta có kỹ thuật để điều phục và chế ngự các cảm xúc của mình. Chúng ta phải làm một người thầy thiện xảo trong việc nhiếp phục, chế ngự, huấn luyện các cảm thọ, cảm giác, cảm xúc. Đây là cả một công phu, công trình, công lao, công đức của chính chúng ta; chứ không phải là một việc làm hời hợt, qua loa, hình thức ở bên ngoài.

Bất cứ lúc nào chúng ta cũng phải xem lại cảm giác trên thân, cảm giác trong tâm của mình, coi lại trong tâm đang có hình bóng gì, đang có tưởng gì. Lúc nào cũng phải lắng nghe trong tâm mình đang nói điều gì; đang thì thầm điều gì; đang có những ý hành gì để tập nhiếp phục chế ngự, quản lý, kiểm soát, huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ những thọ, tưởng, hành đó. Không để cho tâm muốn nghĩ gì thì nghĩ, không cho tâm có cảm xúc gì là cảm xúc, không cho muốn tưởng gì là tưởng. Tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng đó phải nằm trong tầm kiểm soát, quản lý của chúng ta, nằm trong sự dòm ngó, quan sát, quán chiếu, soi xét được chúng ta cho phép hay không cho phép. Ví dụ, khi đang ngồi học thì bỗng nhiên có ý muốn bước ra ngoài cho thoải mái; khi ý nghĩ đó sanh khởi lên phải được nhiếp phục, chế ngự, dập tắt, đoạn tận ngay lập tức, tác ý “giờ này là giờ học không phải muốn vào là vào, muốn ra là ra”; làm được như vậy là chúng ta đã quản lý được suy nghĩ của chính mình.

Cho nên, chúng ta phải tập quản lý tất cả những thọ, tưởng, hành. Nhớ rằng, không phải tu là để tự nhiên, vì những thứ tự nhiên của chúng ta là trong vô minh, buông lung, phóng dật, tham sân si, bản ngã, dục ái; tự nhiên của chúng ta là tâm cấu nhiễm, uế nhiễm, chứa đầy những ác và bất thiện pháp. Vì vậy sự tu này là cả một cuộc nội chiến, chiến đấu nội tâm, bất cứ lúc nào chúng ta buông lơi là lúc đó bị giặc cướp. Có khi chúng ta đang ngồi học trong lớp như vậy nhưng giặc đánh ầm ầm bên trong mà không thấy biết. Dễ thấy nhất là giặc ngủ gục, ngồi học với gương mặt đờ đẫn, tức là một người bạc nhược không ý chí, vấn đề này rất sâu sắc; hoặc có người ngồi học mà cứ lắc qua lắc lại, ngó qua ngó lại, dòm qua dòm lại, buông lung phóng dật, trạo cử. Khi thực hành được, chúng ta sẽ thấy trí tuệ về ngũ uẩn của Đức Phật rất sâu sắc, muốn tu tập được phải chiến thắng được năm triền cái, mỗi ngày phải đánh giặc năm triền cái.

Vì vậy, tìm được một người chân tu là khó không phải dễ, vì lúc nào người này cũng phải chiến đấu. Bên ngoài nhiều khi cười nói như vậy nhưng bên trong thì đang chiến đấu rất khốc liệt, ác liệt và quyết liệt. Có những người đi tu hai mươi năm nhưng không chiến thắng được cơn buồn ngủ. Có người tu trong chùa ba mươi năm mà tập khí, thói quen buông lung phóng dật không nhiếp phục được, thậm chí cho tới chết. Vậy thì làm sao đi vào trạng thái sơ thiền, vì muốn đi vào sơ thiền phải diệt được năm triền cái. Hơn nữa, trạng thái sơ thiền không phải chỉ trong lúc ngồi mà ngay cả khi đi, đứng, nằm cũng ở trong trạng thái sơ thiền, tức là chúng ta phải diệt tận được dục tham, sân, trạo hối, hôn trầm và hoài nghi.

Khi nào trong tâm không có năm điều này thì lúc đó tâm mới trong sáng; còn trong tâm có một trong năm điều này thì Đức Phật gọi tâm đó là tác thành không mắt, tác thành vô trí, nghĩa là khi có năm điều đó là ta trở thành kẻ mù. Ví dụ, tâm chúng ta đang ham muốn món đồ nào đó thì tâm bị chi phối, ám ảnh bởi hình ảnh, ý niệm, cảm giác và những suy nghĩ về món đồ đó, tâm như vậy được gọi là tâm mù, tâm không trong sáng, vì bị món đồ đó, con người đó ám ảnh trong tâm. Hoặc khi ta đang giận ai thì sẽ nhớ về người mình giận, suy nghĩ về cái giận đó, lúc đó tâm không còn trong sáng nữa. Đức Phật gọi năm pháp đó là tác thành si ám, tác thành vô trí, tác thành không mắt, tức là mù lòa.

Qua đó, chúng ta muốn thấy được tất cả pháp đều phải quay lại cảm thọ, quay lại ngũ uẩn, tức là lúc nào cũng phải để ý xem thân tâm của chúng ta đang có cảm giác gì đây; có uể oải không; có mệt mỏi không; có buồn chán không. Nếu có buồn chán thì phải tu tập Hỷ, hãy làm cho sự buồn đó tan biến khỏi thân tâm của chúng ta, tác ý hân hoan hỷ lạc. Chúng ta thấy đó, sự tu trong tinh thần nguyên chất của Đức Phật rất là khít khao, sát sao, miên mật, tỉ mỉ, nhỏ nhiệm. Lúc nào cũng chăm chăm quay vào nội tâm, quản lý và kiểm soát tâm mình một cách sát sao, khít khao nhưng mà tinh tế, nhỏ nhiệm thì từ từ mới có thể làm chủ được tâm mình. Một người tu tập chứng được từ vô lượng tâm thì người này có thể trú trong đó suốt luôn một tháng, ba tháng, một năm, mười năm, bất cứ lúc nào muốn vào trạng thái tâm đó là vào. Giống như một người muốn vào nhà tắm để tắm, vị này chỉ cần mở vòi sen lên là được; cũng vậy, người chứng được từ vô lượng tâm thì bất cứ lúc nào, chỉ cần tác ý thì tâm từ đó sung mãn cùng khắp thân tâm. Còn chúng ta giờ, nhiều khi nổi giận lên bảo thôi đừng có giận nữa mà giận vẫn cứ giận, vì chưa đạt được tâm từ.

Đức Thế Tôn có dạy “Này các Tỳ Kheo hãy tinh cần, nỗ lực, tinh tấn chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ”. Chúng ta thấy rằng, biết bao nhiêu pháp chúng ta chưa chứng ngộ chưa chứng đạt, chưa chứng đắc nhưng chúng ta vẫn không có ý thức sâu sắc về những cái đau khổ nó đang quay bao vây, đang vây hãm chúng ta. Trong tâm chúng ta có trăm ngàn mũi tên, trăm ngàn độc tố, đầy rẫy những phiền não, rác bẩn, cấu nhiễm. Nếu không được Bậc chân nhân, chánh kiến chỉ cho nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sẽ không thấy Pháp, sẽ không thấy rác bẩn, cấu nhiễm. Chính vì không thấy nên không có sự lo sợ. Còn người chân tu thì lúc nào cũng khắc khoải, cũng ưu tư, lo lắng và sợ hãi.

Chúng ta đọc kinh rất nhiều lần nhưng chúng ta không sanh khởi được cảm thọ. Đức Phật nói phải sống như lửa cháy trên đầu để cầu chứng cảnh bất động, chúng ta nghe ví dụ vậy thôi chứ không cảm thọ được thế nào là lửa cháy trên đầu. Phải thấy giống như chúng ta đội cái khăn đang cháy hoặc tóc mình đang bị cháy thì phải dùng đủ mọi cách để dập tắt lửa đang cháy trên mái tóc, trên cái khăn, cái nón trên đầu. Lúc đó chúng ta còn có thời gian đi giận ai không? Có thời gian cự cãi ai không? Còn thời gian phán định người này đúng người kia sai, người này hay người kia dở hay không? Nếu còn thời gian, còn tâm trạng đi nhìn ngó người này, người kia, người nọ và phân tích, chỉ trích họ tức là chúng ta chưa thấy lửa cháy trên đầu, tức là chúng ta chưa thấy Pháp, chưa thấy khổ.

Bản chất của ngũ uẩn

Chúng ta sẽ tìm tiếp tục tìm hiểu bài học trong quyển Tóm Tắt Năm Uẩn. Đây là cốt tủy của toàn bộ Kinh tạng Nikāya, tổng luận về Thánh trí ngũ uẩn.

Khi vô minh được đoạn diệt nghĩa là khi tâm có trí tuệ thấy biết rõ về ngũ uẩn, thấy biết tất cả khía cạnh của ngũ uẩn, thấy biết rõ duyên sanh duyên diệt và bản tính vô thường phiền não luôn hồi sanh tử, trống rỗng, trống không, vô ngã, vô nghĩa lẩn quẩn của ngũ uẩn thì khi ấy lòng tham ái đối với ngũ uẩn được tẩy sạch. Do lòng tham ái đối với ngũ uẩn được tẩy sạch nên ngũ uẩn không còn chỗ trú trong tâm. Do ngũ uẩn không còn chỗ trú trong tâm nên không thể tiếp tục sanh khởi. Như vậy sự sanh khởi ra những thân ngũ uẩn vô thường, phiền não, phiền phức, khổ và luân hồi này sẽ được chấm dứt.

Những vấn đề này rất sâu sắc không phải dễ hiểu. Khi chúng ta được chỉ phương pháp nhận diện ngũ uẩn tức chúng ta bắt đầu mở ra được con mắt pháp, tức là nhìn thấy sự thật của thân tâm. Khi thấy được như vậy sẽ thấy thêm nhiều khía cạnh như duyên sanh duyên diệt của ngũ uẩn. Một điều lưu ý khi học Kinh Nikāya là một số vấn đề cốt lõi chúng ta phải học thuộc lòng và điều đặc biệt là chúng ta không được suy diễn theo ý mình vào đây. Cũng như học các định nghĩa về sắc uẩn và thọ uẩn cũng phải đúng theo kinh tạng:

Sắc uẩn: “Do các thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi, do các thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt”. Đây chính là sanh diệt trí của sắc uẩn, nếu nói đầy đủ sẽ gồm bảy trí về sắc, từ đó thấy được nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn, để biết được sắc là pháp vô thường, sanh diệt, duyên sanh. Nếu không, chúng ta nhìn thấy chậu hoa là chậu hoa, cái chuông là cái chuông, cái bàn là cái bàn, con người là con người… tất cả đều thấy là thật, không biết đó là sanh diệt pháp. Ví dụ, khi nói “đây là Thầy A”, “đây là cô B”, “nọ là chú C” là khi ấy chúng ta thấy có một con người, có một tự ngã, không thấy đó chỉ là một sắc pháp. Sắc pháp này tồn tại là do phải có thức ăn, nếu ngưng lại không cho ăn sẽ chết. Hơn nữa, đồ ăn đó cũng chỉ là đất, nước, gió, lửa; thở cũng là ăn, là sự trao đổi chất.

Thọ Uẩn: “Thọ sanh do xúc tập khởi, thọ diệt do xúc đoạn diệt”. Cảm giác sanh là do tiếp xúc, nếu không có tiếp xúc thì không có cảm giác. Ví dụ khi nghe có người chỉ trích, nói xấu mình thì mình mới sanh khởi cảm giác khó chịu. Nếu một người đang nói xấu và người này đứng trước cổng chùa nói hoặc người này ở xa tại miền Tây, miền Bắc… thì khi họ nói, chúng ta có sanh khởi sự tức giận, khó chịu không? Lẽ dĩ nhiên là không, vì chúng ta không có tiếp xúc. Vì vậy, khi xúc tập khởi nên thọ, tưởng, hành mới tập khởi. Xúc đoạn diệt thì thọ, tưởng, hành sẽ đoạn diệt. Ví dụ chúng ta thương ai giận ai là vì có tiếp xúc với người đó, nếu không tiếp xúc thì không có thương, giận. Sự giận đó chính là Thọ uẩn.

---

Để hiểu được sâu sắc những vẫn đề này chúng ta cần có những kiến thức căn bản, những kiến thức căn bản nằm trong mười tám bài “Nhận diện thân tâm”. Chúng ta cần phải biết tất cả các khía cạnh của ngũ uẩn, khi ta biết được bản chất của nó là khổ đau, là biến đổi, là vô thường, là trống rỗng, là vô ngã vô nghĩa, là lẩn quẩn thì xem đây là những đề mục thiền quán vô nghĩa, vô ngã, vô thường. Hôm nay chúng ta nghe thêm chữ vô nghĩa, có nghĩa là không có nghĩa lý gì cả. Đời sống này đối với một kẻ vô văn phàm phu, đối với những kẻ mù lòa không có trí tuệ thì đời sống này là vô nghĩa, không có nghĩa lý gì. Chỉ có đối với bậc Đa văn Thánh đệ tử, thành tựu thánh trí tuệ thì mới có ý nghĩa, đối với kẻ vô văn phàm phu là vô tình, vô nghĩa, chỉ là“trao tâm luyến ái là nhận vào sầu đau” (Cửa vào bất tử – Giải thoát trí).

Một lần, Minh Thành ghé thăm một vị Thầy nằm trong Ban trị sự chùa tại Bảo Lâm, khi nói chuyện Thầy rằng: “Thầy Minh Thành có biết rằng mới vừa lên Trụ trì sẽ làm việc gì đầu tiên không?”; Minh Thành thưa: “Dạ con không biết xin Thượng Tọa chỉ dạy cho con”. Thầy ấy đáp rằng:“ Việc làm đầu tiên khi lên Trụ trì là đập chùa xây lại”.

Khi nghe nói câu đó, Minh Thành chiêm nghiệm lại những thánh tích, những danh thắng mà mình đã đi qua thăm viếng từ Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Srilank... Có những nơi đi tới chỉ còn là tàn tích, những dấu vết lụn tàn của thời gian. Ngày xưa những chỗ tại Srilanka có hàng chục ngàn Chư tăng tu học; tại Ấn Độ, những trường Đại học xưa có vài chục ngàn vị; hay tại Tây Tạng cũng vậy… nhưng bây giờ thì tan hoang, tan tành. Khi đến đứng tại những chỗ đó thì lòng Minh Thành bùi ngùi, xúc động vô cùng, nhớ đến lời Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, vô thường như thế là các hành, bất an như thế là các hành, không có kiên cố như thế là các hành. Đến đây vừa đủ để các ông nhàm chán, tới đây là vừa đủ để các ông từ bỏ, đến đây vừa đủ để cái ông giải thoát đối với tất cả các hành”. Chữ hành ở đây là sự vận hành của ngũ uẩn. Nhiều khi, những người đi trước dồn biết bao nhiêu tâm quyết để tích lũy, gầy dựng, khi làm xong rất vừa ý, sung sướng, hạnh phúc. Đến khi vừa chết, người lên thay đập bể rồi bắt đầu sửa lại, họ cho rằng như vậy vừa xấu vừa không đúng. Tất cả các pháp vô thường, không có gì kiên cố, ngay cả tấm thân này bất cứ lúc nào cũng có thể sụm xuống, sụp xuống, úp xuống, ngã xuống, đổ xuống và nằm xuống, đừng nói chi những thứ thân này tạo ra.

Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, sắc này là vô thường, thọ này là vô thường, tưởng này là vô thường, hành này là vô thường, thức này là vô thường”. Cái tạo ra sắc này cũng là vô thường thì làm sao sắc này thường được. Những cái làm ra cái thân này là vô thường thì làm sao thân này thường được. Từ cái vô thường làm ra cái vô thường thì làm sao cái vô thường này là thường được. Cũng như nước bọt xà phòng, làm ra bong bóng, bản thân bọt xà phòng nước đó cũng vô thường thì làm sao làm ra bong bóng kim cương được, làm sao làm ra bong bóng vững chắc, kiên trú, cứng chắc. Bản chất của nó là bọt, là bong bóng, là thứ khổ đau, đầy bất an, sợ hãi và tai họa. Cũng vậy, trong ngũ uẩn này không có pháp nào là pháp an ổn, vững chắc và kiên trú. Tất cả đều nằm trong cái tiêu ma, hoại diệt, biến động, vô thường, tan biến, khổ đau, đầy bất an và tai họa. Hãy nhìn thấy trí tuệ đó, khi đó chúng ta mới bình thản trước cuộc đời này, nếu không, mới thương đây rồi giận, vừa mới thân đây rồi sân, mới mẹ con, cha con, huynh đệ, thầy trò, lát sau quay ra trở mặt, thưa nhau ra tòa, đốt nhau chết. Mới đây, vì chia gia tài không đồng đều mà ba người con gái dốt mẹ chết, thật sự khủng khiếp, đều là mẹ con, là mẫu tử mà đối xử với nhau như vậy.

Chúng ta có nhìn thấy cuộc đời này là vô tình, vô nghĩa không? Đó bản chất của ngũ uẩn, chẳng qua nghiệp với nhau thôi, nghiệp nhiều, nghiệp ít hay nghiệp vừa. Tất cả chỉ là nhân quả của nghiệp, chỉ là vô minh, nghiệp và nhân quả. Tại sao? Vì tất cả sắc, thọ, tưởng, hành và thức đều nằm ở trong sự biến đổi. Cảm thọ luôn biến đổi thì làm sao thương hoài được, suy nghĩ biến đổi liên tục làm sao như vậy mãi được, nhận thức cũng vậy, đổi thay liên tục. Ngũ uẩn này “bản tánh là như vậy, bản chất là như vậy, không thể vượt khỏi tính chất ấy” (Kinh Niệm Xứ). Nếu không thấy được vấn đề này sẽ còn khổ dài dài, khổ mãi mãi. Chúng ta tin tưởng vào những thứ giả dối rồi đòi hỏi những người kia chân thật với chúng ta, trong khi tự bản thân chúng ta không còn không chân thật với chính mình. Tư tưởng mình có chân thật với chính mình không?

Chúng ta bảo là “thôi nha, không có tham nữa nha, đi tu rồi đừng có tham nữa” mà nó có nghe lời mình không hay là vài bữa nó cũng tham muốn. Khi chúng ta nói “từ đây về sau không có sân si nữa nghe không, phải từ bi không có sân hận nữa” mà nó có nghe không hay giận là cứ giận. Đó là chúng ta chưa làm chủ được sắc, thọ, tưởng, hành, thức; mà ngược lại là sắc, thọ, tưởng, hành, thức đang làm chủ mình. Cho nên chúng ta cần phải tu trí tuệ này để nhiếp phục, chế ngự, làm chủ được ngũ uẩn, sau đó nhàm chán, thoát ra ngũ uẩn.

Khi còn nằm trong ngũ uẩn là như nằm dưới núi Ngũ Hành Sơn, chúng đè đầu, cưỡi cổ chúng ta. Sắc đè đầu đè cổ chúng ta, ví dụ như chiếc xe, ngôi chùa, cái thất có đè đầu đè cổ chúng ta không? Suốt ngày cứ suy nghĩ vòng vòng bao nhiêu đó mà không thoát ra được. Thân này có đè đầu cởi cổ chúng ta không? Suy nghĩ không ra khỏi cái thân, suy nghĩ lòng vòng trong thân này. Tất cả chúng sanh đều bị sắc, thọ, tưởng, hành, thức đè đầu cưỡi cổ, làm nô lệ cho nó, làm phục dịch cho nó không phải một kiếp vô lượng, vô số, vô biên kiếp.

Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, thân này là thiếu thốn, thân này khát khao, là nô lệ cho tham ái”. Thân này là vô sở hữu, ra đi không đem theo được cái gì, thường thường phải suy nghĩ và tác ý như vậy mới từ bỏ được tất cả các vật gì trên cuộc đời này. Dù một chút nữa có chết cũng bình thản, không có gì trên cuộc đời là của mình, không có nuối tiếc, không có lưu luyến bất cứ cái gì. Không có thấy bất cứ thứ gì trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Đạt được Thánh trí tuệ này và tu học theo đó để thoát khỏi khổ đau, đây gọi là diệt khổ của đạo Phật.

Cho nên phải nhìn thấy được tính chất trống rỗng, tính chất phiền não của ngũ uẩn. Ngũ uẩn này phiền phức lắm, chỉ cần nghe một cuộc điện thoại là ăn không được, ngủ cũng không được, thậm chí muốn bệnh chỉ vì nghe một cuộc điện thoại. Hoặc khi nhìn thấy điều gì không hay, nghe điều gì không thích, về đến nhà là khóc, buồn, tủi thân vì đi tu mà không ai thương. Nhưng đi tu mà còn đi kiếm thương cái gì trong đây nữa? Bỏ cái thương cao nhất, quý nhất của cha mẹ giờ đi tu vô kiếm thương cái gì? Thương tức là ái mà ái là hệ lụy, là trói cột. Không có ai thương thì mừng bởi vì không bị sợi dây nào trói cột, nếu có người thương sẽ buồn, khổ đau, lo lắng, sợ hãi. Đừng ai nhớ, đừng ai tìm kiếm chúng ta nữa, đừng dính mắc với ai trên cuộc đời này nữa cả. Chúng ta muốn đi thì mang cái đãi lên và đi thôi. Khi chúng ta chết cũng vậy, giã từ cuộc đời này một cách bình thản, an nhiên.

Hãy kiểm tra lại mình còn thích điều gì, cái nào chúng ta thích nhiều nhất thì chính cái đó làm mình khổ nhiều nhất. Loại bỏ những cái thích ra, loại bỏ những cái thương ra, loại bỏ những yêu ra, cái ái ra. Loại bỏ, diệt tận, tẩy sạch thì tâm chúng ta mới nhẹ nhàng, bình an. Cho nên lòng tham ái đối với ngũ uẩn được tẩy sạch, do lòng tham ái đối với ngũ uẩn vẫn được tẩy sạch nên lòng tham ái đối với ngũ uẩn không còn trú trong tâm. Do ngũ uẩn không còn chỗ trú nên không còn tiếp tục sanh khởi nữa.

Điều quan trọng là chúng ta phải biết mặt mũi, tên tuổi, tánh tình, bản chất của ngũ uẩn thì mới có thể vượt thoát được ngũ uẩn. Nói những từ hết sức nôm na dễ hiểu, một là phải biết tên tuổi của ngũ uẩn, sau đó phải biết mặt mũi, tiếp đó phải phải biết tánh tình và cuối cùng phải biết bản chất của nó. Vì nếu không biết sắc, không biết thọ, không biết tưởng, không biết hành, không biết thức thì làm sao thoát ra khỏi được nó.

Chúng ta học nhận diện ngũ uẩn tức là phải nhìn mặt được ngũ uẩn. Ví dụ, ngồi trong phòng có ba mươi người, một cô tên Hiền, một thầy tên Trí thì chúng ta phải biết mặt mũi cô Hiền ra sao, cô bao nhiêu tuổi, mập hay ốm, cao hay thấp, đen hay trắng, phải biết tên và còn phải biết mặt; thầy Trí cũng vậy, chúng ta phải biết tên, phải biết mặt, sau đó mới biết tánh tình. Tên cũng giống như phần văn tuệ, phải thuộc lòng; phần mặt mũi giống như nhận diện ngũ uẩn. Phần tên tuổi, mặt mũi này chúng ta phải thành tựu, nếu không thành tựu thì khi thực hành qua nhận diện sẽ không nhận diện được. Cho nên lý thuyết là phải học thuộc lòng, nếu không sẽ không nhận diện được. Ví như một người nói rằng tôi có quen cô đó, khi hỏi cô đó tên gì lại trả lời là quên rồi, như vậy làm sao tìm được người đó.

Phần văn tuệ chúng ta phải thành tựu, phải thuộc lòng. Sau đó chúng ta mới nhận diện, nhìn nhận được gương mặt thật sự của ngũ uẩn. Nếu hai phần này không rành rẽ thì làm sao đi đến nhiếp phục, đoạn tận, chế ngự ngũ uẩn được. Cho nên nhận diện, nhận dạng, nhìn ra gương mặt của ngũ uẩn là hết sức quan trọng. Tánh tình của ngũ uẩn là dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã… chỉ có Thánh trí của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới nhìn ra được, không có người thứ hai nhìn ra được, chỉ có duy nhất một người trong tam thiên đại thiên thế giới này nhìn ra được.

Chúng ta phải xem cảm thọ bên trong khi có sự thúc giục, yêu thích như thế nào, phải nhìn ra được những trạng thái, những cảm giác, những suy nghĩ, những tưởng đó. Ví dụ, khi nhìn bông hoa thấy thích thích, đó là ái; sau khi thích thì muốn có bông hoa này, đó là tham; sau khi muốn có thì có sự thúc giục làm sao để có, đó là dục. Chúng ta phải nhìn ra được ba trạng thái này vận hành trong tâm và phải chặn đứng, nhiếp phục và chế ngự ngay từ ban đầu. Nếu không nhiếp phục, chế ngự thì không có công phu tu hành gì cả; muốn cái gì cũng làm theo ngay. Khi đó chúng ta đi lạc đường vào trong tà đạo mà không hay biết.

Trong sự tu này, nếu không tụng kinh, không ngồi thiền, không nghe pháp, không quán chiếu để tẩy rửa thân tâm, thì chúng ta làm cái gì? Hãy chiêm nghiệm lại sự tu của mình. Tất cả đều là do dục, tham, ái. Sở dĩ không nhìn thấy được điều này là vì vô minh, si mê, không biết ái, dục, tham là các bất thiện pháp. Khi các pháp sanh khởi lên, vị này không thành tựu chánh kiến, không nhìn thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy cảm thọ, không nhìn thấy được dục, ái và tham cho nên vị này nhập cuộc chung vào các vấn đề này. Không nhìn thấy, tức là vô minh, không nhìn thấy được năm uẩn. Vô minh là không sáng, không sáng thì không thể nhìn thấy. Khi không thấy thì không biết, không biết tức là vô tri, vô minh, vô trí. 

Tiếp tục lấy ví dụ chậu bông như trên. Chúng ta đang trồng, chăm sóc, tưới tẩm, yêu thích, tạo dáng cho cây bông. Có mấy đứa nhỏ chơi đá banh, đá trúng chậu bông làm gãy cành mấy chậu bông cùng một lúc. Phải mất bốn, năm năm mới trồng được những chậu bông như vậy, hay có vị nào gỡ mái nhà chẳng hạn, bất cẩn làm sập mái nhà, trúng những chậu bông, làm gãy hết những chậu bông. Khi đó sân sẽ khởi lên. Sân khởi lên vì vô minh, không biết bản chất của nó là vô thường, khổ, vô ngã.

Vô thường có rất nhiều nghĩa như là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử. Khi thay từ vô thường bằng từ đột ngột, đột biến, đột qụy, đột tử có cảm thọ hơn không? Khổ còn có nghĩa là bất an, tai họa, ách nạn, là tràn đầy nước mắt, là sầu, bi, ưu, não. Chữ khổ trùm khắp nhiều nghĩa, không phải khổ chỉ có nghĩa là khổ. Những thứ này là trống không, trống rỗng, vô ngã mà vị này xem là có ngã nên khổ. Vị này cho rằng có một cây đẹp như vậy, là thật như vậy, bền vững, bền chắc. Thân chúng ta khi so sánh với ví dụ như trên cũng giống như vậy. Từ cây cối liên hệ đến thân, liên hệ đến đồ vật, liên hệ đến chùa, liên hệ đế sự chấp ngã trong thân tâm của chúng ta cũng như vậy. Một ví dụ đơn giản như vậy nhưng chứa đựng bốn khía cạnh: tên tuổi, mặt mũi, tánh tình, bản chất của ngũ uẩn. Chúng ta phải nắm được, sau đó nhiếp phục, chế ngự và cuối cùng là đoạn tận, hoặc từ bỏ. Đây là cứu cánh của bậc Thánh.

Tiếp theo chúng ta lấy ví dụ về con người, khi nhìn thấy một người dễ thương, khả ái, lúc này ái có mặt. Khi đó thích, muốn được nhìn, muốn được gần, muốn được tiếp xúc, muốn được nói chuyện, muốn được nhìn thấy bóng dáng, lúc này tham hiện hữu. Một sự thúc giục bên trong sanh khởi, đó chính là dục. Khi đó sẽ tìm mọi cách xin số điện thoại, hỏi địa chỉ, tìm cách để liên lạc. Các pháp ái, tham, dục sanh khởi mà ta không thấy không biết, không nhiếp phục, không chế ngự. Nếu người ấy không thích, không muốn liên lạc, hay khó chịu thì chúng ta sẽ sanh khởi sầu, bi, khổ, ưu, não. Nếu không biết nhiếp phục, chế ngự thì từ đau khổ này sẽ sang đau khổ khác, cứ sanh khởi như vậy liên tục. Cho đến ngày chết lại tiếp tục sanh khởi trở lại, nếu được sanh lại làm người thì quá tốt, bằng không sanh làm những con thú lại tiếp tục đi tìm những con thú khác. Cứ chạy hoài như vậy tạo ra vòng luân hồi sinh tử. Tất cả đều từ vô minh mà sanh khởi. 

Trên đây chúng ta ví dụ về những cái bên ngoài, bây giờ sẽ ví dụ đến tự thân. Sáng ngủ thức dậy, nhìn gương để xem mặt mình, tự cảm thấy gương mặt mình xem cũng được được. Đây gọi là ái tự ngã, là vấn đề thâm sâu nhất. Một lần trên zalo, Minh Thành thấy một sư cô, chụp hình, đăng hình của mình lên, có gắn hai tai thỏ trên đầu, đây là một bất thiện pháp rất nghiêm trọng. Những thứ này chỉ để cho người thế gian, những người còn phàm phu, những người còn đầy dẫy tham, dục, ái họ làm. Chúng ta là người tu, không làm những chuyện như vậy. Nếu đưa hình chúng ta lên cũng là sai trừ khi có công việc cần thiết. Hay chụp hình mình, tạo dáng, ngắm nghía và cảm thấy thích, lại còn khoe đây là hình của tôi. Đây chính là tự ngã ái.

Chúng ta còn yêu thích hình dáng này là còn tham ái và chấp thủ thì sẽ còn sân hận, bản ngã, sẽ còn sống chết và khổ đau. Từ đây chúng ta bước vào tiến vào cấp độ sâu hơn để phá thân kiến và chấp thủ. Nên khi chúng ta nhìn hình bóng của mình trong gương, còn ham thích hình bóng của tự thể, trong tâm còn muốn làm cho thân đẹp thêm lên thì những suy nghĩ, những cảm giác, những tư tưởng đó chính là nhiên liệu để đốt lên ngọn lửa dục, tham, ái. Những chỗ sâu sắc nằm ở đây. Những suy nghĩ rằng mình đẹp, suy nghĩ yêu thích, hài lòng với hình bóng, hình thể, hình hài, hình tướng, hình sắc này được dẫn dắt từ trong vô minh, không biết ngũ uẩn, không biết tính chất vô thường, bất an, tai họa trong đời sống, trong thân xác, trong sắc tướng này. Không biết khổ và nguyên nhân của khổ. Những sự yêu thích, hài lòng như vậy chính là Khổ tập thánh đế. Sự tu tập này là phải phá đi hình bóng của tự ngã, phải phá bỏ đi suy nghĩ trong tâm của mình, đây là tôi, đây là hình bóng của tôi. Đây chính là chỗ thâm sâu của kinh tạng Nikāya.

Khi nghĩ rằng mình đẹp, khi hài lòng chấp nhận những hình dáng này khi đó có sự yêu thích, nắm giữ, chấp ngã. Tất cả các pháp đều đầy đủ trong suy nghĩ này. Nhưng có khi chúng ta không biết, lại nghĩ đây là suy nghĩ bình thường. Thật sự là không bình thường, rất bất thường đối với người tu. Người tu mà cứ đem hình ảnh của mình lên đăng và khoe mẽ. Như vậy là không đúng sẽ làm cho hàng trí giả, thức giả chê cười. Đức Phật dùng chín giai đoạn của tử thi để phá phá đi hình bóng, hình dáng, hình sắc đó. Để trong tâm chúng ta không còn ưa thích hình bóng, bóng dáng hình sắc này nữa, hình hài này nữa. Chính vì vậy, trong sự tu này rất sâu sắc. Chúng ta đừng hài lòng với những thiện pháp nho nhỏ mà mình đang có được trong hiện tại, phải còn tăng thượng tâm rất nhiều.

Sau đây sẽ đọc một vài đoạn trong quyển nghi thức tu học Nikāya cho chúng ta thấy được sự quán chiếu.

Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong

Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,

Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách

Có gì để lên mặt, hơn thua.

Nguyện tâm như kẻ nghèo đói nhất,

Có gì để lên mặt dạy đời

Nguyện tâm như bò, sừng bị chặt

Còn gì để hăng hái tranh đua.

Nguyện tâm luôn nhớ thân hôi thối

Có gì để vui thích, khoe khoang

Nguyện tâm luôn nhớ thân lủng lỗ

Có gì ngoài tủi hổ, ê chề.

Chán chê, một cái thân lủng lỗ

Rỉ chảy nhơ hôi suốt cả ngày,

Có gì đáng để khoe, để nói

Có gì để ngã mạn, ta đây.

Ai còn ngã mạn vì thân xác,

Phiền não, khổ đau sẽ dài dài.

Ai còn cao ngạo vì thân xác,

Luân hồi, thần chết sẽ hân hoan.

Ai còn say đắm nhìn thân xác,

Ngạ quỷ, súc sanh sẽ còn hoài.

Ai còn yêu thích nhìn thân xác,

Tự sát hại mình trong tử sanh.

Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,

Phiền não khổ đau, sẽ cạn dần.

Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,

Tử thần sẽ nản chí, buông tay.

Ai cười, ai thích nhìn thân xác,

Thì khổ mất thân sẽ dài dài.

Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,

Các cõi luân hồi chấm dứt ngay.

Nay con ngao ngán nhìn thân xác,

Ngao ngán xác thân phải chết hoài.

Nay con ngao ngán nhìn thân xác,

Vô thường nhưng dục, ái, tham, sân.

Nay con xin tập hạnh hiền nhân,

Từ bỏ tham sân thân xác này,

Từ bỏ khoe khoang và ngã mạn

Bỏ lòng dục, ái với xương, da.

Trên đây là trích đoạn trong bài Đảnh lễ đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất, gồm chín pháp an trú của tướng quân trí đức Chánh pháp, chí thượng thanh văn, đệ nhất trí tuệ trong hàng Thánh chúng của Đức Phật. Đây là Pháp hành của Ngài Xá Lợi Phất. Cho nên cốt lõi trong sự tu là phá thân kiến, phá chấp thủ vào hình hài, sắc tướng này, không chỉ là những thứ bên ngoài. Những thứ bên ngoài là những thứ dễ; khi đi vào những thứ trong thân này mà phá vỡ được sắc thủ uẩn, phá vỡ được tâm yêu thích, nắm giữ hình hài, hình sắc, hình tướng này mới là điều quan trọng. Phải phá vỡ được tâm này thì mới phá vỡ được thân kiến và thành tựu Chánh tri kiến. Phải phá được thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ thì mới Nhập lưu, mới bước vào được dòng trí tuệ của Đức Phật, chính thức là Thánh đệ tử của Đức Phật.

Cho nên người phá được thân kiến mới thật sự là đệ tử Phật. Không phải chúng ta cạo đầu, đắp y thì sẽ là đệ tử của Đức Phật, đó chỉ là đệ tử trên hình thức. Vị đệ tử được Đức Phật công nhận là bốn đôi tám chúng hiền thánh. Tối thiểu thì đệ tử của Đức Phật phải có tâm hướng về từ bỏ ngũ uẩn, tức là hướng Dự lưu, là vị Hiền thánh thấp nhất trong hàng bốn đôi tám chúng. Tức là vị này phải có tâm tha thiết, nhiệt huyết hướng đến sự từ bỏ sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì vị này mới vào dòng Thánh thấp nhất đệ tử của Đức Phật, là hàng bốn đôi tám chúng hiền thánh, là ruộng phước vô thượng của Chư Thiên và loài người.

Người tu bây giờ rất ít người được học và tu tập như thời Đức Phật còn tại thế. Chúng ta phải luôn trong suy nghĩ loại bỏ những yêu thích về tự thân này, yêu thích những hoàn cảnh này, những thứ này. Phải loại bỏ chúng, phải loại bỏ những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong tâm của mình. Phải loại bỏ chúng từ từ bằng việc nghe kinh, tác ý, thiền quán. Phải chiêm nghiệm, tác ý từ bỏ liên tục như vậy cho đến một lúc nào đó, thật sự tâm của chúng ta nghiêng về sự rời xa, xuôi về sự rời xa, nhập vào sự rời xa, tức là viễn ly đối với ngũ uẩn thì bấy giờ mới nhập vào các bậc hiền Thánh, chính thức là đệ tử của Phật. Như vậy, chúng ta mới thấy tu theo Đức Phật không đơn giản như mình nghĩ là cạo tóc, đắp y thì sẽ trở thành Thích Tử, Chúng Trung Tôn – đó chỉ là tự phong, là sự mong cầu của chúng ta, mới chỉ là hình thức bên ngoài. Chất liệu thật sự, bản chất thật sự của người tu là khi chúng ta thành tựu được pháp tối thiểu là thành tựu Chánh tri kiến.

./.