4 SỢ HÃI CỦA NGƯỜI MỚI XUẤT GIA
BỐN SỢ HÃI CỦA NGƯỜI MỚI XUẤT GIA
-Thích Minh Thành-
Chỗ này của mình đây giống như là phim trường – nơi chia sẻ những bản kinh không phải chỉ cho người trong hiện tại mà còn để cho nhiều người được nghe, cho những người ở những nơi xa không có điều kiện đến chùa. Nhất là trong thời đại này, người ta đến chùa ngồi chờ đúng giờ, đúng ngày để học kinh pháp thì hiếm lắm. Cho nên những buổi học của mình ở đây, ngoài cho những người hiện tại ra thì hãy đem lại lợi lạc cho những người không có mặt, sau này cũng rất cần thiết. Vì vậy đại chúng cố gắng tinh tấn, hoan hỉ để đóng góp vào công cuộc chia sẻ Chánh Pháp đến với mọi người. Thường thường khi chúng ta học ở đây đều là các bài kinh rất quan trọng và hôm nay chúng ta sẽ học chủ đề là “Bốn sợ hãi của người xuất gia”. Người mới xuất gia hay người xuất gia cũng vậy, nhưng nói theo trong kinh thì đây là Bốn nỗi sợ của người mới xuất gia, bài kinh có tên là Catuma (Trung Bộ Kinh - Tập 2, Bài kinh số 67, bài kinh Catumasuttam). Lúc đó Đức Thế Tôn ở tại Catuma cho nên bài kinh có tên là Catuma:
Trong rừng cây Kha-lưu-lạc, lúc bấy giờ có khoảng năm trăm Tỳ-kheo do Ngài Xá-lợi-phất (Sariputta) và Mục-kiền-liên (Moggallana) dẫn đầu cùng đi đến yết kiến Đức Thế Tôn. Năm trăm vị Tỳ-kheo mới này đến và chào hỏi các vị cựu trú Tỳ-kheo là những vị Tỳ-kheo ở lâu, ở trước ở đó. Trong khi sửa soạn sàng tọa và y bát cất dọn nên náo động ồn ào khởi lên. Năm trăm người tới chào hỏi, nói chuyện rồi khiêng chõng, khiêng giường, khiêng bát cất dọn. Đức Thế Tôn nghe tiếng ồn nên hỏi Ngài Ananda:
- Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau.”
Lúc đó Ngài Ananda bạch lại sự việc là như trên.
- Vậy này Ananda, hãy nhân danh Ta bảo các Tỳ-kheo ấy: "Bậc Đạo Sư cho gọi các Tôn giả”
Ngài Ananda vâng lời, ra gọi các Tỳ-kheo vào. Khi các vị này vào, đảnh lễ Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói:
-Này các Tỳ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?
- Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỷ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.
- Hãy đi đi này các Tỳ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp lại sàng tọa, cầm lấy y bát rồi ra đi.
Lúc bấy giờ, các Thích tử trú đang ở Catuma đang hội họp ở giảng đường... Các vị này mới gặp các vị Tỳ-kheo bị đuổi mới hỏi và biết được sự việc như vậy nên các vị này nói:
- Chư Tôn giả hãy ngồi lại một lát. Chúng tôi có thể làm cho Thế Tôn vui lòng.
Các vị này đi đến yết kiến Đức Thế Tôn… Các vị đó thưa, xin Đức Thế Tôn:
- Ví như, bạch Thế Tôn, các hạt giống cây nếu không được nước, chúng có thể đổi khác, chúng có thể biến dạng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những vị tân Tỳ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng.
- Ví như, bạch Thế Tôn, con nghé nếu không được thấy con bò mẹ, chúng có thể đổi khác, chúng có thể biến dạng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những vị tân Tỳ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng.
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỳ-kheo. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy tiếp đón chúng Tỳ-kheo. Bạch Thế Tôn, ví như trước kia, chúng Tỳ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ; cũng như vậy, mong nay Thế Tôn hãy giúp đỡ chúng Tỳ-kheo.
Lúc đó Phạm thiên Sahampati (Ta bà Chủ), vị này thường đến hội với Đức Thế Tôn có những chuyện quan trọng, với tâm của mình biết được tâm Thế Tôn. Như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra. Cũng như vậy, Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn. Rồi vị này năn nỉ nữa và xin Đức Thế Tôn.
Lúc đó, Ngài Mục-kiền-liên (Moggallana) mới bảo các Tỳ-kheo xin Đức Thế Tôn hoan hỉ rồi bảo các Tỳ-kheo:
- Chư Hiền, hãy đứng dậy! Hãy cầm lấy y và bình bát! Thế Tôn đã được các Thích tử trú ở Catuma và Phạm thiên Sahampati làm cho vui lòng với ví dụ hột giống và ví dụ con nghé con.
Các Tỳ-kheo vâng đáp rồi đứng dậy, đi đến và đảnh lễ Đức Phật và ngồi một bên. Đức Phật mới hỏi:
- Này Sariputta, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỳ-kheo bị Ta đuổi?
- Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỳ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: "Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Chúng con nay cũng được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. "
- Này Sariputta, hãy chờ đợi! Này Sariputta, hãy chờ đợi! Này Sariputta, chớ có để tư tưởng như vậy khởi lên Ông nữa.
Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Moggallana:
- Này Moggallana, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỳ-kheo bị Ta đuổi?
- Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỳ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: "Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Và nay con và Tôn giả Sariputta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ-kheo. "
- Lành thay, lành thay, Moggallana. Này Moggallana, chỉ có Ta hay Sariputta và Moggallana mới có thể lãnh đạo chúng Tỳ-kheo được.
Rồi Đức Phật mới bắt đầu dạy, bắt đầu mới đi vào bốn nỗi sợ hãi của người mới xuất gia: “Này các Tỳ-kheo có bốn điều đáng sợ hãi chờ đợi những ai lội xuống nước”. Tức là khi một người từ trên bờ lội xuống nước thì có bốn điều đáng sợ hãi:
Thứ nhất là sợ hãi về sóng, sóng lớn.
Thứ hai là sợ hãi về cá sấu.
Thứ ba là sợ hãi về nước xoáy.
Thứ tư là sợ hãi về cá dữ, cá dữ ở đây có thể hiểu là cá mập.
Đây là bốn sợ hãi của người đi xuống nước.
- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có bốn điều đáng sợ hãi này, ở đây, chờ đợi những người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này.
Thứ nhất, sợ hãi về sóng. Thế nào là sợ hãi về sóng?
Có thiện gia nam tử vì lòng tin, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này". Một suy nghĩ rất cao thượng, rất đẹp.
Khi được xuất gia như vậy, vị này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyên giáo: "Ông cần phải đi ra như vậy, Ông cần phải đi về như vậy; Ông cần phải ngó tới như vậy, Ông cần phải ngó quanh như vậy; Ông cần phải co tay như vậy, Ông cần phải duỗi tay như vậy; Ông cần phải mang y sanghati (tăng-già-lê), mang y bát như vậy".
Khi được dạy dỗ, chỉ dẫn, nhắc nhở, rầy la thì vị ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia, chúng ta chưa xuất gia, chính chúng ta giảng dạy, khuyên giáo người khác. Những người này giống như con chúng ta, giống như cháu chúng ta, lại nghĩ rằng cần phải giảng dạy chúng ta, cần phải khuyên giáo chúng ta. Vị này nghĩ như vậy rồi từ bỏ học tập, và trở về hoàn tục.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, người này từ bỏ sự học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về sóng. Này các Tỳ-kheo, sợ hãi về sóng là đồng nghĩa với phẫn não”. Phẫn não là tức giận.
Đây là nỗi sợ thứ nhất, tức giận, phẫn nộ. Phẫn nộ khi được nhắc nhở, khi được khuyến giáo, khi được chỉ dạy, khi được các bậc đồng Phạm hạnh hay thầy hay sư huynh, hay những người đi trước chỉ dẫn, dạy dỗ, khuyên bảo, giáo dục, giáo giới cho mình. Lúc đó nổi bản ngã lên, suy nghĩ: “Khi ta chưa xuất gia, chính ta dạy dỗ người khác, những người này đáng con, đánh cháu, đáng học trò đáng em của ta làm sao dạy ta được?” Cho nên người này phẫn nộ lên, tức lên, sân lên, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Đây là sự sợ hãi thứ nhất của người mới xuất gia. Đây là sự sợ hãi về sóng, đồng nghĩa với phẫn nộ.
Thứ hai, sợ hãi về cá sấu. Thế nào là sợ hãi về cá sấu? Cũng suy nghĩ như trước nhưng được khuyên giáo như sau:
- Ông nên nhai cái này, Ông không nên nhai cái này; Ông nên ăn cái này, Ông không nên ăn cái này; Ông nên nếm cái này, Ông không nên nếm cái này; Ông nên uống cái này, Ông không nên uống cái này. Cái gì được phép, Ông nên nhai; cái gì không được phép, Ông không nên nhai. Cái gì được phép, Ông nên ăn; cái gì không được phép, Ông không nên ăn. Cái gì được phép, Ông nên nếm; cái gì không được phép, Ông không nên nếm. Cái gì được phép, Ông nên uống; cái gì không được phép, Ông không nên uống. Đúng thời, Ông nên nhai, không đúng thời, Ông không nên nhai. Đúng thời, Ông nên ăn; không đúng thời, Ông không nên ăn. Đúng thời, ông nên nếm; không đúng thời, Ông không nên nếm. Đúng thời, Ông nên uống; không đúng thời, Ông không nên uống.
- Vị ấy suy nghĩ như sau: Trước kia chúng ta chưa xuất gia, cái gì chúng ta muốn, chúng ta nhai, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nhai; cái gì chúng ta muốn, chúng ta ăn; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không ăn; cái gì chúng ta muốn, chúng ta nếm, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nếm; cái gì chúng ta muốn, chúng ta uống; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không uống. Cái gì được phép, chúng ta nhai; cái gì không được phép, chúng ta cũng nhai. Cái gì được phép, chúng ta ăn; cái gì không được phép, chúng ta cũng ăn. Cái gì được phép, chúng ta nếm; cái gì không được phép, chúng ta cũng nếm. Cái gì được phép, chúng ta uống; cái gì không được phép, chúng ta cũng uống. Cái gì đúng thời, chúng ta nhai; cái gì phi thời, chúng ta cũng nhai. Cái gì đúng thời, chúng ta ăn; cái gì phithời chúng ta cũng ăn. Cái gì đúng thời, chúng ta nếm; cái gì phi thời chúng ta cũng nếm. Cái gì đúng thời, chúng ta uống; cái gì phi thời chúng ta cũng uống. Khi các gia chủ có tín tâm cúng dường chúng ta những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, hình như các món ăn ấy đang bị chận đứng lại trên miệng. Vị này suy nghĩ như vậy nên từ bỏ học tập, trở về hoàn tục.
- Như vậy, này các Tỳ-kheo, người này từ bỏ học tập, và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về cá sấu. Này các Tỳ-kheo, sợ hãi về cá sấu là đồng nghĩa với tham ăn.”
Vị này được nhắc nhở, được khuyến giáo, được chỉ dẫn trong khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm. Vị này tức lên, sân lên, giận lên, biểu hiện cái tôi, cái bản ngã lên: “Từ lúc tôi chưa xuất gia tôi muốn ăn gì tôi ăn, tôi muốn uống gì tôi uống, cái gì được ăn thì tôi ăn mà cái gì không được ăn tôi cũng vẫn ăn. Đâu có ai quản thúc, quản chế, nhắc nhở tôi sao giờ vô tu khó khăn đủ thứ chuyện vậy? Thôi nghỉ, không tu nữa, hoàn tục!”. Đó là sợ hãi về cá sấu, đồng nghĩa với tham ăn.
Thứ ba, là sợ hãi về nước xoáy? Thế nào là sợ hãi về nước xoáy?
- Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự. Ở đây, vị này thấy gia chủ hay con người gia chủ hưởng thụ một cách đầy đủ, năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy.
- Vị ấy suy nghĩ như sau: "Chúng ta xưa kia chưa xuất gia đã hưởng thọ một cách đầy đủ năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy. Vì nhà ta có tài sản, ta có thể vừa hưởng thọ tài sản, vừa làm công đức", vị ấy từ bỏ học tập và trở về hoàn tục.
- Như vậy, này các Tỳ-kheo, vị này từ bỏ học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về nước xoáy. Này các Tỳ-kheo, sợ hãi về nước xoáy là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng.”
Năm dục trưởng dưỡng là năm dục tăng trưởng, năm dục lớn mạnh, đó là sự sợ hãi về nước xoáy. Khi xuống nước mình bị dòng xoáy rút xuống, có những người đi tắm biển, họ lội lội ra, lội tới chỗ nước xoáy, bị nước rút xuống luôn nên chết. Chỗ này rất quan trọng với người xuất gia, không thể không thấy, không thể không biết, không thể không thực tập.
“Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát” đi khất thực, chỗ này mình phải để ý vì nó tế nhị, rất vi tế trong sự tu tập. Ngày xưa, các vị xuất gia theo Đức Thế Tôn, một khi đã cạo tóc, đắp y, mang bình bát lên là luôn luôn phòng hộ, luôn luôn giữ oai nghi. Vì hình ảnh đó khác với người bình thường xa lắm, nhưng bây giờ mình xem, nếu không phải quấn y Nam Tông lên, không đi khất thực, không ôm bình bát, mặc đồ như bây giờ thì mình thấy đó, vẫn không khác nhiều. Chính vì chỗ đó, Phật giáo truyền bá riết rồi mọi người sáng chế, nhất là Trung Quốc nhiều sáng tạo lắm, sáng chế làm sao để cho tiện mà không nghĩ tới cái sâu xa của Đức Phật. Nếu nghĩ cho tiện thì Đức Phật không lẽ không biết. Cho nên một cái gì của Đức Phật làm là trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác, từ cái bình bát cho tới chiếc y cho đến gốc cây hay là căn nhà trống. Đó là nói về hình thức. Bao nhiêu giới luật mà Đức Phật chế định ra: những y phục của người xuất gia hay là tứ thánh chủng – bốn truyền thống của bậc Thánh đều có một nguyên nhân sâu xa và rộng lớn, đem lại lợi lạc trong hiện tại và tương lai dài lâu.
Không giống như mình suy nghĩ: “Thôi giờ luộm thuộm lắm, không tiện cho đời sống mình cho nên mình chế ra”. Chế mãi đến cuối cùng thì người xuất gia lại xăn tay áo lên, xăn quần lên. Riết rồi trong chùa cũng buôn bán, giống như làm chủ tiệm hay làm giám đốc, làm ông chủ, thậm chí mở dịch vụ. Bây giờ đúng là thật sự xót xa, nhìn lên trên mạng thấy những thầy cầm micro đứng trên sân khấu hát, đó đồng nghĩa với than khóc ở trong pháp và luật. Người xuất gia ca hát là đồng nghĩa với than khóc trong giáo pháp. Cho đến bây giờ có những người đầu làm không đúng pháp, sau đó thì những người khác bắt chước theo, bắt chước theo…Cho đến những người không phải là đạo Phật mượn những hình thức của người xuất gia để “câu like”. Thành ra, những người Phật tử họ không có học pháp, luật ở trong giáo pháp, họ không biết về giới luật của người xuất gia, yếu nghĩa của những pháp giải thoát họ cũng không rành, họ cứ miễn sao: “Tội nghiệp thầy quá, thương thầy quá!” Họ thương theo thường tình, phàm tình, theo hiểu biết của phàm phu, hiểu biết trong vô minh, tham ái. Nếu mình cứ chiều chiều theo thì dần dần Chánh Pháp mai một và hình ảnh của người xuất gia bây giờ khác xa. Chưa kể trong chùa bày ra cái này, bày ra cái kia, suốt ngày liên tục, tiếp xúc với Phật tử, thậm chí tiếp xúc với thiếu nữ rồi làm sao tu? Hàng ngày tiếp xúc với những người trẻ đẹp, những đối tượng làm cho mình sanh khởi lên những dục tham, tham ái, nó hoành hành mãnh liệt bên trong. Mình lo nhiếp phục hoài nhưng còn không xong, trốn một mình trên rừng, trên núi, ở trong thất nhiếp phục tu mà chưa chắc đã thành công. Huống hồ chi mỗi ngày tiếp xúc nói chuyện qua lại thì làm sao có thể đứng vững được trong pháp và luật, làm sao giữ giới được? Học ở chỗ này mình mới thấy được trí tuệ toàn diện của Đức Phật, chứ không phải mình chỉ nhìn một cách đơn sơ. Cho nên buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào làng khất thực – một câu đó thôi, thì mình thấy đời sống của những người xuất gia ngày xưa như thanh cao, thoát tục, viễn ly như thế nào và đời sống bây giờ của mình như thế nào? Cho tu mấy ngày đã thấy mệt mỏi, ý là mình trên rừng, trên núi. Tu có 3-4 ngày là mệt, muốn đi gặp người này người kia để nói chuyện, muốn làm này làm kia. Đó là xúc thực, muốn tiếp tế thức ăn cho ngũ uẩn, còn giờ tách ly xúc thực để tu nên buồn lắm, mệt lắm, không muốn, mình thấy được những điều này không?
“Vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự.” Mấy câu chữ này mắc hơn hột xoàn, quý hơn kim cương, nếu mình tu học không gặp Chánh Pháp, không gặp thầy là bạn tốt, thì ngay cả những từ này mình cũng chưa biết, như vậy lấy gì mình hiểu, lấy gì mình thực tập. “Không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói” – tức là thân mình không được phòng hộ. Cho nên tại vì sao mà thầy nhắc nhở mấy chú không chạy, không đi đánh đằng xa, như vậy là người xuất gia không phòng hộ thân. Không được tỏ ra lăng xăng, lóc chóc, vội vội vàng vàng, đó là không phòng hộ thân. Mình không phòng hộ lời nói thì rất là nguy hiểm, nguy hiểm cho mình và nguy hiểm cho người, thậm chí những người mà mình thấy thân thiện nhất, họ có thể quay trở lại họ sân hận với mình. Sẽ rất nguy hiểm khi mình không phòng hộ lời nói, khi nói ra không có Chánh Niệm, không tỉnh giác, không giữ gìn trong lời nói của mình. Biết bao nhiêu chuyện đôi chối, nói qua người này, người kia, người nọ, phải rất cẩn thận, những cái này là các pháp căn bản nên không được những điều này thì đừng nói đến cao siêu. Đây là căn bản nhất phòng hộ lời nói. Khi vui quá nói một hồi là mình quên phòng hộ. Còn khi mình buồn quá, những lúc sân hận, nóng bực lên thì những lúc đó rất nguy hiểm, có thể đem lại những kết quả không thể ngờ được cho mình và cho người. Không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, tức là không an trú trong Chánh Niệm, không an trú trong Tứ Niệm Xứ, không an trú trong Thân Hành Niệm, không an trú trong Niệm Thọ, Niệm Tâm, Niệm Pháp, không chế ngự các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, lúc đó nói ra gì thì mình phản ứng rất nhanh, cãi rất lẹ, bác rất mau. Đó là vì mình không chế ngự các căn. Cho nên chỉ các chữ này là mình tu cả đời chứ chưa kể đến các lý cao sâu. Pháp của Phật có lý có sự, có những cái rất cụ thể rõ ràng, có thể nhìn thấy được, biết được. Phải kiểm soát được bốn cụm từ này: “không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự” – chỉ nhiêu đây là đủ chết rồi, vì thân, miệng, ý – cả ba đều không phòng hộ, không chánh niệm, buông lung, phóng dật.
“Vị này thấy gia chủ hay con người gia chủ hưởng thụ một cách đầy đủ, năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy”. Đi khất thực, đi vào làng vào xóm, vào thành phố, nhiều khi người ta mời dùng cơm hay mình nói theo bây giờ là trai tăng, cúng dường trai tăng. Phật tử mời các thầy lại nhà cúng trai tăng, mời thầy lại nhà cúng cầu an, an vị Phật… Đến nơi nhìn thấy nhà đẹp quá, giàu quá, người cũng đẹp quá, đồ đạc cũng đẹp tốt quá, lúc đó vị này suy nghĩ, thích thú: “À, khi mình chưa xuất gia mình cũng hưởng thọ giống như vậy vì nhà mình có tài sản, mình có thể vừa hưởng thụ vừa làm công đức. Thôi, từ bỏ học tập đi, trở về hoàn tục cho khỏe hơn!”. Đây là sự sợ hãi về nước xoáy, đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng; đồng nghĩa với tài, sắc, danh, thực, thùy - năm dục lớn mạnh – tiền của, sắc đẹp, danh vọng, thức ăn uống, tiện nghi vật chất. Cho nên nói đơn giản thôi, bây giờ mình đi ra Miền Trung hay Miền Bắc hoặc đi về Miền Tây giảng pháp, mình ở một đêm ngày hôm sau mới giảng. Khi đi đến chỗ đó, nếu người ta cho mình một chỗ ngủ sơ sài, không có gì hết, trải chiếu nằm dưới đất thì lúc đó xem tâm mình ra làm sao? Còn nếu người ta đem mình vào khách sạn ba sao, bốn sao thì lúc đó tâm mình như thế nào? Nếu có phòng hộ, các niệm an trú, các căn chế ngự thì lúc đó nó khác, còn nếu không có phòng hộ thì lúc đó mình liền bị tác động liền. Ví dụ thấy: “Cái giường này êm quá, cái phòng đã quá, vô nhảy lên giường cái, nhún nhún cái cho đã”. Hay vừa mở của ra thấy rồi khen “Đẹp quá !” là lời không được chế ngự. Thành ra tu tập chữ “chế ngự” này có nghĩa là lúc đó tuy ý mình vẫn có nghĩ, vẫn có thích nhưng lời không phát ra. Phát ra lời là lời không chế ngự, nhảy lên giường nhún nhún nằm thì lúc đó là vừa thân không phòng hộ, lời không phòng hộ và về sâu sắc bên trong là về niệm không an trú. Như vậy lúc đó mình không an trú bảy trí về sắc. Sắc là vô thường. là khổ, là đổi, là chịu sự biến hoại. Mình không có nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với sắc. Ngay lúc đó, cái dục tham của mình về sắc nó sanh khởi một cách vi tế thôi mà vi tế đó mới là những cái tu của người thật tu, chân tu, chân nhân trong giáo pháp. Điều này làm sao ai chỉ mình được, tự mình phải nỗ lực kiểm soát nội tâm của mình. Khi nhìn thấy nhà đẹp, phòng đẹp, người sang trọng đẹp thì mình: “À, lúc trước mình chưa xuất gia mình cũng như vậy!” – đây là nói những người khá giả đi xuất gia, còn những người nghèo khổ không có tu thì thấy cái đó còn mê hơn nữa. Mình thấy rồi đó, có những người vào tu rồi bị lôi kéo, những người giàu có đến cúng dường này kia, rồi rủ ra đời luôn, đều là trường hợp này hết, trong nội tâm họ suy nghĩ: “Thôi giờ mình về nhà đi, vừa hưởng thụ mà vừa làm phước, bố thí, cúng dường, vậy cũng được rồi!” Đó là nước xoáy, chìm xuống và chết luôn.
Thứ tư, sợ hãi về cá dữ. Thế nào là sự sợ hãi về cá dữ?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”
- Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự.
- Vị này thấy ở đây các phụ nữ y phục không đoan chánh, hay y phục mặc lộ liễu. Khi thấy các phụ nữ y phục không đoan chính hay y phục lộ liễu, dục tình phá hoại tâm của vị ấy. Vị này, tâm bị dục tình phá hoại, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục.
- Như vậy, này các Tỳ-kheo, người này từ bỏ học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về cá dữ. Này các Tỳ-kheo, sợ hãi về cá dữ là đồng nghĩa với phụ nữ. (Trung Bộ Kinh - Tập 2, Bài kinh số 67, bài kinh Catumua (Catumasuttam))
Cho nên, có một Hòa thượng nói cũng vui lắm, các thầy kể lại, hôm đó có mấy cô mặc đồ váy ngắn, thiếu vải vào chùa, Hòa thượng nói “Tụi bây vô phòng hết nha. Ma, ma tấn công Phật rồi tụi bây ơi. Ma, ma tấn công Phật!” Bây giờ lạ lắm, đi chùa là phải nhắc nhở, thậm chí có những chỗ phải để những tấm vải để người ta tới người ta quấn lại. Đó là nói lên điều gì? Những lễ nghi, lễ giáo, đạo đức trong xã hội bị xuống cấp. Những chỗ đáng được tôn kính, đáng được tôn trọng, những chỗ trang nghiêm, khi đến đó thì mình phải tự biết. Hồi xưa các vị đi khất thực như vậy đâu phải ngày nào cũng gặp, hồi xưa khác, lâu lâu mới có trường hợp vậy thôi. Còn bây giờ nếu như những chỗ mà các tổ chức khóa tu, chương trình liên miên, liên tục thì mỗi ngày gặp bao nhiêu lần? Chẳng những gặp mà còn nói chuyện, chẳng những nói chuyện mà còn trao tay đồ đạc thậm chí còn giỡn hớt thì sao mà không bị cá dữ ăn thịt, không bị cá mập tấn công. Hồi xưa người ta thấy vậy người ta ra đời, người ta hoàn tục. Còn điều khổ nhất và hết sức lo lắng là bây giờ mình tu tập không có pháp hổ thẹn, sợ hãi, cho nên ở trong chùa vẫn sinh hoạt như gia đình. Điều này nặng hơn là hoàn tục rất nhiều, đây là đại họa. Ngày xưa các Ngài thấy mình không sống được trong đạo thì người ta trở về đời, còn bây giờ không học, không thực hành theo Cháp Pháp, nên không khéo là mượn đạo tạo đời.Đây là những điều hết sức căn bản cho người xuất gia. Phải nắm thật vững, phải nhớ, phải thuộc để tự mình tu tập và có thể nhắc nhở các em, các sư đệ, các chú tập sự về bốn sự sợ hãi này cho người xuất gia. Bây giờ cứ tổ chức các chương trình liên tục và có rất nhiều nam nữ, nhất là trẻ trung ở trong chùa. Có những thầy với tâm quyết tu học, tâm sự với thầy: “Như vậy thì sao giữ gìn được”, chưa nói hộ trì căn này nọ, vì mấy người này có biết các việc này đâu, nếu không giữ giới được rồi sự nghiệp tu hành sẽ đi tới đâu? Mình nơm nớp, lo sợ, ưu tư khắc khoải, tha thiết, chân thành có khi còn chưa xong, còn sai phạm. Chứ đừng nói chi người xuất gia lớp trẻ bây giờ, rất là thoải mái, không biết hổ thẹn, không biết sợ hãi, rồi tương lại sự nghiệp tu hành sẽ đi đến đâu? Tương lai Phật Pháp sẽ về đâu? Cho nên đúng theo tinh thần của Phật là mình phải sống đời sống viễn ly, thật sự ở núi, ở rừng kìa thì mình mới thực hiện được pháp. Phải học hoài, mỗi ngày học kinh, mỗi ngày thiền định ba thời thì sự tu tập của mình mới đi vào Chân Pháp được. Như vậy, sợ hãi về cá dữ đồng nghĩa với phụ nữ.
Bây giờ nói rộng hơn, sợ hãi với cá dữ là đồng nghĩa với những đối tượng nào làm mình sanh ra dục ái. “Không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự. Khi thấy các phụ nữ y phục không đoan chính hay y phục lộ liễu, dục tình phá hoại tâm của vị ấy. Vị này, tâm bị dục tình phá hoại, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục”. Thật sự bây giờ rất khiếp đảm, nhìn ở trên mạng toàn là những tin tức vô cùng khiếp sợ, khủng bố và khủng khiếp. Ngày xưa, những bộ phim về đạo nghĩa, đạo đức được tôn trọng nhưng bây giờ những bộ phim theo hướng tình dục, gợi cảm, nhạy cảm lại được coi nhiều. Cho nên vấn đề đạo đức, nhất là trong chùa, đối với người tu và nói rộng ra trong xã hội là rất cần thiết. Đây là điều mình phải để tâm vì thật sự rất xót xa về vấn đề đạo đức của con người. Mình giúp đỡ, lo lắng từ vật chất cho đến tinh thần rồi cuối cùng nhận lại sự oán hận, sự hủy nhục, thậm chí đòi đánh, đòi chém. Đạo đức con người ngày càng đi xuống./.
-Thích Minh Thành-
Chỗ này của mình đây giống như là phim trường – nơi chia sẻ những bản kinh không phải chỉ cho người trong hiện tại mà còn để cho nhiều người được nghe, cho những người ở những nơi xa không có điều kiện đến chùa. Nhất là trong thời đại này, người ta đến chùa ngồi chờ đúng giờ, đúng ngày để học kinh pháp thì hiếm lắm. Cho nên những buổi học của mình ở đây, ngoài cho những người hiện tại ra thì hãy đem lại lợi lạc cho những người không có mặt, sau này cũng rất cần thiết. Vì vậy đại chúng cố gắng tinh tấn, hoan hỉ để đóng góp vào công cuộc chia sẻ Chánh Pháp đến với mọi người. Thường thường khi chúng ta học ở đây đều là các bài kinh rất quan trọng và hôm nay chúng ta sẽ học chủ đề là “Bốn sợ hãi của người xuất gia”. Người mới xuất gia hay người xuất gia cũng vậy, nhưng nói theo trong kinh thì đây là Bốn nỗi sợ của người mới xuất gia, bài kinh có tên là Catuma (Trung Bộ Kinh - Tập 2, Bài kinh số 67, bài kinh Catumasuttam). Lúc đó Đức Thế Tôn ở tại Catuma cho nên bài kinh có tên là Catuma:
Trong rừng cây Kha-lưu-lạc, lúc bấy giờ có khoảng năm trăm Tỳ-kheo do Ngài Xá-lợi-phất (Sariputta) và Mục-kiền-liên (Moggallana) dẫn đầu cùng đi đến yết kiến Đức Thế Tôn. Năm trăm vị Tỳ-kheo mới này đến và chào hỏi các vị cựu trú Tỳ-kheo là những vị Tỳ-kheo ở lâu, ở trước ở đó. Trong khi sửa soạn sàng tọa và y bát cất dọn nên náo động ồn ào khởi lên. Năm trăm người tới chào hỏi, nói chuyện rồi khiêng chõng, khiêng giường, khiêng bát cất dọn. Đức Thế Tôn nghe tiếng ồn nên hỏi Ngài Ananda:
- Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau.”
Lúc đó Ngài Ananda bạch lại sự việc là như trên.
- Vậy này Ananda, hãy nhân danh Ta bảo các Tỳ-kheo ấy: "Bậc Đạo Sư cho gọi các Tôn giả”
Ngài Ananda vâng lời, ra gọi các Tỳ-kheo vào. Khi các vị này vào, đảnh lễ Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói:
-Này các Tỳ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?
- Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỷ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.
- Hãy đi đi này các Tỳ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp lại sàng tọa, cầm lấy y bát rồi ra đi.
Lúc bấy giờ, các Thích tử trú đang ở Catuma đang hội họp ở giảng đường... Các vị này mới gặp các vị Tỳ-kheo bị đuổi mới hỏi và biết được sự việc như vậy nên các vị này nói:
- Chư Tôn giả hãy ngồi lại một lát. Chúng tôi có thể làm cho Thế Tôn vui lòng.
Các vị này đi đến yết kiến Đức Thế Tôn… Các vị đó thưa, xin Đức Thế Tôn:
- Ví như, bạch Thế Tôn, các hạt giống cây nếu không được nước, chúng có thể đổi khác, chúng có thể biến dạng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những vị tân Tỳ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng.
- Ví như, bạch Thế Tôn, con nghé nếu không được thấy con bò mẹ, chúng có thể đổi khác, chúng có thể biến dạng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những vị tân Tỳ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng.
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỳ-kheo. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy tiếp đón chúng Tỳ-kheo. Bạch Thế Tôn, ví như trước kia, chúng Tỳ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ; cũng như vậy, mong nay Thế Tôn hãy giúp đỡ chúng Tỳ-kheo.
Lúc đó Phạm thiên Sahampati (Ta bà Chủ), vị này thường đến hội với Đức Thế Tôn có những chuyện quan trọng, với tâm của mình biết được tâm Thế Tôn. Như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra. Cũng như vậy, Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn. Rồi vị này năn nỉ nữa và xin Đức Thế Tôn.
Lúc đó, Ngài Mục-kiền-liên (Moggallana) mới bảo các Tỳ-kheo xin Đức Thế Tôn hoan hỉ rồi bảo các Tỳ-kheo:
- Chư Hiền, hãy đứng dậy! Hãy cầm lấy y và bình bát! Thế Tôn đã được các Thích tử trú ở Catuma và Phạm thiên Sahampati làm cho vui lòng với ví dụ hột giống và ví dụ con nghé con.
Các Tỳ-kheo vâng đáp rồi đứng dậy, đi đến và đảnh lễ Đức Phật và ngồi một bên. Đức Phật mới hỏi:
- Này Sariputta, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỳ-kheo bị Ta đuổi?
- Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỳ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: "Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Chúng con nay cũng được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. "
- Này Sariputta, hãy chờ đợi! Này Sariputta, hãy chờ đợi! Này Sariputta, chớ có để tư tưởng như vậy khởi lên Ông nữa.
Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Moggallana:
- Này Moggallana, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỳ-kheo bị Ta đuổi?
- Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỳ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: "Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Và nay con và Tôn giả Sariputta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ-kheo. "
- Lành thay, lành thay, Moggallana. Này Moggallana, chỉ có Ta hay Sariputta và Moggallana mới có thể lãnh đạo chúng Tỳ-kheo được.
Rồi Đức Phật mới bắt đầu dạy, bắt đầu mới đi vào bốn nỗi sợ hãi của người mới xuất gia: “Này các Tỳ-kheo có bốn điều đáng sợ hãi chờ đợi những ai lội xuống nước”. Tức là khi một người từ trên bờ lội xuống nước thì có bốn điều đáng sợ hãi:
Thứ nhất là sợ hãi về sóng, sóng lớn.
Thứ hai là sợ hãi về cá sấu.
Thứ ba là sợ hãi về nước xoáy.
Thứ tư là sợ hãi về cá dữ, cá dữ ở đây có thể hiểu là cá mập.
Đây là bốn sợ hãi của người đi xuống nước.
- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có bốn điều đáng sợ hãi này, ở đây, chờ đợi những người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này.
Thứ nhất, sợ hãi về sóng. Thế nào là sợ hãi về sóng?
Có thiện gia nam tử vì lòng tin, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này". Một suy nghĩ rất cao thượng, rất đẹp.
Khi được xuất gia như vậy, vị này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyên giáo: "Ông cần phải đi ra như vậy, Ông cần phải đi về như vậy; Ông cần phải ngó tới như vậy, Ông cần phải ngó quanh như vậy; Ông cần phải co tay như vậy, Ông cần phải duỗi tay như vậy; Ông cần phải mang y sanghati (tăng-già-lê), mang y bát như vậy".
Khi được dạy dỗ, chỉ dẫn, nhắc nhở, rầy la thì vị ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia, chúng ta chưa xuất gia, chính chúng ta giảng dạy, khuyên giáo người khác. Những người này giống như con chúng ta, giống như cháu chúng ta, lại nghĩ rằng cần phải giảng dạy chúng ta, cần phải khuyên giáo chúng ta. Vị này nghĩ như vậy rồi từ bỏ học tập, và trở về hoàn tục.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, người này từ bỏ sự học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về sóng. Này các Tỳ-kheo, sợ hãi về sóng là đồng nghĩa với phẫn não”. Phẫn não là tức giận.
Đây là nỗi sợ thứ nhất, tức giận, phẫn nộ. Phẫn nộ khi được nhắc nhở, khi được khuyến giáo, khi được chỉ dạy, khi được các bậc đồng Phạm hạnh hay thầy hay sư huynh, hay những người đi trước chỉ dẫn, dạy dỗ, khuyên bảo, giáo dục, giáo giới cho mình. Lúc đó nổi bản ngã lên, suy nghĩ: “Khi ta chưa xuất gia, chính ta dạy dỗ người khác, những người này đáng con, đánh cháu, đáng học trò đáng em của ta làm sao dạy ta được?” Cho nên người này phẫn nộ lên, tức lên, sân lên, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Đây là sự sợ hãi thứ nhất của người mới xuất gia. Đây là sự sợ hãi về sóng, đồng nghĩa với phẫn nộ.
Thứ hai, sợ hãi về cá sấu. Thế nào là sợ hãi về cá sấu? Cũng suy nghĩ như trước nhưng được khuyên giáo như sau:
- Ông nên nhai cái này, Ông không nên nhai cái này; Ông nên ăn cái này, Ông không nên ăn cái này; Ông nên nếm cái này, Ông không nên nếm cái này; Ông nên uống cái này, Ông không nên uống cái này. Cái gì được phép, Ông nên nhai; cái gì không được phép, Ông không nên nhai. Cái gì được phép, Ông nên ăn; cái gì không được phép, Ông không nên ăn. Cái gì được phép, Ông nên nếm; cái gì không được phép, Ông không nên nếm. Cái gì được phép, Ông nên uống; cái gì không được phép, Ông không nên uống. Đúng thời, Ông nên nhai, không đúng thời, Ông không nên nhai. Đúng thời, Ông nên ăn; không đúng thời, Ông không nên ăn. Đúng thời, ông nên nếm; không đúng thời, Ông không nên nếm. Đúng thời, Ông nên uống; không đúng thời, Ông không nên uống.
- Vị ấy suy nghĩ như sau: Trước kia chúng ta chưa xuất gia, cái gì chúng ta muốn, chúng ta nhai, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nhai; cái gì chúng ta muốn, chúng ta ăn; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không ăn; cái gì chúng ta muốn, chúng ta nếm, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nếm; cái gì chúng ta muốn, chúng ta uống; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không uống. Cái gì được phép, chúng ta nhai; cái gì không được phép, chúng ta cũng nhai. Cái gì được phép, chúng ta ăn; cái gì không được phép, chúng ta cũng ăn. Cái gì được phép, chúng ta nếm; cái gì không được phép, chúng ta cũng nếm. Cái gì được phép, chúng ta uống; cái gì không được phép, chúng ta cũng uống. Cái gì đúng thời, chúng ta nhai; cái gì phi thời, chúng ta cũng nhai. Cái gì đúng thời, chúng ta ăn; cái gì phithời chúng ta cũng ăn. Cái gì đúng thời, chúng ta nếm; cái gì phi thời chúng ta cũng nếm. Cái gì đúng thời, chúng ta uống; cái gì phi thời chúng ta cũng uống. Khi các gia chủ có tín tâm cúng dường chúng ta những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, hình như các món ăn ấy đang bị chận đứng lại trên miệng. Vị này suy nghĩ như vậy nên từ bỏ học tập, trở về hoàn tục.
- Như vậy, này các Tỳ-kheo, người này từ bỏ học tập, và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về cá sấu. Này các Tỳ-kheo, sợ hãi về cá sấu là đồng nghĩa với tham ăn.”
Vị này được nhắc nhở, được khuyến giáo, được chỉ dẫn trong khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm. Vị này tức lên, sân lên, giận lên, biểu hiện cái tôi, cái bản ngã lên: “Từ lúc tôi chưa xuất gia tôi muốn ăn gì tôi ăn, tôi muốn uống gì tôi uống, cái gì được ăn thì tôi ăn mà cái gì không được ăn tôi cũng vẫn ăn. Đâu có ai quản thúc, quản chế, nhắc nhở tôi sao giờ vô tu khó khăn đủ thứ chuyện vậy? Thôi nghỉ, không tu nữa, hoàn tục!”. Đó là sợ hãi về cá sấu, đồng nghĩa với tham ăn.
Thứ ba, là sợ hãi về nước xoáy? Thế nào là sợ hãi về nước xoáy?
- Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự. Ở đây, vị này thấy gia chủ hay con người gia chủ hưởng thụ một cách đầy đủ, năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy.
- Vị ấy suy nghĩ như sau: "Chúng ta xưa kia chưa xuất gia đã hưởng thọ một cách đầy đủ năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy. Vì nhà ta có tài sản, ta có thể vừa hưởng thọ tài sản, vừa làm công đức", vị ấy từ bỏ học tập và trở về hoàn tục.
- Như vậy, này các Tỳ-kheo, vị này từ bỏ học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về nước xoáy. Này các Tỳ-kheo, sợ hãi về nước xoáy là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng.”
Năm dục trưởng dưỡng là năm dục tăng trưởng, năm dục lớn mạnh, đó là sự sợ hãi về nước xoáy. Khi xuống nước mình bị dòng xoáy rút xuống, có những người đi tắm biển, họ lội lội ra, lội tới chỗ nước xoáy, bị nước rút xuống luôn nên chết. Chỗ này rất quan trọng với người xuất gia, không thể không thấy, không thể không biết, không thể không thực tập.
“Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát” đi khất thực, chỗ này mình phải để ý vì nó tế nhị, rất vi tế trong sự tu tập. Ngày xưa, các vị xuất gia theo Đức Thế Tôn, một khi đã cạo tóc, đắp y, mang bình bát lên là luôn luôn phòng hộ, luôn luôn giữ oai nghi. Vì hình ảnh đó khác với người bình thường xa lắm, nhưng bây giờ mình xem, nếu không phải quấn y Nam Tông lên, không đi khất thực, không ôm bình bát, mặc đồ như bây giờ thì mình thấy đó, vẫn không khác nhiều. Chính vì chỗ đó, Phật giáo truyền bá riết rồi mọi người sáng chế, nhất là Trung Quốc nhiều sáng tạo lắm, sáng chế làm sao để cho tiện mà không nghĩ tới cái sâu xa của Đức Phật. Nếu nghĩ cho tiện thì Đức Phật không lẽ không biết. Cho nên một cái gì của Đức Phật làm là trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác, từ cái bình bát cho tới chiếc y cho đến gốc cây hay là căn nhà trống. Đó là nói về hình thức. Bao nhiêu giới luật mà Đức Phật chế định ra: những y phục của người xuất gia hay là tứ thánh chủng – bốn truyền thống của bậc Thánh đều có một nguyên nhân sâu xa và rộng lớn, đem lại lợi lạc trong hiện tại và tương lai dài lâu.
Không giống như mình suy nghĩ: “Thôi giờ luộm thuộm lắm, không tiện cho đời sống mình cho nên mình chế ra”. Chế mãi đến cuối cùng thì người xuất gia lại xăn tay áo lên, xăn quần lên. Riết rồi trong chùa cũng buôn bán, giống như làm chủ tiệm hay làm giám đốc, làm ông chủ, thậm chí mở dịch vụ. Bây giờ đúng là thật sự xót xa, nhìn lên trên mạng thấy những thầy cầm micro đứng trên sân khấu hát, đó đồng nghĩa với than khóc ở trong pháp và luật. Người xuất gia ca hát là đồng nghĩa với than khóc trong giáo pháp. Cho đến bây giờ có những người đầu làm không đúng pháp, sau đó thì những người khác bắt chước theo, bắt chước theo…Cho đến những người không phải là đạo Phật mượn những hình thức của người xuất gia để “câu like”. Thành ra, những người Phật tử họ không có học pháp, luật ở trong giáo pháp, họ không biết về giới luật của người xuất gia, yếu nghĩa của những pháp giải thoát họ cũng không rành, họ cứ miễn sao: “Tội nghiệp thầy quá, thương thầy quá!” Họ thương theo thường tình, phàm tình, theo hiểu biết của phàm phu, hiểu biết trong vô minh, tham ái. Nếu mình cứ chiều chiều theo thì dần dần Chánh Pháp mai một và hình ảnh của người xuất gia bây giờ khác xa. Chưa kể trong chùa bày ra cái này, bày ra cái kia, suốt ngày liên tục, tiếp xúc với Phật tử, thậm chí tiếp xúc với thiếu nữ rồi làm sao tu? Hàng ngày tiếp xúc với những người trẻ đẹp, những đối tượng làm cho mình sanh khởi lên những dục tham, tham ái, nó hoành hành mãnh liệt bên trong. Mình lo nhiếp phục hoài nhưng còn không xong, trốn một mình trên rừng, trên núi, ở trong thất nhiếp phục tu mà chưa chắc đã thành công. Huống hồ chi mỗi ngày tiếp xúc nói chuyện qua lại thì làm sao có thể đứng vững được trong pháp và luật, làm sao giữ giới được? Học ở chỗ này mình mới thấy được trí tuệ toàn diện của Đức Phật, chứ không phải mình chỉ nhìn một cách đơn sơ. Cho nên buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào làng khất thực – một câu đó thôi, thì mình thấy đời sống của những người xuất gia ngày xưa như thanh cao, thoát tục, viễn ly như thế nào và đời sống bây giờ của mình như thế nào? Cho tu mấy ngày đã thấy mệt mỏi, ý là mình trên rừng, trên núi. Tu có 3-4 ngày là mệt, muốn đi gặp người này người kia để nói chuyện, muốn làm này làm kia. Đó là xúc thực, muốn tiếp tế thức ăn cho ngũ uẩn, còn giờ tách ly xúc thực để tu nên buồn lắm, mệt lắm, không muốn, mình thấy được những điều này không?
“Vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự.” Mấy câu chữ này mắc hơn hột xoàn, quý hơn kim cương, nếu mình tu học không gặp Chánh Pháp, không gặp thầy là bạn tốt, thì ngay cả những từ này mình cũng chưa biết, như vậy lấy gì mình hiểu, lấy gì mình thực tập. “Không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói” – tức là thân mình không được phòng hộ. Cho nên tại vì sao mà thầy nhắc nhở mấy chú không chạy, không đi đánh đằng xa, như vậy là người xuất gia không phòng hộ thân. Không được tỏ ra lăng xăng, lóc chóc, vội vội vàng vàng, đó là không phòng hộ thân. Mình không phòng hộ lời nói thì rất là nguy hiểm, nguy hiểm cho mình và nguy hiểm cho người, thậm chí những người mà mình thấy thân thiện nhất, họ có thể quay trở lại họ sân hận với mình. Sẽ rất nguy hiểm khi mình không phòng hộ lời nói, khi nói ra không có Chánh Niệm, không tỉnh giác, không giữ gìn trong lời nói của mình. Biết bao nhiêu chuyện đôi chối, nói qua người này, người kia, người nọ, phải rất cẩn thận, những cái này là các pháp căn bản nên không được những điều này thì đừng nói đến cao siêu. Đây là căn bản nhất phòng hộ lời nói. Khi vui quá nói một hồi là mình quên phòng hộ. Còn khi mình buồn quá, những lúc sân hận, nóng bực lên thì những lúc đó rất nguy hiểm, có thể đem lại những kết quả không thể ngờ được cho mình và cho người. Không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, tức là không an trú trong Chánh Niệm, không an trú trong Tứ Niệm Xứ, không an trú trong Thân Hành Niệm, không an trú trong Niệm Thọ, Niệm Tâm, Niệm Pháp, không chế ngự các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, lúc đó nói ra gì thì mình phản ứng rất nhanh, cãi rất lẹ, bác rất mau. Đó là vì mình không chế ngự các căn. Cho nên chỉ các chữ này là mình tu cả đời chứ chưa kể đến các lý cao sâu. Pháp của Phật có lý có sự, có những cái rất cụ thể rõ ràng, có thể nhìn thấy được, biết được. Phải kiểm soát được bốn cụm từ này: “không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự” – chỉ nhiêu đây là đủ chết rồi, vì thân, miệng, ý – cả ba đều không phòng hộ, không chánh niệm, buông lung, phóng dật.
“Vị này thấy gia chủ hay con người gia chủ hưởng thụ một cách đầy đủ, năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy”. Đi khất thực, đi vào làng vào xóm, vào thành phố, nhiều khi người ta mời dùng cơm hay mình nói theo bây giờ là trai tăng, cúng dường trai tăng. Phật tử mời các thầy lại nhà cúng trai tăng, mời thầy lại nhà cúng cầu an, an vị Phật… Đến nơi nhìn thấy nhà đẹp quá, giàu quá, người cũng đẹp quá, đồ đạc cũng đẹp tốt quá, lúc đó vị này suy nghĩ, thích thú: “À, khi mình chưa xuất gia mình cũng hưởng thọ giống như vậy vì nhà mình có tài sản, mình có thể vừa hưởng thụ vừa làm công đức. Thôi, từ bỏ học tập đi, trở về hoàn tục cho khỏe hơn!”. Đây là sự sợ hãi về nước xoáy, đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng; đồng nghĩa với tài, sắc, danh, thực, thùy - năm dục lớn mạnh – tiền của, sắc đẹp, danh vọng, thức ăn uống, tiện nghi vật chất. Cho nên nói đơn giản thôi, bây giờ mình đi ra Miền Trung hay Miền Bắc hoặc đi về Miền Tây giảng pháp, mình ở một đêm ngày hôm sau mới giảng. Khi đi đến chỗ đó, nếu người ta cho mình một chỗ ngủ sơ sài, không có gì hết, trải chiếu nằm dưới đất thì lúc đó xem tâm mình ra làm sao? Còn nếu người ta đem mình vào khách sạn ba sao, bốn sao thì lúc đó tâm mình như thế nào? Nếu có phòng hộ, các niệm an trú, các căn chế ngự thì lúc đó nó khác, còn nếu không có phòng hộ thì lúc đó mình liền bị tác động liền. Ví dụ thấy: “Cái giường này êm quá, cái phòng đã quá, vô nhảy lên giường cái, nhún nhún cái cho đã”. Hay vừa mở của ra thấy rồi khen “Đẹp quá !” là lời không được chế ngự. Thành ra tu tập chữ “chế ngự” này có nghĩa là lúc đó tuy ý mình vẫn có nghĩ, vẫn có thích nhưng lời không phát ra. Phát ra lời là lời không chế ngự, nhảy lên giường nhún nhún nằm thì lúc đó là vừa thân không phòng hộ, lời không phòng hộ và về sâu sắc bên trong là về niệm không an trú. Như vậy lúc đó mình không an trú bảy trí về sắc. Sắc là vô thường. là khổ, là đổi, là chịu sự biến hoại. Mình không có nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với sắc. Ngay lúc đó, cái dục tham của mình về sắc nó sanh khởi một cách vi tế thôi mà vi tế đó mới là những cái tu của người thật tu, chân tu, chân nhân trong giáo pháp. Điều này làm sao ai chỉ mình được, tự mình phải nỗ lực kiểm soát nội tâm của mình. Khi nhìn thấy nhà đẹp, phòng đẹp, người sang trọng đẹp thì mình: “À, lúc trước mình chưa xuất gia mình cũng như vậy!” – đây là nói những người khá giả đi xuất gia, còn những người nghèo khổ không có tu thì thấy cái đó còn mê hơn nữa. Mình thấy rồi đó, có những người vào tu rồi bị lôi kéo, những người giàu có đến cúng dường này kia, rồi rủ ra đời luôn, đều là trường hợp này hết, trong nội tâm họ suy nghĩ: “Thôi giờ mình về nhà đi, vừa hưởng thụ mà vừa làm phước, bố thí, cúng dường, vậy cũng được rồi!” Đó là nước xoáy, chìm xuống và chết luôn.
Thứ tư, sợ hãi về cá dữ. Thế nào là sự sợ hãi về cá dữ?
- Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”
- Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự.
- Vị này thấy ở đây các phụ nữ y phục không đoan chánh, hay y phục mặc lộ liễu. Khi thấy các phụ nữ y phục không đoan chính hay y phục lộ liễu, dục tình phá hoại tâm của vị ấy. Vị này, tâm bị dục tình phá hoại, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục.
- Như vậy, này các Tỳ-kheo, người này từ bỏ học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về cá dữ. Này các Tỳ-kheo, sợ hãi về cá dữ là đồng nghĩa với phụ nữ. (Trung Bộ Kinh - Tập 2, Bài kinh số 67, bài kinh Catumua (Catumasuttam))
Cho nên, có một Hòa thượng nói cũng vui lắm, các thầy kể lại, hôm đó có mấy cô mặc đồ váy ngắn, thiếu vải vào chùa, Hòa thượng nói “Tụi bây vô phòng hết nha. Ma, ma tấn công Phật rồi tụi bây ơi. Ma, ma tấn công Phật!” Bây giờ lạ lắm, đi chùa là phải nhắc nhở, thậm chí có những chỗ phải để những tấm vải để người ta tới người ta quấn lại. Đó là nói lên điều gì? Những lễ nghi, lễ giáo, đạo đức trong xã hội bị xuống cấp. Những chỗ đáng được tôn kính, đáng được tôn trọng, những chỗ trang nghiêm, khi đến đó thì mình phải tự biết. Hồi xưa các vị đi khất thực như vậy đâu phải ngày nào cũng gặp, hồi xưa khác, lâu lâu mới có trường hợp vậy thôi. Còn bây giờ nếu như những chỗ mà các tổ chức khóa tu, chương trình liên miên, liên tục thì mỗi ngày gặp bao nhiêu lần? Chẳng những gặp mà còn nói chuyện, chẳng những nói chuyện mà còn trao tay đồ đạc thậm chí còn giỡn hớt thì sao mà không bị cá dữ ăn thịt, không bị cá mập tấn công. Hồi xưa người ta thấy vậy người ta ra đời, người ta hoàn tục. Còn điều khổ nhất và hết sức lo lắng là bây giờ mình tu tập không có pháp hổ thẹn, sợ hãi, cho nên ở trong chùa vẫn sinh hoạt như gia đình. Điều này nặng hơn là hoàn tục rất nhiều, đây là đại họa. Ngày xưa các Ngài thấy mình không sống được trong đạo thì người ta trở về đời, còn bây giờ không học, không thực hành theo Cháp Pháp, nên không khéo là mượn đạo tạo đời.Đây là những điều hết sức căn bản cho người xuất gia. Phải nắm thật vững, phải nhớ, phải thuộc để tự mình tu tập và có thể nhắc nhở các em, các sư đệ, các chú tập sự về bốn sự sợ hãi này cho người xuất gia. Bây giờ cứ tổ chức các chương trình liên tục và có rất nhiều nam nữ, nhất là trẻ trung ở trong chùa. Có những thầy với tâm quyết tu học, tâm sự với thầy: “Như vậy thì sao giữ gìn được”, chưa nói hộ trì căn này nọ, vì mấy người này có biết các việc này đâu, nếu không giữ giới được rồi sự nghiệp tu hành sẽ đi tới đâu? Mình nơm nớp, lo sợ, ưu tư khắc khoải, tha thiết, chân thành có khi còn chưa xong, còn sai phạm. Chứ đừng nói chi người xuất gia lớp trẻ bây giờ, rất là thoải mái, không biết hổ thẹn, không biết sợ hãi, rồi tương lại sự nghiệp tu hành sẽ đi đến đâu? Tương lai Phật Pháp sẽ về đâu? Cho nên đúng theo tinh thần của Phật là mình phải sống đời sống viễn ly, thật sự ở núi, ở rừng kìa thì mình mới thực hiện được pháp. Phải học hoài, mỗi ngày học kinh, mỗi ngày thiền định ba thời thì sự tu tập của mình mới đi vào Chân Pháp được. Như vậy, sợ hãi về cá dữ đồng nghĩa với phụ nữ.
Bây giờ nói rộng hơn, sợ hãi với cá dữ là đồng nghĩa với những đối tượng nào làm mình sanh ra dục ái. “Không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự. Khi thấy các phụ nữ y phục không đoan chính hay y phục lộ liễu, dục tình phá hoại tâm của vị ấy. Vị này, tâm bị dục tình phá hoại, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục”. Thật sự bây giờ rất khiếp đảm, nhìn ở trên mạng toàn là những tin tức vô cùng khiếp sợ, khủng bố và khủng khiếp. Ngày xưa, những bộ phim về đạo nghĩa, đạo đức được tôn trọng nhưng bây giờ những bộ phim theo hướng tình dục, gợi cảm, nhạy cảm lại được coi nhiều. Cho nên vấn đề đạo đức, nhất là trong chùa, đối với người tu và nói rộng ra trong xã hội là rất cần thiết. Đây là điều mình phải để tâm vì thật sự rất xót xa về vấn đề đạo đức của con người. Mình giúp đỡ, lo lắng từ vật chất cho đến tinh thần rồi cuối cùng nhận lại sự oán hận, sự hủy nhục, thậm chí đòi đánh, đòi chém. Đạo đức con người ngày càng đi xuống./.