Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Năm Triền Cái 13 - Cách Đối Trị Hôn Trầm

2026-03-03 00:52:44
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

NĂM TRIỀN CÁI 13

CÁCH ĐỐI TRỊ HÔN TRẦM

–Thích Minh Thành–

Hôm nay chúng ta học qua phần hôn trầm thụy miên. Hôn trầm là chìm vào mê mờ, thụy miên là ngủ gục nhưng chỉ ngủ khi tu nên gọi là ngủ gục.

"Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, tại vườn Nai. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahàmoggallàna đang ngồi ngủ gục, trong làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy Tôn giả Mahàmoggallàna đang ngồi ngủ gục, trong làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thấy vậy, như nhà lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra; cũng vậy, Thế Tôn biến mất giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai, rồi hiện ra trước mặt Tôn giả Mahàmoggallàna, tại làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn; sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahàmoggallàna:

- Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục? Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục?

- Thưa phải, bạch Thế Tôn.

- Do vậy, này Moggallàna, khi nào Thầy trú có tưởng và thụy miên xâm nhập Thầy, chớ có tác ý đến nó, chớ có tưởng nhiều đến nó. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)

Đức Phật dạy đừng để cơn buồn ngủ dẫn dắt tâm trí mình, đừng đi theo cơn buồn ngủ đó, đừng để nó xâm chiếm thân tâm. "Chớ có tác ý đến nó, chớ có tưởng nhiều đến nó" nghĩa là không đi theo sự dẫn dắt của nó, không bị chìm trong nó mà phải tách ra khỏi nó. Chữ tác ý trong đoạn kinh này khác với như lý tác ý mình thường học và chữ tưởng cũng mang ý nghĩa khác, tức là không để cảm thọ của cơn buồn ngủ đó xâm chiếm, không để hình ảnh cơn buồn ngủ ám ảnh, phải tách mình ra khỏi nó.

"Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna, với tâm của Thầy, hãy tùy tâm, tùy tứ, với ý hãy tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)

Đây là cách thứ hai Đức Phật dạy để thoát khỏi cơn buồn ngủ, chính là tùy tầm, tùy tứ, với ý hãy tùy quán pháp đã được nghe, đã được học thuộc lòng. Tùy tầm, tùy tứ là hướng tâm vào pháp, kế đó là bám tâm vào pháp, đừng để tâm ở trong trạng thái của cơn buồn ngủ đó, khi đó hãy quán về khổ của việc si mê, quán về cái nguy hiểm của sự chìm vào trong mê mờ này, quán tai hại của tâm thức bóng đêm này, quán sự đau khổ của vô minh, si ám hoặc là quán về những người đồng trang lứa với mình phải thức khuya dậy sớm kiếm từng đồng tiền cực khổ vất vả trong khi mình ngồi tu thôi mà cũng không chịu nỗ lực, tinh cần, tinh tấn.

Ở đây Đức Phật nói rất vắn tắt, tâm mình hướng về pháp, trú trong pháp và quán những pháp đã được nghe, đã được học, mình chọn cái pháp có nhiều sức mạnh để đối trị hôn trầm, quán tâm buông xả, quán tâm thoát ly, quán sự đau khổ trong đọa xứ, trong chỗ âm u tối tăm, quán về sự đau khổ trong bóng đêm của vô minh, si ám, quán sự nguy hại trong ngu muội, quán chiếu lúc Thế Tôn ngồi dưới cội Bồ-đề, quán lúc Thế Tôn và các vị cao Tăng tu đại khổ hạnh là tóc rụng từng mảng, chạm vào bụng là đụng vào xương sườn… có những vị cao Tăng ngồi thiền buồn ngủ nên các ngài đi ra gốc cây gần vực thẳm để ngồi thiền hoặc là lúc đó buồn ngủ quá thì hãy đọc lên bài kinh nào mà mình thuộc. Ví dụ đọc đoạn kinh "Vô thỉ là luân hồi này, khởi điểm không thề nêu rõ với chúng ta bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc", đọc tới đâu là quán chiếu tới đó, vô minh làm mình khổ, si mê che đậy mình, hôn trầm nhận chìm mình trong bóng đêm, như vậy mình sẽ thoát ra khỏi cơn buồn ngủ.

"Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy đọc tụng pháp một cách rộng rãi, như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)

Đây là cách thứ tư Đức Phật dạy để trị cơn buồn ngủ khi ngồi thiền, đó là đọc kinh, tụng kinh, làm mọi cách để thoát khỏi cơn buồn ngủ. Khi nãy là quán trong tâm còn giờ là phát ra miệng vì mức độ buồn ngủ càng ngày càng nặng.

"Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy kéo hai lỗ tai của Thầy, và lấy tay xoa bóp tay chân. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)

Lỗ tai mình có những dây thần kinh mà kéo ra có thể làm tỉnh táo đầu óc, minh mẫn, sáng tỏ.

"Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy từ chỗ ngồi, đứng dậy lấy nước chùi mắt, nhìn về phía chân trời và nhìn lên các sao lấp lánh. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)

Bây giờ không ngồi nữa mà đứng lên và lấy nước chùi vào hai con mắt thật nhiều, nhìn ra xa về phía chân trời và nhìn lên các vì sao. Như vậy ngồi mà buồn ngủ thì mình có quyền đứng dậy sau khi đã xoa bóp tay chân vẫn buồn ngủ, rửa mặt và phóng tầm nhìn thật xa, thật rộng lớn, cảm nhận sự mênh mông, bao la của hư không.

"Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy tác ý đến quang tưởng và an trú vào tưởng ban ngày. Như ban ngày, ban đêm cũng vậy. Như ban đêm, ban ngày cũng vậy. Như vậy, với tâm rộng mở, không có hạn chế. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)

Sau khi đã rửa mặt, mở rộng tầm nhìn và đứng dậy nhưng vẫn không hết buồn ngủ thì hãy tác ý đến ánh sáng và an trú vào cái tưởng ban ngày với tâm rộng mở. Lúc nào Đức Phật cũng nhắc phải mở rộng tâm cho nên phần thực hành ba pháp là tinh túy của kinh Nikāya, tâm rộng mở không bị ràng buộc bên trong cảm thọ lờ mờ, rộng mở ra vùng trời đất này, rộng mở ra đến chân trời, đến các vì sao, mình ở trên núi lại càng dễ dàng phóng tầm nhìn rộng mở ra núi non trùng điệp, trú trong cái thọ rộng lớn, cái tưởng rộng lớn để thoát ra cảm thọ trì trệ, âm u. Quán chiếu có ánh mặt trời chiếu sáng chói chang.

"Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy trú tâm trên chỗ kinh hành, với tưởng trước mặt và sau lưng, với căn hướng nội, với ý không hướng ngoại. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt. (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)

Đã làm những cách ở trên mà vẫn chưa hết buồn ngủ thì đi kinh hành, đi tới đi lui ung dung, thong thả, có chánh niệm, đi nhẹ nhàng, tỉnh giác với tâm rộng mở, rộng lớn quảng đại. Căn hướng nội là ý căn để ý vào cảm thọ nặng nề, trì trệ để giải phá cảm thọ đó, chú tâm đến chỗ kinh hành là thân ở đâu thì tâm ở đó, nghĩa là phải có chánh niệm và tỉnh giác trong mỗi bước đi, tưởng ở trước mặt và sau lưng là tưởng rộng lớn. Chỗ trú ẩn của hôn trầm là cái đầu và hai con mắt nên mình phải để ý cảm thọ ở nơi đó để giải phá nó.

"Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy nằm như dáng nằm con sư tử, về phía hông bên phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý với tưởng thức dậy. Và khi thức dậy, này Moggallàna, Thầy hãy thức dậy thật mau, nghĩ rằng: 'Ta sẽ trú, không có chú tâm đến lạc nằm ngủ, lạc nằm xuống một bên, lạc thụy miên'. Như vậy, này Moggallàna, Thầy cần phải học tập". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VI. Phẩm Không Tuyên Bố, (VIII). Ngủ Gục)

Như vậy là quá mệt mỏi, cơ thể thật sự cần phải ngủ cho nên phải nằm xuống nhưng nằm dưới dáng của con sư tử, đặt hông phải xuống và hai chân gác lên nhau, đây cũng là dáng Đức Phật nằm để nhập Niết-bàn, tuy là nằm xuống nhưng tác ý với tưởng thức dậy để đừng hôn mê. Khi thức dậy là thức nhanh chứ không được nằm lăn qua lăn lại, rửa mặt cho tỉnh táo và không trú trong sự vui thích khi nằm ngủ.

Hôn trầm là chìm vào mê mờ, đầu tiên phải nhận diện được bắt đầu có sự chìm vào mê mờ đó, thứ hai là sự sanh khởi của cơn buồn ngủ, hiện tại đang có trạng thái chìm vào mê mờ, phải biết được sự chấm dứt trạng thái chìm vào mê mờ đó, thứ tư là biết được cách thức chấm dứt mê mờ đó, thứ năm là vị ngọt của trạng thái mê mờ đó, thứ sáu là sự nguy hiểm và tác hại của trạng thái mê mờ đó, thứ bảy là sự xuất ly, thoát ra khỏi cơn buồn ngủ mê mờ đó.

Vị ngọt của hôn trầm là khi nó sanh khởi là mình thấy thích, êm ái nên đi theo nó vậy là bị vị ngọt đánh gục cho nên phải quán sự nguy hại của nó thì mình mới thoát ra khỏi nó, "mình đã ngủ rồi nên giờ này là giờ ngồi thiền, con ma ngủ đang phá mình, nó kéo mình vào chỗ u tối", mình vạch tội của con ma ngủ trong giờ ngồi thiền để thoát ra khỏi nó nhưng điều quan trọng là khi cơn buồn ngủ sanh khởi mình phải nhận diện ra nó đang có mặt, vì thế trí tuệ là nhận diện được nó khi nó xuất hiện, nếu không nhận diện được nó thì mình sẽ nhập cuộc chung với nó thế là ngủ gục ngay trên thiền đường, cách thức để thoát khỏi cơn buồn ngủ đã được Đức Phật dạy ở trên. Khi nó sanh khởi thì phải thấy được vị ngọt và sự nguy hại của nó, mình phải biết đang có trạng thái chìm vào mê mờ, đang có trạng thái chìm vào chỗ tối tăm, nhất định mình phải thoát ra khỏi nó bằng những cách thức Đức Phật đã dạy, nếu không mình sẽ bị vị ngọt này nhận chìm mình, làm mình thua cuộc.

Thực tế khi ngồi thiền phải có chánh niệm trước mặt một cách mạnh mẽ, cảm nhận thật mạnh ở ngay con mắt và tầm nhìn thật rộng mở, tuyệt đối không được nhắm mắt mà phải mở mắt, đó là mình đang nói về căn và trần, dùng cảm thọ chiến đấu, đánh giặc để đánh đuổi cảm thọ buông xuôi, thả trôi. Dùng mọi cách thoát ra khỏi cơn buồn ngủ chứ không được để nó xâm chiếm, áp đảo, tác ý thật mạnh mẽ để đánh đuổi nó ra "ngươi đã ngủ từ vô thỉ kiếp rồi, ngủ mấy chục năm nay rồi, còn bây giờ là lúc ngồi thiền mà vẫn muốn ngủ nữa hay sao?", sau đó quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của hôn trầm, nguy hiểm và tác hại của cơn mê, "mi hại ta, mi giết ta, làm cho ta ở trong si ám, trong bóng đêm. Giờ này ta đã gặp được chánh pháp vậy mà mi còn hại ta nữa hay sao?".

 "Tinh cần giữa phóng dật,

Tỉnh thức giữa quần mê.

Người trí như ngựa phi,

Bỏ sau con ngựa hèn".

(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 29)

"Ðêm dài cho kẻ thức,

Ðường dài cho kẻ mệt,

Luân hồi dài, kẻ ngu,

Không biết chơn diệu pháp".

(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 60)

Dòng luân hồi này còn tiếp diễn dài dài với kẻ ngu si, với hôn trầm, với ngủ gục, cần phải tác ý liên tục để đánh đuổi việc chìm trong cơn mê mờ này. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho nóng lên rồi áp vào hai con mắt, sau đó xoa hết mặt, xoa hết đầu để tỉnh táo lên. Ngày xưa Minh Thành lên thiền viện Trúc Lâm tu lúc mới 20 tuổi, đó là tuổi ăn tuổi ngủ, ở nhà là công tử bột, không làm gì cả trong khi trên thiền viện ba giờ sáng đã thức, một lần ngồi thiền phải hai tiếng, một ngày phải ngồi từ hai đến thời thiền, chiều lại không được ăn. Ngồi thiền ngủ lúc nào không hay nhưng không biết làm sao nên Minh Thành đem theo ca nước với cái khăn trong khi ngồi, thời tiết thì giá lạnh, buồn ngủ thì lấy khăn nhúng nướcc lau mặt, vẫn không ăn thua thì lấy dầu xanh bôi vào mắt vậy mà cũng buồn ngủ, nhưng thời gian sau tập từ từ cũng quen thì gần như diệt luôn cơn buồn ngủ, chỉ khi nào quá mệt mới ngủ, còn khi đã kiểm soát được thì sau này ngồi không khó, chỉ cần không buông thả mà chiến dấu thì sẽ quen thôi.

Có nhiều người ngồi thiền mấy chục năm nhưng vẫn bị hôn trầm, trong việc ngồi thiền thì một là bị hôn trầm, hai là bị loạn tưởng, khi chiến đấu được hai cái này thì từ từ mới có an ổn thì mới thấy thích thú trong việc ngồi thiền. Lúc đầu ngồi thiền sẽ đau, nhức, tê chân, bức xúc, khó chịu, khi qua cái đau nhức thì bị buồn ngủ vì ngồi êm là ngủ, đến khi thức dậy thì bị vọng tưởng, biết bao cửa ải nên tu rất khó, cả một sự chiến đấu, nhất là trong thời đại này rất khó khăn để ngồi thiền, nếu ngồi mà quá nhiều vọng tưởng thì cần tác ý và mở những bài thiền quán, chú tâm vào pháp thì đỡ hơn ngồi không, thiền quán sẽ tác động đi sâu vào trong các cảm thọ thì mình sẽ tiếp nhận sâu sắc hơn việc nghe bình thường.

Lúc nghe pháp bình thường có khi mình sẽ hướng ngoại nhưng khi tác ý để nghe thiền quán thì việc đóng hết mắt; tai; mũi; lưỡi và dùng ý căn để ý vào bên trong và nếu mình biết cách đưa vào cảm thọ khi thiền quán thì pháp sẽ có hiệu quả rất lớn vì thế mình học thiền quán sẽ nhiều hơn thiền chỉ vì hiện tại học thiền chỉ rất khó nhưng chỉ quán phải quân bình. Lúc nào mình thấy tâm mình khó yên tịnh thì cần khéo léo trong chỉ quán, trong việc an trú cảm giác toàn thân, thực hành ba pháp hoặc trong lúc đó mình sử dụng các đề tài thiền quán như quán tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, quán hiện tại lạc trú, quán tứ đại, sử dụng những cái đó để đánh đuổi hôn trầm và loạn tưởng, thậm chí khi chuyên chú vào pháp sẽ quên đi việc bị đau nhức, tê chân. Đây chính là phần Đức Phật đã dạy "hãy tùy tâm, tùy tứ, với ý hãy tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng". Khi đã quá buồn ngủ thì hãy linh động chứ không nhất thiết cứ phải ngồi, đối với những người không ngồi thiền được thì phải đọc kinh, tụng kinh, hoặc là kéo lỗ tai, xoa bóp tay chân, không thì vừa đi kinh hành vừa mở rộng tầm nhìn. Việc đi kinh hành mang lợi ích cho cả thể chất lẫn tinh thần, ở ngoài là chạy bộ còn trong đạo là đi thiền hành để cơ thể vận động cho máu huyết lưu thông.

"- Này các Tỳ-kheo, có năm lợi ích này của kinh hành.

Thế nào là năm ?

Kham nhẫn được đường trường;

Kham nhẫn được tinh cần;

Ít bệnh tật;

Đưa đến tiêu hóa tốt đẹp các đồ được ăn, được uống, được nhai, được nếm;

Định chứng được trong khi kinh hành được tồn tại lâu dài.

Những pháp này, này các Tỳ-kheo là năm lợi ích của kinh hành". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, III. Phẩm Năm Phần, (IX). Kinh Hành)

Đức Phật nói có năm lợi ích khi đi kinh hành, thứ nhất là kham nhẫn được đường dài vì thời Đức Phật còn tại thế các bậc Thánh Tăng và chư vị Tỳ-kheo phải đi khất thực từ làng này qua làng kia, từ thị trấn này qua thị trấn kia, thậm chí là từ quốc độ này qua quốc độ kia đều là đi bộ, thầy Huyền Trang trước khi đi thỉnh kinh là ngài rèn luyện nhịn ăn, rèn luyện đi bộ, ngài rèn luyện rất nhiều trước khi đi thỉnh kinh một mình chứ không phải trong phim là cưỡi ngựa, có các đồ đệ đi cùng, phải nhịn đói nhịn khát để đi qua những sa mạc dài hàng trăm cây số không có một giọt nước, không có một bóng người.

Còn mình tu bây giờ thấy khó khăn một chút là nản cho nên không thành tựu được pháp khí, tức là đồ có thể chứa đựng được chánh pháp, yêu cầu viết bài chia sẻ pháp, trình pháp mà cũng ngại thì mình không có sự rèn luyện, không có sức kham nhẫn, khi gặp khó khăn là không chịu được cho nên con người chúng ta càng ngày càng yếu đuối, càng ngày càng nhu nhược, ý chí cầu đạo không được mạnh mẽ, không vượt khó, có khi mạnh mẽ nhưng lại mạnh mẽ việc đời, có khi lại vượt khó các chuyện thế sự, còn đối với pháp lại không chịu khó, vậy là đặt tâm sai hướng, đúng ra phải đặt hết tâm huyết vào pháp học và pháp hành nhưng không, chuyện thế sự, thế lợi, thế gian thì sốt sắng, còn chuyện tu thì im lặng, không có sự nhiệt tâm, không có trái tim nóng bỏng trong tu học, trong hành đạo, chính vì vậy nên mình không thành tựu.

Cho nên có người giúp mình cũng chưa đủ mà tự mình phải tự đặt mình vào chỗ khó thì mới thành công, có người giúp là phước lành của mình nhưng nếu không biết nắm bắt phước lành quý báu đó để tiến thủ thì mất cơ hội trong trăm kiếp ngàn đời mới có được, mất đi cơ hội mà rất lâu sau mới lại được gặp các bậc thiện tri thức, thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thầy lành bạn tốt. Hãy đặt mình vào chỗ khó, chỗ hiểm nguy vì chỉ có cơn buồn ngủ trong việc ngồi thiền mà mình còn không vượt qua được thì làm sao có thể tu tiến, làm sao có thể nhiếp phục được bản ngã, sân hận, tham dục. Cơn buồn ngủ còn không nhiếp phục được thì làm sao làm được những cái khó hơn? Nếu cứ sống đều đều qua ngày đoạn tháng là tu không thể tiến được, có ai nghĩ rằng dịch bệnh sẽ đến không? Bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra vì đời sống này là đột ngột, là bất thình lình không lường trước được cho nên phải tự rèn luyện bản thân từng chút một, phải tự đặt mình vào chỗ hiểm nguy, phải xem giờ ngồi thiền là giờ xung trận cho nên phải chịu khó, tinh tấn để tiến lên.

Đi kinh hành giúp mình kham nhẫn được tinh cần, tức là người thường đi kinh hành, chịu khó ngồi thiền, chịu khó trong tu học thì người này sẽ tiến lên về mọi mặt trong tu học và làm việc. Người hay đi kinh hành cũng ít bệnh tật, thân thể được vận động nên máu huyết được lưu thông, dễ tiêu hóa. Cái định chứng được trong khi đi kinh hành sẽ tồn tại lâu dài, đó là định ở trong động, còn định trong lúc ngồi im thì phải cực kì giỏi mới đạt được chứ không phải dễ mà chứng được nhưng cái định đó có khi xả thiền sẽ bị mất, khi mình đi đứng, ngồi nằm đều an trú cảm giác toàn thân thì đó là định tâm trên thân, nếu được cái định này sẽ tồn tại lâu dài, khi đi cũng định được thì khi ngồi càng định sâu hơn nữa, còn mình chỉ định khi ngồi yên nên bước đi là mất định nên cái định đó không kéo dài lâu được, mau chóng biến mất.

Đi kinh hành sẽ có những lợi ích đó vì vậy cần chịu khó trong tu học, mỗi ngày lên nghe pháp cũng là một hình thức rèn luyện, được nghe pháp, được nhắc lại pháp, sắc; thọ; tưởng; hành; thức an trú trong pháp cho nên cần chịu khó, chịu đựng để trú được trong pháp nhiều hơn.

Chúc quý vị có một ngày tỉnh táo, sáng tỏ, không chìm vào mê mờ.

./.