Thiền Quán - Thân xác vô thường biến hoại - Tương ưng sáu xứ 1, 2
Thiền Quán
THÂN XÁC VÔ THƯỜNG BIẾN HOẠI
TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 1-2
Thích Minh Thành
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thân xác vô thường PAGEREF _Toc66024357 \h 1
II. Khuyến tấn tu hành – biết ơn – báo hiếu PAGEREF _Toc66024358 \h 6
I. Thân xác vô thường
Thân này sẽ già nua, bệnh tật và chết chóc, ngã mạn chất chứa những sự lừa đảo và dối trá.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương,
Phủ ngoài một lớp da trơn lán,
Che đậy vô vàn thứ nhớp nhơ.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Chỉ có tanh hôi với hôi tanh,
Máu mủ bầy nhầy, phân, nước tiểu,
Nhìn kĩ bên trong, chẳng có ai.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Thế mà vỗ ngực nói ta đây,
Như một bao rác đầy hôi thối,
Lại vỗ vào bao, nói ta, tôi.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Chỉ có tâm chấp ngã, hơn thua,
Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu,
Đốt cháy tâm can trong giận sân.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Chỉ là đống nhớp bọc bằng da,
Thế mà vỗ ngực ta vầy, khác,
Kẻ mạo danh nhận rác là ta.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Chỉ là đống nhớp bọc bằng da,
Chẳng có ai ở trong đây cả,
Hỡi tâm mê, hãy tỉnh ra mau!
--Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), I. Phẩm Vô Thường)
--Này các Tỷ-kheo, tất cả phải bị sanh, tất cả phải bị già, tất cả phải bị bệnh, tất cả phải bị chết, tất cả phải bị sầu, tất cả phải bị phiền não, tất cả phải bị đoạn tận, tất cả phải bị tiêu diệt, tất cả phải bị tập khởi, tất cả phải bị đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), I. Phẩm Sanh Pháp)
Cần phải thấy biết một cách sâu sắc, cần phải thấy biết một cách triệt để, tất cả cần phải chứng ngộ – thực chứng và giác ngộ sự thật này. Tất cả đều bị phiền lụy, bị áp đảo… Thân này phải chịu sự biến hoại – biến đổi và hoại diệt. Con mắt này phải chịu sự biến đổi, hoại diệt, tan nát. Lỗ tai này phải chịu sự biến đổi, hoại diệt, tan nát. Lỗ mũi này bây giờ đã trờ thành cát bụi. Tấm thân này bây giờ đã trở thành tro cốt. Tất cả đều phải chịu sự tàn khốc của vô thường, sự tàn bạo và khắc nghiệt của biến hoại, nó sẽ đổi thay, sẽ huỷ diệt, hoại diệt, tan nát, tan hoại, tan vỡ, tan hoang, tan tành.
--Mắt phải chịu sự biến hoại. Các sắc phải chịu sự biến hoại. Nhãn thức phải chịu sự biến hoại. Nhãn xúc phải bị biến hoại. Những cảm giác, cảm xúc, cảm thọ sanh khởi lên dù vui, hay khổ, hay không vui không khổ đều phải chịu sự biến hoại.
Chắc chắn bà Diệu Hiền nghe điều này rất nhiều, đã hiểu, chấp nhận và nhìn thấy. Mũi, lưỡi, thân này cũng phải chịu sự biến hoại, tàn hoại, đổi thay.
Ý chịu sự biến hoại. Các pháp chịu sự biến hoại. Ý thức chịu sự biến hoại. Ý xúc chịu sự biến hoại. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy chịu sự biến hoại.
Cái gì chịu sự biến hoại, này Ananda, cái ấy gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), IV. Phẩm Channa, bài kinh Biến Hoại)
“Cái gì chịu sự biến hoại, cái ấy gọi là thế giới”, tức là thân ngũ uẩn này.
Rồi Tôn giả Ananda... bạch Thế Tôn:
--"Trống không là thế giới, trống không là thế giới", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi trống không là thế giới?
--Vì rằng, này Ananda, thế giới là không tự ngã, và không thuộc tự ngã, nên thế giới được gọi là trống không. Và cái gì, này Ananda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã?
Mắt, này Ananda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã. Các sắc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn thức là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn xúc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã... Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không có tự ngã hay không thuộc tự ngã. Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), IV. Phẩm Channa, bài kinh Trống Không)
Mắt không phải là tôi, không thuộc về tôi. Con mắt trên mặt mình nhưng không phải là mình, không phải của mình. Các sắc mà con mắt nhìn thấy không phải là mình, không phải là của mình. Ngay cả sự rõ biết các sắc đó cũng không phải là mình. Cái gọi là “tôi thấy” cũng không phải là mình, đó là pháp duyên sanh, kết hợp. Sự rõ biết các sắc cũng không phải là tôi, không phải của tôi, không thuộc về tôi.
Con mắt này không thuộc về tôi, cho nên có khi đời sau nó trở thành con mắt của con mèo, con chó, con kiến, con gián, con ma. Lỗ tai này không phải là tôi, không thuộc về tôi, cho nên đời sau luân hồi người ta có thể cắt lỗ tai mình, trở thành lỗ tai của lợn, của bò. Tất cả đều thuộc về nghiệp, thuộc về duyên sanh, thuộc về tứ đại, không thuộc về mình, tùy theo phước, nghiệp biểu hiện ra con mắt như thế nào, lỗ tai, lỗ mũi như thế nào. Tất cả là của nghiệp, của tứ đại, của những cảm giác, nghĩ tưởng thiện ác biểu hiện ra. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là thuộc về tôi, ngay cả cánh tay, đôi chân, bàn chân trên người của mình.
Chỉ vì tâm mê, tâm vô minh cộng với khát ái – chúng làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt, làm căn cứ địa trong hình hài, vóc dáng, xác thân này. Nó cười, khóc, buồn, vui, dục, ái, tham, sân, bản ngã, hơn thua để rồi tạo ra bao nhiêu thứ ác nghiệp và phải ra đi trong nước mắt, ra đi trong sự nhức nhói, tiếc nuối, hối hận, xót xa, đau lòng. Thật đau khổ cho tâm mê này, thật là ngu si cho tâm mê này, thật là xót xa cho tâm mê này. Chúng ta bị tâm mê này lừa dối, lừa gạt, lừa đảo, lừa phỉnh. Mê hoài, mê mãi, mê đến chết vẫn chưa hết mê.
Si mê, tham đắm để rồi tạo bao nhiêu thứ ác nghiệp: sát sanh, giết hại; trộm cắp, lừa đảo; mưu mô, mưu sĩ, mưu tính sao cho lợi về mình, hại người; tà dâm; nói dối, nói gạt, đâm thọc ác độc, nói những lời nhảm nhí, phù phiếm, vô nghĩa, nói những lời làm cho những người khác khổ đau, nhức nhói, tức tối; tìm những cảm giác say sưa, nghiện ngập hại mình, hại người, khổ mình, khổ người, làm cho cha mẹ khổ sở, bà con xấu hổ, hủy hoại, tàn phá thân xác của mình. Chất chứa những cảm giác sân hận thiếu đốt, bốc cháy, những suy nghĩ hại người. Chất chứa những cảm giác tham lam, tham dục, tham vọng, ác tham. Tạo ra bao nhiêu những ác nghiệp, tội lỗi, đời sau không còn thân người nữa, sẽ rơi vào ba đường ác.
Thật là thương xót, cay đắng và đau khổ cho cái tâm si mê, u mê, đam mê, ngu muội, nó chống đối với Thánh Pháp, chống đối với bạn lành, vênh váo, ngã mạn, kiêu căng, ta đây, tự phụ. Thật là si mê, quá si mê! Tâm thức này cứng đầu, cứng cổ, khó dạy, khó bảo, ương ngạnh, ngang ngược, hống hách, kiêu căng để tăng thêm ác nghiệp. Thật là xót xa cho tâm u mê, chấp thủ! Thật là tội nghiệp cho chúng ta! Thật là đau lòng!
Chúng ta đã làm những điều này trăm ngàn vạn kiếp. Vở tuồng của ngũ uẩn này chúng ta đã dựng lên vô lượng vô thỉ kiếp. Bên trong cứ thúc giục, tìm cái này, kiếm cái kia, đòi hỏi cái nọ. Không chịu ở yên để tu mà cứ chạy lăng xăng, ngày đêm lang bạc hết chỗ này đến chỗ kia để tìm những cảm giác vui sướng, thích thú, tìm dục, tìm ái, tìm tham. Chạy chỗ này, chạy chỗ kia, tìm chỗ nọ, gần chết rồi vẫn không chịu ngừng nghỉ, đó là Dục Lậu – là sự hoạt động ngấm ngầm, qua mặt, điều khiển, xâm chiếm, chi phối, thúc giục. Nó sai khiến thân này, sai xử thân này, buộc ràng thân này, đó gọi là Kiết Sử. Những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức quấn chặt, siết chặt, buộc chặt, bó chặt ở bên trong.
Chỉ có Thánh trí tuệ này mới có công năng giải phá, giải phóng, giải thoát được tâm mê. Thánh trí tuệ nhìn sâu sắc vào đời sống này; thân xác này; cảm giác này; hình bóng nội tâm; những suy nghĩ âm thầm, lầm thầm; những sự nhận thức rõ biết này – nhìn sâu vào trong ngũ uẩn này để thấy được sự hoạt động tinh ranh, ngấm ngầm, dối trá của các lậu hoặc. Thấy ra được một tên giặc, tên sát thủ giấu mặt đang ở trong người chúng ta. Những cảm giác tham dục, sân hận, si mê, bản ngã là những tên sát thủ giấu mặt.
Chúng ta phải kiểm tra, kiểm soát, kiểm điểm, bắt chụp, nhiếp phục, đánh gục, diệt tận chúng thì ta mới được bình an. Một sự bình an siêu việt! Một sự bình an kì lạ ở bên trong! Một sự bình an chưa từng có trong vô lượng vô biên kiếp, ta chưa từng nếm qua, chưa từng trải qua, chưa từng kinh qua, chưa từng đi qua, chưa từng chứng ngộ qua. Hôm nay, trong giây phút này chúng ta đang nếm trải sự bình an, trí tuệ, an lạc đó. Nhất định chúng ta phải nắm cho chặt, nắm cho chắc, nắm cho thật vững ngọn đuốc Thánh trí này.
II. Khuyến tấn tu hành – biết ơn – báo hiếu
Chúng ta đã nhìn thấy ngọn đuốc Thánh trí tuệ này đã soi đường cho bà Diệu Hiền đi – một nhân chứng hùng hồn, nhãn tiền trước mắt chúng ta. Khi con hỏi: “Bà buông xả thân xác vô thường, tan hoại, phiền não, ngũ uẩn này nha!” và bà gật đầu. Khi đó con mỉm cười vì mình thành công rồi, sự xuất gia của con không phải là vô ích, không phải là trống rỗng, không phải là trống không. Sự tu học kinh tạng Nikāya Thánh Pháp của chúng ta có lợi ích, có hiệu quả thiết thực hiện tại, có khả năng hướng thượng, đến để mà thấy, không có thời gian, người trí sẽ tự mình thấy hiểu được, chứng biết được.
Tất cả chúng ta ở đây là nhân chứng nhìn thấy bà Diệu Hiền – người đầu tiên thừa hưởng thành quả của Thánh Pháp kể từ ngày con đi vào dòng pháp này ba năm nay. Hãy nhớ sự tu học của chúng ta không phải là trống rỗng, không phải là trống không, không phải là vô ích, vô tích sự, mà sự tu học của chúng ta phải có lợi ích, phải thiết thực, phải có kết quả, phải có thành quả cho tự thân, cha mẹ và người thân của mình. Phải đem ngọn đuốc Thánh trí này mồi lửa, truyền lửa để thắp sáng cho tự thân và những người thân thương nhất trên cuộc đời chúng ta. Phải làm cho bằng được, phải thành công, phải thành tựu, không được thất bại, không cho phép mình thất bại.
Tuy đây chưa phải là thành quả lớn lao nhất, nhưng đây cũng là một sự thành công đáng xưng tán và ca tụng cho bà Diệu Hiền. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn ở đây, mỗi ngày được nghe pháp, được tu tập, nương nhờ công đức của đại chúng, nhưng đến khi ra đi bà đã gật đầu chấp nhận buông bỏ thân ngũ uẩn, đó là nhờ Thánh trí tối thượng ngũ uẩn này.
Chúng ta biết lúc đó đâu phải là cảm thọ bình thường, mà là những cảm thọ thống khổ, kịch liệt, cực kì đau khổ, nhưng với công đức từ tâm của quý thầy, quý cô đã lan tỏa ra cảm thọ mát dịu, hiền hòa, từ ái, tình thương để hóa giải dòng cảm thọ đau khổ, thống khổ của bà. Đồng thời lan tỏa đến những oan gia trái chủ, những nghiệp chướng được thấm đượm dòng cảm thọ từ bi của đại chúng, tất cả đều lắng dịu, an tịnh, nhẹ nhàng.
Chính giây phút đó bà đã chánh niệm, sáng tỏ, nhận biết rõ, mặc dù trước đó con đưa tượng Phật là bà không thấy. Khi ấy bà đang chống chọi, nhưng khi trải tâm từ liên tục thì lúc đó thần trí của bà minh đạt trở lại, cảm nhận được pháp, cảm nhận được con, bà chấp nhận gật đầu. Đây là một điềm lành tối thượng!
Con mong muốn người xuất gia chúng ta báo hiếu cho cha mẹ bằng sự tu học của mình. Phải hướng dẫn, nhắc nhở, khuyến khích, đặt để cha mẹ, người thân vào trong sự thật, vào Chánh Pháp tối thượng. Con mong muốn những hình ảnh này không chỉ riêng bản thân con, con muốn tất cả người xuất gia khắc ghi, nhớ kĩ và thực hành.
Nhiều khi đi tu rồi nhưng lại giống như hoàn toàn vô trách nhiệm với cha mẹ, người thân của mình, con rất xót xa, con thấy điều này rất nhiều. Vui với huynh đệ, tỷ muội, thân với những Phật tử, nhưng hằng ngày, hằng giờ bỏ quên cha mẹ của mình đang bệnh hoạn, đang già nua tựa cửa trông chờ chúng ta. Thật là tàn nhẫn cho một người xuất gia, thật là vô lương tâm, thật là đại bất hiếu cho một người đi tu, thật là vong ơn bội nghĩa cho một người con như vậy. Tại sao chúng ta không dành những thời giờ điện thoại cho bạn bè, huynh đệ để điện thoại nhắc nhở cha mẹ học pháp? Tại sao chúng ta không dành những thời gian đi đây đi đó, thăm viếng chỗ này, chỗ kia để gần gũi, chia sẻ chân lí, sự thật cho cha mẹ? Thật là tội lỗi!
Hôm nay đã bước vào mùa báo hiếu, con muốn cố gắng tu hành, tuyên dương Thánh Pháp để đền ơn đức của mẫu thân đã hóa vãng. Chúng ta đừng quên cha mẹ nếu còn sống họ đang luôn khắc khoải, trông ngóng. Vì vậy ta đừng buông lung, phóng dật, sống trong vô cảm, trong lãng quên. Hãy nhớ về cha mẹ mình dù đang còn hay đã mất. Sự đáp đền ân đức thiết thực nhất chính là sự tu tập, diệt tận những lậu hoặc, cấu nhiễm, chứ không phải đáp đền bằng hính thức phô trương lòe loẹt trong sắc pháp vô thường, tan hoại, hủy hoại này. Bằng không còn đè thêm gánh nặng lên mẹ cha nữa chứ không phải là báo hiếu. Hãy làm thật nhiều việc cần làm của một người xuất gia.
Cần phải làm, nên làm,
Làm cùng tận khả năng,
Xuất gia sống phóng đãng,
Chỉ tăng loạn bụi đời.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Địa Ngục)
Hãy thương cha mẹ mình thật nhiều. Người xuất gia là người thương cha mẹ thật sự, không phải là một người bất hiếu, vong ân, bội nghĩa. Nếu không ý thức một cách chính xác, chân chánh thì “lưỡng đồ câu thất” – hai đường đều mất hết. Ngoài đời không được làm một người con hiếu thảo, bưng cơm, dâng nước, chăm sóc khi bệnh hoạn thuốc men, miếng ăn giấc ngủ của cha mẹ mình không làm tròn. Đi tu cũng không được một cái gì hết, trống không, trống rỗng, vô tích sự, không lo tăng thượng giới hạnh, thiền định, trí tuệ, mà chỉ lo những tạp sự, thế sự, tục sự, phát huy lòng dục, tham, ái, chạy theo những hình thức, hình dáng, màu sắc ở bên ngoài thì lấy cái gì đền đáp cho mẹ cha? Lấy tâm tham để đền đáp cho mẹ cha ư? Lấy lòng sân hận để báo hiếu ư? Lấy sự u mê, si ám để đáp tạ ơn sanh thành ư? Lấy một bản ngã vênh váo để làm hiếu thảo hay sao?
Phải nỗ lực, ngày đêm tha thiết chân thành cầu pháp, làm tất cả những sự công quả cực khổ để vun bồi phước báu. Đừng làm biếng, làm nhác, lánh nặng, tìm nhẹ, khó một chút là muốn bỏ, trở ngại một chút là muốn buông, sự đời còn không làm được huống chi là pháp xuất thế gian. Phải chuyên cần, phải tinh tấn, phải vất vả, phải cực khổ, tích tụ phước báu.
Một kẻ vô phước làm sao có thể tu hành được. Bên ngoài là siêng năng vun bồi phước báu, bên trong là tinh tấn nhiếp phục phiền não, nỗ lực, tha thiết học hỏi Thánh Pháp, dập đầu trước các bậc thiện tri thức. Được chỉ lỗi, được dạy bảo phải dập đầu, lạy tạ. Phải cung kính, phải khát ngưỡng, phải thiết tha, phải chân thành, phải xem giáo pháp gấp một trăm lần sinh mạng. Phải đánh gục bản ngã trước giáo pháp, trước bậc thầy, trước thiện tri thức, trước huynh đệ. Phải đánh gục, đánh ngã, đánh sập cái tôi này.
Tôn kính với nhau, từ ái với nhau, hòa hợp với nhau, tôn trọng nhau, quý trọng nhau, kính trọng nhau để cùng nâng đỡ trên con đường phạm hạnh, đi đến rốt ráo cứu cánh. Mỗi ngày tu được một thiện pháp, tối về phải xướng lên: “Mẹ ơi, cha ơi, ngày hôm nay con tu tập thêm một thiện pháp để đền đáp công ơn cho cha mẹ. Cô ơi, dì ơi, chú ơi, ngày hôm nay con học thêm một Thánh Pháp, có dịp con sẽ về chia sẻ lại cho mẹ cha, thân tộc”.
Những người đó là những người xứng đáng được thừa hưởng nhất, nhưng tại sao chúng ta không lo lắng để chia sẻ, mà lại đi tìm những người nào khác để nói pháp, người ta có nghe đâu mà mình nói. Những người ân nghĩa, ân đức sâu nặng nhất, những người mình phải có bổn phận, trách nhiệm, nhưng tại sao mình không làm, mình lại đi kiếm ai để nói, đi độ ai trong khi những người ân nghĩa sanh thành, cùng cắt khúc ruột với mình đang si mê đau khổ? Tha thiết, chân thành với tự thân mình và với những ân nhân của chúng ta, đó là thiết thực nhất. Đừng ảo tưởng đi độ thiên hạ, mà hãy độ cho chính mình và chia sẻ cho những người ân nghĩa, thâm ơn nhất của mình trước.
Những người đang chung sống với chúng ta, hãy cũng kính, hòa thuận, thuận thảo, biết ơn. Hãy nhớ ơn những người đã đem hết tất cả tấm lòng vì mình, nhưng tại sao tích tắc mình còn có thể quay lưng lại với họ? Hãy suy nghĩ cho sâu sắc, diệt tận tất cả những cảm thọ sân hận, phản phúc, phản bội, vong ơn, bội nghĩa. Diệt tận chúng nó, diệt hoàn toàn cho đến khi chỉ còn thuần một tâm cung kính, biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn trong mùa báo ơn này.
Bằng tấm lòng của con muốn cúng dường pháp, muốn chia sẻ những tâm tư, tâm sự của người xuất gia, nếu có gì quý thầy, quý cô không hài lòng, con xin sám hối. Con chỉ muốn chia sẻ tấm lòng của một người con đi tu đối với cha mẹ. Con xin mời quý thầy, quý cô, đại chúng nếu có ai muốn chia sẻ gì thì chúng ta chia sẻ. Con nghĩ khoảnh khắc này rất quý báu, hãy nói lên những tâm tư của mình đối với cha mẹ chúng ta.
***
***
Đệ tử pháp danh là Minh Thành cùng cha của con là thầy Pháp An và anh chị trong gia đình, được sự thương mến, từ ái của quý thầy, quý sư cô, các chú và các Phật tử về đây cùng tu học với con, con rất hoan hỷ trước những lời ca ngợi, xưng tán của quý thầy, quý cô, nhưng con không dám nhận. Con chỉ nghĩ mình là người cùng chung với huynh đệ tu hành, không dám nhận mình là thầy, con còn rất nhiều rác bẩn, đang phải lo tu tập, quét dọn ngày đêm. Con mong rằng đại chúng, quý thầy, quý sư cô – chúng ta hãy cùng nhau tinh tấn tăng thượng giới học – tâm học – tuệ học, hòa kính, quý trọng, thực hành đúng Chánh Pháp. Đó là niềm hạnh phúc vĩ đại nhất của con. Trong những ngày qua, bằng tình thương, bằng từ tâm của quý thầy, quý sư cô và đại chúng đã lo lắng cho tang lễ của mẹ con được viên mãn và thành tựu trong sự trang nghiêm, thanh tịnh của Chánh Pháp. Con và gia quyến xin đê đầu, đảnh lễ, tạ ơn./.
THÂN XÁC VÔ THƯỜNG BIẾN HOẠI
TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 1-2
Thích Minh Thành
Mục Lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thân xác vô thường PAGEREF _Toc66024357 \h 1
II. Khuyến tấn tu hành – biết ơn – báo hiếu PAGEREF _Toc66024358 \h 6
I. Thân xác vô thường
Thân này sẽ già nua, bệnh tật và chết chóc, ngã mạn chất chứa những sự lừa đảo và dối trá.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương,
Phủ ngoài một lớp da trơn lán,
Che đậy vô vàn thứ nhớp nhơ.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Chỉ có tanh hôi với hôi tanh,
Máu mủ bầy nhầy, phân, nước tiểu,
Nhìn kĩ bên trong, chẳng có ai.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Thế mà vỗ ngực nói ta đây,
Như một bao rác đầy hôi thối,
Lại vỗ vào bao, nói ta, tôi.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Chỉ có tâm chấp ngã, hơn thua,
Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu,
Đốt cháy tâm can trong giận sân.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Chỉ là đống nhớp bọc bằng da,
Thế mà vỗ ngực ta vầy, khác,
Kẻ mạo danh nhận rác là ta.
Thân trống rỗng, không ai trong đó,
Chỉ là đống nhớp bọc bằng da,
Chẳng có ai ở trong đây cả,
Hỡi tâm mê, hãy tỉnh ra mau!
--Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), I. Phẩm Vô Thường)
--Này các Tỷ-kheo, tất cả phải bị sanh, tất cả phải bị già, tất cả phải bị bệnh, tất cả phải bị chết, tất cả phải bị sầu, tất cả phải bị phiền não, tất cả phải bị đoạn tận, tất cả phải bị tiêu diệt, tất cả phải bị tập khởi, tất cả phải bị đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), I. Phẩm Sanh Pháp)
Cần phải thấy biết một cách sâu sắc, cần phải thấy biết một cách triệt để, tất cả cần phải chứng ngộ – thực chứng và giác ngộ sự thật này. Tất cả đều bị phiền lụy, bị áp đảo… Thân này phải chịu sự biến hoại – biến đổi và hoại diệt. Con mắt này phải chịu sự biến đổi, hoại diệt, tan nát. Lỗ tai này phải chịu sự biến đổi, hoại diệt, tan nát. Lỗ mũi này bây giờ đã trờ thành cát bụi. Tấm thân này bây giờ đã trở thành tro cốt. Tất cả đều phải chịu sự tàn khốc của vô thường, sự tàn bạo và khắc nghiệt của biến hoại, nó sẽ đổi thay, sẽ huỷ diệt, hoại diệt, tan nát, tan hoại, tan vỡ, tan hoang, tan tành.
--Mắt phải chịu sự biến hoại. Các sắc phải chịu sự biến hoại. Nhãn thức phải chịu sự biến hoại. Nhãn xúc phải bị biến hoại. Những cảm giác, cảm xúc, cảm thọ sanh khởi lên dù vui, hay khổ, hay không vui không khổ đều phải chịu sự biến hoại.
Chắc chắn bà Diệu Hiền nghe điều này rất nhiều, đã hiểu, chấp nhận và nhìn thấy. Mũi, lưỡi, thân này cũng phải chịu sự biến hoại, tàn hoại, đổi thay.
Ý chịu sự biến hoại. Các pháp chịu sự biến hoại. Ý thức chịu sự biến hoại. Ý xúc chịu sự biến hoại. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy chịu sự biến hoại.
Cái gì chịu sự biến hoại, này Ananda, cái ấy gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), IV. Phẩm Channa, bài kinh Biến Hoại)
“Cái gì chịu sự biến hoại, cái ấy gọi là thế giới”, tức là thân ngũ uẩn này.
Rồi Tôn giả Ananda... bạch Thế Tôn:
--"Trống không là thế giới, trống không là thế giới", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi trống không là thế giới?
--Vì rằng, này Ananda, thế giới là không tự ngã, và không thuộc tự ngã, nên thế giới được gọi là trống không. Và cái gì, này Ananda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã?
Mắt, này Ananda, là không tự ngã và không thuộc tự ngã. Các sắc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn thức là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã. Nhãn xúc là không tự ngã, hay không thuộc tự ngã... Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không có tự ngã hay không thuộc tự ngã. Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), IV. Phẩm Channa, bài kinh Trống Không)
Mắt không phải là tôi, không thuộc về tôi. Con mắt trên mặt mình nhưng không phải là mình, không phải của mình. Các sắc mà con mắt nhìn thấy không phải là mình, không phải là của mình. Ngay cả sự rõ biết các sắc đó cũng không phải là mình. Cái gọi là “tôi thấy” cũng không phải là mình, đó là pháp duyên sanh, kết hợp. Sự rõ biết các sắc cũng không phải là tôi, không phải của tôi, không thuộc về tôi.
Con mắt này không thuộc về tôi, cho nên có khi đời sau nó trở thành con mắt của con mèo, con chó, con kiến, con gián, con ma. Lỗ tai này không phải là tôi, không thuộc về tôi, cho nên đời sau luân hồi người ta có thể cắt lỗ tai mình, trở thành lỗ tai của lợn, của bò. Tất cả đều thuộc về nghiệp, thuộc về duyên sanh, thuộc về tứ đại, không thuộc về mình, tùy theo phước, nghiệp biểu hiện ra con mắt như thế nào, lỗ tai, lỗ mũi như thế nào. Tất cả là của nghiệp, của tứ đại, của những cảm giác, nghĩ tưởng thiện ác biểu hiện ra. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là thuộc về tôi, ngay cả cánh tay, đôi chân, bàn chân trên người của mình.
Chỉ vì tâm mê, tâm vô minh cộng với khát ái – chúng làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt, làm căn cứ địa trong hình hài, vóc dáng, xác thân này. Nó cười, khóc, buồn, vui, dục, ái, tham, sân, bản ngã, hơn thua để rồi tạo ra bao nhiêu thứ ác nghiệp và phải ra đi trong nước mắt, ra đi trong sự nhức nhói, tiếc nuối, hối hận, xót xa, đau lòng. Thật đau khổ cho tâm mê này, thật là ngu si cho tâm mê này, thật là xót xa cho tâm mê này. Chúng ta bị tâm mê này lừa dối, lừa gạt, lừa đảo, lừa phỉnh. Mê hoài, mê mãi, mê đến chết vẫn chưa hết mê.
Si mê, tham đắm để rồi tạo bao nhiêu thứ ác nghiệp: sát sanh, giết hại; trộm cắp, lừa đảo; mưu mô, mưu sĩ, mưu tính sao cho lợi về mình, hại người; tà dâm; nói dối, nói gạt, đâm thọc ác độc, nói những lời nhảm nhí, phù phiếm, vô nghĩa, nói những lời làm cho những người khác khổ đau, nhức nhói, tức tối; tìm những cảm giác say sưa, nghiện ngập hại mình, hại người, khổ mình, khổ người, làm cho cha mẹ khổ sở, bà con xấu hổ, hủy hoại, tàn phá thân xác của mình. Chất chứa những cảm giác sân hận thiếu đốt, bốc cháy, những suy nghĩ hại người. Chất chứa những cảm giác tham lam, tham dục, tham vọng, ác tham. Tạo ra bao nhiêu những ác nghiệp, tội lỗi, đời sau không còn thân người nữa, sẽ rơi vào ba đường ác.
Thật là thương xót, cay đắng và đau khổ cho cái tâm si mê, u mê, đam mê, ngu muội, nó chống đối với Thánh Pháp, chống đối với bạn lành, vênh váo, ngã mạn, kiêu căng, ta đây, tự phụ. Thật là si mê, quá si mê! Tâm thức này cứng đầu, cứng cổ, khó dạy, khó bảo, ương ngạnh, ngang ngược, hống hách, kiêu căng để tăng thêm ác nghiệp. Thật là xót xa cho tâm u mê, chấp thủ! Thật là tội nghiệp cho chúng ta! Thật là đau lòng!
Chúng ta đã làm những điều này trăm ngàn vạn kiếp. Vở tuồng của ngũ uẩn này chúng ta đã dựng lên vô lượng vô thỉ kiếp. Bên trong cứ thúc giục, tìm cái này, kiếm cái kia, đòi hỏi cái nọ. Không chịu ở yên để tu mà cứ chạy lăng xăng, ngày đêm lang bạc hết chỗ này đến chỗ kia để tìm những cảm giác vui sướng, thích thú, tìm dục, tìm ái, tìm tham. Chạy chỗ này, chạy chỗ kia, tìm chỗ nọ, gần chết rồi vẫn không chịu ngừng nghỉ, đó là Dục Lậu – là sự hoạt động ngấm ngầm, qua mặt, điều khiển, xâm chiếm, chi phối, thúc giục. Nó sai khiến thân này, sai xử thân này, buộc ràng thân này, đó gọi là Kiết Sử. Những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức quấn chặt, siết chặt, buộc chặt, bó chặt ở bên trong.
Chỉ có Thánh trí tuệ này mới có công năng giải phá, giải phóng, giải thoát được tâm mê. Thánh trí tuệ nhìn sâu sắc vào đời sống này; thân xác này; cảm giác này; hình bóng nội tâm; những suy nghĩ âm thầm, lầm thầm; những sự nhận thức rõ biết này – nhìn sâu vào trong ngũ uẩn này để thấy được sự hoạt động tinh ranh, ngấm ngầm, dối trá của các lậu hoặc. Thấy ra được một tên giặc, tên sát thủ giấu mặt đang ở trong người chúng ta. Những cảm giác tham dục, sân hận, si mê, bản ngã là những tên sát thủ giấu mặt.
Chúng ta phải kiểm tra, kiểm soát, kiểm điểm, bắt chụp, nhiếp phục, đánh gục, diệt tận chúng thì ta mới được bình an. Một sự bình an siêu việt! Một sự bình an kì lạ ở bên trong! Một sự bình an chưa từng có trong vô lượng vô biên kiếp, ta chưa từng nếm qua, chưa từng trải qua, chưa từng kinh qua, chưa từng đi qua, chưa từng chứng ngộ qua. Hôm nay, trong giây phút này chúng ta đang nếm trải sự bình an, trí tuệ, an lạc đó. Nhất định chúng ta phải nắm cho chặt, nắm cho chắc, nắm cho thật vững ngọn đuốc Thánh trí này.
II. Khuyến tấn tu hành – biết ơn – báo hiếu
Chúng ta đã nhìn thấy ngọn đuốc Thánh trí tuệ này đã soi đường cho bà Diệu Hiền đi – một nhân chứng hùng hồn, nhãn tiền trước mắt chúng ta. Khi con hỏi: “Bà buông xả thân xác vô thường, tan hoại, phiền não, ngũ uẩn này nha!” và bà gật đầu. Khi đó con mỉm cười vì mình thành công rồi, sự xuất gia của con không phải là vô ích, không phải là trống rỗng, không phải là trống không. Sự tu học kinh tạng Nikāya Thánh Pháp của chúng ta có lợi ích, có hiệu quả thiết thực hiện tại, có khả năng hướng thượng, đến để mà thấy, không có thời gian, người trí sẽ tự mình thấy hiểu được, chứng biết được.
Tất cả chúng ta ở đây là nhân chứng nhìn thấy bà Diệu Hiền – người đầu tiên thừa hưởng thành quả của Thánh Pháp kể từ ngày con đi vào dòng pháp này ba năm nay. Hãy nhớ sự tu học của chúng ta không phải là trống rỗng, không phải là trống không, không phải là vô ích, vô tích sự, mà sự tu học của chúng ta phải có lợi ích, phải thiết thực, phải có kết quả, phải có thành quả cho tự thân, cha mẹ và người thân của mình. Phải đem ngọn đuốc Thánh trí này mồi lửa, truyền lửa để thắp sáng cho tự thân và những người thân thương nhất trên cuộc đời chúng ta. Phải làm cho bằng được, phải thành công, phải thành tựu, không được thất bại, không cho phép mình thất bại.
Tuy đây chưa phải là thành quả lớn lao nhất, nhưng đây cũng là một sự thành công đáng xưng tán và ca tụng cho bà Diệu Hiền. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn ở đây, mỗi ngày được nghe pháp, được tu tập, nương nhờ công đức của đại chúng, nhưng đến khi ra đi bà đã gật đầu chấp nhận buông bỏ thân ngũ uẩn, đó là nhờ Thánh trí tối thượng ngũ uẩn này.
Chúng ta biết lúc đó đâu phải là cảm thọ bình thường, mà là những cảm thọ thống khổ, kịch liệt, cực kì đau khổ, nhưng với công đức từ tâm của quý thầy, quý cô đã lan tỏa ra cảm thọ mát dịu, hiền hòa, từ ái, tình thương để hóa giải dòng cảm thọ đau khổ, thống khổ của bà. Đồng thời lan tỏa đến những oan gia trái chủ, những nghiệp chướng được thấm đượm dòng cảm thọ từ bi của đại chúng, tất cả đều lắng dịu, an tịnh, nhẹ nhàng.
Chính giây phút đó bà đã chánh niệm, sáng tỏ, nhận biết rõ, mặc dù trước đó con đưa tượng Phật là bà không thấy. Khi ấy bà đang chống chọi, nhưng khi trải tâm từ liên tục thì lúc đó thần trí của bà minh đạt trở lại, cảm nhận được pháp, cảm nhận được con, bà chấp nhận gật đầu. Đây là một điềm lành tối thượng!
Con mong muốn người xuất gia chúng ta báo hiếu cho cha mẹ bằng sự tu học của mình. Phải hướng dẫn, nhắc nhở, khuyến khích, đặt để cha mẹ, người thân vào trong sự thật, vào Chánh Pháp tối thượng. Con mong muốn những hình ảnh này không chỉ riêng bản thân con, con muốn tất cả người xuất gia khắc ghi, nhớ kĩ và thực hành.
Nhiều khi đi tu rồi nhưng lại giống như hoàn toàn vô trách nhiệm với cha mẹ, người thân của mình, con rất xót xa, con thấy điều này rất nhiều. Vui với huynh đệ, tỷ muội, thân với những Phật tử, nhưng hằng ngày, hằng giờ bỏ quên cha mẹ của mình đang bệnh hoạn, đang già nua tựa cửa trông chờ chúng ta. Thật là tàn nhẫn cho một người xuất gia, thật là vô lương tâm, thật là đại bất hiếu cho một người đi tu, thật là vong ơn bội nghĩa cho một người con như vậy. Tại sao chúng ta không dành những thời giờ điện thoại cho bạn bè, huynh đệ để điện thoại nhắc nhở cha mẹ học pháp? Tại sao chúng ta không dành những thời gian đi đây đi đó, thăm viếng chỗ này, chỗ kia để gần gũi, chia sẻ chân lí, sự thật cho cha mẹ? Thật là tội lỗi!
Hôm nay đã bước vào mùa báo hiếu, con muốn cố gắng tu hành, tuyên dương Thánh Pháp để đền ơn đức của mẫu thân đã hóa vãng. Chúng ta đừng quên cha mẹ nếu còn sống họ đang luôn khắc khoải, trông ngóng. Vì vậy ta đừng buông lung, phóng dật, sống trong vô cảm, trong lãng quên. Hãy nhớ về cha mẹ mình dù đang còn hay đã mất. Sự đáp đền ân đức thiết thực nhất chính là sự tu tập, diệt tận những lậu hoặc, cấu nhiễm, chứ không phải đáp đền bằng hính thức phô trương lòe loẹt trong sắc pháp vô thường, tan hoại, hủy hoại này. Bằng không còn đè thêm gánh nặng lên mẹ cha nữa chứ không phải là báo hiếu. Hãy làm thật nhiều việc cần làm của một người xuất gia.
Cần phải làm, nên làm,
Làm cùng tận khả năng,
Xuất gia sống phóng đãng,
Chỉ tăng loạn bụi đời.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Địa Ngục)
Hãy thương cha mẹ mình thật nhiều. Người xuất gia là người thương cha mẹ thật sự, không phải là một người bất hiếu, vong ân, bội nghĩa. Nếu không ý thức một cách chính xác, chân chánh thì “lưỡng đồ câu thất” – hai đường đều mất hết. Ngoài đời không được làm một người con hiếu thảo, bưng cơm, dâng nước, chăm sóc khi bệnh hoạn thuốc men, miếng ăn giấc ngủ của cha mẹ mình không làm tròn. Đi tu cũng không được một cái gì hết, trống không, trống rỗng, vô tích sự, không lo tăng thượng giới hạnh, thiền định, trí tuệ, mà chỉ lo những tạp sự, thế sự, tục sự, phát huy lòng dục, tham, ái, chạy theo những hình thức, hình dáng, màu sắc ở bên ngoài thì lấy cái gì đền đáp cho mẹ cha? Lấy tâm tham để đền đáp cho mẹ cha ư? Lấy lòng sân hận để báo hiếu ư? Lấy sự u mê, si ám để đáp tạ ơn sanh thành ư? Lấy một bản ngã vênh váo để làm hiếu thảo hay sao?
Phải nỗ lực, ngày đêm tha thiết chân thành cầu pháp, làm tất cả những sự công quả cực khổ để vun bồi phước báu. Đừng làm biếng, làm nhác, lánh nặng, tìm nhẹ, khó một chút là muốn bỏ, trở ngại một chút là muốn buông, sự đời còn không làm được huống chi là pháp xuất thế gian. Phải chuyên cần, phải tinh tấn, phải vất vả, phải cực khổ, tích tụ phước báu.
Một kẻ vô phước làm sao có thể tu hành được. Bên ngoài là siêng năng vun bồi phước báu, bên trong là tinh tấn nhiếp phục phiền não, nỗ lực, tha thiết học hỏi Thánh Pháp, dập đầu trước các bậc thiện tri thức. Được chỉ lỗi, được dạy bảo phải dập đầu, lạy tạ. Phải cung kính, phải khát ngưỡng, phải thiết tha, phải chân thành, phải xem giáo pháp gấp một trăm lần sinh mạng. Phải đánh gục bản ngã trước giáo pháp, trước bậc thầy, trước thiện tri thức, trước huynh đệ. Phải đánh gục, đánh ngã, đánh sập cái tôi này.
Tôn kính với nhau, từ ái với nhau, hòa hợp với nhau, tôn trọng nhau, quý trọng nhau, kính trọng nhau để cùng nâng đỡ trên con đường phạm hạnh, đi đến rốt ráo cứu cánh. Mỗi ngày tu được một thiện pháp, tối về phải xướng lên: “Mẹ ơi, cha ơi, ngày hôm nay con tu tập thêm một thiện pháp để đền đáp công ơn cho cha mẹ. Cô ơi, dì ơi, chú ơi, ngày hôm nay con học thêm một Thánh Pháp, có dịp con sẽ về chia sẻ lại cho mẹ cha, thân tộc”.
Những người đó là những người xứng đáng được thừa hưởng nhất, nhưng tại sao chúng ta không lo lắng để chia sẻ, mà lại đi tìm những người nào khác để nói pháp, người ta có nghe đâu mà mình nói. Những người ân nghĩa, ân đức sâu nặng nhất, những người mình phải có bổn phận, trách nhiệm, nhưng tại sao mình không làm, mình lại đi kiếm ai để nói, đi độ ai trong khi những người ân nghĩa sanh thành, cùng cắt khúc ruột với mình đang si mê đau khổ? Tha thiết, chân thành với tự thân mình và với những ân nhân của chúng ta, đó là thiết thực nhất. Đừng ảo tưởng đi độ thiên hạ, mà hãy độ cho chính mình và chia sẻ cho những người ân nghĩa, thâm ơn nhất của mình trước.
Những người đang chung sống với chúng ta, hãy cũng kính, hòa thuận, thuận thảo, biết ơn. Hãy nhớ ơn những người đã đem hết tất cả tấm lòng vì mình, nhưng tại sao tích tắc mình còn có thể quay lưng lại với họ? Hãy suy nghĩ cho sâu sắc, diệt tận tất cả những cảm thọ sân hận, phản phúc, phản bội, vong ơn, bội nghĩa. Diệt tận chúng nó, diệt hoàn toàn cho đến khi chỉ còn thuần một tâm cung kính, biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn trong mùa báo ơn này.
Bằng tấm lòng của con muốn cúng dường pháp, muốn chia sẻ những tâm tư, tâm sự của người xuất gia, nếu có gì quý thầy, quý cô không hài lòng, con xin sám hối. Con chỉ muốn chia sẻ tấm lòng của một người con đi tu đối với cha mẹ. Con xin mời quý thầy, quý cô, đại chúng nếu có ai muốn chia sẻ gì thì chúng ta chia sẻ. Con nghĩ khoảnh khắc này rất quý báu, hãy nói lên những tâm tư của mình đối với cha mẹ chúng ta.
***
***
Đệ tử pháp danh là Minh Thành cùng cha của con là thầy Pháp An và anh chị trong gia đình, được sự thương mến, từ ái của quý thầy, quý sư cô, các chú và các Phật tử về đây cùng tu học với con, con rất hoan hỷ trước những lời ca ngợi, xưng tán của quý thầy, quý cô, nhưng con không dám nhận. Con chỉ nghĩ mình là người cùng chung với huynh đệ tu hành, không dám nhận mình là thầy, con còn rất nhiều rác bẩn, đang phải lo tu tập, quét dọn ngày đêm. Con mong rằng đại chúng, quý thầy, quý sư cô – chúng ta hãy cùng nhau tinh tấn tăng thượng giới học – tâm học – tuệ học, hòa kính, quý trọng, thực hành đúng Chánh Pháp. Đó là niềm hạnh phúc vĩ đại nhất của con. Trong những ngày qua, bằng tình thương, bằng từ tâm của quý thầy, quý sư cô và đại chúng đã lo lắng cho tang lễ của mẹ con được viên mãn và thành tựu trong sự trang nghiêm, thanh tịnh của Chánh Pháp. Con và gia quyến xin đê đầu, đảnh lễ, tạ ơn./.