Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

(PLTCĐ 2) Thắng Tri Tham & Đoạn Giảm Phiền Não

2026-03-03 00:52:44
Nikāya Giảng Giải (PLTCĐ 2)

Thắng Tri Tham & Đoạn Giảm Phiền Não

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thắng tri tham ái PAGEREF _Toc214184163 \h 1

II. Trình pháp PAGEREF _Toc214184164 \h 10

III. Tâm chống đối, lậu hoặc PAGEREF _Toc214184165 \h 12

IV. Đoạn giảm phiền não PAGEREF _Toc214184166 \h 17

I. Thắng tri tham ái

Kính bạch chư tôn hiền đức chư vị hiền trí, từ cái chỗ thất con đi qua bên giảng đường, con chiêm nghiệm lại câu ở trong kinh Thể Nhập:

-- Ở đây, này Udàyi, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Vị ấy nhờ tâm tu tập niệm giác chi, đâm thủng được (nibbijjhati), phá vỡ được (padàleti) tham uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được sân uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ; vị ấy đâm thủng được, phá vỡ được si uẩn từ trước chưa từng bị đâm thủng, từ trước chưa từng bị phá vỡ... " (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), III. Phẩm Udàyi, VIII. Thể Nhập)

Trong tưởng con hiện ra một núi tham, mỗi ngày mình tu vứt vài hòn đá, mỗi ngày mình bỏ nó ra vài thứ trong cái núi rác tham đó, mỗi ngày mình bỏ một ít. Con vừa đi vừa cười, chân thì bước dưới đất mà tâm nhẹ giống như trên mây trong cái đoạn đường từ thiền thất đi qua chỗ ông Năm, mình thấy mình hạnh phúc, mình hoan hỉ trong cái sự tu tập hướng đến sự viễn ly cái tham này, cái dục này, hướng đến sự nhàm chán, hướng đến sự đoạn diệt, hướng đến sự từ bỏ. Càng ngày tâm mình càng nhẹ ra, cũng vậy, đối với cái đống sân, đống vô minh mỗi ngày mình cứ lấy nó ra một ít mình bỏ, mỗi ngày mình cứ vứt nó ra một mớ, bất cứ lúc nào mình thấy trong cái suy nghĩ mình có vô minh, dục ái, bản ngã, sân si, mình quăng nó ra, mình liệng nó ra, mình vứt nó ra, mình từ bỏ, mình đoạn diệt, xả ly thì mình thấy cái đống rác to lớn của mình càng ngày nó càng giảm xuống, giảm bớt, đoạn giảm.

Mình thấy mình đi đúng con đường của Phật đi, con đường của các bậc thánh, đi đúng cái đạo lộ mà Đức Thế Tôn truyền trao. Mình hân hoan, mình hạnh phúc, mình khinh an, mình nhẹ nhàng, mình hoan hỉ trong cái sự tu học này, mình coi lại cái ngày mình chưa lên núi cho đến ngày hôm nay mình ở đây được mấy tháng, mấy năm rồi đó, mình thấy cái đống rác của mình nó có được vứt bớt đỡ chưa, so với lúc trước bây giờ nó bớt nhiều không. Đó là tham uẩn, sân uẩn, si uẩn, vô minh uẩn, mỗi ngày mình phải nhìn thấy cái sự giảm bớt của nó, mỗi giờ mình phải nhìn thấy sự đoạn giảm của nó, thậm chí là mỗi cái suy nghĩ, mỗi cái nhận thức, mỗi cái cảm thọ, mỗi cái hình bóng phải có một sự tu tập trong đó, không phải nó muốn nghĩ gì cũng cho nó nghĩ, coi là chánh tư duy hay tà tư duy. Hay lắm, tuyệt dịu lắm, coi trong suy nghĩ có tham không, trong suy nghĩ có bản ngã không, trong suy nghĩ có hơn thua không, nếu có là phải xử lý liền.

"- Muốn liễu tri tham ái... muốn tận diệt tham ái... muốn đoạn tận tham ái... muốn trừ diệt tham ái... muốn hủy diệt tham ái... muốn ly tham tham ái... muốn đoạn diệt tham ái... muốn trừ khử tham ái... muốn từ bỏ tham ái, tám pháp này cần phải tu tập" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, X. Tham Ái, (IV). Tham Ái)

Liễu tri là biết tột cùng, biết tận tường, biết rốt ráo, biết đầy đủ về tham ái, muốn tận diệt tham ái, muốn đoạn tận tham ái, muốn trừ diệt tham ái, muốn hủy diệt tham ái, muốn ly tham ái, muốn đoạn diệt tham ái, muốn trừ khử tham ái, muốn từ bỏ tham ái thì Bát Chánh Đạo cần phải được tu tập. Bây giờ mình để cái tâm im ru thở vô thở ra thì sao tu? Chúng ta thấy lời của Đức Phật rõ ràng vậy đó, cho nên khi mình đọc vào ở trong cái phân loại Nikāya này rồi đó thì mình càng có một cái trí tuệ sắc bén, thăm sâu mà nó gom lại, đây là cái công đức vĩ đại của bậc đạo sư. Nếu mà mình đọc tản mát kinh này kinh kia thì nó bị loãng, còn ngài gom lại cho mình đây là kì cái chuyên đề về đối trị tham, chúng ta thấy Đức Phật dùng những cái từ hết sức là sắc bén, thánh kiếm thần đao, dùng những cái từ ngữ búa bổ, đao to búa lớn mà bổ xuống.

Ở trong cái lời nói nó có sức mạnh trong đó, đó là thánh ngữ, đó là chánh ngữ đó, có sức mạnh ở trong lời nói, đó là tuệ lực. Mình muốn diệt tận nó, trừ diệt nó, trừ khử nó, đoạn diệt nó thì mình phải liễu tri nó, tức là phải biết nó một cách đầy đủ, rốt ráo mọi phương diện khía cạnh, góc độ cái hang ổ của nó, xào huyệt của nó, căn cứ địa của nó, cái đồn của nó, cái ải của nó. Nó sanh khởi như thế nào, nó an trú như thế nào, nó vận hành như thế nào, nó xâm chiếm, áp đảo tâm mình như thế nào mình phải biết, mình phải thấy được. Bây giờ mình nói muốn đoạn diệt tham ái mà nói "con không có tham gì hết trơn, con đâu có tham gì đâu" thì còn gì là đoạn? Mình không nhận diện được ngũ uẩn thì mình không có thấy và khi mình không có nhận diện một cách sâu sắc thì mình vẫn thấy phớt phớt ngoài da thôi, cưỡi ngựa xem hoa thôi, đứng ngoài cổng nhìn vô thôi.

Chẳng hạn như mình đi đến một căn nhà thì mình ở ngoài nhà khách thôi, mình đâu có được đi vào bên trong, đâu có biết được bên trong đó là có cái gì, nhiều khi có mật thất bên trong nữa, trong đó chứa cái gì mình đâu có biết cho nên phải liễu tri tham ái trước rồi mới tận diệt tham ái, đoạn tận tham ái, trừ diệt tham ái, hủy diệt tham ái, ly tham, tham ái, trừ khử tham ái, từ bỏ tham ái, là phải thấy đúng về tham ái, nghĩ đúng về tham ái, nói đúng về tham ái, làm đúng về tham ái, sống đúng trong cái trí để trừ diệt tham ái đó, xuyên đúng để trừ diệt tham ái, nỗ lực để tận trừ tham ái và quán xét để trừ tham ái một cách đúng đắng và tập trung tất cả tâm ý vào cái sự trừ diệt đó một cách chân chánh, đúng pháp của bậc thánh thì cái tham ái này mới đi đến đoạn tận, đoạn diệt, tẩy sạch hoàn toàn.

Bây giờ chúng ta thấy mình học bớt phớt, nhiều khi chưa gì hết trơn mình nói "con giờ con đâu còn tham gì đâu, hết tham rồi", mình đâu có biết hết tham là bậc thánh thứ ba, là Bất Lai thánh quả. Cho nên mình phải học cho tới nơi tới chốn, học cho tới tận cùng, học cho tới triệt để, học cho đến thấu đáo, còn bằng không là mình cứ tưởng không à, mình tu ở trên cái tưởng không. Ở đây mình trích một vài đoạn kinh để chúng ta thấy cái tâm cấu nhiễm của mình nó khủng khiếp lắm, nếu mình không học Nikāya là mình không biết.

"- Này các Tỳ-kheo, để thắng tri tham ... để hoàn toàn diệt tận ... để đoạn tận ... để diệt tận ... để hoại diệt ... để ly tham ... để đoạn diệt ... để xả bỏ ... để từ bỏ ... để từ bỏ tham. Bảy pháp này cần phải tu tập.

Ðể thắng tri sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... che đậy ... não hại ... tật đố ... xan tham ... man trá ... lường gạt ... ngoan cố ... tháo động ... mạn ... tăng thượng mạn ... kiêu, phóng dật ... để liễu tri ... để hoàn toàn diệt tận ... để đoạn tận ... để diệt tận ... để hoại diệt ... để ly tham ... để đoạn diệt ... để xả bỏ ... để từ bỏ ... để từ bỏ tham. Bảy pháp này cần phải tu tập.

Thế Tôn thuyết như vậy, các Tỳ-kheo hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn thuyết." (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, IX. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp, (IV). Thắng Tri Tham (4))

Chúng ta thấy Đức Phật dùng những từ sắc bén, thắng tri ở đây là cái biết thù thắng của thánh trí ngũ uẩn, không phải là cái biết thông thường, thường tình kiến thức mà mình học. Không phải thắng tri không thôi, liễu tri không thôi, tuệ tri đó là sau khi mình nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sau khi mình quán chiếu được cảm thọ, sau khi mình thấu đáo được cái hang ổ, xào huyệt của tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã ở trong cái tâm mê bằng một cái tâm tĩnh lặng, m một cái tâm quán sát mà cái danh từ chúng ta được học là như lý giác sát. Sau khi có chánh kiến rồi tức là sau khi mình thấy đúng về ngũ uẩn rồi, mình thấy đúng được, mình thấy chính xác được các lậu hoặc, cái cấu nhiễm mà nó ẩn nấp mà hôm qua chúng ta học chặt đầu này nó mọc đầu kia.

Mình tưởng đâu cái đó là mình dẹp bản ngã rồi không, nó mọc ra cái khác, mình tưởng đâu mình đi ra khỏi nhà rồi mình vô chùa là hết tham mà nó mọc ra cái khác, mình tưởng đâu giờ mình hết sân rồi nhưng mà nó mọc ra cái khác. Cho nên cái chữ thắng tri, cái chữ tuệ tri, cái chữ liễu tri ở trong Nikāya là thâm sâu, không phải là cái biết đơn thuần của kiến thức mình học, mình được các phàm phu chỉ cho mình là chỉ những cái của phàm phu thôi, còn cái biết ở đây là biết bằng thánh trí ngũ uẩn. Khi mình đã nhận diện ngũ uẩn thấy được cái nào là sắc, cái nào thọ, cái nào tưởng, cái nào hành, cái nào thức, mình thấy được tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, mình thấy được cái căn nguyên, cái nguồn cội, cái gốc rễ, cái hang ổ mà tất cả các cái cấu nhiễm đó làm xào huyệt ở trong đó rồi mình mới dùng một cái sự định tĩnh tương đối, tâm tịnh chỉ để quán sát nó, đó là như lý giác sát.

Cái quán sát này không phải chỉ giờ ngồi thiền, khi đang nói chuyện, trước khi nói, trong khi nói, sau khi nói, mình quan sát coi trong khi nói này là có bản ngã nói không, có dục nói không, có sân nói hay không, nói có muốn khen mình chê người không, có muốn phô trương, khoe khoan cái ta không, nói đó là nói với cái tâm có tâm hơn thua không, có tâm bản ngã trong khi nói không, có tâm khó chịu, bực bội không, có tâm cao thấp không. Phải quán sát trước khi nói, trong khi nói, sau khi nói, khi làm công việc cũng vậy, làm việc này là có lợi mình lợi người không hay là hại mình hại người, trước khi làm mình quán sát, trong khi làm mình quán sát, sau khi làm rồi mình vẫn quán sát cái việc làm đó là thiện hay là bất thiện với một cái sự quán sát bằng trí tuệ mình được học ở trong Nikāya, chứ không phải cái quán sát bình thường của cái biết của phàm phu, quán sát bằng thánh trí thì cái đó mới gọi là thắng tri, cái đó mới gọi là liễu tri, cái đó mới gọi là tuệ tri.

Khi mình quán sát kỹ thì các cái hàng lậu, những cái thứ mà nó được giấu rất kỹ thậm chí là nuốt vô bụng, nó nhét vô mấy cái chỗ kín mà người ta vẫn có cái máy để người ta chiếu soi ở hải quan thì đó là chiếu soi lậu hoặc. Chúng ta thấy sự tu chúng ta nó vi tế không? Nó nhỏ nhiệm không? Nó sâu sắc không? Không phải cái thường tình mà mình nói đâu có gì đâu sai, ở ngoài ta không thấy nhưng bên trong mình thấy tại vì mình có thắng tri, mình có liễu tri, mình có tuệ tri. Thắng tri cái gì? Thắng tri tham ái, thắng tri sân, thắng tri si, thắng tri vô minh, thắng tri được dục, thắng tri được bản ngã. Mình có liễu tri, mình có thắng tri, mình có tuệ tri, tuyệt vời không?

Cái biết này thì nó rất là thâm sâu, nó rất là vi tế, nó cực kỳ vi tế, nó rất là nhỏ nhiệm cho nên nó mới có thể chiếu được những cái thứ mà người ta nuốt vô trong bụng, nhét ở chỗ nào trong con người cũng soi ra được, đó là thánh trí cho nên mình nhớ Đức Thế Tôn sau khi thành tựu bốn thánh trí về ngũ uẩn, sau đó thành tựu bốn thánh trí về lậu hoặc và sau đó là đoạn tận tất cả các lậu hoặc thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì thế cái máy chiếu mà nó soi càng kỹ chừng nào, càng đa công năng công dụng, nhìn càng sâu sắc, càng vi tế, càng kỹ càng tất cả mọi ngõ ngách chừng nào thì nó phát giác, phát hiện ra nhiều chừng đó, chính xác chừng đó, không có một cái gì mà lọt qua được hết cái cửa hải quan hết, thì cũng vậy, như vậy gọi là bậc vô lậu.

Còn cũng là thánh nhưng mà bậc thánh hữu lậu tức là còn bị một số nó qua mặt mà không thấy thì là thánh hữu lậu, còn cái vô văn phàm phu là khác. Bây giờ mình còn lậu nhiều không? Còn đi hàng lậu nhiều không? Một ngày đi hàng lậu bao nhiêu lần? Mình bị che mắt, che tai, mình nói trong lậu hoặc mà mình còn không thấy, làm ở trong vô minh mình không thấy, mình suy nghĩ ở trong cái bản ngã mình cũng không nhìn ra. Tu tới chết là tu ở trong vô minh, tu ở trong cái ảo tưởng, tu ở trong cái sự không thấy, không biết về tự thân của mình cho nên con nhấn mạnh lại ba cái chữ thắng tri, liễu tri, tuệ tri. Lúc trước chúng ta học tưởng tri, thức tri, tuệ tri, bữa nay chúng ta thấy được chữ thắng tri, liễu tri nữa thì cái chữ thắng tri và cái chữ liễu, tri hay là tuệ tri là chỉ cho thánh trí đó và cái chữ thức tri, tưởng tri, thức tri là cái phàm tình, cái biết của thường tình, biết ở trên suy tưởng, tưởng tượng, nhận thức, kiến thức, biết ở trên kinh nghiệm, biết ở trên người ta nói mình nghe rồi mình hiểu theo. Còn cái biết nương theo thánh trí Đức Phật thì cái đó mới gọi là tuệ tri, thắng tri, liễu tri.

Mình phải nhớ để phân biệt được, thắng tri, liễu tri rồi tuệ tri, ở phía trước là tưởng tri, thức tri là của phàm phu cho nên trong kinh ghi lại bốn mươi bốn cái tâm vô minh, bốn mươi bốn cái lậu hoặc mà mình càng tu mình mới càng thấy. Chỉ riêng cái chữ tham ái thôi mà mình không có thấy được bao nhiêu đâu, sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái là mình còn chưa nhận diện ra được nữa, tất cả cái tham của mình Đức Phật phân loại thành sáu cái, yêu thích sắc, yêu thích tiếng, yêu thích mùi, yêu thích vị, yêu thích đụng chạm mà cái đụng chạm, xúc chạm này nó có tới sáu xúc chứ không phải chỉ là thân đụng chạm, mắt cũng xúc, nhìn, nghe, ngửi, nếm, nói ngắn gọn là xúc chạm, là đụng chạm của thân. Và mình yêu thích cái chỗ khó này là cái chỗ mà nếu mình không học Nikāya, mình không nhận diện ngũ uẩn, mình không được hướng dẫn thánh trí thì mình không có biết mình yêu thích pháp là cái gì.

Yêu thích pháp là yêu thích thọ; tưởng; hành, yêu thích cái hình bóng trong tâm, mình yêu thích cái suy nghĩ của mình, mình yêu thích cái cảm giác. Thí dụ như cái cảm giác đó nó nhẹ nhàng, nó thanh tịnh, mình yêu thích cái đó chẳng hạn, có những cái vị tu khá là yêu thích cái sự rỗng lặng, trống rỗng, trống không, trống trơn, im ru, thanh tịnh, mình ưa cái chỗ đó, mình thích cái chỗ đó, mình khoái cái chỗ đó, mình muốn trú ở trong cái chỗ đó, mình không muốn đi ra thì đó vẫn là pháp ái, đó là thọ đó. Khi đó tưởng nó dừng lại, hành không có nói gì hết trơn, không có suy nghĩ, không có nói lầm thầm gì nữa hết và cái thọ thì nó lắng dịu hoàn toàn, nó trống không, nó trống trơn, nó rỗng không, nó mênh mông, nó vô tận, nó rộng lớn vô biên rồi mình vô trong đó là không có cái gì nữa hết trơn, vô sở hữu xứ, không vô biên xứ. Mình có cái biết, thức vô biên xứ nó rõ biết trùm khắp hết, trống rỗng, trống không, mênh mông, bao la, vô tận, không vô biên, trong đó một cái biết nó rỗng lặng, mênh mông, vô lượng vô biên thì giờ mình yêu cái đó, mình thích cái đó, mình khoái cái đó, mình muốn ở trong cái đó thì cái đó vẫn là pháp ái.

Chữ pháp ở đây là thọ; tưởng; hành đó, là cảm giác, là hình bóng, là suy nghĩ, chẳng qua lúc đó cái suy nghĩ nó lắng xuống, nó không có nghĩ. Phải nhớ là nó lắng xuống chứ nó không có nghĩ, không phải nó diệt cho nên khi mình trở ra rồi mà gặp cái chuyện gì đó thì suy nghĩ sanh khởi lên, lúc đó cái tưởng cũng lắng xuống chứ không phải là nó đứt cho nên lúc khác thì nó sẽ có cái tưởng. Lúc đó nó giống như cái bầu trời không mây vậy đó, nó trong xanh, thuần thanh tuyệt điểm không có một cái gợn mây nào hết trơn, một màu xanh thôi nhưng mà cái đó vẫn là pháp trần mà rất nhiều người là ngộ nhận cái đó, cho cái đó là cứu cánh thanh tịnh. Tại sao? Tại vì đó nếu là cứu cánh thanh tịnh nhưng khi trở ra gặp chuyện gì khó chịu là bực bội lên, sân lên, sao kỳ vậy? Sao cứu cánh gì kỳ vậy? Ai chửi mình cái là mình phẫn nộ này kia thì làm sao cứu cánh được?

Cho nên đó không phải là tâm bất động giải thoát của bậc thánh, nó vẫn là pháp ái mà cao cấp, nhớ kỹ là nó cao cấp, tức là phải tu nhiều lắm mới đạt được cái đó nhưng mà nó vẫn là pháp trần thôi nhưng một cách vi tế được tu tập. Không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ, đây là bốn định của vô sắc, thành ra đến cái chỗ cái thánh trí nó thâm sâu. Trở lại cái sáu ái là sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái thì bây giờ cái người yêu thích về vật chất, yêu thích về tiền của, yêu thích cảnh đẹp này nọ kia thì thuộc về sắc ái, người yêu thích nhạc, rồi âm thanh du dương này nọ kia là thanh ái, ưa thích cái mùi thơm hay là cái thức ăn ngon là hương ái, vị ái.

Yêu thích trong năm cái này, năm cái dục trưởng dưỡng này đó, sắc; thanh; hương; vị; xúc thì cái này đó là nó thô nhưng mà bây giờ yêu thích cái pháp ái là cái tế. Cái pháp ái này là các cái tầng trời sắc giới và vô sắc giới, người ta không có ưa thích cái vật chất thô thiển giống như mình, nhơ nhớp, bẩn thiểu giống như mình nhưng người ta thích cái tâm thanh tịnh, mà hãy còn thích là còn dính, mà còn dính là còn bị trói cột, mà còn trói cột thì còn ở trong hệ lụy, ở trong luân hồi tam giới, đi ra không khỏi chính như vậy mà Đức Thế Tôn có nói muốn liễu tri tham ái, muốn diệt tận tham ái, muốn đoạn tận tham ái, muốn trừ diệt tham ái, muốn hủy diệt tham ái, muốn ly tham tham ái, muốn đoạn diệt tham ái, muốn trừ khử tham ái, muốn từ bỏ tham ái thì Bát Chánh Đạo cần phải được tu tập. Chúng ta thấy dễ sợ không? Thành ra mình nghĩ cái chữ tham này là tham tiền, tham ăn, tham ngủ, tham chơi, tham nhà, tham xe thì cái tham đó nó mới có sắc ái thôi, nhưng mà cái tham cảm giác mà không phải là những cái cảm giác nhục dục bình thường của thế gian, mà cái cảm giác thanh tịnh thì cái tham này nó cao cấp, nó vi tế và cái tham này là triệu triệu, tỷ tỷ, ức ức kiếp không đi ra được.

Các vị chứng được các cái tầng thiền này là trú ở trong đó 84.000 ngàn kiếp, hiện tại chúng ta cũng có rất nhiều vị tu theo những cái thiền này nhưng mà không thấy được ngũ uẩn. Thường thường là người ta cho rằng đó là cái tâm thanh tịnh cứu cánh nhưng mà họ không biết rằng họ đang có cái yêu thích ở trong đó, là ái về cái cảm giác thanh tịnh, rỗng lặng cho nên tại sao Đức Thế Tôn dùng bao nhiêu từ như vậy. Thành ra cái ái này nó rất là vi tế, nó rất là nhỏ nhiệm, thâm sâu, chúng ta nhìn ra được nó là phải có cái thánh trí.

"Ðể thắng tri sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... che đậy ... não hại ... tật đố ... xan tham ... man trá ... lường gạt ... ngoan cố ... tháo động ... mạn ... tăng thượng mạn ... kiêu, phóng dật ... để liễu tri ... để hoàn toàn diệt tận ... để đoạn tận ... để diệt tận ... để hoại diệt ... để ly tham ... để đoạn diệt ... để xả bỏ ... để từ bỏ ... để từ bỏ tham. Bảy pháp này cần phải tu tập.

Thế Tôn thuyết như vậy, các Tỳ-kheo hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn thuyết." (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, IX. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp, (IV). Thắng Tri Tham (4))

Bao nhiêu những cái thứ đó là các bậc thánh là thấy được hết, nhiều khi mình trình pháp hỏi mình bữa giờ tâm mình sao thì nói tâm con an lạc lắm, tức là mình không thấy được, mình càng thấy được những cái này nhiều chừng nào, rõ chừng nào, sâu chừng nào, đầy đủ chừng nào thì khả năng mình đi đến chấm dứt các lậu hoặc nhiều chừng đó. Con nói ví dụ như những cái rất là nhỏ, người ta cho mình cái gì đó thì mình khen lấy lòng người ta, trong cái khen đó cái ý vi tế bên trong là "có nhớ cho nữa nghe" nhưng mà mình không có thấy, thì cái hành động đó, cái lời khen đó, cái cử chỉ, cái lời nói đó, cái vi tế bên trong là cái tham nó đang vận hành, nó đang hoạt động đó nhưng mà mình không có biết giờ. Cái sân cũng vậy, cái khó chịu không phải là đợi tới mình la, mình cự, mình cãi lộn, nếu vậy thì khỏi cần tu vì phàm phu ai cũng biết hết, chỉ cần cái ánh mắt nhìn thôi là thấy cũng hơi mệt rồi, nhìn cái ánh mắt ánh khó chịu hay nghe cái tiếng gì là lỗ tai đỏ lên, không có không có nói ra lời nói mà nó ở trong cái thọ bởi vì cái thân với cái thọ này là cái nhịp cầu nối, cái thọ là cái nhịp cầu nối của thân và tâm cho nên khi nó biến động cái thân nó đổi khác liền, nghe cái là mặt đỏ lên.

Những cái đó mình phải nhiếp phục, chế ngự, một khó chịu khởi lên thôi cũng là một cái sự giao động của tâm. Mình tu là đi tới tâm bất động giải thoát, tức là mình có thấy, có nghe, có ngửi, có nếm, có xúc, có biết, có pháp trần gì trong tâm mình cũng vậy, tâm mình đều bất động hết, mình đi tới chỗ tâm giải thoát, tuệ giải thoát bất động. Cho nên tại sao chúng ta thấy rằng khi mình ở dưới phố, mình ở nhà, mình ở dưới thành thị thì mình thấy ngũ dục nhiều quá mình tu không được, tới chừng mình đi vô trong thất có gì đâu, không có sắc; thanh; hương; vị; xúc gì hết, nếu có xúc đi nữa thì xúc với mấy cái đám mây, xúc với bầu trời, xúc với mấy cái cây chứ đâu có cái gì đâu. Lúc đó coi như mình đóng được năm căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân nhưng mà tại sao mình tu không được? Vì cái pháp trần ở trong, cái ý căn bên trong nó quậy mình.

Lúc đó mình đối diện, mình trực diện, mình trực tiếp, mình đối mặt với chính mình trong lúc đó thì bao nhiêu cái thọ; tưởng; hành, bao nhiêu cái hình bóng, bao nhiêu cái suy nghĩ, bao nhiêu những cái cảm giác quá khứ hiện ra như cái bộ phim. Bắt đầu ở trong đó nó quậy mình, những cái dục nó quậy mình, những cái buông lung phóng dật nó quậy mình, nó muốn phải đi gặp người này, người kia, mấy vị trình pháp là ở trong thất mà ngóng ra dòm coi có ai không, ai làm gì, mấy hôm nay không biết ở ngoài sao. Cái đó xúc thực, rồi tư niệm thực là nhớ nghĩ, muốn biết cái này cái kia thức thực, cái này thô hơn nữa là cái thèm món này món kia, nếu mà có đồ ăn người ta hộ thất là ở trong đó chế biến món ăn đã luôn, đó là đoàn thực, có đủ tứ thực hết trơn.

Đoàn thực nè, xúc thực nè, tư niệm thực, thức thực, mấy cái món ăn, rồi muốn tiếp xúc, nhìn, ngó, nghe rồi nhớ nghĩ, không thì ngồi cứ nhớ chuyện này, nhớ chuyện kia, nghĩ chuyện nọ, muốn biết cái này, biết cái kia, không thì lấy cái điện thoại lên quẹt hoài, tưởng nhập thất ngon lành ai dè đâu nhập điện thoại, vô thất mà cầm cái điện thoại vô là vào đó luyện. Cho nên sau này mình học kinh Nikāya mình mới khám phá ra được cái lý do tại sao người ta bể thất, tại sao người ta vỡ thất và tại sao người ta ở yên một mình không được, mình khám phá ra được, mình giải mã được bởi vì bình thường là cứ thấy nhìn hoài như vậy, rồi nghe hoài, ngửi hoài, nếm hoài, tiếp xúc hoài rồi đến khi đi vô trong cái chỗ một mình đóng cửa lại thì tất cả mấy cái này đóng lại hết trơn, bắt đầu nhìn thẳng vô bên trong thì bên trong là hôn trầm thùy miên, dục tham, sân, hoài nghi, trạo cử, phóng dật.

Bắt đầu bên trong nó sùng sục lên, nó bày ra, nó lộ ra, nó tuôn ra, nó trào ra, nó xâm chiếm áp đảo mà thậm chí là mình gục ngã trong đó. Hồi xưa có ông thầy cũng lớn tuổi rồi mới đi tu, bây giờ trụ trì lớn lắm, vô nhập thất bốn mươi chín ngày nhưng được chừng hai tuần hay gì đó bể thất, chạy ra, ở không nổi mà cái này cũng nhiều lắm. Vô đó nó quậy, bao nhiêu những hình bóng, bao nhiêu những cái suy nghĩ, bao nhiêu những cảm thọ, bao nhiêu những cái quá khứ nó ùa về mà không có cái pháp, không có cái cách đúng đắng, hiệu quả để xử lý rác thải của nội tâm thì người này phải chịu. Chúng ta thấy cái cách tu ngày nay phần nhiều là làm thiện, làm lành ở ngoài, người ta thích như vậy, chúng ta thấy mấy cái chỗ đông mà làm này, làm kia, pháp hội này nọ là người ta thích vô tu lắm vì vui, làm cực nhưng mà nó vui, còn giờ vô ngồi im re chịu không nổi, cho nên cái hành thiền nó khó là vậy.

Sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái cho nên chỉ sáu ái này thôi để chúng ta tập nhận diện, nhìn ra trong hằng ngày mà chúng ta thấy rồi chúng ta ê chề lắm, mình còn kém, dở lắm, tệ lắm, đừng có tưởng, "xin đừng đem dạ tưởng mơ". Mình đừng tưởng đâu mình ngon, mình còn dở bẹt, sai bét, nhiều khi mình nhìn thấy cái cảnh biển mây, chim hót này kia, mặt trời lên là mình thấy mình khoái rồi đó, thích rồi đó, nói chung chung thôi nha chứ không phải ai cũng vậy nhưng mà cũng bộn bộn à. Rồi nghe cái tiếng khen thấy cũng dễ chịu, ăn cái món ngon cái lưỡi nó tê rồi nó ám ảnh cái món đó, rồi tiếp xúc thì chết nữa, đó là sáu ái của mình mà cái quan trọng là pháp ái, còn những cái gần gũi ở đây là để mình nhận diện được cái tâm man trá, cái tâm xảo trá của mình. Cái này thật sự là sâu sắc lắm.

Cái tâm mình nó rất là xảo trá và xảo quyệt, cái tâm của mình hết sức khôn khéo, ma lanh, nó ghê gớm lắm. Mình nhận diện mới thấy, nó ma lanh, nó ranh mãnh, nó láo khoét, nó gian trá, nó xảo ngụy mà cái này là phải nhận diện sâu sắc mới thấy. Nó gạt mình hoài, sáng, trưa, chiều, tối, ngay lúc ngồi thiền nó vẫn gạt như thường mà mình không biết. Ngay lúc ngồi thiền cái tâm gạt sao? Đang lúc ăn nó cũng gạt, đang lúc đi nó cũng gạt, đang lúc nói nó cũng gạt, đang lúc làm việc nó cũng gạt, thậm chí đang ngồi nghe pháp mà nó vẫn gạt ở bên trong cho đến đang ngồi thiền mà bên trong nó vẫn gạt. Thấy được cái này tức là trí tuệ đó.

II. Trình pháp

Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin đảnh lễ trên bậc thầy minh sư và con xin đảnh để trên chư Tăng Ni cùng thiền đường đại chúng. Con xin trình lên cái phần khi con ngồi thiền, dạ mô Phật khi con người thiền thì con thả lỏng thân tâm, thả lỏng toàn bộ và con quán sát về thân tâm thì lúc này con thấy cái tâm con nó rỗng lặng nó thanh tịnh. Con cứ lầm tưởng là nó thanh thnh tịnh thật và con chìm trong cái đó nhưng sự thật khi con phát hiện lại con thấy nó lại một rẽ ra một lối khác và nó dẫn con đi tới một cái chuyện khác mà nó ngấm ngầm, nó hoạt động rất là tinh tế, nó hoạt động vô cùng tinh tế mà khi con phát hiện ra là con hồi nãy giờ con tưởng là con thanh tịnh thật, nhưng sự thật ra nó rẽ qua một lối khác và nó dẫn con đi đến một cái chuyện khác, nó ngấm ngầm hoạt động trong đó.

Khi con nhìn lại thì con thấy trời ơi sao hồi nãy giờ mình tưởng đâu là thanh tịnh thật nhưng sự thật hồi nãy giờ nó ngấm ngầm nó qua một cái chuyện khác. Lúc con giật mình con tỉnh cái cơn mê đó ra thì con thấy cái tâm mình nó vô cùng nó xảo trá, nó ngụy biện, rồi nó lừa dối, nó gian manh. Con thấy nó kinh khủng lắm, con nhìn thấy nó dễ sợ lắm luôn, chỉ sơ hở một chút là nó dẫn mình đi liền mà mình không biết, khi mình nhận ra được nó nhanh nhất là cũng một phút hoặc là trong vòng nửa phút, hay là năm phút, ba phút thì lúc đó mình phát hiện ra được nên con thấy cái tâm này nó gian manh, nó xảo trá, nó ngụy biện rồi nó lừa dối mình bằng mọi giá, bằng mọi cách. Nếu mình không nhận ra được nó là nó đưa mình đi đến đâu mình cũng không biết luôn, cho nên sự nhận biết của con là con thấy nó như vậy con xin trình lên sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Rất là tốt, chưa có cái việc nào nó cụ thể hết chúng ta tiếp tục trình pháp, mình có những sự việc cụ thể thì nó rõ ràng, phải tập nhìn ra cái sự xảo trá của tâm, sự xảo quyệt của tâm.

Sư cô Huệ Lý: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, con chân thành đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng chư vị hiền trí, hiền thiện. Dạ con kính bạch trên sư phụ, con nhận thấy cái tâm này nó rất xảo quyệt, khi con vào ngồi thiền thì con thực hành ba pháp con rất tỉnh giác, khi con mới thực hành vào rõ biết trước mặt đến khi vào trở về hơi thở là nó dắt con đi liền, con không nhận diện hết ba pháp mà mới trở về hơi thở là nó dẫn dắt con đi. Nó nghĩ lung tung, phải một hồi con mới nhớ lại mình đang còn thực hiện ba pháp mà sao mình đi suy nghĩ những cái việc khác, thì giờ nó lâu rồi thì con cũng không nhớ đến cái việc con suy nghĩ nhưng mà nó dắt con đi khi đó, rồi một hồi con mới nhớ lại là mình đang còn thực hành ba pháp, con mới quay về mà nhiều lần như vậy. Trong khi đang còn tỉnh giác mà cũng bị nó dắt đi ngay trong đó, cũng có những lần đang ăn thì con nghĩ đến là con biết ơn và nhớ ơn, con đang có niệm ơn nó cũng dắt con đi, lâu rồi con cũng không nhớ lại được là nó dắt đi đâu nhưng mà trong cái lúc mình đang còn tỉnh, đang còn cái tâm hướng về một cái một cái thiện nhưng mà nó cũng dẫn dắt mình đi ngay trong tích tắc, mình không có tỉnh giác luôn.

Trong một cái suy nghĩ thiện mà nó lôi kéo mình đi ngay trong khi đó, nó nghĩ những cái việc vớ vẩn khác. Con cũng bị nhiều lần như vậy, mặc dù khi đó con nghĩ là trước khi ăn mình phải nghĩ đến nhớ ơn, biết ơn Đức Phật đã cho mình được cái đời sống xuất gia, cho mình từng bữa ăn, cũng nhờ ơn của Đức Phật mình mới có được cái bữa ăn này, nhờ ơn những vị đã nấu nướng cho mình ăn, những Đàn-na tín thí cúng cho mình ăn. Trước khi ăn phải nghĩ như vậy nhưng mà cái tâm này nó cũng không nghĩ đến tư tưởng đó rốt ráo, trong lúc đang nghĩ rồi nó cũng dẫn mình đi qua những cái việc khác, một tí con mới nhớ lại hoặc là khi ngủ dậy thì thường con hay hướng cái tâm đến tứ vô lượng, hướng tâm nghĩ đến từ vô lượng tâm, nghĩ đến tất cả chúng sinh hiểu và thương và cái tâm bi vô lượng. Nhưng dù tỉnh thức, dù nghĩ đến chuyện đó mà tâm cũng dẫn mình rẽ một cái hướng khác. Dạ, mô Phật.

III. Tâm chống đối, lậu hoặc

Sư Phụ: Thôi được rồi, cái tâm đó là cái tâm lậu hoặc, lang thang cho nên ở trong phần này Đức Thế Tôn nói mình nhận diện ra được thắng tri, mình biết một cách sâu sắc về cái tâm man trá, lừa gạt, ngoan cố, tháo động. Man trá là cái tâm dối trá đó, cho nên tại sao chúng ta thấy bốn thánh hạnh, bốn đức hạnh của người tu bất cứ tại gia hay là xuất gia thì trực hạnh là vượt ra được những cái tâm này, nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận được những cái tâm gian trá, xảo quyệt, man trá, lừa gạt. Ngày hôm qua con có chia sẻ đó, mình đi làm thì nó nói "giờ mình làm mà, làm gì phải giữ oai nghi. Mình đang làm mà, mình cho phép mình thoải mái đi" thì đó là một cái tâm mang trá, xảo ngụy mà mình không có nhìn ra.

Nãy giờ quý vị trình nhưng mà chưa có rõ ràng, có một cái tâm thì nó muốn tu, có một cái tâm thì nó chống đối lại. Thí dụ như mình quán bất tịnh, ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi thì có một cái tâm nó chống đối lại "ghê quá, tu gì ghê quá vậy, tu cho nó nhẹ nhàng thôi, ngồi để tâm thanh tịnh được rồi, tu gì thấy ghê quá, ớn quá vậy, sợ quá vậy". Đó là những cái tâm ngoan cố, nó chống lại thánh trí, chống lại tuệ giác của Phật, cái này là trí huệ của Phật, cái này là để nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, đối trị dục tham, tẩy sạch dục tham, diệt tận dục tham nhưng mà cái dục tham trong đó không chịu diệt nó. Bây giờ nếu nó chấp nhận cái này thì diệt nó sao cho nên nó ngoan cố, nó chống đối lại thì mình phải nhìn ra được những cái tâm đó ngoan cố đó, cứng đầu đó.

Chẳng hạn như chấp tay cúi đầu khiêm cung vậy đó thì lại nghĩ "làm gì cho hình thức chi, chào sơ sơ vậy được rồi" cho nên mình thấy ngoài đời tại sao người ta không lạy cha mẹ họ được, nhưng lên thiền biết ơn mình cho lạy thì họ khóc quá trời. Thấy không? Tại vì cái bản ngã nó không cho "tại sao mình phải hạ thấp mình vậy", dầu cho cha mẹ nó cũng không muốn hạ thấp nữa, vợ chồng cũng vậy, mình phải hơn, mình phải hay, mình phải giỏi, mình phải đúng. Cái tâm đó tu không được, cái tâm ngoan cố, cái tâm cứng đầu, cái tâm chống đối, cái tâm mà Đức Phật dùng từ mạn tăng thượng, kiêu mạn, phải thấy được cái tâm đó, phải nhận diện được cái tâm đó, phải vạch mặt được cái tâm đó, phải lột được cái mặt nạ của nó ra thì cái này chỉ có Tôn Ngộ Không mới nhìn được yêu tinh thôi, tức là thánh trí mới nhìn ra được những cái phàm tình này. Những cái tâm rất là xảo trá, xảo quyệt, ranh ma, những cái tâm rất là ngụy biện thì cần có như lý giác sát, sau đó tới như lý tác ý là cái pháp hành của chúng ta.

Chữ giác là tỉnh giác, chữ sát là quán sát, tỉnh giác quán sát đúng với thánh trí mình được học, gọi là như lý giác sát. Cái tâm gì là mình phải biết được ngay cái tâm đó, có khi nó sanh khởi lên mà mình vô minh, mình không biết, mình cũng biết cái này sanh khởi lên không có ổn nhưng mà không biết nó tên gì thì mình không trị được nó. Rõ ràng mình biết cái hai cái này đấu với nhau, một cái thì nó kêu tu, một cái nó thôi mệt lắm, mở lên nghe mệt lắm, có cái tâm ngoan cố trong đó, cái tâm chống đối ở trong đó mà mình không có thấy, từ từ nó dẫn mình đi.

Hồi xưa con học Nikāya mấy cái này con không có đọc, con nói mấy cái này mà đọc gì, tu gì, mấy cái này thấp lắm, mình tu thì tìm cái gì cao siêu chứ ngoan cố, lường gạt, man trá, xan tham, kiêu mạn, phóng dật, tháo động, não hại, che đậy, hiềm hận, phẫn nộ, thôi mấy cái này khỏi cần học, học cái gì phải siêu đẳng huyền đai, cao siêu chứ mấy cái này học gì. Bây giờ bây giờ mình mới thấy mình học hỏng cẳng không à, mình tu hỏng chân không,

Đầu Mồm Nói Suốt Trăm Phần Diệu

Dưới Gót Không Ly Một Điểm Trần...!!

Nói trên trời dưới đất, nói thánh thần không à, nói Phật với bồ tát không à nhưng mà đụng vô cái thì ôi cha… trời đất ơi. Dùng cái từ vậy đó, là tại vì mấy cái này mình không nhìn thấy cái tâm lường gạt mình, câu chuyện của người ta đang nói cái nó nghe thì nó nói "chuyện của người ta nhưng mình lại giúp họ, tội nghiệp họ, họ đang khổ mà", dễ nghe không? Cái này bồ tát hạnh nha rồi một hồi thành cãi lộn, nó lường gạt đó, mình phải nhìn thấy được những cái đó. Bây giờ mình đang phòng hộ các căn nên mình phát nguyện "một tuần lễ này con thực tập phòng hộ, thâu nhiếp các căn" nhưng khi thấy người ta cái này, cái kia, cái nọ thì trong này nó cũng nói "mình đang phòng hộ các căn à, mình đang tu à" rồi lại nghĩ tối "không, đâu có được, mình tu mình phải giúp đỡ chứ, bạn mình vậy mình không có tâm từ hay sao". Nghe hợp lý không? Rồi đi lại thì một chút xảy ra phiền não mà ngay lúc này là cái lúc mình đang tu phòng hộ, nhiếp phục, chế ngự thì cái pháp đó là pháp chánh, không được nghe mấy cái lời ngụy biện kia. Cái đó nó ngụy biện chứ không có từ bi gì hết, mình đang thực hành cái pháp này mà.

Bây giờ mình đang khiêng cột này để dựng nhà, tự nhiên mình gặp chuyện gì đó mình bỏ cây cột ở đây phải không? Nó ngã xuống nó đè bể đầu hết mọi người hay sao? Mình đang khiêng cây cột lớn mà, phải làm cho này cho xong chứ nhìn thấy cái kia rồi bỏ cái này chạy lại chụp cái kia, thì đó là cái tâm hướng ngoại, cái này nhiều lắm. Cái ngoan cố này nó ghê lắm, nó che đậy là khiếp đảm lắm, mấy cái này mới có sơ sơ thôi, đang đi tung tăng, đi phơi phới nhưng gặp sư bà hay là gặp sư ông gì đó đi chậm lại, nhìn xuống mà có vậy cũng đỡ, chứ tu một thời gian là khỏi vậy luôn, phải thấy được tâm.

Cho nên mình tu Tứ Niệm Xứ, mình tu cái như lý giác sát thì lúc nào cũng nhìn hết, lúc nào cũng phải theo dõi theo dõi 24/24, thậm chí trong giấc ngủ, trong giấc chiêm bao. Bậc đạo sư dạy chúng ta khi lên giường nằm trước khi ngủ là phải tác ý diệt dục và trải tâm từ rồi mới đi vào giấc ngủ, khi mới vừa thức dậy cũng vậy, lúc nào cũng vậy hết, ngủ trong cái tâm từ rộng lớn, vô lượng. Và đương nhiên khi mình thức, khi mình làm việc, tất cả mọi cái là mình phải luôn dòm coi nó có phẫn nộ không, nó có tham, sân, si không, nó có bản ngã, dục ái không, nó có cái sự hờn mác không, chữ hiềm hận ở trong đây nhiều cái nghĩa lắm. Nội cái phần sân thôi cũng có nhiều cái cấp độ, thí dụ như là hờn mác nghĩa là không có giận, không có ra mặt khó chịu nhưng mà trong cái bụng buồn buồn, nghe người ta nói cái câu gì đó chạm tự ái nhẹ nhẹ trong này nên hờn mác chứ nó không có giận, nhớ chữ giận khác, chữ hờn mác khác.

Rồi chữ tức khác, chữ nổi nóng khác, chữ thù là khác thành ra mỗi một cái như vậy nó cũng là sân thôi nhưng mà nó có cái diễn biến từ cạn tới sâu, từ nhẹ tới nặng, từ thô đến tế, nó hờn mác thôi, nghe cái câu đó nó hờn, nó buồn nhẹ nhẹ vậy đó rồi sau này người đó nói chuyện thì mình không có mặn mà gì nữa hết. Từ cái ngày mà mình nghe cái câu họ nói vậy đó là mình hờn nhẹ trong tâm, mình không giận nhưng mà mình hờn. Mình phải tẩy cái hờn đó ngay lập tức, tác ý liền không cho để cái hờn đó nó có cái chỗ bám trong cái cảm thọ mình, tẩy liền, phá cái hờn đó liền "hờn cái gì, cái tôi nào, cái ta nào ở đây. Tâm ngu si quỳ xuống lạy người ta đi, xin lỗi đi". Cho nên mình thọ cái âm thanh đó, mình thọ cái cảm giác đó, mình giữ lại đó là thọ thủ uẩn.

Vui buồn nào cũng cất,

Thương ghét nào cũng ôm,

Hơn thua nào cũng giựt,

Được mất nào cũng giành.

Khen chê nào cũng nhớ,

Vinh nhục nào cũng tranh,

Oán thù càng giữ chặt,

Uất hận càng ghi sâu.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Đó gọi là thọ thủ uẩn, ở nhà cái kho cũng như quá tải, ai đưa gì cũng bỏ vô, có cái gì cũng chất vô thì lâu ngày cái tâm mình là một cái kho coi như nó bốc mùi trong đó, lại gần chịu không nổi. Ôi cha ơi hết cái mùi này tới cái mùi kia, hết cái mùi kia tới cái mùi nọ, nó chất chứa ở trong đó, còn cái tâm của các bậc thanh tịnh lại gần thấy dễ chịu, nhẹ nhàng, nó không có gì hết. Mình nói đã rồi ngài ngồi vậy cười, cái tâm trống không.

Lòng ta sao nặng quá,

Như xe chở quá nhiều.

Xe ơi, tội xe quá!

Xả bớt hàng đi xe!

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Tâm của người có sự tu tập mình cảm nhận được liền, người ta nhẹ nhàng lắm, người ta thanh thản lắm, người ta không có cái gì hết á. Mình muốn xổ cái gì mình xổ chứ các ngài ngồi mỉm cười nhẹ nhàng, khỏe re, nhẹ xe, còn cái tâm mình nặng nề là bắt đầu mình trút, mình đổ hết cái đống này tới cái đống kia, hết cái đống kia rồi tới cái đống nọ, hết đống nọ rồi tới cái đóng khác. Đó là thọ thủ uẩn đó, tưởng thủ uẩn đó, hành thủ uẩn đó, thức thủ uẩn đó, cái thân mình ai mà đụng vô tới là biết mặt, sắc thủ uẩn đó. Khổ vậy đó.

-Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.

-Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.

-Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.

-Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. (Nghi Thức Tu Học Nikāya)

Chúng ta phải phân biệt cái kho nó quá tải và cái kho trống trải. Một người có cái tâm trống không, nhẹ nhàng với một cái người mang cái tâm nặng nề, chấp thủ nó khác nhau ở chỗ nào? Con thí dụ như mình nhìn thấy cái bồ đoàn rồi có câu chuyện bồ đoàn "cái bà kia lấy cái bồ đoàn làm dơ rồi để như vậy", thế là có câu chuyện bồ đoàn. Tới cái tấm chùi chân cũng có chuyện để nói, gặp cái gì là có cái chuyện nấy thì cái kho này quá tải rồi, bốc mùi rồi, gặp cái gì cũng có chuyện hết thì cái tâm này là cái tâm lậu hoặc, cái tâm rác bẩn rất là nhiều, cấu uế rất là nhiều. Cái tâm nhẹ nhàng, thanh tịnh không có chuyện gì hết, dầu cho có sanh khởi lên người này dập tắt liền, từ bỏ liền, chấm dứt ngay lập tức, quăng liền, liệng liền, mửa liền, ói ra, khạc nhổ liền, tẩy sạch liền, từ bỏ liền, vứt bỏ liền, từ bỏ liền, viễn ly, xả ly, xuất ly.

Mình chưa có nói là mình hết rác nhưng mình là cái người bỏ rác chứ không có giữ rác, nhất trí không? Mình chưa phải là người hết rác nhưng mình phải là cái người bỏ rác, liệng rác, quăng rác, đổ rác, mình không thể là một người giữ rác được. Tất cả những cái gì sanh khởi lên trên mình ác bất thiện pháp là mình liệng, quăng, thấy rõ được liền, không có che đậy, giờ lỡ mình có lỗi người ta chỉ lỗi "dạ em xin lỗi, em nhận lỗi, em cảm ơn, em sám hối". Đó là không che đậy, đó là đức tính trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, còn này nhiều khi nói cái là mình ngụy biện quanh coi giấu lỗi lầm, thuộc câu đó rồi nhưng mà hành thì không có hành.

Thành ra mỗi một cái chữ ở trong đây mà chúng ta học thì không biết tới chừng nào cho hết. Tật đố, ghen ăn tức ở, thấy người kia là ganh tị, khó chịu, bây giờ đó nhiều cái tâm khổ lắm, người ta đẹp mình cũng ghét nữa tại mình không đẹp, người ta đẹp quá mình ghét, người ta giàu, người ta có tiền mình cũng ghét nữa. Nhiều khi mình thấy thương lắm, có những người nói:

Con thấy giàu con ghét nó.

Ủa sao ghét người ta vậy? Con thưa hiền giả mình phải hoan hỉ chứ, hoan hỉ với cái phước lành của người ta chứ tự nhiên sao ghét?

Con không có ưa mấy người giàu. Giàu hay khinh khi người ta lắm.

Sau đó con mới giải thích, con nói đừng có nghĩ vậy, tâm này tâm bất thiện tại vì mình không được như người ta rồi mình không ưa họ. Cho nên nhiều khi khổ lắm, những cái tâm đó khổ lắm, cái tâm ganh tị này nhiều lắm quý vị, thô tế, lớn nhỏ, nhiều lắm, mình nấu ăn không được mà người ta nấu ăn ngon là "đừng nói tôi nấu ăn gì nữa, tôi không có thích nấu ăn". Đúng ra là mình phải hoan hỉ, cái vị đó có cái tâm tốt làm cho đại chúng, lo lắng cho đại chúng có một cái buổi ăn tu học như vậy mình tùy hỉ, cái vị đó hiền thiện, phước lành quá, mình tùy hỉ công đức cái vị đó. Đó là cái tâm người tu đó, tâm đó là cái tâm hiền, đằng này tự nhiên mình nấu mà có người nấu ngon hơn là "tôi không thích, nấu ngon hơn tôi, tôi mới là số một thôi, không ai được số một bằng tôi hết". Tâm đó không phải tâm hiền.

Trong tất cả mọi cái sự tiếp xúc mình phải để ý coi cái tâm của mình có lậu hoặc không, nếu có lập tức mình tẩy nó liền, mình đừng có tưởng là "con thưa sư phụ là con hết ganh tỵ rồi", không có đâu. Mình chưa có nhận diện, chưa có nhìn ra đâu, phóng dật này ghê lắm, thả lỏng các căn, lúc nào mình thả lỏng các căn, mình luôn luôn phóng vật, mình phải xấu hổ, mình phải hổ thẹn, mình phải sợ hãi. Mình thấy ngày hôm nay như vậy là mình nói nhiều quá, mình thô động quá, mình tự kiểm điểm lại, sau khi mình về mình kiểm điểm lại, mình hứa với mình ngày mai mình phải nhiếp phục được cái này, ngày hôm sau mình phải nhiếp phục được cái này, tuần sau mình phải khác với cái này, mình phải làm cho nó giảm thiểu không cho nó tăng trưởng. Thành ra ở trong cái bài kinh Đoạn Giảm thì ngày xưa khi con chưa đi vào chuyên nhất Nikāya là con nhìn mấy chữ là con đóng lại không được, nhưng mà bây giờ mở bài kinh này ra thấy xấu hổ, nhục nhã, ê chề. Hôm qua có nói một câu cho chúng ta nghe, cái bài kinh này dài lắm.

IV. Đoạn giảm phiền não

"Này Cunda, ở đây đoạn giảm được các Người thực hiện khi các Người nghĩ" (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Đây là dùng suy nghĩ để tu, làm sao để giảm thiểu và đoạn dứt được phiền não, sự giảm thiểu và đoạn dứt phiền não này chỉ được thực hiện khi mình suy nghĩ. Mình tác ý, suy nghĩ như thế nào?

"'Những kẻ khác có thể là những người làm hại, chúng ta ở đây không thể là những người làm hại', như vậy đoạn giảm được thực hiện" (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Mình phải suy nghĩ vậy đó, người ta hại người kia được nhưng mà mình là người vô hại, bất hại, mình tuyệt đối, mình hoàn toàn vô hại. Mình không có một chút xíu suy nghĩ nào hại bất cứ một ai, một người đang ngồi đây nói "thầy ơi con giờ con đâu có hại ai đâu" nhưng con muỗi chích thì đập một cái chát thì vậy là có hại không? Trước khi đập muỗi mình có suy nghĩ không? Tất cả các pháp lấy dục làm căn bản cho nên trước khi mình muốn giơ cái tay lên là có cái thúc giục ở bên trong và đương nhiên có cái suy nghĩ là "mày dám chích tao hả?", nhưng do nó nhanh quá nên mình nghĩ "con không có suy nghĩ, con ngứa nên con vỗ đại vậy thôi à". Nhưng mà không phải, đầu tiên là cái thọ xúc.

"Do duyên có thân và có sự đụng chạm, sanh khởi Thân thức (rõ biết sự đụng chạm). Sự hội tụ của ba pháp này là Thân xúc. Do duyên có Thân xúc nên sanh khởi thọ do thân xúc sanh, xúc tưởng, xúc tư.

Thân + Sự đụng chạm => Thân thức => Thân xúc => Thọ do Thân xúc sanh + Xúc tưởng + Xúc tư" (Nghi Thức Tu Học Nikāya)

Do duyên có thân này, có sự đụng chạm ở đây là con muỗi chích, ngay chỗ nó chích mình có sự rõ biết về cái chỗ con muỗi chích. Khi có thân, khi có sự chích và có sự rõ biết mình đang bị muỗi chích thì ba cái này gọi là thân xúc, sự tiếp xúc của thân. Khi xúc nó sanh thọ liền, cái thọ là khó chịu, có thọ do thân xúc sanh rồi sau đó có xúc tưởng, xúc tư, có hình bóng phải lấy tay vỗ nó cho mạnh, suy nghĩ là "tao phải xử mi". Vậy đó mà hỏi thì bảo "thưa thầy bây giờ con bất hại, con đâu có hại ai đâu", mình đâu có thấy, đó là ví dụ cái hết sức nhỏ thôi đó, còn rất nhiều những cái suy nghĩ, những cái lời nói mình làm hại người khác mà mình không biết, mình làm cho người ta rất đau khổ, làm cho người ta rất là buồn, thậm chí người ta bỏ ăn mất ngủ luôn mà mình vô tư, mình vô cảm luôn "con tu ngon lành mà".

Vì vô minh, vì si mê mình không thấy không biết cho nên mình nghĩ, mình nói, mình làm ở trong cái vô minh, ở trong cái bản ngã, ở trong cái sự thúc giục, tham lam của mình, trong cái chấp thủ, cái tôi, cái ta, cái hơn, cái thua của mình, làm cho người khác rất nhiều đau khổ. Nhưng mà mình nói "con đâu có hại ai đâu, con tu ngon lành mà, con có hại ai đâu", đi mà không có chánh niệm mình đạp lên chết chín, mười con kiến thì mình có hại không? Nếu mình có để ý quán sát thì có thể mình bước một bước lệch qua chút, mình né chút thì nó đâu có chết nhưng mình nói "cái này tôi đâu có cố ý đâu". Thật ra do mình thiếu sự chánh niệm và tỉnh giác, thiếu từ tâm ở trong đó, nó nhiều pháp lắm, không có rõ biết trước mặt, không có cảm giác toàn thân, không có nội tâm tỉnh giác, không thực hành ba pháp, không thực hành pháp thì đưa đến sát hại chúng sanh, đưa đến làm hại, làm khổ đau cho chúng sanh. Nhưng mà nói tới thì bảo "con đâu có đâu".

Cái miệng chối rất nhanh, ngoài đời người ta gọi là leo lẻo cho nên để đi vào thánh đạo là không có đơn giản con xin thưa chư tôn, chư hiền, không có đơn giản. Mình phạm rất nhiều những cái lỗi lầm, mình làm đau khổ cho mình, cho chúng sanh rất nhiều nhưng mà mình vẫn dương dương tự đắc cho nên mình đâu có ra khỏi luân hồi, mình đâu có giải thoát được. Chỉ bao nhiêu đó là mình gây nghiệp quả rồi giờ mình nói "tôi đi giải thoát, tôi đi luôn rồi", mình gây cho chết không biết bao nhiêu mạng chúng thì làm sao mình đi được, nó để cho mình đi không. Cho nên chúng ta hiện nay chúng ta thấy rất nhiều cái sự oan trái đó, oan gia trái chủ, cựu thù chấp nối rất là nhiều, cái oán khí, cái oan oan tương báo, cái hận thù mới làm ra thành chiến tranh và ngày hôm nay chúng ta thấy bắt đầu những cái ngòi pháo châm ngòi, pháo càng kêu lớn càng tan xác nhiều là từ cái nghiệp sát sanh, cái làm hại đó, không có từ tâm, không có tình thương, không có chánh niệm và tỉnh giác, không có sự như lý giác sát, như lý tác ý.

"'Những kẻ khác có thể sát sanh, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ sát sanh', như vậy đoạn giảm được thực hiện" (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Mình phải siêng năng tác ý như vậy đó.

"Này Cunda, Ta nói rằng sự khởi tâm rất có lợi ích cho các thiện pháp, còn nói gì thân nghiệp, khẩu nghiệp phù hợp (với tâm ý)." (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Không phải tu là không có khởi tâm gì hết, giờ cái nhà dơ như vậy, rác rưới rồi phân mèo, phân chó, phân chuột như vậy mà giờ mình ngồi im ru không có động đậy gì hết thì làm sao cái nhà sạch được? Cái sự khởi tâm ở đây là thánh tư duy, là chánh tư duy, là suy nghĩ đúng, là mình đẩy cái suy nghĩ sai nó đi ra, mình đuổi cái suy nghĩ tà đó đi ra, mình diệt cái suy nghĩ tham, sân, si, bản ngã đó bằng một cái suy nghĩ chân chánh, một cái suy nghĩ của bậc thánh, một cái suy nghĩ do cái trí tuệ nó dẫn dắt.

"'Những kẻ khác có thể lấy của không cho, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ lấy của không cho', như vậy đoạn giảm được thực hiện.

'Những kẻ khác có thể không phạm hạnh, chúng ta ở đây sẽ sống phạm hạnh', như vậy... (như trên)... thực hiện.

'Những kẻ khác có thể nói láo, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói láo',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể nói hai lưỡi, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói hai lưỡi',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể nói lời độc ác', chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời độc ác", ... (như trên) ..." (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Mình phải khởi suy nghĩ như vậy, thường khởi suy nghĩ tác ý như vậy tại vì mình còn cái pháp đó ở trong mà, bây giờ nếu mình để im re, mình ngồi im thì nó còn đó, mình phải đứng dậy lấy cây chổi, lấy cái đồ hốt rác rồi mình hốt nó vô, mình quăng liệng ra rồi mình lau, mình chùi, mình tẩy, mình rửa thì mình phải khởi một cái suy nghĩ đánh đuổi cái suy nghĩ kia , khởi một cái lời nói đánh đuổi lời nói kia, khởi một cái hành động để dẹp trừ cái hành động kia. Đó gọi là đoạn giảm, ở đây Đức Phật nói là tác ý thôi, nguyên cái bài kinh này Đức Phật nói như lý tác ý tức là cái sự suy nghĩ để tu, là chánh tư duy đó.

"'Những kẻ khác có thể nói lời phù phiếm, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời phù phiếm',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể tham dục, chúng ta ở đây không tham dục',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể có sân tâm, chúng ta ở đây sẽ không có sân tâm',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể có tà kiến, chúng ta ở đây sẽ có chánh kiến',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể có tà tư duy, chúng ta ở đây sẽ có chánh tư duy',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể bị hôn trầm thụy miên chi phối, chúng ta ở đây sẽ không có hôn trầm thụy miên chi phối',... (như trên)..." (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Cái lúc mình bị hôn trầm thì phải tác ý cái này lên, bình thường mình rảnh cũng phải tác ý lên vậy đó, "mình nhất định phải tự bỏ cái buồn ngủ khi nghe pháp, khi ngồi thiền này, nhất định phải diệt tận nó". Mình cứ suy nghĩ hoài, mình khởi lên "diệt tận ngươi, ta diệt tận ngươi, ta tẩy sạch ngươi, ngươi tan khỏi tâm ta đi, ta không bao giờ chấp nhận cho cái hôn trầm này nữa". Mình suy nghĩ vậy hoài, mình tác ý vậy hoài tới chừng nó vừa sanh khởi lên mình dập một cái là nó chạy mất chép, lấy chổi chà rượt nó chứ, còn này mình im re, nó khởi là kệ, cứ để đó rồi mặc kệ nó, hỏi tu pháp môn gì thì nói là mackeno (mặc kệ nó).

Nó ngủ cứ để cho nó ngủ, nó giận cứ để cho nó giận, tự nó hết giận thôi, hỏi tu pháp môn gì thì bảo tự nó sanh rồi tự nó diệt. Như vậy sao đúng lời Đức Phật, hồi nãy đoạn đầu Đức Phật kêu tẩy sạch, đoạn tận, trừ khử, diệt tận, tận diệt, Đức Phật nói cả chục lần vậy mà giờ mình tu vậy đó. Chúng ta phải để ý thật kỹ nha, không có được hiểu lầm lời dạy của Thế Tôn rồi tu hoài cũng ở trong luân hồi.

"'Những kẻ khác có thể có trạo hối, chúng ta ở đây sẽ không có trạo hối',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể nghi hoặc, chúng ta ở đây sẽ trừ diệt nghi hoặc',... (như trên)...

"'Những kẻ khác có thể phẫn nộ, chúng ta ở đây sẽ không có phẫn nộ',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể oán hận, chúng ta ở đây sẽ không có oán hận',... (như trên)..." (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Người khác có thể trạo hối chúng ta đây sẽ không có trạo hối, người khác có thể có những cái day dứt trong tâm, có những cái sự lăng xăng trên thân, ta đây phải đình chỉ các cái thứ này không cho nó lăng xăng, phải bắt nó tịnh chỉ, bắt nó an tịnh. Ở trong tâm những cái suy nghĩ day dứt thì hãy từ bỏ những cái day dứt này, hãy làm những cái việc thực tế hơn để làm cho nó sạch, nó đẹp lên chứ không phải cứ day dứt hoài. Day dứt mà không chịu làm mới, day dứt mà không chịu thay đổi, day dứt mà không chịu từ bỏ thì cái day dứt đó là bất thiện pháp, nhưng nếu cái day dứt đó, cái tàm quý đó, cái xấu hổ đó, cái nhục nhã đó, cái lo sợ đó mà nó hướng tới cái sự làm mới mình, thay đổi mình, tăng thượng thiện pháp thì cái day dứt đó mới là thiện pháp. Chúng ta nhớ kỹ cái này nha, day dứt mà nó làm mình tâm không thiền định được thì cái day dứt đó là bất thiện pháp, còn cái day dứt đẩy mình đi lên, nó cho mình hướng thượng thì cái day dứt đó là thiện pháp.

Thí dụ như cái day dứt này dễ hiểu, thích ăn cái món đó, tự nhiên mình đi làm trễ, mình làm mệt mà mình đi vô người ta ăn hết trơn rồi về mình day dứt hoài "tại sao không chừa cho tôi? Tôi làm mệt, làm nhiều mà sao không chừa cho tôi?". Cái day dứt đó có không? Nhó là bất thiện pháp hay thiện pháp? Có cần từ bỏ cái ray rức này không? Phải tác ý dập liền, mình không tác ý thì cái này nó còn, bảy bữa sau mình vô mình nhìn "không cho tôi đồ ăn, không có chừa tôi đồ ăn, tôi không ưa người này nữa". Có thấy cái tâm mà nó ghê không? Nó nhỏ xíu như vậy thôi, tu nhỏ xíu như vậy thôi.

Mình chưng cái dĩa bông sáng đêm, mình o bế, mình ngắm nghĩa, mình đứng phía trước, mình đứng ngang hông bên phải, mình đứng ngang hông bên trái, mình đứng phía sau rồi mình chụp hình đăng rồi lên "cái bông này tôi chưng nè, thấy tuyệt vời không" rồi người kia bước lại "chưng xấu quắc". Ngay chỗ đó mình có cái cảm thọ khó chịu, sân lên là lập tức từ bỏ liền, diệt tận cái cảm thọ đó liền, không để cho đó nó có một cái vết hằng ở trong cái thọ của mình. Nếu mà mình nhận cái lời nói đó, mình nhận cái cảm thọ đó, nó là pháp duyên sanh mà, nó là pháp vô thường mà, nếu như mình thọ nhận cái lời nói đó, mình thọ nhận cái cảm thọ đó, mình thọ nhận cái sân đó, mình thọ nhận cái khó chịu đó, cái bực bội đó thì trở thành bất thiện pháp. Mình không có từ bỏ nó, mình không có tác ý trừ diệt, diệt tận, tẩy sạch hoàn toàn, trừ khử, đoạn diệt, làm cho nó không có thể sanh khởi trở lại trong tương lai thì mai mốt mình gặp người đó là thấy không dễ thương, người ta nói chuyện không dễ nghe, nhìn cái gì cũng thấy không ưa.

Vì mình thọ cái cảm thọ đó cho nên bậc A-la-hán là bậc diệt thọ; tưởng; định, tất cả đều không thọ thành ra tâm mới bất động giải thoát, các ngài đi ra khỏi thọ mà, thọ không còn chi phối được. Còn mình cái gì cũng hốt vào, phải như người ta đưa vàng thì hốt cũng được, đưa phân cũng hốt liền, mà kêu vàng không chịu hốt, kim cương không chịu hốt "trời khó tu quá" nhưng người ta đưa sân si, phiền não hốt liền. Khôn quá, thông minh quá, đưa thánh trí cho không chịu hốt, đưa pháp bảo cho không chịu cất, sáng học chiều quên, sáng nghe kinh rồi chiều kêu pháp đàm thì "bài kinh đó nói gì", đọc lại cho nghe mà còn không nhớ nữa mà mấy cái tào lao, tham, sân, si, hơn thua, bản ngã là không cần dạy, sành điệu lắm, điêu luyện lắm, thuần thục lắm, lão luyện dữ lắm bởi cho nên khổ hoài à.

Bây giờ phải lật ngược trở lại, mình dại khờ với tham, sân, si lắm, người ta nói trên đầu trên cổ mình, nói xiên nói xéo mình thì tác ý "cái nùi giẻ mà có biết gì đâu, con không hơn thua với cuộc đời này nữa, con giờ ngu ngơ lắm, dại khờ lắm, giờ đó giống như điếc vậy đó. Con xin lỗi nha, lớn tuổi rồi lỗ tai con nghe không rõ".

Nãy giờ chị nghe gì không?

Nghe không có rõ, già rồi hình như cái lỗ tai này nó cũng bệnh rồi, con cũng hay điếc lắm.

Làm như mình ngu ngơ, giống như mình dại khờ, giống như mình không có hiểu biết gì hết. Con thưa cái này con tập mấy chục năm rồi đó, con thưa thiệt các vị chư tôn đức đây bí kiếp của con đó.

Thầy có nghe chuyện gì chưa? Người ta nói thầy vậy đó.

Dạ không có nghe.

Sao không nghe?

Không có thời giờ, bận đọc kinh không có thời giờ, giảng pháp không có thời giờ, ngồi thiền mà tham, sân, si, bản ngã trong này, dục ái trong này quá xá, lo chưa xong, không có thời giờ để nghe. Xin lỗi nha, cảm ơn.

Ai lại hỏi thầy nghe cái chưa thì bảo bận lắm, xin lỗi nha không có thời gian, vậy là xong. Đó là bí kiếp bình an, né cái xúc đi, cắt cái duyên xúc đi, ham xúc chi? Xúc để khổ, nó sân si mà cứ xúc hoài, cứ tiếp xúc làm chi vậy? Bởi nhiều khi con đi về cái chỗ ở một mình là thơ nó tuôn ra, thi kệ nó tuôn ra chắc gần ngàn bài rồi vì thấy sướng, thích, khoái. Mình tiếp xúc mà toàn tham, sân, si thì xúc làm chi? Mình phải khéo như lý giác sát và như lý tác ý.

"'Những kẻ khác có thể hư ngụy, chúng ta ở đây sẽ không hư ngụy',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể não hại, chúng ta ở đây sẽ không não hại',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể tật đố, chúng ta ở đây sẽ không tật đố',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể xan tham, chúng ta ở đây sẽ không xan tham',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể ngoan cố, chúng ta ở đây không thể ngoan cố',... (như trên)..." (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Hư ngụy tức là giả dối, chúng ta ở đây không có giả dối, chúng ta phải sống chân thật với nhau, đừng có miệng nói vậy mà cái bụng khác. Thí dụ như mình đang giận mà nói "đâu có giận đâu, không có giận" thì đó là giả dối, sống giả dối, cái miệng nói dốc rồi về khổ, vô ngồi thiền bực hoài. Chúng ta phải nhìn thấy cái tâm nó dối, cái miệng nó dối, cái hành động nó dối. Mình thấy cái giống gì trong tâm là mình phải đuổi nó ra, người khác ngoan cố, khó nói, chúng ta ở đây sẽ dễ nói, dễ nghe, con thấy cái khó nói này nặng lắm, cái này bệnh nặng, bệnh trầm kha, khó nói lắm. Nói tới là không được à, nói tới là khó lắm nha, không nói thì ở tu mà nói tới đi xuống núi, người tu bây giờ là rất khó nói, những cái này mà không diệt thì không đi đến lậu tận, không đi tới cái tâm thanh tịnh.

Mình tu mình phải dễ nói, mình có sai cái gì huynh đệ, thầy bạn góp ý, mình sẵn sàng lắng nghe, mình chấp nhận, mình xin lỗi, mình sám hối, cái đó mới là người hiền thiện, mới xứng danh là hiền giả, mới xứng danh là hiền trí. Bây giờ mình mới vừa có lỗi thôi mà người ta nói tới là mình nhảy dựng lên, rồi mình tìm đủ thứ cái lý do để biện luận, ngụy biện, bao biện, đó là người khó nói. Mình phải là người dễ nói, bất cứ ai lại chỉ lỗi mình sẵn sàng lắng nghe một cách hiền thiện, mình cúi đầu mình nghe, mình nghiêng cái lỗ tai mình nghe, mình lắng cái lòng mình nghe, mình mở cái trái tim của mình ra để mình nghe những lời góp ý, chỉ dẫn, chỉ.

"Nếu thấy bậc hiền trí,

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng

Hãy thân cận người trí!

Thân cận người như vậy,

Chỉ tốt hơn, không xấu"

(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)

"'Những kẻ khác có thể là ác hữu, chúng ta ở đây sẽ là thiện hữu',... (như trên)..

'Những kẻ khác có thể phóng dật, chúng ta ở đây sẽ không phóng dật',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể là bất tín, chúng ta ở đây sẽ có tín tâm',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể không xấu hổ, chúng ta ở đây sẽ có xấu hổ',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể không sợ hãi, chúng ta ở đây sẽ có sợ hãi',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể nghe ít, chúng ta ở đây sẽ nghe nhiều'... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể biếng nhác, chúng ta ở đây sẽ siêng năng',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể thất niệm, chúng ta ở đây sẽ an trú niệm',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể liệt tuệ, chúng ta ở đây thành tựu tuệ',... (như trên)...

'Những kẻ khác có thể nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, chúng ta ở đây sẽ không nhiễm thế tục, không cố chấp tư kiến, tánh dễ hành xả', như vậy đoạn giảm được thực hiện" (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

An trú niệm an trú niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, an trú Tứ Niệm Xứ, thất niệm tức là lúc đó mình quên tu Tứ Niệm Xứ, mình quên nhìn lại thân mình, mình quên nhìn lại cảm thọ của mình, mình quên quay về nội tâm của mình, mình quên nhìn cái gì nó đang vận hành ở trong nội tâm của mình. Mình quên cái đó tức là lúc đó mình thất niệm, mất gia tài thánh sản, lúc đó là mình mất tài sản của bậc thánh, lúc đó mình kẻ vất vơ vất vưởng, lang thang, kẻ nghèo đói, kẻ khốn cùng, kẻ khổ đau, còn lúc nào mình nhớ tới Tứ Niệm Xứ lúc đó mình là thái tử được làm lễ quán đánh, chuẩn bị đăng lên vương vị. Bây giờ muốn làm kẻ đói rách lang thang cùng tử hay muốn làm thái tử được quán đảnh chuẩn bị lên ngôi? Phải giữ Tứ Niệm Xứ chứ, phải giữ tài sản của bậc thánh.

"- Này các Tỳ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỳ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Liệt tuệ là không có trí tuệ đó, trong kinh Nikāya thường dùng cái từ "tư kiến cá nhân" khác với thánh trí tuệ. Bây giờ chúng ta học phần lớn là học rất nhiều cái tư kiến cá nhân, người này đưa ra cái kiểu này, người kia đưa ra cái kiểu kia, người nọ đưa ra cái cách nọ, đó là những tư kiến cá nhân cho nên không đi vào được thánh đạo, không có thánh trí và làm sao đạt được thánh quả. Tư kiến cá nhân là mỗi người nói một kiểu, ngay thời Đức Phật đã quở trách cái này rất là nhiều, có vị Tỳ-kheo con của người đánh cá nói rằng cái thức nó luân chuyển nhưng mà nó thường hằng, nó không có thay đổi thì Đức Phật quở trách rất nặng, ông là kẻ ngu si.

"Tỳ-kheo Sati, con của người đánh cá đáp lời Tỳ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỳ-kheo Sati, con của người đánh cá, đang ngồi xuống một bên:

-- Này Sati, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: 'Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác'?

-- Thật sư là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, thì thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác.

-- Này Sati, thế nào là thức ấy?

-- Bạch Thế Tôn, chính thức ấy nói cảm thọ, thọ lãnh chỗ này, chỗ kia, kết quả các hành động thiện ác.

-- Này kẻ mê mờ kia, vì ai mà Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Này kẻ mê mờ kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn nói là thức do duyên khởi, không có duyên, thì thức không hiện khởi? Và này kẻ mê mờ kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông còn tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ mê mờ kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông" (Trung Bộ Kinh, 38. Ðại kinh Ðoạn tận ái)

Thành ra khi Đức Phật còn tại thế ngài thường quở trách cái tư kiến cá nhân là cái thấy riêng tư của kinh nghiệm tu hành cá nhân của mình. Bây giờ mình đem cái đó ra mình dạy cho người ta, rồi lập ra rất là nhiều cái đường này, cái cách kia, cái tông nọ, cái phái khác thì chính vì như vậy nó lần lần nó mờ đi cái thánh đạo của Đức Phật, cái thánh trí của Đức Phật, cái thánh pháp và cái thánh quả nó không còn nữa. Đó là cái lý do tại sao ở đây chúng ta bám sát vô cái thánh pháp của Đức Phật, đi ở trên cái thánh đạo của Đức Phật và phải cố gắng thể nhập được thánh trí của Đức Phật để đi vào các thánh quả. Chúng ta không học với tư kiến cá nhân, chúng ta thấy ngay khi Đức Phật nhập Niết-bàn thì chia ra là hơn hai mươi cái bộ phái, ngay cái thời đó là đã chia ra sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn một thời gian không bao lâu là chia ra bao nhiêu bộ phái như vậy, rồi đi sang Trung Hoa chia ra thêm nữa, chưa kể mấy nước khác nữa chia ra rất là nhiều những cái tông, những cái phái, những cái hệ tư tưởng và cuối cùng bây giờ chúng ta học mà chúng ta không biết giờ học ở đâu, không biết tu sao nữa.

Chính vì vậy mà ở đây Đức Thế Tôn nhắc rất kỹ cái cố chấp tư kiến, thí dụ như mình học với cái ông thầy mà ông thầy mình y vậy rồi đó, cái hướng của thầy như vậy là mình học một thời gian mình cũng có cái hướng giống vậy. Mình học một nghề nào đó rồi đi đâu mình cũng nhìn theo cái nghề đó, cái ông làm về mỹ thuật đồ gỗ mà nhìn cây một hồi là ra cái tác phẩm này, tác phẩm kia, con này con kia, tượng này tượng nọ. Cái ông lâm tặc nhìn cây là thấy tiền, không thấy con nào hết trơn, mà cái ông thầy thuốc nhìn cây thì ra vị thuốc. Cái tư kiến cá nhân huân tập theo cái nghiệp, cái thói quen của mình và như vậy nếu như mình cố chấp vào cái tư kiến, vào cái thấy, cái biết, cái hiểu của mình, tánh khó hành xả thì mình không thể đi vào được thánh trí của Phật.

Cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả cho nên sở dĩ chúng ta đi vào được thánh trí Đức Phật là cái tâm mình rất dễ buông bỏ thì mình mới vào được thánh trí của Phật, còn nếu mà mình cứ nắm giữ những cái mình đã thấy, đã biết, đã học, đã tu thì rất khó để mình đi vào được cái thánh trí của Phật. Vì cái trí của phật là cái trí bỏ mà giờ mình nắm thì làm sao mình học được, chính vì vậy mà chúng ta tu xả vô lượng tâm là ba bài rất là dài, cái đó con giải thích tới mười buổi. Thành ra chúng ta dễ bỏ lắm, dễ buông lắm, dễ xả lắm, ngày hôm qua chúng ta có học làm gì cũng không có chấp vô, làm vậy đó nhưng mà làm để tu, làm để buông bỏ chứ không phải làm để nắm, học thì học vậy đó mà học là để tu, để buông bỏ chứ không phải học để nắm, để cho rằng ta học, ta biết nhiều hơn người khác, khen mình chê người.

Tu là để buông bỏ chứ không phải tu để chấp vô cái mình tu, mấy người kia không tu, mình tu nhiều, người kia tu ít, mình tu sâu, người kia tu cạn, mình biết tu đúng, người ta tu sai. Tu để bỏ mấy cái chấp đó chứ không phải tu để tăng trưởng cái chấp đó, như vậy gọi là tánh dễ hành xả, chịu xả không? Giống như sáng con nói cái ví dụ con đi từ bên thất qua, chiêm nghiệm một đống rác như vậy mà mình tham quăng hai ba thứ, quăng bốn năm thứ, quăng riết thì cái đống đó cũng hết, nếu hết là xong rồi đó, ái tận là giải thoát. Mình quăng ra bớt, mình bỏ bớt chứ không phải tu là mình được mình hốt vô lại, mình hốt vô thêm mà tu là mình quăng ra, mình bỏ ra. Bây giờ muốn hốtt vô hay muốn bỏ ra? Càng bỏ ra nhiều chừng nào thì nó càng nhẹ chừng đó, càng khỏe chừng đó, càng bình an chừng đó, đó là đoạn giảm đó, đó là thực hiện đoạn giảm đó, giảm thiểu phiền não và đoạn dứt phiền não. Đó là con giới thiệu sơ lược bản kinh Đoạn Giảm vì bản kinh này còn dài lắm, Đức Phật nói mấy cái cấp độ lận, con chỉ giới thiệu sơ lược.

"Này Cunda, giống như một con đường không bằng phẳng, có một con đường bằng phẳng khác đối trị. Này Cunda, giống như một bến nước không bằng phẳng, có một bến nước bằng phẳng khác đối trị" (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Chúng ta thấy nó rất là thực tế, rõ ràng, cái này là nó sai thì đưa cái đúng vô để dẹp cái sai chứ không có để y nguyên mà cái sai nó hết là không có.

"Này Cunda, ví như các bất thiện pháp, tất cả đều hướng hạ, còn các thiện pháp, tất cả đều hướng thượng. Cũng vậy, này Cunda:

Con người không làm hại, hướng thượng đối với người làm hại, con người từ bỏ sát sanh, hướng thượng đối với người sát sanh" (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Cái người sát sanh nhìn thấy người không sát sanh thì cái đó là cái điểm để cho họ hướng lên, họ hướng tới. Tuyệt vời lắm, cái bài kinh hay lắm.

"Con người từ bỏ lấy của không cho, hướng thượng đối với người lấy của không cho" (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Với người lấy của không cho, từ bỏ trộm cấp thì người trộm cấp nhìn thấy người từ bỏ trộm cấp chỗ đó là cái chỗ hướng thượng của họ, họ phải hướng tới đó. Cái câu này Đức Phật nói thấm mà mình nghe nó nhục.

"Này Cunda, con người tự mình bị rơi vào bùn lầy có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy không thể xảy ra. Này Cunda, con người tự mình không rơi vào bùn lầy, có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy có thể xảy ra. " (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Tức là một người không rơi vào bùn lầy thì có thể kéo cái người bị rơi vào bùn lầy lên, việc đó có xảy ra, một người ở trong bùn lầy thì làm sao kéo được cái người ở trong bùn lầy.

"Này Cunda, con người tự mình không được nhiếp phục, không được huấn luyện, không được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện và hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy không thể xảy ra. Một người được nhiếp phục, được huấn luyện, được hoàn toàn giải thoát, tự mình có thể nhiếp phục, huấn luyện, hoàn toàn giải thoát người khác, sự tình ấy có thể xảy ra" (Trung Bộ Kinh, 8. Kinh Đoạn giảm)

Như vậy mình muốn giúp người ta thì mình phải thoát ra mình mới giúp người ta đượ,c mình muốn độ người ta thì mình phải độ mình trước mình, muốn nhiếp phục người khác, huấn luyện người khác thì mình phải nhiếp phục mình trước, huấn luyện mình trước, mình muốn giải thoát cho người khác thì mình phải hoàn toàn giải thoát trước thì sự tình ấy mới có thể xảy ra. Mình phải cố gắng lên, mạnh mẽ lên.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

./.