ÁI DỤC 4 - Sự Trói Buộc Và Cái Bị Trói Buộc
Kinh NIKAYA Giảng Giải
ÁI DỤC 4
Sự Trói Buộc Và Cái Bị Trói Buộc
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trói buộc PAGEREF _Toc85442964 \h 1
II. Quán nguy hại PAGEREF _Toc85442965 \h 9
I. Trói buộc
Kính lễ ân đức Thế Tôn
Kính lễ ân đức Chánh pháp
Kính lễ ân đức chúng tăng
Kính lễ ân đức bậc đạo sư
Kính lễ ân đức Thánh giới.
Kính bạch chư tăng ni và tất cả quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm lời dạy của Đức Phật về vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại của dục. Sự xuất ly, thoát ra khỏi dục. Hôm qua chúng ta diễn đọc lời kinh và có sự chiêm nghiệm, nhìn vào trong thân tâm của mình và nhìn ra cuộc đời và thế giới, toàn cảnh của nhân sinh, đời sống thì chúng ta mới thấy được là toàn cảnh thế giới này, thực trạng của cuộc đời này là do tổng đạo diễn đại tài đứng sau lưng là dục tham.
Những cảm xúc, cảm thọ thúc giục tham muốn, yêu thích và từ đó tạo dựng nên tâm thức, hình hài, cảnh giới, đời sống này, thế gian và thế giới này. Từ sự vô tri, không thấy biết về năm uẩn, có sự yêu thích và say mê, say đắm trong này. Đã mê thì sẽ si, ngu dại, như vậy thì vô minh phát sinh ra tham ái, làm tăng trưởng vô minh, lậu hoặc sanh ra vô minh và vô minh làm cho lậu hoặc đó thêm sâu dày. Tức là từ tâm mê muội, tâm si ám, tâm mờ tối, tâm vô tri, không thấy biết, không sáng tỏ, không rõ rành về ngũ uẩn và thân tâm, cảnh, cũng gọi là thế giới, nhân sinh.
Từ sự không thấy, không biết bản chất tạm bợ, mong manh, dễ tan vỡ như món đồ gốm, không thấy được bản chất không sạch sẽ, lo lắng, bất an, sợ hãi, đau khổ, sầu bi, u não, không hiểu, không biết được để rồi lầm tưởng, ảo tưởng, nghĩ là vui, bền, chắc, đẹp, còn hoài, có mình, có ta, có tôi, có ngã. Vì sự lầm tưởng, si ám, ngu muội như vậy nên không thấy biết, thấu đáo triệt để, tột cùng bản tánh của năm uẩn là như vậy, bản chất của năm uẩn là như vậy, không thể vượt khỏi tính chất ấy.
Tâm không nhìn thấy vì nó mê, ngu, si, dại, chính từ tâm mê này nên đeo bám, nắm chặt, giữ chắc, bám lấy, quấn lấy, chấp giữ lấy, đó là sự chấp thủ năm uẩn. Một khi đã cho sắc là mình, hình hài này là mình, đồ vật mà nghĩ rằng nó là sở hữu, của nó, những cảnh giới chung quanh nó thì nó nói là ngã sở. Từ tâm mê này bắt đầu sanh ra sự yêu thích, say đắm, đó là vô minh và tham ái. Say đắm trong vị ngọt, khi nó đã trói cột vào trong năm uẩn thì chúng ta liên hệ bài kinh, kiết sử này:
“1) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về các pháp bị kiết sử và kiết sử, Hãy lắng nghe.”
Về kiết sử, chúng ta nên nhớ hai phần: cái bị trói buộc sai khiến và cái trói buộc sai khiến. Tức là cái bị trói buộc và cái trói buộc. Và cái gì là cái trói buộc? Cái gì là cái bị trói buộc? Kiết là trói buộc, sử là sai khiến. Là cái bị trói buộc và cái trói buộc, một là đối tượng, một là chủ thể, cái bị buộc và cái để buộc.
Giống như chúng ta buộc bó lau sậy, tre trúc thì cái bị trói buộc là lau sậy, tre trúc và người đến trói buộc bằng sợi dây là cái trói buộc. Vậy nên đó là sự trói buộc và cái bị trói buộc.
“2) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị kiết sử, thế nào là kiết sử?
3) Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các pháp bị kiết sử. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, chỗ ấy là kiết sử.”
(Bài kinh Kiết sử - VI. Phẩm cây – Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên
– Tâp II. Thiên Nhân Duyên – Tương Ưng Bộ Kinh)
Ý nói mắt bị cái tham muốn bên trong trói buộc nên đó là chỗ trói buộc. Chúng ta có ưa thích, yêu thương đôi mắt không? Đó là cái trói buộc. Con mắt là cái bị trói buộc.
Mắt là cái bị trói buộc, lòng yêu thích đối với con mắt là cái trói buộc. Mắt chỉ là bên ngoài nhưng tâm yêu, tâm thích, tâm dục tham đối với con mắt là bên trong. Giờ để chúng ta áp dụng định nghĩa thứ nhất ngày trước đã học, thế nào là dục? Dục là những tư duy tham ái, mắt đẹp là sắc trong năm dục trưởng dưỡng. Nên Đức Thế Tôn trong một pháp, Ngài chỉ ra tất cả các khía cạnh, phương diện, trong sắc này có vô vàn những trí tuệ mà Ngài thành tựu các góc độ. Giống như nhà bát giác, không phải chỉ nhìn một hướng, tám mặt, Đức Phật đã lấy bát chánh đánh vào tám mặt của bát tà.
Khi nói sắc nuôi dưỡng lòng tham muốn là nói về một khía cạnh. Đức Thế Tôn nói sắc là cái bị trói buộc, cái bị sai khiến mà lòng tham ái, yêu thích con mắt thì đó chính là cái trói buộc. Con mắt chỉ là vật bên ngoài và bị sai khiến phải nhìn cái đẹp, bị trói buộc bởi cái đẹp, đó là kiết sử.
Con mắt khi nhìn một món đồ, cảnh, người đẹp thì con mắt có sự trói cột, bằng cách cứ nhìn mãi, đó là nó bị trói cột. Bên trong có sự sai khiến bắt buộc phải nhìn, phải kiếm tìm, đó là kiết sử. Đó là chúng ta nói bên ngoài, con mắt luôn luôn bị cảnh đẹp trói cột, con người đẹp trói cột, mòn đồ đẹp trói cột. Con mắt này bị cảnh đẹp sai khiến nên phải đi cả ngàn cây số, để nhìn cảnh đó? Đó là bị sai khiến, là kiết sử.
Chúng ta thấy rất nhiều lớp, cảnh bên ngoài trói cột, sai khiến con mắt, người đẹp bên ngoài cũng trói cột, sai khiến con mắt. Tiến vào lớp sâu hơn, con mắt đẹp trói cột mình, như bài hát Đôi mắt người xưa, là đôi mắt đẹp trói cột, sai khiến tâm mình. Sâu vào bên trong thì những tư tưởng, tham ái của đôi mắt thì đó mới là vấn đề thọ, tưởng, hành. Cảm giác, hình bóng, suy nghĩ của đôi mắt đó có sự yêu thích đôi mắt đẹp đó, bị mắt đẹp đó sai khiến. Con mắt chỉ là công cụ, cũng giống với cảnh, người, vật chỉ là công cụ bên ngoài, vô tri, là cái bị trói buộc, nên tiến một lớp nữa thì con mắt này cũng chỉ là công cụ vì nó vô tri, không có tình, nhận thức mà chỉ là một cục thịt, tứ đại nên nó chỉ là cái bị trói cột.
Vậy nên cái thật sự trói cột là những tư duy, tham ái, dục tham đối với con mắt. Đây đều là nhờ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chỉ ra vì phàm phu không thể chỉ được, tối tôn, tối thượng của trí tuệ mới chỉ ra được cho chúng ta thấy được: suy nghĩ ưa thích, muốn con mắt đó, hình bóng con mắt đó trong tâm, gương mặt đó.
Mở rộng ra, Đức Phật nói tai, mũi, lưỡi, thân là cái bị trói buộc, cái trói buộc thật sự là suy nghĩ, cảm giác, hình bóng của con mắt, miệng, gương mặt, đôi môi, hình hài đó, lòng yêu, lòng thích, tham ái, trói buộc bên trong đó là kiết sử, sự trói cột nằm bên trong. Giờ nếu chúng ta muốn mở trói thì mở ở đâu? Giải thoát ở đâu?
Thầy Pháp sĩ trình pháp: 25:00-27:00
Tham ái ở trong thọ, tưởng, hành nên chúng ta tác ý là phá suy tư, tham ái, ly dục tư duy, nếu chúng ta không tác ý thì làm sao phá được? Giờ chúng ta thiền quán Ba mươi hai thể trượt, Chín giai đoạn một tử thi, quán bộ xương, đầu lâu, về sự tan rã của hình hài, thân xác này thì mình sanh lên những cảm thọ gì? Là nhàm chán, bất tịnh, những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng để mở ra, tháo ra những kiết sử trong thọ, tưởng, hành, trong suy nghĩ, cảm giác đó, hình bóng trong tâm đó.
Một mặt bên ngoài là chúng ta tránh duyên xúc, tức là không tiếp xúc, đó là trong uống ngoài thoa, vì chỉ thoa ở ngoài thì bệnh nặng thoa không hết, vậy nên tránh duyên xúc bên ngoài. Chúng ta nhớ Ngài Ananda hỏi Đức Phật đối với người nữ thì như thế nào? Đức Phật chỉ là đừng giao tiếp, đừng gặp gỡ, nếu lỡ có gặp thì đừng nhìn, đừng nói chuyện, nếu như nói chuyện thì phải phòng hộ, cẩn trọng, giữ gìn cẩn thận.
Những đối tượng nào có thể làm cho mình sanh khởi lên dục ái, tham thì bên ngoài mình phải cắt duyên xúc và bên trong phải phá thọ, tưởng, hành đó, phá những suy nghĩ ưa thích, ham thích, mong muốn là phải phá, phá đó là sự tác ý của mình, phá đó là thiền quán của mình. Tại sao mình phải thiền quán là vì vậy, là để giải phá trong thọ, tưởng, hành.
Những lúc chúng ta ngồi thiền có tiếp xúc ai ở ngoài? Là không vì cảnh đã đóng và mình đã cắt duyên xúc rồi. Mình cắt ở bên ngoài, nhìn vào bên trong, xem ở chỗ nào rồi mình xử trí, phá ở bên trong của nó. Phá đó là tội kết, kiết sử bên trong, sợi dây vô hình, gỡ mãi chẳng ra.
Chúng ta có thấy được sự tu của chúng ta sâu sắc, công phu không? Giờ chúng ta cứ chạy ra bên ngoài, lo cái này cái kia mãi thì làm sao mình có thời gian để nội quán, nội soi, nội chiến, nội chiếu, nội tỉnh nhất tâm.
Vậy nên sự tu của chúng ta là hướng nội, quay vào trong, thứ hai là phải nội tỉnh, tỉnh giác, tỉnh xác, tỉnh thức ở bên trong, thứ ba là nội soi, soi rọi mọi ngõ ngách bên trong, của các cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ. Thứ tư là nội chiến, soi và chiến đấu bên trong.
Tức là, thứ nhất là hướng nội, thứ hai là nội tỉnh, tỉnh giác, tỉnh thức bên trong, thứ ba là nội soi, tỉnh là phải soi, không phải chỉ ngồi trơ trơ mà phải soi rọi xem xét “con rắn” nằm ở chỗ nào. Khi thấy con rắn bò ngang qua thì phải tìm cách đuổi nó đi thì mới ngủ được. Vậy nên đó là nội soi, nội chiến, như là đuổi con rắn ra. Bốn từ: nội hướng, nội tỉnh, nội soi, nội chiến, không có chúng thì không tu được. Vì suốt ngày chỉ nhìn ra ngoài, “chuyện người thì sáng, chuyện mình thì quáng.” Cứ mù mờ không biết nội tâm ra sao thì làm sao biết được cái nào là kiết sử và cái nào là bị kiết sử. Các pháp bị kiết sử là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Ý là pháp bị kiết sử
“Ở đây chỗ nào có dục và tham, ở đấy là kiết sử. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là những pháp kiết sử và bị kiết sử.”
Khi chúng ta hướng nội, tỉnh táo và soi chiếu, soi rọi, thấy nó và đuổi nó ra, khi đuổi thì phải truy cùng diệt tận. Ngày nào nó còn là ngày đó mình còn bất an, cứ ăn không ngon, ngủ không yên. Ngày đó mình còn lo lắng, sợ hãi, khổ sầu, ưu tư, đau khổ, xấu hổ, nhục nhã, và cho đến khi nào mình đuổi nó ra được, chiến thắng nó được.
Vậy nên ở bên trong, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó, yêu thích, tham muốn thì đó là sự trói buộc. Đối tượng mà nó yêu thích, tham muốn bên ngoài là cái bị trói buộc, bên trong này là một sự sai khiến. Khiến cho tìm hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tìm vui thích chỗ này chỗ kia, đó là sự sai khiến bên trong. Bên ngoài là cái bị sai khiến, con mắt, mũi, tai, lưỡi này đều là cái bị sai khiến. Sự sai khiến nằm bên trong suy nghĩ, cảm xúc thúc giục bên trong, những hình bóng tìm kiếm vui sướng chỗ này chỗ kia.
Chúng ta thấy sự tu của chúng ta đều nằm trong thọ, tưởng, hành, tất cả sử dụng công phu của chúng ta, những giới bên ngoài bảo vệ, bảo bọc, cắt những xúc, chặn đứng bên ngoài, sự nội chiếu, nội quán, nội soi, nội chiến là sự đánh thọ, tưởng, hành bên trong. Như vậy là trong ngoài phối hợp với nhau, trong uốn ngoài thoa, nội công ngoại kích. Không thể chỉ nói là tu chỉ một chiều, chỉ nói là “Tôi làm từ thiện là được rồi!” hay “Tôi ngồi thiền là được rồi!” nhưng đến khi xả thiền thì thả trôi luôn tâm của mình. Không phải vậy.
Vậy nên sự giáo dục, sự dạy dỗ của Đức Phật, pháp của Phật là viên mãn, đầy đủ, trọn vẹn, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện là ban đầu tốt, đoạn giữa tốt và cuối cùng tốt và nó có tất cả những dụng cụ, vũ khí trang bị cho mình mọi mặt để mình có thể dùng Bát chánh đạo diệt bát chánh tà. Việc hướng nội của mình chính là để diệt tâm hướng ngoại đó, nếu mình không diệt được sự hướng ngoại đó thì mình không tu được. Vì khi nhìn ra ngoài thì cứ muốn này muốn kia, soi cái này cái kia và tâm hướng ngoại như vậy thì làm sao tu được? Cứ hướng ngoại như vậy nên cứ nhìn ra ngoài mà bên ngoài thì có thiên vạn hình, muôn màu muôn vẻ và cứ chạy theo hình vẽ, màu sắc đó và chạy cả ngàn, tỉ kiếp cũng chưa thỏa mãn.
Sắp tới chúng ta sẽ trích dẫn kinh Ratthapala trong Trung Bộ kinh, thế giới này là thiếu thốn, khát khao, là nô lệ cho tham ái, làm sao mà chạy đến lúc nào mà nó thỏa mãn được. Vì cả thế giới, cả ngũ uẩn này là thiếu thốn, đến chết cũng là thiếu thốn. Cả thế giới, cả ngũ uẩn này là khát khao, đời sống này là một sự thiếu thốn, đời sống này là một sự khát khao, đời sống này là một chuỗi dài nô lệ cho tham ái.
Những cảm giác bên trong thúc giục, thèm thuồng, khao khát, đòi hỏi những hình bóng hiện ra, những suy nghĩ chạy lanh quanh đó, dính chùm trong thọ, tưởng, hành đó. Đó là sự trói buộc, sự sai khiến bên trong, đến sai khiến con mắt, kêu mắt phải nhìn, phải kiếm, tai phải nghe ngóng, chân phải đi, chạy, mũi phải tìm hương, lưỡi phải đi kiếm vị, thân phải chạy chỗ này chỗ kia để tìm xúc.
Bên trong là sự trói buộc, sự sai khiến, của tham ái, của yêu thích, của ham muốn, chúng ta phải nhìn ra được bộ mặt đó, của dục tham, của ái. “Ở đây, chỗ nào có dục và tham, chỗ ấy là kiết sử.”
Giờ chúng ta đi vào sâu sắc, chúng ta thấy nó tham muốn con mắt này, không nói bên ngoài mà trở về với tự thân của mình. Nó yêu thích mũi này, gương mặt này có yêu thích không? Trong những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, có như vậy không? Đó chính là ái dục, là sự yêu thích và tham muốn của thân này. Vì có được sáu căn này thì được xúc, được thọ.
Có mắt để nhìn, tai để nghe, mũi để ngửi, lưỡi để nếm, thân để đụng chạm, xúc, có ý để tư niệm thực, để suy nghĩ, để nhớ nhung, để tưởng, để dính chùm, để tâm mê bủa vây, làm hang, làm ổ, làm tổ, làm căn cứ địa. Và nó bị sập bẫy của thọ sanh, của con mắt, tai, vì nó nói “Mắt này là của tôi, tai là tôi là của tôi, mũilà tôi là của tôi.” Sập bẫy vào gương mặt này, “Là tôi, là của tôi, là đẹp, dễ thương!” Dù là rất xấu nhưng nhìn vào rồi cũng thấy dễ thương, cũng là ái, dục, yêu thích trong đó.
Khi nó sập bẫy của con mắt, tai, mũi, miệng, đôi môi, sập bẫy của hình hài này, của bờ vai, của cánh tay, của eo, lưng, bụng, của bao tử, của gan ruột, của dạ dày, của bao tử, của lá lách, của tim, thận, của ba mươi mấy răng này, mái tóc này khi tu được cạo nên giảm được một bẫy của mái tóc này, của hình hài này và làm ổn trong đó. Và tùy theo duyên nghiệp của nó như ba chục năm, sáu, bảy chục năm hoặc trăm năm, nó có thể làm hàng, làm ổ, làm tổ bên trong.
Mỗi khi con mắt tiếp xúc được cái nào và sanh ra hỷ lạc, vui sướng và khoan khoái nên thích thú, “ngọt như mật ong”. Cứ đam mê, say sưa bên trong, đó là vị ngọt. Lỗ tai nghe được những gì thì “Dễ thương, êm ái, thích quá, đó là bị trói, cột trong đó.
Bên trong là sự tham muốn, ngoài kia là đối tượng tham muốn, trong này là sự sai khiến bởi vì dục tham, ngoài kia là cái bị sai khiến. Bên trong là cái trói buộc, ngoài kia là cái bị trói buộc. Như nhiều người bên ngoài nói cây to đó có thần bên trong đó nên phi nhân, chúng sanh đó thấy chỗ đó đẹp, thích nên ở trong đó và xem nó là nhà của họ, chấp thủ vào đó, bị trói cột, làm hang, làm tổ trong đó. Ai đụng tới cây đó thì người đó bệnh hoặc chết, nên cũng giống nhau, là nhân hay phi nhân cũng là tâm tham ái, chấp thủ đối với ngũ uẩn này, đây là nói về sắc uẩn.
Vậy nên chiêm nghiệm nên chúng ta thấy được mình đang bị sập bẫy lớn, sáu bẫy gồm: bẫy con mắt, bẫy tai, bẫy của mũi, miệng, thân, hình hài này, vóc dáng này. Chúng ta còn sập bẫy của ý, những cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, nhận thức, rõ biết, nên chúng ta bị sập sáu cái bẫy. Và chúng làm hang, làm tổ ở bên trong đó nên bên trong đó suy suyễn một chút là chúng ta đau khổ, vì cứ nhận đó là mình, là của mình, tôi của tôi, ta của ta, đều là ngã sở. Chúng ta cứ cưng chiều nó, nâng niu nó, “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”, nuông chiều nó để rồi nó trói cột, sai khiến chúng ta phục vụ. Các tưu duy tham ái, suy nghĩ yêu thích, tham muốn đó làm cho những cảm thọ thúc giục đó, dâng lên những hình bỏng cứ chập chờn, ác độc đó.
Chúng ta cứ làm nô lệ mãi như vậy, bị nó sai khiến, trói buộc hoài như vậy, hết cái này đến cái khác. Như chúng ta đã nói, hết thân qua nghiệp tạo ác, nhảy vào thành con chó thì đi vào thì lại tiếp tục yêu thích con chó.
Ai cũng muốn mình đẹp, mình giàu nhưng không phải muốn là được. Như chúng ta đã học bài kinh về giới thanh tịnh cùng với một tâm nguyện chân chánh thì nó sẽ đi đến sự thành tựu. Vì ai cũng muốn đẹp muốn giàu nhưng không ai lại muốn khổ, xấu xí, bệnh tật, vì họ không giữ giới và có tâm nguyện không chân chánh. Tâm nguyện chân chánh là tâm nguyện nhìn thấy được nhân quả, nhìn thấy được nhân quả tương xứng nên cái muốn của mình phải trong phạm vi của nhân quả mình đang có thì mới được. Không thể đang là ăn xin nhưng lên thành vua thì không thành được.
Chúng ta thấy được phước có, nghiệp nặng, nghiệp ác, không giữ giới, không tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ nên nó làm ổ bên trong, sáu mươi năm sau lại nhảy vào một ổ khác hay vào đúng một ổ kêu “ộp ộp” chỉ ăn, nằm, ngủ rồi chờ ngày. Như trong thân của con heo vẫn có tham ái, ưa thích, vẫn có vị ngọt trong thân của con heo. Thân con chó cũng có vị ngọt như những khúc xương mà người ta quăng cho nó. Như thân con dòi thì vị ngọt của nó là những thứ hôi thối, bẩn thỉu.
Chúng ta thấy được sự trói buộc và cái bị trói buộc, sự sai khiến và cái bị sai khiến. Con mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi và hình hài, tấm thân này bị sai khiến, bị trói buộc, những gì sai khiến, trói buộc ở bên trong. Yêu thích và tham muốn là sự trói buộc ở bên trong, làm cho đau khổ hết đời này đến đời khác. Quanh quẩn hết cái này đến cái kia, đến cái nọ, hết muốn cái này lại đến cái kia, khi muốn không được thì khổ, muốn được rồi lại chán, lại muốn cái mới, cứ như vậy mãi.
Cứ thúc giục hết cái này đến cái kia, ái hết cái này đến cái nọ, sai khiến cái này đến cái kia, chạy mãi mấy chục năm như vậy rồi rơi xuống một cái hố là xong, chỉ còn tấm bia mộ. Chúng ta không được tự do, không được thảnh thơi, bị sai khiến, bị trói cột, bị dục, tham, ái sai khiến, sự yêu thích sai khiến, trói cột. Sự thúc giục sai khiến, trói cột, sự tham muốn sai khiến, trói cột chúng ta.
Thân này là cái bị trói cột, bị sai khiến, bị trói bên trong bởi tư tưởng tham ái, ưa thích, tham muốn, yêu thích, nắm giữ đó. Nó ở bên trong buộc nên mình mới bị trói buộc, bị sai khiến trong cái thân này. Chỉ được một chút vị ngọt là chúng ta mê hết, tâm cũng mê, vậy nên mới có bài thiền quán Tâm ơi đừng mê nữa, của bậc thiện tri thức gõ lên thánh chuông, để cho mình nhìn thấy hiện trạng của tâm si mê, hôn ám, vô minh này, từ đó chúng ta chiêm nghiệm tác hại của dục này.
II. Quán nguy hại
Khi tu học kinh Nikāya chúng ta phải chiêm nghiệm thật nhiều, phần lớn là chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, quán chiếu, còn lại trong đó đều là thiền quán. Nếu chúng ta không thiền quán, chiêm nghiệm, quán về tác hại của dục thì chúng ta không thể nào viễn ly được, rời xa, giảm thiểu, tẩy sạch và diệt tận được, chúng ta sẽ bị khổ dài dài và làm đầy tớ, nô lệ cho nó mãi.
Vậy nên trọng tâm của sự tu là quán chiếu về tính chất nguy hiểm và tác hại của dục, vậy nên Thái tử Tất-đạt-đa có bài kinh khi Ngài tu và quán vị ngọt, quán sự nguy hiểm và tác hại, quán sự xuất ly nhưng Ngài không thành tựu được, sự tu của Ngài không tiến bộ, tiến triển nên Ngài mới xem kĩ lại, ra soát lại, tìm nguyên nhân vì sao mà Ngài chưa thành tựu đại giác, chưa dập tắt hoàn toàn tất cả những lậu hoặc. Lúc đó Ngài nhận ra là vì quán về sự nguy hại chưa đầy đủ, quán về nguy hiểm và tác hại của dục, của các lậu hoặc, tham, sân, si, vô minh thì lúc đó Ngài mới khai triển thiền quán, phát huy hết cùng cực tính chất nguy hiểm và tác hại. Đến khi Ngài quán được tột độ thì mới thành tựu được Chánh Đẳng Chánh Giác, khi đó Ngài hoàn toàn xuất ly khỏi năm thủ uẩn.
Tại sao sự tu của chúng ta không thoát ra được? Là vì sự quán chiếu về nguy hại và tác hại của dục, của tham, của sân si, vô minh, bản ngã chưa đủ nên nhiếp phục không được, thoát không ra. Nếu như mình đã tu đầy đủ, sung mãn, viên mãn thì sẽ thành tựu được.
Tại sao mình thoát không ra được, viễn ly không được ngũ uẩn? Là vì mình chưa quán tận cùng, đầy đủ, viên mãn, trọn vẹn hết tất cả những khía cạnh nguy hiểm và tác hại của năm thủ uẩn, khổ đau của nó, tai hại mà nó đem lại mình chưa thấy đầy đủ. Vậy nên phần quán rất quan trọng, đừng để tâm đơ đơ, trơ trơ mà phải thường xuyên tác ý và quán chiếu.
Như Đức Thế Tôn đã nói, sự nguy hiểm của các dục, làm biết bao nhiêu nghề nghiệp, chống đỡ bao khó khăn, vất vả, nhọc nhằn, cực khổ, thậm chí mất mạng thì đó là cái thứ nhất để mình chiêm nghiệm. Đó là cái thứ nhất để mình chiêm nghiệm.
Giờ chúng ta nhìn ra để thấy rằng, lúc chưa dịch thì chạy xe ôm, xe taxi thức sáng đêm, làm bánh mì cũng vậy, phải thức trắng đêm, ngày ngủ ngày thức để chạy xe chỉ vì đồng tiền bát gạo mà người ta lại không than thở. Vì người ta chấp nhận chịu đựng, chịu khó. Những nghề như ngành điện lực, lúc trước có những thầy, chú đi làm thì biết nó nguy hiểm ra sao. Có những việc trong quân đội rất gian khổ, có những việc ảnh hưởng đến sau này không thể sinh con, phát ra những sóng gây vô sinh. Hay những hoàn cảnh phải đi làm thuê, làm mướn cho người khác, bị người đời nói nặng, ăn trên đầu trên cổ, ăn phải chan cơm với nước mắt. Dù là người hơn sáu, bảy mươi tuổi cũng phải đi làm phụ việc.
Ngay cả ở Mỹ, những Phật tử người Việt Nam họ gửi về cúng dường mà mình nghe thấy xót xa, lớn tuổi, đã già mà phải đi làm giữ trẻ, được cho chút tiền thì để dành để đem về cúng chùa. Những người làm tài xế chạy đường dài, đêm ngủ chỉ hai ba tiếng, người mua gánh bán bưng… Hay những người bác sĩ tuyến đầu chống dịch, những người bộ đội, có rất nhiều người bác sĩ, y tá bị nhiễm bệnh, hay người đang bị nhiễm cũng phải đi trị bệnh.
Làm thuê, vác mướn, bán hủ tíu gõ, bán vé số, rút hầm cầu, ống cống hay những người đem thể xác của mình để đi bán vì gia đình khổ, mẹ bệnh, cha mất sớm, bốn năm anh em đều nghèo khó, phải gồng gánh nuôi. Có những người làm nghề huấn luyện thú dữ, sinh nghề tử nghiệp, đi vào rừng tìm kiếm để bắt con này con kia, nhiều nghề nghe đến thật xót xa, nước mắt rưng rưng, rớm lệ.
Như khi Minh Thành đi trên đèo Bảo Lộc, có những chỗ dốc dựng đứng mà họ bò xuống để cắt những cái cây tre, chặt măng để đem đi bán, buộc ở phía sau được một bó tre và vài mục măng bán chẳng được bao nhiêu tiền nhưng họ đem cả mạng sống của họ để đánh đổi. Vì chỉ trượt chân thôi là thịt nát xương tan ở dốc dựng đứng đó. Có khi còn phải chịu nóng, chịu lạnh, chịu đói, chịu khát, chịu cực chịu khổ, thức khuya, dậy sớm, nguy hiểm, tai nạn, mà chưa chắc được đầy đủ hay có thể đủ ăn. Như chạy xe về tối bạn rủ nhậu thì hết tiền mà còn thiếu nợ, hết một ngày chạy xe ôm.
Còn những việc chúng ta quán chiếu để thấm thía được cuộc đời, như việc giữ xe chỉ năm ngàn, hai bên giữ xe giành khách với nhau, đánh lộn rồi cuối cùng đâm nhau chết chỉ vì năm ngàn đó. Mất một cuộc sống, sinh mạng chỉ vì vị ngọt năm ngàn.
Đó là sự nguy hiểm của các dục, sự nguy hiểm của lòng tham muốn, nó rõ ràng ở trước mắt, gọi là thiết thực hiện tại, thuộc về đau khổ, tất cả đó lấy dục làm nguyên nhân, lấy làm tham muốn, tham không được nên mới sân, sân nên mới đánh nhau, đâm nhau, rồi đi vào tù tội, tất cả chỉ vì cái muốn năm ngàn đó.
Nên chúng ta không có trí tuệ, không được tu tập hay nghe pháp, không được thực tập nên chúng ta thấy những cái chết rất oan uổng, lãng phí, phung phí cả đời sống và làm bao người phải đau khổ. Vì năm ngàn đó có đáng đánh đổi bằng sinh mạng? Nhưng đó không chỉ là một chuyện mà chúng ta hiểu ra được mười chuyện, trăm chuyện, ngàn chuyện khác. Có khi chẳng có gì, chỉ là nói qua nói lại thì sinh chuyện.
Cứ nỗ lực, cố gắng như vậy, dốc cả sức lực bình sinh để làm, cả đời quần quật mấy chục năm mà tài sản đó không đến được tay mình, vẫn không đủ ăn, không đủ xài, phải đi thuê mượn, vay nóng, sinh lời lãi, xã hội đen tới đòi, rượt đuổi, đâm chém. Chúng ta nên chiêm nghiệm ở thế gian, một khi vô minh, tham ái trong dục, không học pháp, không thấy biết được là nỗi khổ không thể nào diễn tả được.
“Này các Tỷ-kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: "Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả". Này các Tỷ-kheo, như vậy, là sự nguy hiểm các dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.
Cuối cùng chỉ là con số không. Bao nhiêu năm, mấy chục năm thì tay trắng vẫn hoàn tay trắng, nghèo khổ vẫn khổ, thiếu thốn vẫn là thiếu thốn. Suốt đời không có được nhà ở, phải ở gầm cầu, mái hiên, công viên, thậm chí ở trong ống cống. Đó là khi họ vất vả, cực khổ, nỗ lực, không phải là buông xuôi, nhưng vẫn như vậy.
Còn khi nỗ lực, cố gắng, có được tài sản, thấy có chút vị ngọt thì phải giữ gìn, lo lắng, bảo vệ, sợ hãi, ưu tư, làm sao để vua chúa đừng cướp đoạt, tịch thu. Nhiều khi làm rồi lại hối lộ, tham lam, gian lận thì chỉ tích tắc một đêm mở mắt dậy thì đã phải vào tù. Mất tất cả tài sản, mà tài sản đó từ việc tích góp của người khác rồi gom góp, chất chứa thì biết bao nhiêu là mưu mô, thủ đoạn, suy nghĩ, tính toán để lừa gạt người, cũng lao tâm, khổ tứ, nhọc nhằn chứ không là việc đơn giản. Nhưng rồi chỉ tích tắc là bị tịch thu hết, bị vào tù.
Như vậy thì mấy chục năm qua để gầy dựng lòng tham lam, tham muốn, thủ đoạn mưu mô, mưu sĩ, lừa gạt người ta, tất cả đã trở thành vô nghĩa. Không chỉ như vậy là yên, ngồi tù là xong, chung thân, tử hình là xong mà chết rồi phải xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đó là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, là tai hại của lòng tham muốn, tham vọng, là đau khổ ở ngay trước mắt, tất cả đều xuất phát từ lòng tham muốn, dục vọng, từ lòng mê tiền, bất chính.
Đây là trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác nhìn không sót được một cái gì, tất cả mọi góc cạnh, ngõ ngách, mọi hốc, xó, nhìn thấy tất cả mọi thứ bị che kín, trên cuộc đời này.
Suy nghĩ lo lắng làm sao để không bị trộm cướp. Đó là mối lo thứ hai. Như ngay cả thùng phước sương trong chùa mà còn bị đem đi, còn bị cạy, nại, câu đi nên là thần thánh còn không chừa huống chi là ở đời thường. Nhất là ở thời buổi khó khăn này, ngay cả thùng rác cũng bị mang đi, cây cảnh cũng mang đi, tấm sắt để lót dẫn xe lên nhà cũng bị lấy trộm. Dù là trái bơ, trái cà, hay túi thịt người đi chợ cũng lấy đi.
Qua đó chúng ta thấy được là: lòng tham, lòng dục của con người càng mạnh mẽ thì lòng dục càng lớn, ác nghiệp càng lớn thì càng tạo ra khổ đau khủng khiếp cho nhân loại.
Nếu không có thùng rác thì sẽ chết, không có trái bơ đó thì mình không thể đói mà mất mạng, không đến mức độ như vậy. Thì tại sao mình không làm gì chân chánh, mình chịu khó một chút để đi làm? Đó là do lòng dục, lòng tham của con người, là ác, không biết suy nghĩ đến người khác, chỉ biết thỏa mãn lòng tham muốn của mình, bất kể người ta tạo ra những ác nghiệp, cuối cùng thì nhận quả báo khổ. Họ nghĩ là lấy đồ là sướng nhưng thật ra là càng khổ thêm, đó là vô minh, họ không thấy, không biết nhân quả. Nghèo khổ và đi trộm cắp để khổ thêm, rơi vào vực sâu, đó là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, tai hại của lòng tham muốn, đau khổ ngay trước mắt có thể nhìn thấy được. Lòng tham muốn là nguyên nhân dẫn đến.
Sau đó, khi giàu, có tiền nhiều thì làm sao để lửa không bị đốt cháy, quả thì tới thăm chỉ tích tắc, nước cuốn, sóng thần cuốn trôi hàng mấy trăm ngàn người, nhà cửa, xóm làng đều bị tiêu tan hết, nhân mạng, xe cộ trôi lềnh bềnh như rác, đồ chơi. Cả dãy nhà bị động đất là sụp hết, còn chiến tranh, cả nhà đang ăn cơm bị lựu đạn rơi trúng thì cả nhà mất. Ví như chuyện một nhóm người đi du lịch ở Nha Trang, đang ngồi ăn phở, vách tường ngã xuống đè làm mấy người bị thương, mấy người chết. Chỉ là ngồi ăn phở thôi nên chúng ta thấy nó rất mong manh.
“Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng.”
Do nước cuốn trôi, lửa đốt cháy, kẻ thừa tự không xứng đáng, sợ cướp đoạt chúng nên lo, không biết những người này ra sao. Không biết khi để lại cho họ rồi họ sẽ làm cái gì, dù là gần chết cũng phải lo đó. Vậy nên có những người tỷ phú, triệu phú trên thế giới đem tiền đi từ thiện hết, không để lại cho con.
Chúng ta chiêm nghiệm nguy hiểm, tác hại của lòng tham muốn, mình chiêm nghiệm và ngấm vào những cảm thọ này, cảm xúc này làm sợ hãi, nhàm chán, xa lìa để giảm bớt sự tham dục, tham muốn, dục vọng, yêu thích đối với những thứ vô thường, khổ đau này, bất an, lo lắng, sợ hãi này là được. Vì ai cũng nghì là được giàu là sướng nhưng người ta không biết được nỗi khổ của người giàu. Nghĩ là họ đỡ khổ, không nghèo, không thiếu thôi nhưng họ khổ cái khác.
Đến sự tranh đoạt giữa vua với vua, quan với quan, mẹ con, anh chị em với nhau nên rất đau lòng, anh em như thủ túc tay chân nhưng huynh đệ tương tàn, vợ chồng không còn tình nghĩa. Dù là mẹ con, anh chị với nhau nhưng đụng đến lợi lộc, tiền bạc, đất đai, tài sản là thôi, chỉ tranh đoạt, cãi nhau, đánh nhau, chửi nhau đến nỗi kéo nhau ra tòa.
Tất cả những cái đó Đức Phật nói là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, trong bài Đại Kinh Khổ Uẩn:
“Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong.
…Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh”
Họ có được rồi thì tranh đoạt để có thêm nữa, muốn cho mình đứng đầu, muốn hơn người ta, không muốn thua. Tất cả là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, tai hại của lòng tham muốn, sự đau khổ mà lòng tham muốn gây ra, dục vọng gây ra, yêu thích tham muốn, cứ muốn thêm, muốn nữa, muốn nhiều thật nhiều… Đó là tranh đoạt, bắn nhau, giết nhau.
“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ dàn trận hai mặt, và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.”
Tất cả cũng là dục vọng gây ra những việc như vậy, thật là nguy hiểm và tai họa cho lòng tham muốn này, dục tham này.
“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ đột nhập nhà cửa, họ cướp giật đồ đạc, họ hành động như kẻ cướp, họ phục kích các đường lớn, họ đi đến vợ người.
Các vua chúa khi bắt được một người như vậy liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình... Hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa)... chúc thủ hình (đốt tay)... khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt)... bì y hình (lấy vỏ cây làm áo)... linh dương hình (hình phạt con dê núi)... câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt)... tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền)... khối trấp hình... chuyển hình... cao đạp đài... họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm của dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.”
Họ phải bị nhốt cả đời trong tù, cả đời sống trong hối hận, đau khổ, tiếc nuối, người ta kể lại những người ở tù mang án tử hình thì không đêm nào họ được ngủ yên giấc. Ngủ đến đêm mà nghe tiếng mở cửa là họ hoảng sợ, vì không biết ngày nào đến lượt mình, giật mình, kinh hãi. Họ phải sống trong sự sợ hãi, trong những cảm thọ thống khổ như vậy, lo lắng, sợ hãi, kinh hoàng, hoảng hốt như vậy đến suốt đời. Đến khi chết và sau khi chết, với những hành động ác, suy nghĩ ác, ác hạnh như vậy thì khi thân hoại mạng chung họ sẽ sanh vào cõi dữ, sanh vào đường ác, đọa xứ địa ngục.
“Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân.”
Đó là chúng ta quán sơ lượt về tính chất nguy hiểm và tác hại của lòng tham muốn.
“Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự xuất ly các dục?
Này các Tỷ-kheo, đây là sự điều phục dục tham đối với các dục, sự đoạn trừ dục tham, như vậy là sự xuất ly các dục.”
Tức là nhiếp phục, đoạn trừ dục tham, lòng tham muốn là sự xuất ly khỏi các dục. Và nhiếp phục, đoạn trừ ra sao? Chúng ta quán tứ đại, quán Bất Tịnh, quán Ba mươi hai thể trượt, quán Chín giai đoạn của một tử thi, quán sự nguy hại để nhàm chán, sợ hãi, lìa xa, quán nhân quả, tội lỗi mà nó đưa đến đau khổ, hậu quả mà mình phải gánh, sau khi mình đi theo nó. Quán như vậy để mình nhiếp phục được những tham muốn, suy nghĩ, cảm thọ, cảm xúc, tưởng tượng về cái tham muốn, được sự quán chiếu này nhiếp phục, dừng lại, ngưng lại, diệt trừ và đoạn tận.
“Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri vị ngọt các dục là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định sẽ không như thật tuệ tri các dục của họ, họ cũng không có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các dục, sự kiện như vậy không thể xảy ra.”
Ý nói nếu một người tu hành nào thật sự không biết bằng trí tuệ, sự nguy hiểm và tác hại là sự nguy hiểm, tác hại như vậy của dục. Người tu hành nào không biết được sự thoát ra, xuất ly là thoát ra, xuất ly như vậy, thì những vị này sẽ thật sự không biết được các dục ở trong họ, không biết được lòng tham muốn thật sự của họ.
Vậy nên có những người nói “Thưa thầy con đã hết tham, sân, si!” mà họ không biết, không nhận diện ngũ uẩn, không biết được trí tuệ về tham, sân, si, về dục ái thì làm sao biết được, chỉ biết được cái ngọn, cái hậu quả của nó đã rồi thì mình mới biết.
Vì vậy, người không thành tựu được trí huệ, về vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly thì người đó không thể biết được các dục thật sự của mình và họ cũng không thể nào giúp cho người khác biết được điều đó, không thể hướng dẫn, chỉ dẫn, dạy cho người khác biết được cái dục ở trong người kia như thế nào. Không thể biết được và xảy ra như vậy, dù họ có giúp cho người khác muốn biết được dục trong người của người kia vì chính họ không biết thì họ hướng dẫn người ta cũng không biết được.
Như giờ chúng ta không biết ngũ uẩn thì mình có hướng dẫn cho người ta biết được ngũ uẩn được không? Mình không biết cảm thọ tham, sân, si thì mình có hướng dẫn được cho người ta biết được tham, sân, si không?
“Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào như thật tuệ tri vị ngọt các dục là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định sẽ như thật tuệ tri các dục của họ, họ cũng có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các dục, sự kiện như vậy có xảy ra.”
(Bài Đại Kinh Khổ Uẩn – Trung Bộ Kinh)
Nghĩa là thật sự biết bằng trí tuệ về các dục thì có khả năng nhiếp phục, đoạn tận và thoát ra khỏi nó.
Hôm nay chúng ta đã thấy được vị tổng đạo diễn của thế giới này, người đứng đằng sau bức màn giấu mặt mà làm ra bao nhiêu sự đau khổ, tranh giành, cướp đoạt, tang thương trên cuộc đời này. Đó là dục, lòng tham muốn bên trong và năm đối tượng bên ngoài. Chúng ta biết được cái gì là trói buộc và cái gì bị trói buộc, cái gì sai khiến và cái gì bị sai khiến. Đó là trí tuệ của Đức Phật soi sáng cho chúng ta, lấy đó làm hành trang, ngọn đèn, lấy đó làm tự thân, thân tâm của mình, ngày đêm tinh cần tinh tấn trong thiện pháp, Thánh pháp.
Chúng ta học ở đây không phải là biết mà thành tựu được ngay mà phải mất nhiều thời gian, trong sự nỗ lực tinh cần, từng chút để dần dần đi đến chỗ có chân đứng trong pháp và luật, đi đến chỗ thể nhập trí tuệ mà Đức Phật đã truyền trao.
Hôm nay chúng ta đã chia sẻ vị ngọt, sự nguy hiểm, sự thoát ra cũng như kiết sử và các pháp bị kiết sử.
Phật tử trình pháp: 96:00-101:00
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính chúng ta. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này.
Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho chúng ta, lòng yêu thương tự thân chúng ta và yêu thương muôn loài.
Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.
ÁI DỤC 4
Sự Trói Buộc Và Cái Bị Trói Buộc
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Trói buộc PAGEREF _Toc85442964 \h 1
II. Quán nguy hại PAGEREF _Toc85442965 \h 9
I. Trói buộc
Kính lễ ân đức Thế Tôn
Kính lễ ân đức Chánh pháp
Kính lễ ân đức chúng tăng
Kính lễ ân đức bậc đạo sư
Kính lễ ân đức Thánh giới.
Kính bạch chư tăng ni và tất cả quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm lời dạy của Đức Phật về vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại của dục. Sự xuất ly, thoát ra khỏi dục. Hôm qua chúng ta diễn đọc lời kinh và có sự chiêm nghiệm, nhìn vào trong thân tâm của mình và nhìn ra cuộc đời và thế giới, toàn cảnh của nhân sinh, đời sống thì chúng ta mới thấy được là toàn cảnh thế giới này, thực trạng của cuộc đời này là do tổng đạo diễn đại tài đứng sau lưng là dục tham.
Những cảm xúc, cảm thọ thúc giục tham muốn, yêu thích và từ đó tạo dựng nên tâm thức, hình hài, cảnh giới, đời sống này, thế gian và thế giới này. Từ sự vô tri, không thấy biết về năm uẩn, có sự yêu thích và say mê, say đắm trong này. Đã mê thì sẽ si, ngu dại, như vậy thì vô minh phát sinh ra tham ái, làm tăng trưởng vô minh, lậu hoặc sanh ra vô minh và vô minh làm cho lậu hoặc đó thêm sâu dày. Tức là từ tâm mê muội, tâm si ám, tâm mờ tối, tâm vô tri, không thấy biết, không sáng tỏ, không rõ rành về ngũ uẩn và thân tâm, cảnh, cũng gọi là thế giới, nhân sinh.
Từ sự không thấy, không biết bản chất tạm bợ, mong manh, dễ tan vỡ như món đồ gốm, không thấy được bản chất không sạch sẽ, lo lắng, bất an, sợ hãi, đau khổ, sầu bi, u não, không hiểu, không biết được để rồi lầm tưởng, ảo tưởng, nghĩ là vui, bền, chắc, đẹp, còn hoài, có mình, có ta, có tôi, có ngã. Vì sự lầm tưởng, si ám, ngu muội như vậy nên không thấy biết, thấu đáo triệt để, tột cùng bản tánh của năm uẩn là như vậy, bản chất của năm uẩn là như vậy, không thể vượt khỏi tính chất ấy.
Tâm không nhìn thấy vì nó mê, ngu, si, dại, chính từ tâm mê này nên đeo bám, nắm chặt, giữ chắc, bám lấy, quấn lấy, chấp giữ lấy, đó là sự chấp thủ năm uẩn. Một khi đã cho sắc là mình, hình hài này là mình, đồ vật mà nghĩ rằng nó là sở hữu, của nó, những cảnh giới chung quanh nó thì nó nói là ngã sở. Từ tâm mê này bắt đầu sanh ra sự yêu thích, say đắm, đó là vô minh và tham ái. Say đắm trong vị ngọt, khi nó đã trói cột vào trong năm uẩn thì chúng ta liên hệ bài kinh, kiết sử này:
“1) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về các pháp bị kiết sử và kiết sử, Hãy lắng nghe.”
Về kiết sử, chúng ta nên nhớ hai phần: cái bị trói buộc sai khiến và cái trói buộc sai khiến. Tức là cái bị trói buộc và cái trói buộc. Và cái gì là cái trói buộc? Cái gì là cái bị trói buộc? Kiết là trói buộc, sử là sai khiến. Là cái bị trói buộc và cái trói buộc, một là đối tượng, một là chủ thể, cái bị buộc và cái để buộc.
Giống như chúng ta buộc bó lau sậy, tre trúc thì cái bị trói buộc là lau sậy, tre trúc và người đến trói buộc bằng sợi dây là cái trói buộc. Vậy nên đó là sự trói buộc và cái bị trói buộc.
“2) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp bị kiết sử, thế nào là kiết sử?
3) Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các pháp bị kiết sử. Ở đây, chỗ nào có dục và tham, chỗ ấy là kiết sử.”
(Bài kinh Kiết sử - VI. Phẩm cây – Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên
– Tâp II. Thiên Nhân Duyên – Tương Ưng Bộ Kinh)
Ý nói mắt bị cái tham muốn bên trong trói buộc nên đó là chỗ trói buộc. Chúng ta có ưa thích, yêu thương đôi mắt không? Đó là cái trói buộc. Con mắt là cái bị trói buộc.
Mắt là cái bị trói buộc, lòng yêu thích đối với con mắt là cái trói buộc. Mắt chỉ là bên ngoài nhưng tâm yêu, tâm thích, tâm dục tham đối với con mắt là bên trong. Giờ để chúng ta áp dụng định nghĩa thứ nhất ngày trước đã học, thế nào là dục? Dục là những tư duy tham ái, mắt đẹp là sắc trong năm dục trưởng dưỡng. Nên Đức Thế Tôn trong một pháp, Ngài chỉ ra tất cả các khía cạnh, phương diện, trong sắc này có vô vàn những trí tuệ mà Ngài thành tựu các góc độ. Giống như nhà bát giác, không phải chỉ nhìn một hướng, tám mặt, Đức Phật đã lấy bát chánh đánh vào tám mặt của bát tà.
Khi nói sắc nuôi dưỡng lòng tham muốn là nói về một khía cạnh. Đức Thế Tôn nói sắc là cái bị trói buộc, cái bị sai khiến mà lòng tham ái, yêu thích con mắt thì đó chính là cái trói buộc. Con mắt chỉ là vật bên ngoài và bị sai khiến phải nhìn cái đẹp, bị trói buộc bởi cái đẹp, đó là kiết sử.
Con mắt khi nhìn một món đồ, cảnh, người đẹp thì con mắt có sự trói cột, bằng cách cứ nhìn mãi, đó là nó bị trói cột. Bên trong có sự sai khiến bắt buộc phải nhìn, phải kiếm tìm, đó là kiết sử. Đó là chúng ta nói bên ngoài, con mắt luôn luôn bị cảnh đẹp trói cột, con người đẹp trói cột, mòn đồ đẹp trói cột. Con mắt này bị cảnh đẹp sai khiến nên phải đi cả ngàn cây số, để nhìn cảnh đó? Đó là bị sai khiến, là kiết sử.
Chúng ta thấy rất nhiều lớp, cảnh bên ngoài trói cột, sai khiến con mắt, người đẹp bên ngoài cũng trói cột, sai khiến con mắt. Tiến vào lớp sâu hơn, con mắt đẹp trói cột mình, như bài hát Đôi mắt người xưa, là đôi mắt đẹp trói cột, sai khiến tâm mình. Sâu vào bên trong thì những tư tưởng, tham ái của đôi mắt thì đó mới là vấn đề thọ, tưởng, hành. Cảm giác, hình bóng, suy nghĩ của đôi mắt đó có sự yêu thích đôi mắt đẹp đó, bị mắt đẹp đó sai khiến. Con mắt chỉ là công cụ, cũng giống với cảnh, người, vật chỉ là công cụ bên ngoài, vô tri, là cái bị trói buộc, nên tiến một lớp nữa thì con mắt này cũng chỉ là công cụ vì nó vô tri, không có tình, nhận thức mà chỉ là một cục thịt, tứ đại nên nó chỉ là cái bị trói cột.
Vậy nên cái thật sự trói cột là những tư duy, tham ái, dục tham đối với con mắt. Đây đều là nhờ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chỉ ra vì phàm phu không thể chỉ được, tối tôn, tối thượng của trí tuệ mới chỉ ra được cho chúng ta thấy được: suy nghĩ ưa thích, muốn con mắt đó, hình bóng con mắt đó trong tâm, gương mặt đó.
Mở rộng ra, Đức Phật nói tai, mũi, lưỡi, thân là cái bị trói buộc, cái trói buộc thật sự là suy nghĩ, cảm giác, hình bóng của con mắt, miệng, gương mặt, đôi môi, hình hài đó, lòng yêu, lòng thích, tham ái, trói buộc bên trong đó là kiết sử, sự trói cột nằm bên trong. Giờ nếu chúng ta muốn mở trói thì mở ở đâu? Giải thoát ở đâu?
Thầy Pháp sĩ trình pháp: 25:00-27:00
Tham ái ở trong thọ, tưởng, hành nên chúng ta tác ý là phá suy tư, tham ái, ly dục tư duy, nếu chúng ta không tác ý thì làm sao phá được? Giờ chúng ta thiền quán Ba mươi hai thể trượt, Chín giai đoạn một tử thi, quán bộ xương, đầu lâu, về sự tan rã của hình hài, thân xác này thì mình sanh lên những cảm thọ gì? Là nhàm chán, bất tịnh, những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng để mở ra, tháo ra những kiết sử trong thọ, tưởng, hành, trong suy nghĩ, cảm giác đó, hình bóng trong tâm đó.
Một mặt bên ngoài là chúng ta tránh duyên xúc, tức là không tiếp xúc, đó là trong uống ngoài thoa, vì chỉ thoa ở ngoài thì bệnh nặng thoa không hết, vậy nên tránh duyên xúc bên ngoài. Chúng ta nhớ Ngài Ananda hỏi Đức Phật đối với người nữ thì như thế nào? Đức Phật chỉ là đừng giao tiếp, đừng gặp gỡ, nếu lỡ có gặp thì đừng nhìn, đừng nói chuyện, nếu như nói chuyện thì phải phòng hộ, cẩn trọng, giữ gìn cẩn thận.
Những đối tượng nào có thể làm cho mình sanh khởi lên dục ái, tham thì bên ngoài mình phải cắt duyên xúc và bên trong phải phá thọ, tưởng, hành đó, phá những suy nghĩ ưa thích, ham thích, mong muốn là phải phá, phá đó là sự tác ý của mình, phá đó là thiền quán của mình. Tại sao mình phải thiền quán là vì vậy, là để giải phá trong thọ, tưởng, hành.
Những lúc chúng ta ngồi thiền có tiếp xúc ai ở ngoài? Là không vì cảnh đã đóng và mình đã cắt duyên xúc rồi. Mình cắt ở bên ngoài, nhìn vào bên trong, xem ở chỗ nào rồi mình xử trí, phá ở bên trong của nó. Phá đó là tội kết, kiết sử bên trong, sợi dây vô hình, gỡ mãi chẳng ra.
Chúng ta có thấy được sự tu của chúng ta sâu sắc, công phu không? Giờ chúng ta cứ chạy ra bên ngoài, lo cái này cái kia mãi thì làm sao mình có thời gian để nội quán, nội soi, nội chiến, nội chiếu, nội tỉnh nhất tâm.
Vậy nên sự tu của chúng ta là hướng nội, quay vào trong, thứ hai là phải nội tỉnh, tỉnh giác, tỉnh xác, tỉnh thức ở bên trong, thứ ba là nội soi, soi rọi mọi ngõ ngách bên trong, của các cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ. Thứ tư là nội chiến, soi và chiến đấu bên trong.
Tức là, thứ nhất là hướng nội, thứ hai là nội tỉnh, tỉnh giác, tỉnh thức bên trong, thứ ba là nội soi, tỉnh là phải soi, không phải chỉ ngồi trơ trơ mà phải soi rọi xem xét “con rắn” nằm ở chỗ nào. Khi thấy con rắn bò ngang qua thì phải tìm cách đuổi nó đi thì mới ngủ được. Vậy nên đó là nội soi, nội chiến, như là đuổi con rắn ra. Bốn từ: nội hướng, nội tỉnh, nội soi, nội chiến, không có chúng thì không tu được. Vì suốt ngày chỉ nhìn ra ngoài, “chuyện người thì sáng, chuyện mình thì quáng.” Cứ mù mờ không biết nội tâm ra sao thì làm sao biết được cái nào là kiết sử và cái nào là bị kiết sử. Các pháp bị kiết sử là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Ý là pháp bị kiết sử
“Ở đây chỗ nào có dục và tham, ở đấy là kiết sử. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là những pháp kiết sử và bị kiết sử.”
Khi chúng ta hướng nội, tỉnh táo và soi chiếu, soi rọi, thấy nó và đuổi nó ra, khi đuổi thì phải truy cùng diệt tận. Ngày nào nó còn là ngày đó mình còn bất an, cứ ăn không ngon, ngủ không yên. Ngày đó mình còn lo lắng, sợ hãi, khổ sầu, ưu tư, đau khổ, xấu hổ, nhục nhã, và cho đến khi nào mình đuổi nó ra được, chiến thắng nó được.
Vậy nên ở bên trong, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó, yêu thích, tham muốn thì đó là sự trói buộc. Đối tượng mà nó yêu thích, tham muốn bên ngoài là cái bị trói buộc, bên trong này là một sự sai khiến. Khiến cho tìm hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tìm vui thích chỗ này chỗ kia, đó là sự sai khiến bên trong. Bên ngoài là cái bị sai khiến, con mắt, mũi, tai, lưỡi này đều là cái bị sai khiến. Sự sai khiến nằm bên trong suy nghĩ, cảm xúc thúc giục bên trong, những hình bóng tìm kiếm vui sướng chỗ này chỗ kia.
Chúng ta thấy sự tu của chúng ta đều nằm trong thọ, tưởng, hành, tất cả sử dụng công phu của chúng ta, những giới bên ngoài bảo vệ, bảo bọc, cắt những xúc, chặn đứng bên ngoài, sự nội chiếu, nội quán, nội soi, nội chiến là sự đánh thọ, tưởng, hành bên trong. Như vậy là trong ngoài phối hợp với nhau, trong uốn ngoài thoa, nội công ngoại kích. Không thể chỉ nói là tu chỉ một chiều, chỉ nói là “Tôi làm từ thiện là được rồi!” hay “Tôi ngồi thiền là được rồi!” nhưng đến khi xả thiền thì thả trôi luôn tâm của mình. Không phải vậy.
Vậy nên sự giáo dục, sự dạy dỗ của Đức Phật, pháp của Phật là viên mãn, đầy đủ, trọn vẹn, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện là ban đầu tốt, đoạn giữa tốt và cuối cùng tốt và nó có tất cả những dụng cụ, vũ khí trang bị cho mình mọi mặt để mình có thể dùng Bát chánh đạo diệt bát chánh tà. Việc hướng nội của mình chính là để diệt tâm hướng ngoại đó, nếu mình không diệt được sự hướng ngoại đó thì mình không tu được. Vì khi nhìn ra ngoài thì cứ muốn này muốn kia, soi cái này cái kia và tâm hướng ngoại như vậy thì làm sao tu được? Cứ hướng ngoại như vậy nên cứ nhìn ra ngoài mà bên ngoài thì có thiên vạn hình, muôn màu muôn vẻ và cứ chạy theo hình vẽ, màu sắc đó và chạy cả ngàn, tỉ kiếp cũng chưa thỏa mãn.
Sắp tới chúng ta sẽ trích dẫn kinh Ratthapala trong Trung Bộ kinh, thế giới này là thiếu thốn, khát khao, là nô lệ cho tham ái, làm sao mà chạy đến lúc nào mà nó thỏa mãn được. Vì cả thế giới, cả ngũ uẩn này là thiếu thốn, đến chết cũng là thiếu thốn. Cả thế giới, cả ngũ uẩn này là khát khao, đời sống này là một sự thiếu thốn, đời sống này là một sự khát khao, đời sống này là một chuỗi dài nô lệ cho tham ái.
Những cảm giác bên trong thúc giục, thèm thuồng, khao khát, đòi hỏi những hình bóng hiện ra, những suy nghĩ chạy lanh quanh đó, dính chùm trong thọ, tưởng, hành đó. Đó là sự trói buộc, sự sai khiến bên trong, đến sai khiến con mắt, kêu mắt phải nhìn, phải kiếm, tai phải nghe ngóng, chân phải đi, chạy, mũi phải tìm hương, lưỡi phải đi kiếm vị, thân phải chạy chỗ này chỗ kia để tìm xúc.
Bên trong là sự trói buộc, sự sai khiến, của tham ái, của yêu thích, của ham muốn, chúng ta phải nhìn ra được bộ mặt đó, của dục tham, của ái. “Ở đây, chỗ nào có dục và tham, chỗ ấy là kiết sử.”
Giờ chúng ta đi vào sâu sắc, chúng ta thấy nó tham muốn con mắt này, không nói bên ngoài mà trở về với tự thân của mình. Nó yêu thích mũi này, gương mặt này có yêu thích không? Trong những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, có như vậy không? Đó chính là ái dục, là sự yêu thích và tham muốn của thân này. Vì có được sáu căn này thì được xúc, được thọ.
Có mắt để nhìn, tai để nghe, mũi để ngửi, lưỡi để nếm, thân để đụng chạm, xúc, có ý để tư niệm thực, để suy nghĩ, để nhớ nhung, để tưởng, để dính chùm, để tâm mê bủa vây, làm hang, làm ổ, làm tổ, làm căn cứ địa. Và nó bị sập bẫy của thọ sanh, của con mắt, tai, vì nó nói “Mắt này là của tôi, tai là tôi là của tôi, mũilà tôi là của tôi.” Sập bẫy vào gương mặt này, “Là tôi, là của tôi, là đẹp, dễ thương!” Dù là rất xấu nhưng nhìn vào rồi cũng thấy dễ thương, cũng là ái, dục, yêu thích trong đó.
Khi nó sập bẫy của con mắt, tai, mũi, miệng, đôi môi, sập bẫy của hình hài này, của bờ vai, của cánh tay, của eo, lưng, bụng, của bao tử, của gan ruột, của dạ dày, của bao tử, của lá lách, của tim, thận, của ba mươi mấy răng này, mái tóc này khi tu được cạo nên giảm được một bẫy của mái tóc này, của hình hài này và làm ổn trong đó. Và tùy theo duyên nghiệp của nó như ba chục năm, sáu, bảy chục năm hoặc trăm năm, nó có thể làm hàng, làm ổ, làm tổ bên trong.
Mỗi khi con mắt tiếp xúc được cái nào và sanh ra hỷ lạc, vui sướng và khoan khoái nên thích thú, “ngọt như mật ong”. Cứ đam mê, say sưa bên trong, đó là vị ngọt. Lỗ tai nghe được những gì thì “Dễ thương, êm ái, thích quá, đó là bị trói, cột trong đó.
Bên trong là sự tham muốn, ngoài kia là đối tượng tham muốn, trong này là sự sai khiến bởi vì dục tham, ngoài kia là cái bị sai khiến. Bên trong là cái trói buộc, ngoài kia là cái bị trói buộc. Như nhiều người bên ngoài nói cây to đó có thần bên trong đó nên phi nhân, chúng sanh đó thấy chỗ đó đẹp, thích nên ở trong đó và xem nó là nhà của họ, chấp thủ vào đó, bị trói cột, làm hang, làm tổ trong đó. Ai đụng tới cây đó thì người đó bệnh hoặc chết, nên cũng giống nhau, là nhân hay phi nhân cũng là tâm tham ái, chấp thủ đối với ngũ uẩn này, đây là nói về sắc uẩn.
Vậy nên chiêm nghiệm nên chúng ta thấy được mình đang bị sập bẫy lớn, sáu bẫy gồm: bẫy con mắt, bẫy tai, bẫy của mũi, miệng, thân, hình hài này, vóc dáng này. Chúng ta còn sập bẫy của ý, những cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, nhận thức, rõ biết, nên chúng ta bị sập sáu cái bẫy. Và chúng làm hang, làm tổ ở bên trong đó nên bên trong đó suy suyễn một chút là chúng ta đau khổ, vì cứ nhận đó là mình, là của mình, tôi của tôi, ta của ta, đều là ngã sở. Chúng ta cứ cưng chiều nó, nâng niu nó, “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”, nuông chiều nó để rồi nó trói cột, sai khiến chúng ta phục vụ. Các tưu duy tham ái, suy nghĩ yêu thích, tham muốn đó làm cho những cảm thọ thúc giục đó, dâng lên những hình bỏng cứ chập chờn, ác độc đó.
Chúng ta cứ làm nô lệ mãi như vậy, bị nó sai khiến, trói buộc hoài như vậy, hết cái này đến cái khác. Như chúng ta đã nói, hết thân qua nghiệp tạo ác, nhảy vào thành con chó thì đi vào thì lại tiếp tục yêu thích con chó.
Ai cũng muốn mình đẹp, mình giàu nhưng không phải muốn là được. Như chúng ta đã học bài kinh về giới thanh tịnh cùng với một tâm nguyện chân chánh thì nó sẽ đi đến sự thành tựu. Vì ai cũng muốn đẹp muốn giàu nhưng không ai lại muốn khổ, xấu xí, bệnh tật, vì họ không giữ giới và có tâm nguyện không chân chánh. Tâm nguyện chân chánh là tâm nguyện nhìn thấy được nhân quả, nhìn thấy được nhân quả tương xứng nên cái muốn của mình phải trong phạm vi của nhân quả mình đang có thì mới được. Không thể đang là ăn xin nhưng lên thành vua thì không thành được.
Chúng ta thấy được phước có, nghiệp nặng, nghiệp ác, không giữ giới, không tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ nên nó làm ổ bên trong, sáu mươi năm sau lại nhảy vào một ổ khác hay vào đúng một ổ kêu “ộp ộp” chỉ ăn, nằm, ngủ rồi chờ ngày. Như trong thân của con heo vẫn có tham ái, ưa thích, vẫn có vị ngọt trong thân của con heo. Thân con chó cũng có vị ngọt như những khúc xương mà người ta quăng cho nó. Như thân con dòi thì vị ngọt của nó là những thứ hôi thối, bẩn thỉu.
Chúng ta thấy được sự trói buộc và cái bị trói buộc, sự sai khiến và cái bị sai khiến. Con mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi và hình hài, tấm thân này bị sai khiến, bị trói buộc, những gì sai khiến, trói buộc ở bên trong. Yêu thích và tham muốn là sự trói buộc ở bên trong, làm cho đau khổ hết đời này đến đời khác. Quanh quẩn hết cái này đến cái kia, đến cái nọ, hết muốn cái này lại đến cái kia, khi muốn không được thì khổ, muốn được rồi lại chán, lại muốn cái mới, cứ như vậy mãi.
Cứ thúc giục hết cái này đến cái kia, ái hết cái này đến cái nọ, sai khiến cái này đến cái kia, chạy mãi mấy chục năm như vậy rồi rơi xuống một cái hố là xong, chỉ còn tấm bia mộ. Chúng ta không được tự do, không được thảnh thơi, bị sai khiến, bị trói cột, bị dục, tham, ái sai khiến, sự yêu thích sai khiến, trói cột. Sự thúc giục sai khiến, trói cột, sự tham muốn sai khiến, trói cột chúng ta.
Thân này là cái bị trói cột, bị sai khiến, bị trói bên trong bởi tư tưởng tham ái, ưa thích, tham muốn, yêu thích, nắm giữ đó. Nó ở bên trong buộc nên mình mới bị trói buộc, bị sai khiến trong cái thân này. Chỉ được một chút vị ngọt là chúng ta mê hết, tâm cũng mê, vậy nên mới có bài thiền quán Tâm ơi đừng mê nữa, của bậc thiện tri thức gõ lên thánh chuông, để cho mình nhìn thấy hiện trạng của tâm si mê, hôn ám, vô minh này, từ đó chúng ta chiêm nghiệm tác hại của dục này.
II. Quán nguy hại
Khi tu học kinh Nikāya chúng ta phải chiêm nghiệm thật nhiều, phần lớn là chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, quán chiếu, còn lại trong đó đều là thiền quán. Nếu chúng ta không thiền quán, chiêm nghiệm, quán về tác hại của dục thì chúng ta không thể nào viễn ly được, rời xa, giảm thiểu, tẩy sạch và diệt tận được, chúng ta sẽ bị khổ dài dài và làm đầy tớ, nô lệ cho nó mãi.
Vậy nên trọng tâm của sự tu là quán chiếu về tính chất nguy hiểm và tác hại của dục, vậy nên Thái tử Tất-đạt-đa có bài kinh khi Ngài tu và quán vị ngọt, quán sự nguy hiểm và tác hại, quán sự xuất ly nhưng Ngài không thành tựu được, sự tu của Ngài không tiến bộ, tiến triển nên Ngài mới xem kĩ lại, ra soát lại, tìm nguyên nhân vì sao mà Ngài chưa thành tựu đại giác, chưa dập tắt hoàn toàn tất cả những lậu hoặc. Lúc đó Ngài nhận ra là vì quán về sự nguy hại chưa đầy đủ, quán về nguy hiểm và tác hại của dục, của các lậu hoặc, tham, sân, si, vô minh thì lúc đó Ngài mới khai triển thiền quán, phát huy hết cùng cực tính chất nguy hiểm và tác hại. Đến khi Ngài quán được tột độ thì mới thành tựu được Chánh Đẳng Chánh Giác, khi đó Ngài hoàn toàn xuất ly khỏi năm thủ uẩn.
Tại sao sự tu của chúng ta không thoát ra được? Là vì sự quán chiếu về nguy hại và tác hại của dục, của tham, của sân si, vô minh, bản ngã chưa đủ nên nhiếp phục không được, thoát không ra. Nếu như mình đã tu đầy đủ, sung mãn, viên mãn thì sẽ thành tựu được.
Tại sao mình thoát không ra được, viễn ly không được ngũ uẩn? Là vì mình chưa quán tận cùng, đầy đủ, viên mãn, trọn vẹn hết tất cả những khía cạnh nguy hiểm và tác hại của năm thủ uẩn, khổ đau của nó, tai hại mà nó đem lại mình chưa thấy đầy đủ. Vậy nên phần quán rất quan trọng, đừng để tâm đơ đơ, trơ trơ mà phải thường xuyên tác ý và quán chiếu.
Như Đức Thế Tôn đã nói, sự nguy hiểm của các dục, làm biết bao nhiêu nghề nghiệp, chống đỡ bao khó khăn, vất vả, nhọc nhằn, cực khổ, thậm chí mất mạng thì đó là cái thứ nhất để mình chiêm nghiệm. Đó là cái thứ nhất để mình chiêm nghiệm.
Giờ chúng ta nhìn ra để thấy rằng, lúc chưa dịch thì chạy xe ôm, xe taxi thức sáng đêm, làm bánh mì cũng vậy, phải thức trắng đêm, ngày ngủ ngày thức để chạy xe chỉ vì đồng tiền bát gạo mà người ta lại không than thở. Vì người ta chấp nhận chịu đựng, chịu khó. Những nghề như ngành điện lực, lúc trước có những thầy, chú đi làm thì biết nó nguy hiểm ra sao. Có những việc trong quân đội rất gian khổ, có những việc ảnh hưởng đến sau này không thể sinh con, phát ra những sóng gây vô sinh. Hay những hoàn cảnh phải đi làm thuê, làm mướn cho người khác, bị người đời nói nặng, ăn trên đầu trên cổ, ăn phải chan cơm với nước mắt. Dù là người hơn sáu, bảy mươi tuổi cũng phải đi làm phụ việc.
Ngay cả ở Mỹ, những Phật tử người Việt Nam họ gửi về cúng dường mà mình nghe thấy xót xa, lớn tuổi, đã già mà phải đi làm giữ trẻ, được cho chút tiền thì để dành để đem về cúng chùa. Những người làm tài xế chạy đường dài, đêm ngủ chỉ hai ba tiếng, người mua gánh bán bưng… Hay những người bác sĩ tuyến đầu chống dịch, những người bộ đội, có rất nhiều người bác sĩ, y tá bị nhiễm bệnh, hay người đang bị nhiễm cũng phải đi trị bệnh.
Làm thuê, vác mướn, bán hủ tíu gõ, bán vé số, rút hầm cầu, ống cống hay những người đem thể xác của mình để đi bán vì gia đình khổ, mẹ bệnh, cha mất sớm, bốn năm anh em đều nghèo khó, phải gồng gánh nuôi. Có những người làm nghề huấn luyện thú dữ, sinh nghề tử nghiệp, đi vào rừng tìm kiếm để bắt con này con kia, nhiều nghề nghe đến thật xót xa, nước mắt rưng rưng, rớm lệ.
Như khi Minh Thành đi trên đèo Bảo Lộc, có những chỗ dốc dựng đứng mà họ bò xuống để cắt những cái cây tre, chặt măng để đem đi bán, buộc ở phía sau được một bó tre và vài mục măng bán chẳng được bao nhiêu tiền nhưng họ đem cả mạng sống của họ để đánh đổi. Vì chỉ trượt chân thôi là thịt nát xương tan ở dốc dựng đứng đó. Có khi còn phải chịu nóng, chịu lạnh, chịu đói, chịu khát, chịu cực chịu khổ, thức khuya, dậy sớm, nguy hiểm, tai nạn, mà chưa chắc được đầy đủ hay có thể đủ ăn. Như chạy xe về tối bạn rủ nhậu thì hết tiền mà còn thiếu nợ, hết một ngày chạy xe ôm.
Còn những việc chúng ta quán chiếu để thấm thía được cuộc đời, như việc giữ xe chỉ năm ngàn, hai bên giữ xe giành khách với nhau, đánh lộn rồi cuối cùng đâm nhau chết chỉ vì năm ngàn đó. Mất một cuộc sống, sinh mạng chỉ vì vị ngọt năm ngàn.
Đó là sự nguy hiểm của các dục, sự nguy hiểm của lòng tham muốn, nó rõ ràng ở trước mắt, gọi là thiết thực hiện tại, thuộc về đau khổ, tất cả đó lấy dục làm nguyên nhân, lấy làm tham muốn, tham không được nên mới sân, sân nên mới đánh nhau, đâm nhau, rồi đi vào tù tội, tất cả chỉ vì cái muốn năm ngàn đó.
Nên chúng ta không có trí tuệ, không được tu tập hay nghe pháp, không được thực tập nên chúng ta thấy những cái chết rất oan uổng, lãng phí, phung phí cả đời sống và làm bao người phải đau khổ. Vì năm ngàn đó có đáng đánh đổi bằng sinh mạng? Nhưng đó không chỉ là một chuyện mà chúng ta hiểu ra được mười chuyện, trăm chuyện, ngàn chuyện khác. Có khi chẳng có gì, chỉ là nói qua nói lại thì sinh chuyện.
Cứ nỗ lực, cố gắng như vậy, dốc cả sức lực bình sinh để làm, cả đời quần quật mấy chục năm mà tài sản đó không đến được tay mình, vẫn không đủ ăn, không đủ xài, phải đi thuê mượn, vay nóng, sinh lời lãi, xã hội đen tới đòi, rượt đuổi, đâm chém. Chúng ta nên chiêm nghiệm ở thế gian, một khi vô minh, tham ái trong dục, không học pháp, không thấy biết được là nỗi khổ không thể nào diễn tả được.
“Này các Tỷ-kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: "Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả". Này các Tỷ-kheo, như vậy, là sự nguy hiểm các dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.
Cuối cùng chỉ là con số không. Bao nhiêu năm, mấy chục năm thì tay trắng vẫn hoàn tay trắng, nghèo khổ vẫn khổ, thiếu thốn vẫn là thiếu thốn. Suốt đời không có được nhà ở, phải ở gầm cầu, mái hiên, công viên, thậm chí ở trong ống cống. Đó là khi họ vất vả, cực khổ, nỗ lực, không phải là buông xuôi, nhưng vẫn như vậy.
Còn khi nỗ lực, cố gắng, có được tài sản, thấy có chút vị ngọt thì phải giữ gìn, lo lắng, bảo vệ, sợ hãi, ưu tư, làm sao để vua chúa đừng cướp đoạt, tịch thu. Nhiều khi làm rồi lại hối lộ, tham lam, gian lận thì chỉ tích tắc một đêm mở mắt dậy thì đã phải vào tù. Mất tất cả tài sản, mà tài sản đó từ việc tích góp của người khác rồi gom góp, chất chứa thì biết bao nhiêu là mưu mô, thủ đoạn, suy nghĩ, tính toán để lừa gạt người, cũng lao tâm, khổ tứ, nhọc nhằn chứ không là việc đơn giản. Nhưng rồi chỉ tích tắc là bị tịch thu hết, bị vào tù.
Như vậy thì mấy chục năm qua để gầy dựng lòng tham lam, tham muốn, thủ đoạn mưu mô, mưu sĩ, lừa gạt người ta, tất cả đã trở thành vô nghĩa. Không chỉ như vậy là yên, ngồi tù là xong, chung thân, tử hình là xong mà chết rồi phải xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đó là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, là tai hại của lòng tham muốn, tham vọng, là đau khổ ở ngay trước mắt, tất cả đều xuất phát từ lòng tham muốn, dục vọng, từ lòng mê tiền, bất chính.
Đây là trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác nhìn không sót được một cái gì, tất cả mọi góc cạnh, ngõ ngách, mọi hốc, xó, nhìn thấy tất cả mọi thứ bị che kín, trên cuộc đời này.
Suy nghĩ lo lắng làm sao để không bị trộm cướp. Đó là mối lo thứ hai. Như ngay cả thùng phước sương trong chùa mà còn bị đem đi, còn bị cạy, nại, câu đi nên là thần thánh còn không chừa huống chi là ở đời thường. Nhất là ở thời buổi khó khăn này, ngay cả thùng rác cũng bị mang đi, cây cảnh cũng mang đi, tấm sắt để lót dẫn xe lên nhà cũng bị lấy trộm. Dù là trái bơ, trái cà, hay túi thịt người đi chợ cũng lấy đi.
Qua đó chúng ta thấy được là: lòng tham, lòng dục của con người càng mạnh mẽ thì lòng dục càng lớn, ác nghiệp càng lớn thì càng tạo ra khổ đau khủng khiếp cho nhân loại.
Nếu không có thùng rác thì sẽ chết, không có trái bơ đó thì mình không thể đói mà mất mạng, không đến mức độ như vậy. Thì tại sao mình không làm gì chân chánh, mình chịu khó một chút để đi làm? Đó là do lòng dục, lòng tham của con người, là ác, không biết suy nghĩ đến người khác, chỉ biết thỏa mãn lòng tham muốn của mình, bất kể người ta tạo ra những ác nghiệp, cuối cùng thì nhận quả báo khổ. Họ nghĩ là lấy đồ là sướng nhưng thật ra là càng khổ thêm, đó là vô minh, họ không thấy, không biết nhân quả. Nghèo khổ và đi trộm cắp để khổ thêm, rơi vào vực sâu, đó là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, tai hại của lòng tham muốn, đau khổ ngay trước mắt có thể nhìn thấy được. Lòng tham muốn là nguyên nhân dẫn đến.
Sau đó, khi giàu, có tiền nhiều thì làm sao để lửa không bị đốt cháy, quả thì tới thăm chỉ tích tắc, nước cuốn, sóng thần cuốn trôi hàng mấy trăm ngàn người, nhà cửa, xóm làng đều bị tiêu tan hết, nhân mạng, xe cộ trôi lềnh bềnh như rác, đồ chơi. Cả dãy nhà bị động đất là sụp hết, còn chiến tranh, cả nhà đang ăn cơm bị lựu đạn rơi trúng thì cả nhà mất. Ví như chuyện một nhóm người đi du lịch ở Nha Trang, đang ngồi ăn phở, vách tường ngã xuống đè làm mấy người bị thương, mấy người chết. Chỉ là ngồi ăn phở thôi nên chúng ta thấy nó rất mong manh.
“Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng.”
Do nước cuốn trôi, lửa đốt cháy, kẻ thừa tự không xứng đáng, sợ cướp đoạt chúng nên lo, không biết những người này ra sao. Không biết khi để lại cho họ rồi họ sẽ làm cái gì, dù là gần chết cũng phải lo đó. Vậy nên có những người tỷ phú, triệu phú trên thế giới đem tiền đi từ thiện hết, không để lại cho con.
Chúng ta chiêm nghiệm nguy hiểm, tác hại của lòng tham muốn, mình chiêm nghiệm và ngấm vào những cảm thọ này, cảm xúc này làm sợ hãi, nhàm chán, xa lìa để giảm bớt sự tham dục, tham muốn, dục vọng, yêu thích đối với những thứ vô thường, khổ đau này, bất an, lo lắng, sợ hãi này là được. Vì ai cũng nghì là được giàu là sướng nhưng người ta không biết được nỗi khổ của người giàu. Nghĩ là họ đỡ khổ, không nghèo, không thiếu thôi nhưng họ khổ cái khác.
Đến sự tranh đoạt giữa vua với vua, quan với quan, mẹ con, anh chị em với nhau nên rất đau lòng, anh em như thủ túc tay chân nhưng huynh đệ tương tàn, vợ chồng không còn tình nghĩa. Dù là mẹ con, anh chị với nhau nhưng đụng đến lợi lộc, tiền bạc, đất đai, tài sản là thôi, chỉ tranh đoạt, cãi nhau, đánh nhau, chửi nhau đến nỗi kéo nhau ra tòa.
Tất cả những cái đó Đức Phật nói là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, trong bài Đại Kinh Khổ Uẩn:
“Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong.
…Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh”
Họ có được rồi thì tranh đoạt để có thêm nữa, muốn cho mình đứng đầu, muốn hơn người ta, không muốn thua. Tất cả là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, tai hại của lòng tham muốn, sự đau khổ mà lòng tham muốn gây ra, dục vọng gây ra, yêu thích tham muốn, cứ muốn thêm, muốn nữa, muốn nhiều thật nhiều… Đó là tranh đoạt, bắn nhau, giết nhau.
“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ dàn trận hai mặt, và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.”
Tất cả cũng là dục vọng gây ra những việc như vậy, thật là nguy hiểm và tai họa cho lòng tham muốn này, dục tham này.
“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ đột nhập nhà cửa, họ cướp giật đồ đạc, họ hành động như kẻ cướp, họ phục kích các đường lớn, họ đi đến vợ người.
Các vua chúa khi bắt được một người như vậy liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình... Hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa)... chúc thủ hình (đốt tay)... khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt)... bì y hình (lấy vỏ cây làm áo)... linh dương hình (hình phạt con dê núi)... câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt)... tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền)... khối trấp hình... chuyển hình... cao đạp đài... họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm của dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.”
Họ phải bị nhốt cả đời trong tù, cả đời sống trong hối hận, đau khổ, tiếc nuối, người ta kể lại những người ở tù mang án tử hình thì không đêm nào họ được ngủ yên giấc. Ngủ đến đêm mà nghe tiếng mở cửa là họ hoảng sợ, vì không biết ngày nào đến lượt mình, giật mình, kinh hãi. Họ phải sống trong sự sợ hãi, trong những cảm thọ thống khổ như vậy, lo lắng, sợ hãi, kinh hoàng, hoảng hốt như vậy đến suốt đời. Đến khi chết và sau khi chết, với những hành động ác, suy nghĩ ác, ác hạnh như vậy thì khi thân hoại mạng chung họ sẽ sanh vào cõi dữ, sanh vào đường ác, đọa xứ địa ngục.
“Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân.”
Đó là chúng ta quán sơ lượt về tính chất nguy hiểm và tác hại của lòng tham muốn.
“Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự xuất ly các dục?
Này các Tỷ-kheo, đây là sự điều phục dục tham đối với các dục, sự đoạn trừ dục tham, như vậy là sự xuất ly các dục.”
Tức là nhiếp phục, đoạn trừ dục tham, lòng tham muốn là sự xuất ly khỏi các dục. Và nhiếp phục, đoạn trừ ra sao? Chúng ta quán tứ đại, quán Bất Tịnh, quán Ba mươi hai thể trượt, quán Chín giai đoạn của một tử thi, quán sự nguy hại để nhàm chán, sợ hãi, lìa xa, quán nhân quả, tội lỗi mà nó đưa đến đau khổ, hậu quả mà mình phải gánh, sau khi mình đi theo nó. Quán như vậy để mình nhiếp phục được những tham muốn, suy nghĩ, cảm thọ, cảm xúc, tưởng tượng về cái tham muốn, được sự quán chiếu này nhiếp phục, dừng lại, ngưng lại, diệt trừ và đoạn tận.
“Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri vị ngọt các dục là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định sẽ không như thật tuệ tri các dục của họ, họ cũng không có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các dục, sự kiện như vậy không thể xảy ra.”
Ý nói nếu một người tu hành nào thật sự không biết bằng trí tuệ, sự nguy hiểm và tác hại là sự nguy hiểm, tác hại như vậy của dục. Người tu hành nào không biết được sự thoát ra, xuất ly là thoát ra, xuất ly như vậy, thì những vị này sẽ thật sự không biết được các dục ở trong họ, không biết được lòng tham muốn thật sự của họ.
Vậy nên có những người nói “Thưa thầy con đã hết tham, sân, si!” mà họ không biết, không nhận diện ngũ uẩn, không biết được trí tuệ về tham, sân, si, về dục ái thì làm sao biết được, chỉ biết được cái ngọn, cái hậu quả của nó đã rồi thì mình mới biết.
Vì vậy, người không thành tựu được trí huệ, về vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly thì người đó không thể biết được các dục thật sự của mình và họ cũng không thể nào giúp cho người khác biết được điều đó, không thể hướng dẫn, chỉ dẫn, dạy cho người khác biết được cái dục ở trong người kia như thế nào. Không thể biết được và xảy ra như vậy, dù họ có giúp cho người khác muốn biết được dục trong người của người kia vì chính họ không biết thì họ hướng dẫn người ta cũng không biết được.
Như giờ chúng ta không biết ngũ uẩn thì mình có hướng dẫn cho người ta biết được ngũ uẩn được không? Mình không biết cảm thọ tham, sân, si thì mình có hướng dẫn được cho người ta biết được tham, sân, si không?
“Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào như thật tuệ tri vị ngọt các dục là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định sẽ như thật tuệ tri các dục của họ, họ cũng có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các dục, sự kiện như vậy có xảy ra.”
(Bài Đại Kinh Khổ Uẩn – Trung Bộ Kinh)
Nghĩa là thật sự biết bằng trí tuệ về các dục thì có khả năng nhiếp phục, đoạn tận và thoát ra khỏi nó.
Hôm nay chúng ta đã thấy được vị tổng đạo diễn của thế giới này, người đứng đằng sau bức màn giấu mặt mà làm ra bao nhiêu sự đau khổ, tranh giành, cướp đoạt, tang thương trên cuộc đời này. Đó là dục, lòng tham muốn bên trong và năm đối tượng bên ngoài. Chúng ta biết được cái gì là trói buộc và cái gì bị trói buộc, cái gì sai khiến và cái gì bị sai khiến. Đó là trí tuệ của Đức Phật soi sáng cho chúng ta, lấy đó làm hành trang, ngọn đèn, lấy đó làm tự thân, thân tâm của mình, ngày đêm tinh cần tinh tấn trong thiện pháp, Thánh pháp.
Chúng ta học ở đây không phải là biết mà thành tựu được ngay mà phải mất nhiều thời gian, trong sự nỗ lực tinh cần, từng chút để dần dần đi đến chỗ có chân đứng trong pháp và luật, đi đến chỗ thể nhập trí tuệ mà Đức Phật đã truyền trao.
Hôm nay chúng ta đã chia sẻ vị ngọt, sự nguy hiểm, sự thoát ra cũng như kiết sử và các pháp bị kiết sử.
Phật tử trình pháp: 96:00-101:00
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính chúng ta. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này.
Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho chúng ta, lòng yêu thương tự thân chúng ta và yêu thương muôn loài.
Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.