Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng KOSALA 3 - Ai Thân Thương Nhất 2 - Tế Lễ Sao Cho Đúng Pháp

2026-03-03 00:52:45
Kinh Nikāya Giảng Giải

TƯƠNG ƯNG KOSALA 3

AI THÂN THƯƠNG NHẤT 2?

TẾ LỄ SAO CHO ĐÚNG PHÁP?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ai thân thương nhất? PAGEREF _Toc113978802 \h 1

II. Tâm từ - kham nhẫn PAGEREF _Toc113978803 \h 6

III. Tế lễ PAGEREF _Toc113978804 \h 8

I. Ai thân thương nhất?

Chúng ta nghe tiếp Tương Ưng Kosala – Đế Vương và Pháp Vương, những lời dạy của Đức Phật đối với vua Ba-tư-nặc.

"Tại Sàvatthi.

Lúc bấy giờ vua Pasenadi nước Kosala có mặt với hoàng hậu Mallikà, trên lầu thượng (hoàng cung).

Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với hoàng hậu Mallikà:

-- Này Mallikà, có ai khác thân ái với hoàng hậu hơn là tự ngã của hoàng hậu.

-- Thưa Ðại vương, không có ai khác thân ái với thiếp hơn là tự ngã của thiếp. Nhưng thưa Ðại vương, có ai khác thân ái với Ðại vương hơn là tự ngã của Ðại vương?

-- Này Mallikà, không có ai khác thân ái với ta hơn là tự ngã của ta.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước xuống lầu và đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi lên lầu thượng (của hoàng cung) với hoàng hậu Mallikà và con nói với hoàng hậu Mallikà:

'-- Này Mallikà, có ai khác thân ái với hoàng hậu hơn là tự ngã của hoàng hậu?'.

Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, hoàng hậu Mallikà trả lời với con:

'-- Thưa Ðại vương, không có ai khác thân ái với thiếp hơn là tự ngã của thiếp. Nhưng thưa Ðại vương, có ai khác thân ái với Ðại vương hơn là tự ngã của Ðại vương?'. Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời cho hoàng hậu Mallikà:

'-- Này Mallikà, không có ai khác thân ái với ta hơn là tự ngã của ta".

Rồi Thế Tôn, sau khi biết rõ ý nghĩa này, trong lúc ấy liền nói lên bài kệ này:

Tâm ta đi cùng khắp,

Tất cả mọi phương trời,

Cũng không tìm thấy được,

Ai thân hơn tự ngã.

Tự ngã đối mọi người,

Quá thân ái như vậy.

Vậy ai yêu tự ngã,

Chớ hại tự ngã người".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Mallikà: Mạt-lỵ)

Chính cái tự ngã của mình là cái thân thương nhất đối với mình, nhà vua là bậc Thánh đệ tử đã chiêm nghiệm ra những pháp nghĩa rất độc đáo, nhà vua là người hưởng được dục lạc tối thượng của nhân gian nhưng những gì ngài nhìn ra, ngài chiêm nghiệm đều là pháp, liên hệ với pháp, đúng với pháp cho nên khi ngài trình lên đều được Đức Phật xác chứng.

Khi nhà vua và hoàng hậu ở trên lầu thượng của hoàng cung thì ngài bất chợ hỏi hoàng hậu "có ai khác thân yêu với hoàng hậu hơn chính hoàng hậu không?", "có người nào khác thân yêu với hậu hơn chính bản thân hậu không?", hoàng hậu trả lời không có bất cứ ai thân với thần thiếp hơn chính bản thân thần thiếp, rồi hoàng hậu cũng hỏi lại "có ai khác thân yêu Đại vương hơn chính Đại vương không?", nhà vua cũng trả lời không có ai thân yêu với mình hơn chính bản thân mình, mình là người thân ái, thân thương, thân yêu với mình nhất.

Sau đây chúng ta sẽ thấy tinh thần học đạo của nhà vua, ngài là bậc cửu ngũ chí tôn nhưng ngài vẫn không quyết đoán, võ đoán cho rằng suy nghĩ của mình là đúng mà ngài đi đến trình lên Phật, như vậy mới là đệ tử Phật, còn mình bây giờ chỉ mới học được chút ít, hiểu được chút ít pháp là nói huyên thuyên không cần hỏi lại thầy, sư huynh hoặc bậc thiện tri thức gì nữa cho nên cái học của mình bị nông cạn, trí tuệ của mình là trí tuệ bắp vế, mình phải trình lên những sự thấy biết của mình, đó cũng là lý do tại sao phải trình pháp.

Khi trình pháp phải nói chân thành chứ không cần nói văn chương, dông dài, phải nói thật, một bậc đế vương vua chúa chỉ nói chuyện bàn luận nhưng ngài chưa kết luận vội mà đi đến Thế Tôn trình lên để nhận sự chỉ dạy từ nơi bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, sau đó Thế Tôn nói lên bài kệ kết thúc bài kinh. Có nhiều người than khóc, buồn bã, chán nản vì nghĩ bản thân đã chăm lo, săn sóc, quan tâm cho nhiều người nhưng đổi lại không ai quan tâm, chăm sóc cho họ, nếu thật sự mình có quan tâm, chăm sóc thật nhưng nếu nghĩ như vậy sẽ dễ bị phiền não rồi trách móc "tại sao tôi biết nghĩ cho người ta mà không ai biết nghĩ cho tôi hết vậy?" hoặc là "sao không ai hiểu cho tôi hết vậy?", cái này thuộc về trí tuệ chấp ngã nên rất sâu sắc.

Vợ chồng ở mấy chục năm thương yêu, lo lắng vậy mà chỉ cần người này làm trái ý người kia thôi là xảy ra cự cãi, nếu người kia làm đúng ý mình thì mình thương, mình thích, còn làm trái ý thì cái thương đổi thành ghét, yêu thành hận, thân đổi thành thù, đối với bạn bè, anh chị em cũng vậy, mình thương họ vì họ làm những điều thuận theo cái ái của mình, còn làm nghịch cái ái là mình giận. Như vậy mình thương họ hay thương theo cái ái của mình? Chỉ có nhận diện ngũ uẩn mới thấy được những cái này, nếu không nhận diện chỉ thấy phớt bên ngoài thôi.

Vị sếp đó có một người lính ruột nói gì nghe đó, nhưng nếu có một ngày nói nghịch ý sếp thì lúc đó còn thương nữa không hay cho nghỉ việc luôn? Vậy đó là cái thương thuận theo ý thích, chiều theo cái ái. Trong mối quan hệ mẹ con cũng vậy, đứa con nào nói thật, thẳng thắn thì không thương, đứa nào nói ngon ngọt lại thương, có bao nhiêu tiền cho đứa con đó hết. Như vậy mình thương đứa con nói ngon ngọt hay thương cái ái của chính mình?

Mình cứ nghĩ người này người nọ giúp mình nhưng thực tế là thiện nghiệp đang giúp mình, còn giờ mình nghĩ là mình thương người này người kia nhưng thực sự là mình đang thương cái tự ngã chính mình, những điều này khi thiền quán sẽ thấy rất thâm sâu, nếu không nhận diện ngũ uẩn, không thiền tập sâu sắc để nhìn vào nội tâm sẽ không thấy được điều này, mình cứ nói thương người này người kia nhưng nguồn gốc thật sự của cái thương đó là thương chính mình, thương tự ngã của mình.

Sư huynh, sư tỉ nói đúng, chỉ cho mình thấy chỗ chưa đúng, cần phải sửa thì mình buồn, không giận nhưng hờn mác, về sau thấy là tránh né chứ không muốn lại gần nữa vì bị nói chạm vào tự ngã, mình nghĩ là mình buồn, mình hờn người này người nọ nhưng thực ra là mình đang bảo vệ tự ngã của mình, không ai được chạm vào cái tôi của mình, "không ai được phép đụng tới tôi", đó là tự ái, nhưng tự ái là từ dùng cho ngoài đời còn nghĩa trong kinh Nikāya rất sâu, đó là sự yêu thương chính bản thân mình, yêu thương cái tôi, cái ta, cái bản ngã của mình. Vợ chồng giận nhau cũng vì vậy, cha mẹ, anh em buồn phiền nhau cũng vì vậy, huynh đệ, thầy trò hờn mác nhau cũng vì vậy, đó là lý do Thế Tôn nói bài kệ:

"Tâm ta đi cùng khắp,

Tất cả mọi phương trời,

Cũng không tìm thấy được,

Ai thân hơn tự ngã".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Mallikà: Mạt-lỵ)

Mình biết sư huynh, sư tỉ nói điều đó là đúng nhưng mình vẫn buồn, không chấp nhận, không muốn gần gũi nữa vì tự ái. Mình nuôi lớn tự ái, thân ái đối với tự ngã, mình nuôi lớn cái tôi, mình chiều chuộng, dỗ dành rồi cuối cùng cả đời tu gắn với hai chữ "tự ái", nuôi lớn tham ái đối với tự ngã làm mất cơ hội thành tựu trí tuệ nhìn thấy tự ngã. Vô minh và tham ái dính vào nhau, tức là không hiểu biết chính mình rồi nuôi lớn sự yêu thương trong sai lầm, không thấy không biết rồi yêu mến cảm thọ đó thì đó là vô minh và tham ái đối với tự ngã, ai nói chạm tự ái là không đồng ý rồi dọn ra riêng làm sụp đổ hết sự nghiệp, đạo hạnh của đời tu chỉ với hai chữ "tự ái".

Trên đời này không ai có bản ngã bằng bản ngã của ông vua nhưng ở đây nhà vua là đệ tử của Đức Thế Tôn, chỉ bàn luận một chuyện nhỏ với hoàng hậu thôi nhưng vẫn đem lên trình lại với Đức Phật để hỏi có đúng không, đó mới là tinh thần học đạo của Đế vương. Có khi nào hai huynh đệ, tỉ muội bàn luận pháp với nhau rồi đem lên hỏi sư phụ điều này nói như vậy có đúng không hoặc là bàn xong rồi về đối chiếu đoạn kinh hay bàn xong là nghĩ rằng mình nói đúng không cần hỏi, không cần kiểm tra lại gì nữa?

Mình rất thích thọ; tưởng; hành của mình, mình yêu thương, nâng niu, chiều chuộng như con mèo con, khi học sâu vào kinh thì những cái tự ngã của mình không chấp nhận pháp, "tu vừa vừa thôi, tu tới đây thôi, mấy cái kia sâu lắm", "chừng nào già hãy buông xả ngũ uẩn, giờ còn trẻ thì buông làm gì", đó là cái ái về tự ngã mà gọi đơn giản là tự ái, nó chống đối pháp, để pháp là pháp, bản thân là bản thân chứ không muốn thọ nhận pháp, chỉ học rồi để đó chứ không muốn trì pháp, không giữ gìn pháp.

Có nhiều cách thọ nhận, thứ nhất là thọ nhập pháp nhưng không cất giữ, thứ hai là thọ nhận pháp nhưng cất giữ, bảo vệ, trân quý, mình không thăng tiến mạnh mẽ và không thể nhập sâu sắc vào pháp là tại vì có những pháp mà tự ngã trong tâm không chấp nhận, nghĩ rằng bất tịnh ghê quá, chỉ toàn tim, gan, phèo, phổi… sợ quá nên bỏ qua, hoặc có trường hợp nghe hiểu rồi để đó chứ không thực hành, những cái này đều do tự ngã nuông chiều theo tham ái, theo vị ngọt của tham, của dục, của ái, vị ngọt của yêu thương chính mình, cho nên mới có câu "thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi", thương phải cho roi cho vọt đối với tự ngã này, phải quở trách tâm khi thấy sai, nhìn bên ngoài thấy hiền nhưng chạm vào mới biết, trong tâm là một cảm thọ sôi sục, như vậy mới phải tu tập.

"Tự ngã đối mọi người,

Quá thân ái như vậy.

Vậy ai yêu tự ngã,

Chớ hại tự ngã người".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, VIII. Mallikà: Mạt-lỵ)

Mình thương yêu chính mình thì mình đừng hại người khác vì người khác cũng yêu thương chính bản thân họ, ở đây là đang tu tâm bất hại, tức là tâm bi, đó là lý do mình thực tập bi vô lượng tâm, thực tập cái tâm không bao giờ muốn hại người khác. Mình nghĩ rằng bản thân không bao giờ muốn hại ai nhưng chưa chắc, phải đụng chuyện mới biết được, cho nên phải thực tập tâm bi, chỉ cần bị muỗi chích là đã bực mình muốn đập chết nó, vậy là tâm hại sanh khởi, hoặc là đang ngủ mà con chuột phá phách lung tung thế là thức dậy thì rồi đập chết nó, tâm hại bên trong vẫn còn cho nên phải tinh cần, tinh tấn, siêng năng tu tâm bi, không phải một vài lần, không phải tu vài chục lần cũng không phải tu ngàn lần mà phải tu vô lượng vô số lần cho đến chết để nhiếp phục và diệt tận tâm hại, tâm ác ý, nó nằm yên nhưng đúng thời, đúng duyên sẽ thức dậy rồi tạo nghiệp vì thế cần nhiếp phục và diệt tận tâm hại đó luôn thì vĩnh viễn không rơi vào ba đường ác, nếu còn tâm ác ý đó thì còn khả năng rơi vào ba đường ác, điều đó chắc chắn xảy ra.

Đức Phật khuyên răn chúng sanh phải tu tập tâm bi là nhằm nhiếp phục và diệt tận tâm hại, đừng nói gì người lạ ngoài đường mà ngay cả người thân trong nhà khi làm mình bực mình, sân giận lên thì có thể mình cũng muốn làm hại đến họ, ngay cả cha mẹ sanh thành dưỡng dục vẫn bị giết hại như thường, thật là khủng khiếp. Khi còn những suy nghĩ muốn hại người khác chưa được diệt tận sẽ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là chắc chắn xảy ra vì thế cần cẩn thận đối với tâm hại đó, mình tu ở rất nhiều khía cạnh chứ không phải chỉ tu một pháp, nhận diện ngũ uẩn là một pháp nhưng khi nhận diện sẽ có rất nhiều loại lậu hoặc khác nhau, sẽ có từng pháp tương thích với mỗi loại lậu hoặc đó và mình phải tác ý, tu tập với những pháp này.

II. Tâm từ - kham nhẫn

Tâm từ là tâm tha thứ, thương yêu lan tỏa ra, tâm bi là tâm xót thương bên trong và diệt tận ý hại không cho nó hiện hữu nữa, giống như con bò bị cưa sừng không còn làm hại ai được nữa, đó là lúc tâm bi thành tựu nghĩa là không còn vũ khí có thể hại được ai nữa, không còn những yếu tố có thể làm hại người khác được nữa, cũng vậy, ác tâm là từ sự ác ý sanh khởi ra rồi mới làm hại người khác, bây giờ nhiếp phục và diệt tận ý đó sẽ như con bò bị cưa sừng, khi học bài đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất là trong đó có tâm hiền, tâm bi, tâm xả, quán bất tịnh, phá bản ngã… có rất nhiều pháp trong đó, cho nên phải nhìn thấy, nhiếp phục, tác ý, tẩy sạch, diệt tận tâm hại, làm được sẽ rất tuyệt vời, không còn rơi vào ba đường ác nữa dù xảy ra bất cứ chuyện gì. Các vị Thánh Tăng thời xưa bị ném đá, đánh đập làm chảy máu, bị sỉ nhục nhưng vẫn không khởi tâm hại vì họ đã thành tựu bi vô lượng tâm, từ vô lượng tâm, tâm hại đã hoàn toàn bị diệt tận.

"Rồi Tôn giả Angulimala buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để khất thực. Lúc bấy giờ, một cục đất do một người ném, rơi trên thân Tôn giả Angulimala, rồi một cây gậy do một người khác quăng, rơi trên thân Tôn giả Angulimala, rồi một hòn sỏi do một người khác quăng, rơi trên thân Tôn giả Angulimala. Rồi Tôn giả Angulimala bị lỗ đầu, chảy máu, bình bát bị bể, ngoại y bị rách, đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy Tôn giả Angulimala từ xa đi đến, thấy vậy, liền nói với Tôn giả Angulimala: 'Hãy kham nhẫn, này Bà-la-môn ! Hãy kham nhẫn, này Bà-la-môn ! Ông đang gặt hái ngay trong hiện tại quả báo của nghiệp mà đáng lẽ Ông phải chịu nấu sôi ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm'. Rồi Tôn giả Angulimala sống độc cư, Thiền tịnh, cảm thọ được giải thoát lạc".

(Trung Bộ Kinh, 86. Kinh Angulimala)

Khi ngài Angulimala đi khất thực thấy một phụ nữ sanh đẻ khó khăn, ngài không biết làm thế nào nên đã về bạch lại với Đức Phật.

"Rồi Tôn giả Angulimala, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Savatthi để khất thực. Trong khi đi khất thực từng nhà một ở Savatthi, Tôn giả Angulimala thấy một người đàn bà đang sanh đẻ, rất là nguy kịch và đau đớn. Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ: 'Thật đau khổ thay các chúng sanh ! Thật đau khổ thay các chúng sanh!". Rồi Tôn giả Angulimala, sau khi đi khất thực ở Savatthi, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Angulimala bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, ở đây, con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào thành Savatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, trong khi đi khất thực từng nhà một ở Savatthi, con thấy một người đàn bà đang sanh đẻ, rất là nguy kịch, đau đớn. Thấy vậy, con suy nghĩ: 'Thật đau khổ thay các chúng sanh ! Thật đau khổ thay các chúng sanh!'

– Này Angulimala, Ông hãy đi đến Savatthi, sau khi đến, nói với người đàn bà ấy như sau: 'Này Bà chị, vì rằng tôi từ khi sanh ra chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh, mong rằng với sự thật ấy, bà được an toàn, và sanh đẻ được an toàn!'

– Bạch Thế Tôn, nếu làm vậy, thời con là cố ý nói láo. Bạch Thế Tôn, con đã cố ý giết hại mạng sống rất nhiều chúng sanh rồi.

– Vậy thì, này Angulimala, Ông hãy đi đến Savatthi, sau khi đến hãy nói với người đàn bà ấy như sau: 'Này Bà chị, vì rằng tôi từ khi được Thánh sanh đến nay chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh, mong rằng với sự thật ấy, bà được an toàn và sanh đẻ được an toàn!'

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Angulimala, sau khi vâng đáp Thế Tôn, đi đến Savatthi, sau khi đến nói với người đàn bà ấy như sau: 'Thưa Bà chị, vì rằng tôi từ khi được Thánh sanh đến nay chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sanh, mong rằng với sự thật ấy, bà được an toàn, và sanh đẻ được an toàn!'. Và người đàn bà được an toàn, sanh đẻ được an toàn. Rồi Tôn giả Angulimala, sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và không bao lâu sau, tự thân chứng ngộ với thắng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, từ nay không còn trở lui đời này nữa'. Vị ấy biết như vậy. Và như vậy, Tôn giả Angulimala trở thành một vị A-la-hán nữa".

(Trung Bộ Kinh, 86. Kinh Angulimala)

Khi ngài bị dân chúng ném đá chảy máu thì ngài chấp nhận vì ngài biết đó là nhân quả của mình, phải đền trả và không có tâm oán hận. Khi thiếu nợ bị chủ nợ đòi phải đem tiền ra trả và cảm ơn, nghĩa là không những trả nợ mà cần phải cảm ơn, điều này đối với bậc Thánh là bình thường còn chúng sanh lại nghĩ bất thường. Các ngài thấy biết rằng chủ nợ đến đòi thì phải trả, mượn bao nhiêu trả bấy nhiêu và gửi thêm lời cám ơn, còn bị đòi nợ chẳng những không trả lại còn đánh người ta mới là bất thường, đối với ngài Angulimala lúc trước đã mượn nợ, lúc trước ngài là một "tên cướp tên Angulimala, là tên thợ săn, bàn tay vấy máu, sát hại, bạo tàn, không có lòng từ mẫn đối với chúng sanh. Do vì nó, các làng trở thành không làng, thị trấn trở thành không thị trấn, quốc độ trở thành không quốc độ. Do nó luôn luôn giết người, nó mang một vòng hoa làm bằng ngón tay người" (Trung Bộ Kinh, 86. Kinh Angulimala).

Sau này mọi người đến đòi những nợ cũ ngài gây ra trong quá khứ và ngài biết phải trả nợ nên ngài điềm nhiên, không có ý ác hại, trả đũa lại, còn mình không biết ai là chủ nợ, ai là con nợ, người ta đến đòi nợ là mình đánh, mình chửi lại, như vậy tâm của mình bất bình thường. Ai cũng yêu thương chính bản thân họ, ai cũng thân thương với chính bản thân họ nên mình đừng làm hại, đừng làm khổ những người khác, biết được điều này trong gia đình sống hòa thuận, ấm êm, đạo tràng được bình an, huynh đệ sống bình lặng. Mình không thích ai nói nặng mình thì mình đừng nói nặng bất kì ai, mình không thích ai nói lời ác với mình thì mình đừng nói lời ác với người ta, mình không thích ai chửi mình nên cũng đừng chửi người ta, mình không thích ai đánh mình nên mình đừng đánh một ai.

III. Tế lễ

"Tại Sàvatthi.

Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala tổ chức một đại tế đàn. Năm trăm con bò đực, năm trăm con bò con đực, năm trăm con bò con cái, năm trăm con dê, và năm trăm con cừu (urabbha) được dắt đến trụ tế lễ để làm lễ tế đàn.

Và có những người nô tỳ, hay những người phục dịch, hay những người lao động, bị hình phạt thúc đẩy, bị sợ hãi thúc đẩy,với nước mắt đầy mặt, than khóc và làm các công việc chuẩn bị cho lễ tế đàn.

Rồi rất nhiều Tỳ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào Sàvatthi để khất thực; khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala tổ chức một đại lễ tế đàn. Năm trăm con bò đực, năm trăm con bò con đực, năm trăm con bò con cái, năm trăm con dê, năm trăm con cừu được dắt đến trụ tế lễ để làm lễ tế đàn. Và có những người nô tỳ, hay những người phục dịch, hay những người lao công, bị hình phạt thúc đẩy, bị sợ hãi thúc đẩy, với nước mắt đầy mặt và than khóc, làm các công việc chuẩn bị cho lễ tế đàn.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên bài kệ:

Lễ cúng ngựa, cúng người,

Quăng cọc, rượu chiến thắng,

Không chốt cửa, đại lễ,

Chúng không phải quả lớn.

Chỗ nào có giết hại,

Dê, cừu và trâu bò,

Lễ tế đàn như vậy,

Bậc Ðại Thánh không đi.

Tế đàn không rộn ràng,

Cúng dường được thường hằng,

Không có sự giết hại,

Dê, cừu và trâu bò,

Lễ tế đàn như vậy,

Bậc Ðại Thánh sẽ đi.

Bậc trí tế như vậy,

Tế đàn vậy, quả lớn.

Ai tế lễ như vậy,

Chỉ tốt hơn, không xấu,

Là tế đàn vĩ đại,

Ðược chư Thiên hoan hỉ". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, IX. Tế Ðàn)

"Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala đang bắt trói một số đông người. Một số người bị trói bằng dây, một số người bị trói bằng dây chuyền, một số người bị trói bằng kềm kẹp.

Rồi một số đông Tỳ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Ði khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, họ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala bắt trói một số đông người. Một số người bị trói bằng dây, một số người bị trói bằng dây chuyền, một số người bị trói bằng kềm kẹp.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên bài kệ:

Bậc có trí nói rằng

Trói vậy không vững chắc,

Trói bằng sắt, dây gai,

Kềm kẹp bằng gỗ mộc;

Ðam mê các dục lạc,

Với châu báu, trang sức,

Và tâm tư tưởng vọng,

Hướng về con, về vợ.

Bậc có trí nói rằng

Trói vậy thật vững chắc.

Dầu trói buộc trì xuống,

Tế nhị và khó thoát,

Các vị chơn xuất gia,

Cắt đứt chúng làm đôi,

Không ước vọng mong cầu,

Từ bỏ mọi dục lạc".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, X. Triền Phược)

Vua Ba-tư-nặc tổ chức một buổi đại tế đàn gồm 2500 con bò, dê, cừu. Ngày xưa mê tín rất nhiều, có những buổi lễ tế sống con người hoặc tế sống con vật, người ta tin tưởng tế lên thần như vậy sẽ được bình an, tai qua nạn khỏi. Khi các vị Tỳ-kheo đi khất thực ngang qua buổi lễ thấy buổi lễ như vậy nên về bạch lại với Đức Phật trong buổi lễ có cả ngàn con vật bị đem tế lễ, có nhiều người nô tì phục dịch trong sự sợ hãi, thống khổ, than khóc để hoàn thành buổi lễ. Thế Tôn nghe được đã nói những buổi lễ như vậy không có lợi ích lớn, không có quả báo lớn và những bậc Thánh không đi đến những nơi có sự giết hại, sát sanh. Lễ tế đàn không rộn ràng, cúng dường được thường hằng và không có sự giết hại thì bậc Thánh sẽ đi, trên núi mình cúng rất đơn sơ vì nghe theo lời Phật dạy.

"Này Ananda, nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy".

(Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Đây là một phương diện mà mình cần thành tựu, nhất là các Phật tử cần hiểu được điều này, ví dụ trong buổi lễ cúng giỗ người thân mình qua đời thì mình phải hiểu nguyên nhân tại sao mình làm buổi lễ đó, làm buổi lễ đó với mục đích gì, không phải thấy người ta làm sao rồi mình cũng làm giống vậy, không phải thấy người ta đánh trống là mình đánh trống, thấy người ta thổi kèn là mình thổi kèn, thậm chí thuê người về khóc mướn, rồi ca hát, trong mỗi một việc làm đều phải thành tựu trí huệ chứ không phải người ta làm sao thì mình làm như vậy. Khi tưởng niệm người mẹ đã mất của mình phải cố gắng làm giống như lời Đức Phật đã dạy.

"Tế đàn không rộn ràng,

Cúng dường được thường hằng,

Không có sự giết hại",

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, IX. Tế Ðàn)

Nếu chúng ta không biết pháp, không nghe lời Đức Phật dạy thì mình cứ nghĩ rằng mình thương người thân, mình cúng cho người thân nhưng mình đang hại người thân bằng việc giết heo, giết gà vịt rồi ăn nhậu, sát hại chúng sanh, họ đang gánh một cái gánh rất nặng rồi mình lại còn chất đá lên thêm nữa vậy mà mình lại nói thương người thân. Cả một cuộc đời của họ mang biết bao ác nghiệp về sát sanh, bây giờ họ nhắm mắt mình lại giết heo, gà, vịt, cá… để đãi xóm làng ăn nhậu, ca hát, như vậy người thân thương của mình đã gánh một cái gánh nặng của ác nghiệp rồi giờ mình giết hại những con vật đó cúng đám cho họ thì mình lại chất đá lên thêm trong cái gánh của họ để họ oằn vai, ngã quỵ, vậy mà mình nói là mình thương họ cho nên cái thương của mình là thương trong sự không hiểu biết, thương trong si ám, thương trong vô minh nhưng cái thương này đang tồn tại khắp cả thế giới.

Bất cứ chuyện gì được trình lên Đức Phật thì chúng ta sẽ được nghe một trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác soi chiếu về câu chuyện đó, sẽ có thêm một pháp cho chúng ta học tập, trong mỗi một việc như vậy thì chúng ta sẽ thấy một hào quang của Chánh Đẳng Chánh Giác soi chiếu vào câu chuyện đó để chúng ta biết rồi học theo, sau đó là hướng dẫn người khác làm theo. Các quý thầy của chúng ta thường hay đi tụng đám, cúng đám thì quý thầy cần biết phải cúng như thế nào để đem lại lợi lạc cho người còn kẻ mất, âm dương đều lưỡng lợi, khi mẹ Minh Thành mất thì Minh Thành đã làm theo những gì Đức Phật dạy, cần phải nhắc cho người đó chánh niệm, đừng quên ngũ uẩn vô thường, thân xác tan rã hoại diệt để tâm người đó tháo gỡ bớt sự luyến ái về tài sản, người thân, thể xác, ác nghiệp, làm cho họ phát khởi lòng tin đối với diệu pháp.

Khi Minh Thành biết tin thầy thuốc nói mẹ chỉ còn một tháng nữa là từ trần nên trước đó Minh Thành giảng pháp liên tục để hồi hướng công đức cho mẹ, khuyến khích nhắc nhở bà trải tâm từ, nghe pháp và báo cho bà biết trước thời điểm bà ra đi để bà xả bỏ những tình thân luyến ái, mỗi khi bà đau đớn không sân hận mà trải rộng tâm từ, nghe tâm từ để làm lắng dịu những cảm giác đau đớn, từ bỏ hết các luyến ái, trước khi bà ra đi Minh Thành nhắc nhở bà buông xả, từ bỏ, khi làm lễ cho bà thì trang nghiêm, thanh tịnh, đơn sơ, không rộn ràng. Điều quan trọng là người sắp mất nhớ được pháp, phải tác ý cho người đó nhớ được về chánh pháp, về vô thường, khổ, vô ngã để xả bỏ tình luyến ái, thứ hai là người thân trong gia đình phải nén bớt lại sự đau thương, luyến ái, giúp cho người thân thấy được thực trạng của đời sống đau khổ, bệnh hoạn, chết chóc, chia ly này để ngay đó họ thấy được thực tướng, chân tướng, bản chất cuộc đời này là đau khổ, đau khổ, tan hoại, trống không.

"Lễ tế đàn như vậy,

Bậc Ðại Thánh sẽ đi.

Bậc trí tế như vậy,

Tế đàn vậy, quả lớn.

Ai tế lễ như vậy,

Chỉ tốt hơn, không xấu,

Là tế đàn vĩ đại,

Ðược chư Thiên hoan hỉ".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, IX. Tế Ðàn)

Cúng như vậy, tế đàn như vậy cả người sống lẫn người mất đều có lợi. Tự thân người khuyến khích làm như vậy trú trong pháp, người sắp sửa ra đi được nhắc nhở pháp, người thân quyến thuộc xung quanh được làm cho sanh khởi lên những cảm giác về sự thật của pháp, thậm chí những người đến sự được thấm nhuần trong ánh sáng của tuệ giác khi được nghe những lợi dạy nguyên chất của Đức Phật như bài kinh Vô thường, Năm sự kiện cần quán sát, mình tuyên dương những đức hạnh của người đã mất, điều này làm họ có sự hoan hỉ, những người dự buổi lễ sẽ thấy dương thiện tức là khi nghe tán dương công đức thì họ sẽ thấy hân hoan, hoan hỉ với thiện pháp nên khi về nhà họ sẽ cố gắng làm theo.

Buổi lễ diễn ra trong sự cung kính, trang nghiêm, tri ân, cảm ơn, nhớ ơn, biết ơn và làm mọi thứ để đền ơn, đó là ý nghĩa của buổi lễ, trong buổi lễ tưởng niệm mẹ mình thì những câu từ, lời pháp trong đó là tuyên dương công ơn của cha mẹ, kế đó là nói đến trách nhiệm, bổn phận của người con, sau đó nhắc lại những lời Thánh pháp để khuyên mọi người tu tập, làm như vậy âm dương đều lưỡng lợi, những người thân gia đều xúc động, như vậy là lễ đàn vĩ đại được chư thiên hoan hỉ vì khi đó tuyên dương Thánh pháp mà chỗ nào có Thánh được thì chỗ đó được chư thiên, Thánh đệ tử thiên, các vị thiện thiên, thiện thần sẽ đến đó, Thánh pháp của Đức Phật không phải là điều bình thường, nơi nào có Thánh pháp nơi đó sẽ rực sáng cả một vùng trời, các chư thiên sẽ đến đó để lắng nghe pháp, học pháp. Điều quan trọng Đức Phật dạy mà các Phật tử cần nhớ là không có sự giết hại trong lễ tế đàn, không có sát sanh trong những ngày tế lễ đó, trong bất kì buổi lễ nào của Linh Quy cũng đọc lại Thánh pháp, cũng nhắc nhở lại sự thật, lễ nào cũng phải thấy cái vô thường, khổ, vô ngã và sự cúng dường tối thượng trong tất cả sự cúng dường chính là thực hành pháp, là sự chia sẻ pháp, truyền bá pháp, là sự lưu bố Thánh pháp rộng khắp mọi nơi, đó là sự cúng dường tối thượng, vĩ đại cho nên trong từng sự việc đều được Thế Tôn cho mình thấy trí tuệ về sự việc đó.

Kính chúc chư Tăng Ni và quý Phật tử thắp sáng ngọn đèn hiếu hạnh đối với đấng song thân trong sự tu học chánh pháp giải thoát.

./.