Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 18

2026-03-03 00:52:11
Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 18

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Diệt đế PAGEREF _Toc201569758 \h 1

II. Ba hạng người PAGEREF _Toc201569759 \h 6

III. Sống đời chân chánh PAGEREF _Toc201569760 \h 7

IV. Cày ruộng trong Chánh Pháp PAGEREF _Toc201569761 \h 9

V. Chánh Tinh Tấn PAGEREF _Toc201569762 \h 13

VI. Bát Chánh Đạo PAGEREF _Toc201569763 \h 17

I. Diệt đế

Về vấn đề Diệt Đế không phải là bốn đôi tám chúng, đó là tiêu diệt hết tất cả những cái tham, sân, si, dục ái, nhiều khi mình học mà không hiểu chữ Diệt đó, Diệt đó là tận diệt, là tiêu diệt hoàn toàn nguyên nhân của khổ, diệt hết tất cả những dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã đối với ngũ uẩn. Vì diệt hết cho nên cái tâm tịch tịnh, tâm tịch tịnh đó là Niết-bàn cho nên Diệt Đế là Niết-bàn, kết cuộc của người tu mình là chấm dứt hoàn toàn, diệt tận hết tất cả những dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã chứ không phải kết quả người tu mình là "được", mà là sạch hết những cái cấu uế, uế nhiễm của tâm, là "hết" chứ không phải là "được".

Chữ diệt rất quan trọng, Đức Phật thường nói "thắng trí, đoạn diệt". Diệt ở đây không có nghĩa là hết trơn, không còn cái gì nữa, không phải là của đoạn kiến, chấp đoạn, chữ đoạn diệt ở đây là đoạn diệt hết tất cả những cái gì làm cho mình khổ. Đó là sự đoạn diệt của bậc thánh, còn gọi là Diệt Thánh Đế. Thế nào là tám điều chân chánh mà một người tu cần phải biết, cần phải học tập, thực hành thì mới được gọi là một người tu chân chánh, chân tu? Người tu chân chánh nào cũng cần phải có sự thấy biết đúng, thấy biết rõ ràng, thấy biết chân chánh về thân tâm và thế giới, người này cần có thấy biết rõ những sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang hoạt động thế nào trong thân tâm, chúng đàn áp, áp bức, khống chế thân tâm như thế nào, vị này cần thấy biết rõ những cặn bã, những rác bẩn, những cấu uế, lậu hoặc đang có mặt trong ngũ uẩn trong tự thân. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có thấy đúng của bậc thánh, chánh tri kiến.

Mình có cần phải thấy biết rõ về thân tâm của mình không? Rất cần, cái đó là điều nhất định là phải có của một người tu, mình không biết mình thì làm sao mà mình sửa mình? Làm sao làm cho mình hoàn thiện? Làm sao trở thành một người tu chân chánh? Mình không biết mình, không rõ mình, không thấy được ở bên trong mình là cái gì thì làm sao mình làm cho mình trong sạch được? Cho nên cái thấy đúng của chánh tri kiến là không phải thấy ở bên ngoài, không phải mình ngồi mình kể chiếc lá là cả mây trời, non nước, mà là thấy được ở bên trong thọ; tưởng; hành; thức; sắc thân của mình gồm có cái gì, nó đang hoạt động như thế nào, mình phải chịu sự áp bức, khống chế, thống trị của nó như thế nào, mình bị nó xâm chiếm, áp đảo mình như thế nào, nó hành hạ, nó đày đọa, nó đè đầu đè cổ mình như thế nào.

Khi cái dục khởi lên thì mình như thế nào, cái sân sanh khởi lên mình thế nào, cái bản ngã áp đảo thì lúc đó mình thế nào. Mình phải thấy, phải biết, còn không thấy, không biết thì làm sao đi đến nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch được cho nên những vị này cần thấy biết những rác bẩn, cấu uế, lậu hoặc đang có mặt trong ngũ uẩn tự thân. Thành ra thấy đúng là thấy được thân tâm của mình một cách chính xác, xác quyết, minh minh bạch bạch, tỏ tỏ tường tường, trong trong sáng sáng, đó là thấy đúng của người tu. Khi con mắt nhìn thấy cái đẹp trong lòng mình như thế nào, có ham, có thích, có khoái, có muốn, có chạy theo không. Khi mình tiếp xúc một cái mà bực bội, khó chịu, nó chạm đến cái tự ngã của mình thì lúc đó mình có sân hận không, có bị bức xúc không, mình có bị thiêu đốt không, có bị hay không và bị như thế nào, tình trạng nó ra làm sao phải biết, phải thấy. Đó gọi là thấy đúng của bậc thánh.

Đa số ở ngoài họ nói họ thấy, họ biết, nhưng mà thấy biết trật lất mà nói là đúng, tại vì họ không được hướng dẫn cách thấy biết của bậc thánh, thấy biết của bậc thánh là thấy biết được ngũ uẩn, trong ngũ uẩn có cái gì, nó đang vận hành, xâm chiếm, áp đảo, khống chế, ngự trị, thiêu đốt, đè bẹp, nhận chìm như thế nào. Mình thấy biết, đó gọi là thấy đúng của bậc thánh, không có đi qua cái cửa này thì tất cả những cái tu sau của mình đều là ăn bánh vẽ, cưỡi ngựa xem hoa, đứng xa xa ngắm thôi. Mình không có chạm được cái tâm của mình, không mở cái căn nhà nội tâm mình được, mình không có chìa khóa đi vô thì làm sao mình quét dọn được, làm sao mình biết cái tình trạng dơ của nó ở cái mức độ nào, nó dơ ở đâu, nó dơ ra sao, nó dơ như thế nào, mình phải cần cái gì để dọn dẹp, hốt quét, lau chùi, tẩy rửa vệ sinh.

Nếu mình không thấy, không biết, nếu mình không có chìa khóa mở cánh cửa đi vào một cái nhà ba chục năm, bảy chục năm không dọn, một ngàn năm, năm ngàn năm, nhiều triệu, nhiều tỷ, nhiều kiếp, nhiều hoại kiếp, thành kiếp, từ vô thỉ kiếp đến nay không được quét dọn thì cái căn nhà nội tâm dơ tới mức độ nào, kinh khủng và khủng khiếp, khiếp đảm và sợ hãi như thế nào. Rắn rít trong đó, bọ cạp ở trong đó, ma quái, yêu tinh, nghiệt súc ở trong đó, đó là hình ảnh của Tây Du Ký, trong những cái hang động đen tối là bạch cốt tinh, xà tinh, nhện tinh, cọp, voi, sư tử đều thành tinh, cái gì cũng thành tinh trong đó, Đường Tăng nhìn thấy là một em bé tội nghiệp nhưng Tôn Ngộ Không lại thấy trong bụng nó là lửa là biểu đạt cho đạo lý này cho nên tác giả Ngô Thừa Ân khiếp lắm. Vì thế thấy đúng là phải thấy như vậy đó, mình có cần phải thấy đúng không? Rất cần, phải cần và nhất định không thể đi con đường khác, đây là truyền thống tu tập của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa, sau này và hiện nay đều như vậy hết, không thể có con đường khác.

"Này các Tỳ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Con đường ấy, này các Tỳ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.

Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh... Ta thấy rõ hữu... Ta thấy rõ thủ... Ta thấy rõ ái... Ta thấy rõ thọ... Ta thấy rõ xúc... Ta thấy rõ sáu xứ... Ta thấy rõ danh sắc... Ta thấy rõ thức...

Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.

Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỳ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày." (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, V. Thành Ấp)

Ta nay cũng đi con đường ấy, đi con đường ấy ta thấy rõ được vòng luân hồi sinh tử này của mười hai nhân duyên, thấy rõ được con đường thoát ra khỏi cái vòng vô minh, khát ái, chấp thủ đó. Vì vậy không nhận diện ngũ uẩn là mình sẽ không có biết vô minh ra làm sao, khát ái ra làm sao, tới chết mình cũng không biết luôn. Bây giờ chúng ta đã học nhận diện ngũ uẩn rồi thì chúng ta thấy trong con người mình có một cái cảm giác muốn cái này, muốn cái kia, nó đòi cái này, nó thích cái nọ, nó khao khát, tìm kiếm. Thí dụ nó chưa được thì nó khao khát đã làm rồi nhưng nó được rồi thì một thời gian cũng chán, nó cũng muốn một cái gì khác cho nên càng hưởng dục thì dục càng hăng, càng không thỏa mãn, đó là trạng thái bất toại nguyện của nó. Cho nên thân này là thiếu thốn, thân này là khát khao, thân này làm nô lệ cho tham ái, thế giới này là thế giới của thiếu thốn, thế giới của khát khao, thế giới của nô lệ cho tham ái, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới nhìn thấy được cái đó.

"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình" (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)

Phàm phu không thể nào nhìn thấy được điều này, bây giờ ở trong cảm thọ con người chúng ta cho đến cả cái thế giới này, tất cả nhân loại, tất cả ngũ uẩn, chư thiên luôn chư thần, chư thánh, tất cả ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục điều ở trong một cái trạng thái khao khát, thèm khát, đói khát. Chính những cái này làm cho người ta khổ, gọi là khát ái, còn những bậc thánh là không còn nữa, nó hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, không còn đi tìm kiếm cái gì nữa hết vì tất cả những đối tượng đi tìm đều là vô thường, khổ, vô ngã, các ngài chứng ngộ được cái thánh trí đó rồi. Mình có chịu ba mươi năm đi chụp mấy cái bong bóng nước không? Tất nhiên là không, các ngài cũng vậy, các ngài không muốn chụp những cái bong bóng nước nữa, còn mình bây giờ cứ tưởng nó là kim cương cho nên cứ chụp hoài.

Thứ hai là người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những suy nghĩ về dục, ái, tham, sân, si, bản ngã và cần nuôi dưỡng những suy nghĩ về ly dục, ly sân, ly ngu si. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có nghĩ đúng, chánh tư duy. Khi mình đã thấy được những cái rác bẩn, cấu uế, lậu hoặc, khi mình nhìn thấy được những cái thứ ác độc, nó áp bức, nó đè đầu cưỡi cổ mình, nó làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não, nó làm cho mình trôi lăn, chìm đắm, trôi dạt, trôi nổi, làm cho mình lún vào vũng lầy, khi mình nhìn thấy được cái bản ngã này làm cho mình đau khổ, nó làm cho mình khốn nạn, nó làm cho mình hoạn nạn, ách nạn, hiểm nạn, tai nạn, đầy rẫy những sự bất an thì tự động mình suy nghĩ tìm cách từ bỏ nó, đó gọi là chánh tư duy.

Mình đã biết cái thằng này nó ăn trộm, thằng này ăn cướp, thằng này đầu độc mình thì mình còn dám lại gần nó nữa không? Mình còn sống chung với nó không? Mình phải từ bỏ, mình chạy xa, mình phải thoát ra, mình phải viễn ly, như vậy suy nghĩ đó là suy nghĩ đúng, sau khi đã thấy đúng thì nó sanh khởi lên. Mình biết con nhỏ này gạt tiền của mình, nó dụ mình, nó không thương yêu gì hết, nó chỉ muốn tiền thôi, nó lợi dụng mình, nó gạt mình, sau khi đã biết thì mình còn bị gạt nữa không? Mình ngu thì còn gạt nữa, mình khôn thì không bị gạt nữa. Con nhỏ này hay là cái thằng này là chỉ cho những cái tham dục, những cái sân hận, những cái bản ngã ngu si trong tâm của mình, sau khi mình đã biết nó là cái thứ làm cho mình khổ, nó là cái vũng lầy, là cái đầm lầy, nó là một đống lửa lớn, hố than hừng, nó là những cái tảng đá rất lớn đè trên vai của mình, mình đã biết những cái đó thì mình từ bỏ, rời xa, thoát ra. Mình suy nghĩ đủ mọi cách hết, đó gọi là sau khi thấy đúng thì nghĩ đúng sanh khởi, nếu không có thấy đúng thì nó không có những cái suy nghĩ này, tự động nó đi theo lộ trình của thánh đạo phải như vậy.

Mình bước cái bậc thang thứ nhất rồi bước lên bậc hai và tiếp tục bước lên, trong kinh Đức Phật gọi là dòng pháp đưa người về phía trước, tự động khi mình thấy đúng rồi lập tức nghĩ đúng sanh khởi cho nên một bậc Dự Lưu là bất thối chuyển, tức là thành tựu được cái thấy đúng là sớm muộn, mau chậm gì thì cũng đi tới chỗ hết. Thành ra cái quan trọng nhất của mình trong giai đoạn hiện tại là tu học thấy đúng, chánh tri kiến trong ba năm nay của chúng ta. Khi mình nghe, mình hiểu rồi nhưng mà mình để đó thì không được, mình phải có tác ý nữa, cho nên nguyên nhân sinh ra chánh kiến gồm có hai điều, một là nghe chánh pháp, sau đó là như lý tác ý, tức là cái suy nghĩ đúng, từ bỏ những suy nghĩ về dục ái, tham, sân, si, bản ngã và nuôi dưỡng những suy nghĩ về ly dục, ly sân, ly ngu si, rời bản ngã thì mình phải có cái chủ động chứ không phải mình tu thụ động.

Thí dụ như bây giờ cái tham muốn sanh khởi lên thì phải rầy la, quở trách, mắng chửi cái tâm, cái cảm giác, tư tưởng, hình bóng đó. Làm cho mình sanh khởi những tư tưởng rời xa, ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy, ly ngu si, rời bản ngã thì cái đó là nghĩ đúng. Một ngày mình nghĩ đúng được bao nhiêu lần hay là khi nó khởi lên cái tôi là nhập cuộc với nó, đi theo luôn? Đây chính là bài tập, là công phu, là tu đó, là chánh tư duy, là thánh tư duy, là tuệ lực, nguyên một cái bộ này là làm rực sáng, chói sáng, bừng sáng, chiếu sáng, tỏa sáng tám đúng của bậc thánh, cả ba quyển tinh hoa Nikāya này làm rực sáng Bát Thánh Đạo, làm chói sáng Bát Thánh Đạo, làm chiếu sáng Bát Thánh Đạo và tỏa sáng tám đúng của bậc thánh.

Người tu chân chánh nào cũng cần phải bỏ những lời nói bất thiện, những lời nói bất chính, từ bỏ lời nói dối, từ bỏ là nói hai lưỡi, từ bỏ lời nói độc ác, từ bỏ lời nói nhảm nhí và cần phải thành tựu những lời nói hiền thiện, thiện lành, ái ngữ, như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có nói đúng. Từ bỏ những lời nói bất thiện, những lời nói bất chánh, nói dối, nói hai lưỡi, từ bỏ những lời nói ác độc, những lời nói nhảm nhí tức là phù phiếm. Thật ra cái lời ác độc, hay là hai lưỡi, hay lời nói dối ít hơn lời nói nhảm nhí, ở bên Bắc Tông không có đề cập đến lời nói phù phiếm với nhảm nhí nhưng mà Nikāya có nói, cái này là của Đức Phật chính thống.

Lời nói phù phiếm là lời nói vô nghĩa không có lợi ích, mình nói nhiều lắm mà nó không đem lại lợi ích, tác dụng, nó không đưa đến ly dục, ly sân, nó không đưa đến ly tham, nó không đưa đến xả ly ngũ uẩn, không có đưa đến sự nhiếp phục bản ngã mà cứ nói toàn là những điều phù phiếm, nhảm nhí, vô ích, vô nghĩa thì cái đó cũng vẫn là phạm giới như thường. Nhiều khi nói rất nhiều mà không vào cái trọng tâm, chỗ này là chỗ rất quan trọng của giảng sư, chích vô là phải thấy máu, bắn ra phải trúng hồng tâm, nói ra một cái là phải là điểm trúng đích, trúng mục tiêu của mình. Khi nói là mình lựa cái quan trọng ở trong cái quan trọng mình nói, đừng có nói huyên thuyên, nói một hồi là đi xa luôn, mình trình bày cái quan trọng nhất trong những cái quan trọng thì bài giảng của mình mới cô đọng cốt tủy, tinh hoa, tinh anh, tinh túy nhất, đó là lõi cây.

Khi trình bày một vấn đề gì không cần nói dài, điểm ra lõi cây nhất trong đó để nói, chúng ta có câu "quý hồ tinh, bất quý hồ đa" nghĩa là quý ở sự tinh xảo, hiếm có chứ không quý ở sự nhiều. Phàm trên đời cái gì hiếm thì mới quý, ít khi thấy thứ có nhiều mà thành quý giá. Cho nên chỗ quan trọng mà chúng ta cần nhớ đó là từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời hai lưỡi, từ bỏ nói lời ác độc, từ bỏ nói lời nhảm nhí. Nếu trong suy nghĩ mình có những cái suy nghĩ chân chính, hiền thiện thì lời nói mình tự động nói ra hết sức là chân thành, hiền thiện, thiện lành, ái ngữ, lời nói từ bi, Đức Phật ví dụ lời nói giống như phân, giống như hoa và giống như mật.

II. Ba hạng người

"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người nói như phân, hạng người nói như hoa, hạng người nói như mật." (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Người, Nói Như Hoa)

Lời nói mà không có chánh niệm, không có tỉnh giác, không có bằng tình thương, bằng từ tâm thì nói ra cay cú, ghim gút, châm chích, nói ra những lời nói nó chỉ trích thì lời nói đó phát ra như phân, nó bay ra bốc lên một cái mùi không ai chịu nổi hết, người ta thấy đi tới là người ta chạy mất. Lời nói như hoa thì đẹp, còn lời nói mật thì ngọt ngào, Đức Phật nói ra là chạm tới trái tim của người ta cho nên Đức Phật nói pháp là người ta lông tóc dựng đứng, nước mắt đầy mặt, Đức Phật nói một lời đi thẳng vô trong trái tim, trong lòng, cảm thọ của người ta, chấn động thân tâm. Còn bây giờ nói ra nhiều khi là giả dối, nói hoa mỹ, nói ngọt ngào nhưng chỉ nhằm lấy lòng vì vụ lợi thì đó không phải là lời nói chân thành, chân chánh, lời nói đó từ tham xuất phát ra, nói để lấy lòng, nói để tâng bốc người ta lên để mình được lợi thì đó là tà ngữ, nói có mục đích vì cái gì đó hay nói để người ta cúng dường thì vẫn phạm giới như thường.

Chẳng hạn như "thầy đang làm cái này nè" nhằm được cúng dường thì lời nói đó không tốt, cứ để tự nhiên người ta thấy thì người ta phát tâm cúng dường, còn giờ mình đưa cái đó là vô thế tiến thoái lưỡng nan, bây giờ không cúng cũng không được mà cúng thì không hoan hỉ, "bây giờ không lẽ thầy nói vậy rồi con không cúng", từ từ người ta mất niềm tin. Thành ra ở trong lời nói sẽ đọc được ngũ uẩn của người đó, vì cái tâm gì mà nói, có gì tình thương, vì từ tâm, vì muốn cho người này được hiền thiện, được các thiện pháp, công đức, trí tuệ hay là lời nói phát xuất từ tâm tham, hay là cái tâm sân, hay lời nói đó để phô trương cái bản ngã của mình ra, để biểu lộ, để khoe khoang mình, cho nên cái này rất sâu sắc, mình phải từ bỏ lời nói dối, lời nói hai lưỡi, lời nói độc ác, nhất là làm MC cần cẩn thận, nói một hồi là không biết đang nói cái gì, nói cho bay bổng lên trời làm mất cái chất thật của người tu, không còn cái đức chân thật nữa trong khi cái đức chân thật, cái tâm chánh trực, chính trực là cái đức đầu tiên của Tăng bảo.

III. Sống đời chân chánh

"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)

Nếu mà mình mất cái đó rồi thì mình không có phải là Tăng nữa cho nên đừng có ham mà nói cho hoa ngữ nhiều quá, chỉ cần nói lời chân thành, chân thật, chân thật ngữ, những lời nói rất là hiền thiện, thiện lành, ái ngữ cho nên sư phụ của con dạy nhiều khi ngài nói những cái mà lúc đầu con nghe con rất là sốc. Cũng như trong buổi ăn cơm hôm trước trong chánh quán thọ thực có ghi "Trước bữa ăn này, nước miếng có chảy không?... Có dục, ái trong việc chảy nước miếng này không? Hay nước miếng chảy đơn thuần do duyên xúc?..." Mình nghi những lời này thấy sốc quá, bây giờ là tụng cái gì cho văn hoa, mỹ miều chứ bây giờ nhiều Phật tử ngồi đó mà đọc "chảy nước miếng với món ăn" thì cảm thấy xấu hổ nhưng mà cái đó là chân thật ngữ, là thánh ngữ, là ly tham đạo lộ.

Khi mình nhìn thấy được như vậy, mình nhắc nhớ như vậy thì mình sẽ có sự nhiếp phục dục, tham, ái đối với món ăn, người cúng quỳ phía dưới mới có được lợi ích rất là to lớn. Ai nhắc mình cái đó? Lúc đầu con nghe câu đó thấy sốc lắm, nhiều khi còn tính không đọc câu đó nữa, cắt bớt đi. Bậc thánh nhân là bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng cả một tấm lòng muốn cho mình tốt đẹp, thành tựu, mình thì thích văn hoa lắm, nói cho cao siêu, cho hay nhưng mà nhiều khi trống rỗng, không có gì hết, không có đức hạnh gì hết.

Tiếp theo người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những hành động bất thiện, bất chánh, bất nhân, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, dâm dục và cần phải thành tựu những hành động hiền thiện, cao đẹp. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh nghiệp, làm đúng, chánh mạng là sống đúng, hành động của mình phải từ bỏ những hành động bất thiện, bất chánh, bất nhân. Sát sanh là bất nhân, trộm cắp là bất thiện, tà dâm là bất chánh, dâm dục bất chánh, làm đúng chánh nghiệp là những hành động của mình phải là thiện lành, chân chính, từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, dâm dục và cần phải thành tựu những cái hành động hiền thiện, cao đẹp.

Người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những hình thức nuôi mạng bất chánh, bất thiện, không đúng pháp, cần phải thành tựu sự nuôi mạng sống một cách chân chánh, đúng pháp. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh mạng, sống đúng cái đời sống mình, được nuôi dưỡng một cách chân chánh, người tu mình bây giờ có những cái làm không đúng với chánh mạng của Đức Phật.

"Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rễ về nhà, sắp đặt ngày lành để đưa dâu hay rễ, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật." (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa-môn quả)

Người tu mình đúng giới luật là đâu có cho bói toán ngày giờ, kinh doanh này nọ kia, chúng ta thấy những cái này bây giờ rất nhiều, vì mình không làm đúng lời Phật nên mình đâu có được những cái pháp giống như Phật và các bậc thánh. Phật nói mình không nghe, "tôi làm khác", muốn làm gì làm, nhiều khi mình nghĩ mình làm vậy mới lợi ích cho chúng sanh. Mô Phật! Cái này rất nguy hiểm cho nên có một lần Thế Tôn đi tới chỗ đó thì người cày ruộng đó hỏi ông có cày ruộng không mà ông ăn, chúng tôi cày bừa cực khổ, đổ mồ hôi công sức mới có ăn, ngài không cày gì cả mà cũng muốn ăn.

IV. Cày ruộng trong Chánh Pháp

Thế Tôn trả lời rằng ngài cày trong mảnh đất tín tâm, cày trong mảnh ruộng trí tuệ, thiền định.

"Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, rồi đứng một bên.

Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, thấy vậy, bèn nói với Thế Tôn:

-- Này Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa-môn, Ông có cày và gieo mạ không; sau khi cày và gieo mạ, Ông ăn?

-- Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn.

-- Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi cày, cái gậy đâm, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama. Tuy vậy Tôn giả Gotama lại nói như sau: 'Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn'.

Rồi Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Ông nói là nông phu,

Ta không thấy Ông cày,

Người nông phu được hỏi,

Hãy lên tiếng trả lời,

Sao chúng tôi biết được,

Ông thật sự có cày?

(Thế Tôn):

Lòng tin là hạt giống,

Khổ hạnh là mưa móc,

Trí tuệ đối với Ta,

Là cày và ách mang,

Tàm quý là cán cày,

Ý căn là dây cột,

Chánh niệm đối với Ta,

Là lưỡi cày, gậy đâm.

Thân hành được hộ trì,

Khẩu hành được hộ trì

Ðối với các món ăn,

Bụng Ta dùng vừa phải,

Ta nhổ lên tà vạy,

Với chơn lý sự thật,

Hoan hỉ trong Niết-bàn

Là giải thoát của Ta.

Tinh tấn đối với Ta,

Là khả năng mang ách,

Ðưa Ta tiến dần đến,

An ổn khỏi ách nạn,

Ði đến, không trở lui,

Chỗ Ta đi, không sầu.

Như vậy, cày ruộng này,

Ðưa đến quả bất tử,

Sau khi cày cày này,

Mọi đau khổ được thoát.

-- Hãy ăn Tôn giả Gotama, Tôn giả Gotama thật là người nông phu. Tôn giả Gotama cày, sự cày đưa đến quả bất tử" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, I. Cày Ruộng)

Ngài thuyết pháp xong thì vị này tâm phục khẩu phục đem đồ cúng dường cho ngài thì ngài không nhận vì ngài thuyết pháp này không phải để nhận đồ ăn. Thành ra chúng ta thấy Đức Phật trang nghiêm lắm chứ không phải nói từ bi là cái gì cũng được hết, không phải như vậy, ngài không nhận đồ cúng dường trong trường hợp này.

"(Thế Tôn):

Ta không có hưởng thọ,

Vì tụng hát kệ chú,

Thường pháp không phải vậy,

Ðối vị có tri kiến.

Chư Phật đã loại bỏ,

Tụng hát các kệ chú,

Chơn thật đối với Pháp,

Sở hành là như vậy.

Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,

Cúng dường phải khác biệt,

Ðoạn tận các lậu hoặc,

Trạo hối được lắng dịu,

Với những bậc như vậy,

Cơm nước phải cúng dường.

Thật chính là phước điền,

Cho những ai cầu phước." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, I. Cày Ruộng)

Đây là chỗ quan trọng của chúng ta khi đi giảng pháp, mình phải vì pháp, không phải đi giảng pháp để lấy tiền, nếu mình lấy pháp này đi giảng để mong cầu sự cúng dường thì đó vẫn là tà mạng dù cho mình đang giảng chánh pháp. Giảng pháp không phải mong được cúng dường mà vì từ tâm, vì tình thương, vì muốn giúp cho người đó thành tựu trí tuệ để chấm dứt đau khổ thì đó mới là chánh mạng, người ta có cúng hay không cúng cũng không sao, người ta cúng thì họ có phước, còn không cúng thì không có phước. Những điều này cần phải học thật kỹ trong lớp giảng sư, khi con đến những chùa ở vùng sâu vùng xa trước khi con vào dòng pháp Nikāya này là con cúng lại hết, có khi con lấy tiền túi mình ra cúng thêm, lúc đó là lúc khó khăn chứ không phải là lúc đầu đủ, chính vì vậy những chùa xa rất quý mến cứ nhắc hoài, mình đem kinh sách đến tặng.

Bình thường đi trên đường con hay nhìn những cái chùa, con không ghé những chỗ du lịch mà thường ghé vào các chùa vào xin cơm ăn, xin nước uống hay xin nghỉ ngơi, thấy chùa đang xây dựng là cúng dường lại vì đó là nhà của mình mà, nhà mình đang xây thì sao mình không phụ mấy viên gạch, đó là xây cho chư Tăng. Thành ra không phải chỉ xây trong cái chỗ của mình không, trên Linh Quy lúc còn là am tranh, chùa Hoằng Pháp lúc đó đang xây cơ sở thứ hai thì con cầm về một bao thư cúng dường, thầy trụ trì không có nhận, thầy nói trên thầy chưa có gì hết, để dành làm trên nó đi. Con nói "dạ thưa sư phụ nhận cái tấm lòng chân thành của con, con từ nơi đây mà con chia sẻ pháp và nhiều Phật tử hiểu được pháp hỗ trợ mới có Linh Quy Pháp Ấn. Thành ra Linh Quy Pháp Ấn có là từ nơi đây, đây là tấm lòng của con, những viên gạch, những bao xi măng. Xin thầy đón nhận tấm lòng cung kính pháp của con."

Con là một trong những người giảng tại chùa Hoằng Pháp lâu nhất trong tất cả những người khác, cho tới bây giờ không có thay đổi hàng chục năm qua, thậm chí là hòa thượng giao cho luôn hẳn mấy cái chương trình luôn mà con nhận một chương trình thôi. Thành ra mình hãy vì pháp chứ đừng vì mấy cái khác bởi vì pháp là vô giá, là thế gian chí bảo, là con mắt của người và trời thì cái đó vượt hơn tất cả những cái vật chất, cũng chính vì pháp mà có Linh Quy Pháp Ấn, có những cái bất khả tư nghì.

V. Chánh Tinh Tấn

Người tu chân chánh người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những cái siêng năng sai lầm không đúng, từ bỏ những sự nỗ lực tinh cần nhưng không có khả năng đưa đến đâm thủng vô minh, diệt tận vô minh, diệt tận khát ái. Vị này cần phải có những nỗ lực tinh tấn đối với những việc chân chính cần phải làm của một người tu như là tinh cần chế ngự các căn, tinh cần đoạn tận những cái tà tâm ý, tinh cần tu tập bảy pháp đưa đến giác ngộ, tinh cần hộ trì những thiện pháp đã thành tựu. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có chánh tinh tấn, chính là siêng đúng vì nhiều khi mình tưởng là mình siêng năng lắm nhưng đó là siêng sai. Siêng đi đám có đúng không? Mình nghĩ rằng đó là mình đi độ chúng sanh, mình đang làm Phật sự. Siêng trồng cây tạo cảnh đẹp có đúng không? Siêng xây dựng mãi có đúng không? Phải tùy trường hợp, không phải sai hết mà không phải đúng hết, làm bằng cái tâm gì? Động cơ của nó là gì sai? Xây thì ai cũng xây hết nhưng mà động cơ để làm cái đó là cái gì?

Cái đó là cái sâu sắc, nhận diện ngũ uẩn mới thấy, làm vì danh vì lợi là sai, làm vì cái lòng từ, vì muốn lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chúng sanh, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người thì cái làm đó là đúng pháp. Nhưng không được lo làm những cái bên ngoài mà bỏ phế chánh hạnh, suy tổn tới giới đức, thiền định và trí tuệ, ngay cả học kinh mà Đức Phật cũng rầy vì học mãi bỏ bê thiền định, học kinh cũng có lỗi vì mê học kinh, ham học kinh, thích học kinh mà không chịu thiền định thì cũng vẫn là thiếu thốn.

"Tôn giả Mahàcunda nói như sau:

- Ở đây, này chư Hiền, một số Tỳ-kheo chuyên tâm về Pháp không ưa thích các Tỳ-kheo tu Thiền, nói như sau: 'Các người này nói: 'Chúng tôi tu Thiền, chúng tôi tu Thiền'. Họ tu Thiền, họ hành Thiền. Những người này Thiền cái gì? Những người này Thiền có lợi ích gì? Những người này Thiền như thế nào? '. Ở đây, các Tỳ-kheo chuyên tâm về Pháp không hoan hỉ, và các Tỳ-kheo tu Thiền cũng không hoan hỉ; hành động như vậy không đưa lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, không đưa lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Ở đây, này chư hiền, một số Tỳ-kheo tu thiền không ưa thích các Tỳ-kheo chuyên tâm về Pháp, nói như sau: 'Các người này nói: 'Chúng tôi chuyên tâm về Pháp, chúng tôi chuyên tâm về Pháp'. Họ tháo động, kiêu căng, dao động, lắm mồm, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn thả lỏng. Những người này chuyên tâm về Pháp cái gì? Những người này chuyên tâm về Pháp có lợi ích gì? Những người này chuyên tâm về Pháp như thế nào? '. Ở đây, này các Tỳ-kheo tu Thiền không có hoan hỉ, và các Tỳ-kheo, chuyên tu về Pháp cũng không hoan hỉ; hành động như vậy không đưa lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, không đưa lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Nhưng ở đây, này chư Hiền, có những Tỳ-kheo chuyên tâm về Pháp, chỉ tán thán các Tỳ-kheo chuyên tâm về Pháp, không tán thán các Tỳ-kheo tu Thiền. Và ở đây, các Tỳ-kheo chuyên tâm về Pháp không được hoan hỉ; các Tỳ-kheo tu Thiền không được hoan hỉ. Hành đông như vậy không đưa lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, không đưa lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Nhưng ở đây, này chư Hiền, có những Tỳ-kheo tu Thiền chỉ tán thán các Tỳ-kheo tu Thiền, không tán thán các Tỳ-kheo chuyên tâm về Pháp. Và ở đây, các Tỳ-kheo tu Thiền không được hoan hỉ; các Tỳ-kheo chuyên tâm về Pháp không được hoan hỉ. Sở hành như vậy không đưa lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người, không đưa lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài người.

Do vậy, này chư Hiền, cần phải học tập như sau:

'Chúng ta là những người chuyên tâm về Pháp, chúng ta sẽ tán thán các Tỳ-kheo tu Thiền'. Này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập như vậy. Vì cớ sao? Thật vậy, này chư Hiền, các người vi diệu ấy khó tìm được ở đời, những người cảm giác bất tử giới với thân và an trú.

Do vậy, này chư Hiền, cần phải học tập như sau:

'Chúng ta là những người tu thiền, chúng ta sẽ tán thán các Tỳ-kheo chuyên tâm về Pháp'. Này chư Hiền, chư Hiền cần phải học tập như vậy. Vì cớ sao? Thật vậy, này chư Hiền, các người vi diệu ấy khó tìm được ở đời, những người với trí tuệ thể nhập và thấy con đường thâm sâu hướng dẫn đến đích." (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (IV). Mahàcunda)

Ngược lại mê thiền định, ham thiền định, chứng thiền định, đạt thiền định, say đắm trong thiền định mà không chịu tăng thượng trí tuệ, dính mắc trong thiền định thì cũng bị rầy vì chưa viên mãn, phải đi đến chỗ vô thủ trước Bát-niết-bàn nghĩa là không còn dính mắc với bất kì cái gì nữa trong năm thủ uẩn thì đó mới là mục đích cứu cánh tối thượng của người xuất gia.

"Này Hiền giả, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn là với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn" (Trung Bộ Kinh, 24. Kinh Trạm xe)

Bây giờ mà kiếm người mê học kinh cũng hiếm rồi, mô Phật, giờ vô hỏi kinh chẳng nhớ gì, hỏi tên tài tử, mấy ông đá banh chắc biết hết. Bây giờ mê học kinh đi, đổi lại cái mê đời trở thành mê đạo rồi từ từ mình mê thiền định, mê thánh trí tuệ, mê giải thoát. Vị này cần phải từ bỏ những cái nỗ lực tinh tấn đối với những cái mà siêng năng sai mà phải làm sao nỗ lực tinh tấn để đâm thủng vô minh, diệt tận vô minh, diệt tận khát ái, trong này có bốn Tứ Chánh cần. Tinh cần chế ngự các căn là siêng năng chế ngự và thu nhiếp mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đó là siêng đúng. Tinh cần đoạn tận những cái tà tâm ý là những cái tham, sân, si, dục ái.

Mình siêng năng, tinh cần tu tập Thất Giác Chi, đó là bảy pháp đưa đến giác ngộ, nói gọn là Tứ niệm xứ, siêng năng quán thân – thọ – tâm – pháp, siêng năng nhìn lại những cử chỉ, hành vi, những cảm giác, những cái tâm ý về sự vận hành bên trong tâm của mình, đó là siêng đúng, tức là mình coi lại những hành động, cử chỉ rồi mình coi cảm thọ của mình, mình coi trong nội tâm có những pháp thiện hay là bất thiện vận hành như thế nào, đó là siêng đúng. Cái đó là đi luôn qua bên chánh niệm rồi tức là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Người tu chân chánh nào cũng phải từ bỏ những tà niệm, từ bỏ những tâm niệm, những quán niệm sai lầm và cần tu tập thành tựu những cái tâm niệm, quan niệm chân chánh, đúng pháp, có khả năng đưa đến đâm thủng vô minh, thành tựu trí tuệ về tự thân, thấy biết rõ những cấu uế trong thân tâm và nhiếp phục những cấu uế này. Như vậy người tu chân chánh nào cũng cần phải có sự tu tập và thành tựu chánh niệm, chánh niệm tức là Tứ Niệm Xứ.

Thành ra chánh tinh tấn là mình phải tinh tấn chế ngự các căn, tinh tấn đoạn tận những tà tâm ý tham, sân, si, tinh tấn tu tập bảy giác chi, tinh tấn hộ trì những thiện pháp đã thành tựu. Mình có được cái thiện pháp thì mình phải giữ, đừng có để cho nó mất, thí dụ mình biết học cách nhận diện ngũ uẩn rồi mình nhận diện một tháng, hai tháng rồi bỏ không nhận diện nữa, vậy là mình mất thiện pháp rồi, tức là phải giữ cái thiện pháp đó không cho mất và làm cho cái thiện pháp lớn mạnh lên thì đó gọi là tinh tấn. Mình tưởng đâu rằng hằng ngày mình tụng kinh, tới giờ mình đi học rồi về ăn cơm, tối mình lên công phu vậy là xong, không phải như vậy, đó là dậm chân tại chỗ cũng là thối đọa, cần phải nỗ lực tinh cần, tinh tấn, sách tâm, trì tâm, nhiệt tâm và làm cho cái thiện pháp này lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển quảng đại viên mãn thì như vậy mới gọi là tinh tấn, đó là cái từ trong Nikāya đó.

Ví dụ như mình biết nhận dạng ngũ uẩn rồi thì mình phải giữ cái pháp nhận diện đó và tập nhận diện sâu thêm vô nữa, phát triển trí tuệ về năm uẩn càng sâu, càng cao, càng rộng thêm nữa thì cái đó mới gọi là tinh tấn. Đằng này mình biết rồi để đó, vài bữa sau là mình bỏ qua luôn, như vậy là mình thối thất, không phải tinh tấn, trong khi mình được cái thiện pháp đó mà mình để đánh mất, mình để cho nó rớt xuống, chẳng những mình không giữ thì còn nói gì làm cho nó lớn mạnh, phát triển, giữ còn giữ không được nữa sao làm cho nó tăng thượng quảng đại, làm sao cho nó tu tập viên mãn. Thành ra chữ tinh tấn nhiều người hiểu lầm lắm, phải làm cho nó không ngừng tăng thượng, hướng thượng, phát triển quảng đại, viên mãn, thành tựu thì mới gọi là tinh tấn.

Sơ thiền mình được chưa? Chánh kiến mình viên mãn chưa? Mình có tinh tấn trong những pháp đó không? Có nỗ lực trong đó không? Có nhiệt tâm trong đó không? Có tinh cần trong đó không? Có chuyên chú trong đó không? Có đặt hết tất cả tấm lòng mình trong đó không? Nói tới là "con cũng tinh tấn lắm chứ, con đi học đều mà", tức là ngày nào cũng đi học đều đều thì nghĩ là tinh tấn, không phải đâu, đó chỉ mới ở bên ngoài chút xíu thôi, chưa có gì hết. Đi học như thế nào, trong giờ học như thế nào và khi nghe được những cái thánh pháp, thánh trí huệ thì cái tâm thức mình như thế nào, mình có thể nhập không, mình có vận dụng không, mình có triển khai thiền quán không, mình có chạm tới trí huệ đó không, mình có giữ được cái trí huệ đó không, mình có làm cho tăng trưởng, phát triển quảng đại, viên mãn không thì mới gọi là tinh tấn.

Người tu chân chánh nào cũng cần phải từ bỏ những cách định tâm sai, từ bỏ những lối thiền định không đúng pháp, không có khả năng đưa đến diệt tận tham, sân, si và cần tu tập thành tựu các cái thiền định chân chánh đúng pháp mà Đức Phật chỉ dạy có khả năng đưa đến lậu tận, đưa đến diệt tận tất cả mọi tham ái, chấp thủ, vô minh lậu hoặc trong nội tâm. Như vậy người tu chân chính nào cũng cần phải có sự tu tập và thành tựu chánh định, định đúng. Như vậy bất cứ một người tu chân chánh nào cũng cần phải có sự thấy biết đúng, suy nghĩ đúng, nói đúng, hành động đúng, nuôi mạng đúng, siêng năng đúng, quán niệm đúng và định tâm đúng, tức là người tu nào cũng cần phải có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

Tóm lại sự tu hành nào cũng cần phải có sự thấy biết chân chánh, có sự tu tập thực hành tám cái pháp đúng của bậc thánh thì mới gọi là một sự chân tu, một người chân chánh. Nếu tu mà không thấy biết, không có tu tập tám đúng với bậc thánh thì đó không phải là sự tu tập chân chánh, không phải là một pháp hành chân chánh, không phải là một đường lối tu chân chính đúng pháp mà Đức Phật đã thiết lập và truyền trao.

VI. Bát Chánh Đạo

GIẢI THÍCH PHƯƠNG PHÁP 8 ĐÚNG

- Thấy đúng: Thấy năm uẩn – Thấy vô minh – Thấy vô minh đoạn diệt – Thấy Bát Chánh đạo.

- Nghĩ đúng: Suy nghĩ việc ly dục – Suy nghĩ việc ly sân – Suy nghĩ việc không hại mình và người.

- Nói đúng: Từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.

- Làm đúng: Từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục.

- Sống đúng: Từ bỏ nghề bán vũ khí, bán rượu, bán thịt, bán người, bán thuốc độc (đối với cư sĩ).

- Siêng đúng: Chế ngự sáu căn, đoạn tận tham sân, tu tập Tứ niệm xứ, hộ trì các thiện pháp đã có.

- Quán đúng: Quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp.

- Định đúng: Định tâm theo Tứ thiền.

Chánh định là những cái thiền định có khả năng đưa đến đoạn tận tất cả mọi tham ái, chấp thủ, vô minh, lậu hoặc của nội tâm. Thấy đúng là thấy được năm uẩn sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không có một cái tự ngã. Nghĩ đúng là mình nghĩ để ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy. Nói đúng là mình phải từ bỏ nói dối, nói lời hai lưỡi, nói lời ác độc, nói lời phù phiếm nhảm nhí. Làm đúng là từ bỏ sát sanh, trộm cắp và dâm dục, đó là tà hạnh trong các dục. Sống đúng đối với người cư sĩ từ bỏ bán vũ khí, bán người, bán rượu, bán thuốc độc và bán thịt, Đức Phật nói người cư sĩ phải từ bỏ năm nghề này thì đời sống mới chân chánh, còn đối người xuất gia đúng theo tinh thần giới luật là không coi sao, đoán hạn, không có bói quẻ, phong thủy, những cái đó không đúng với chánh pháp. Siêng đúng là tinh cần chế ngự sáu căn, đoạn tận tham sân, tu tập Tứ Niệm Xứ, hộ trì những thiện pháp đã có, không để cho mất. Quán đúng là quán thân – thọ – tâm – pháp và Tứ Niệm Xứ. Định đúng là định tâm theo tứ thiền.

Bát Chánh Đạo của Nikāya là nó trùm hết tất cả ba mươi bảy phẩm trợ đạo, nó thâm sâu, rộng lớn, viên mãn.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

./.