Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nikāya Thiền Quán Trong Bệnh Viện

2026-03-03 00:52:45
Nikāya Thiền Quán Trong Bệnh Viện

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thân vô thường PAGEREF _Toc154930495 \h 1

II. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc154930496 \h 8

III. Thân vô ngã PAGEREF _Toc154930497 \h 14

I. Thân vô thường

Sư Phụ: Hôm nay con được nghe có chư tôn đức về Linh Quy nhưng con vắng mặt không có ở núi, con xin mời quý thầy cô có chia sẻ hay hỏi điều gì không ạ?

Suốt cả ngày hôm nay con ở trong bệnh viện vừa về nhà nên có nhiều cảm thọ, con muốn chia sẻ cảm thọ pháp vị dạt dào khi ở trong bệnh viện. Con thưa là con được ở trong bệnh viện gần 1 ngày, con cũng mong rằng đại chúng hoặc cả đạo tràng Nikāya chúng ta có dịp vào nhà xác, bệnh viện, nghĩa trang, vào những nơi hỏa táng để được chứng kiến nhiều về sự thật để Thánh trí được tỏa sáng, được bùng sáng, chiếu sáng, rực sáng trong tâm mình, trong tim mình. Ngày hôm nay có rất nhiều bài thiền quán, con được pháp thuyết, tạng kinh Nikāya sống lại nhãn tiền ngay trước mắt, trong những âm thanh, trong những sự tiếp xúc, trong những sự thấy nghe, trong những cảm thọ để càng sáng tỏ hơn nữa Thánh trí tuệ mà bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho chúng ta.

Việc đi vào trong bệnh viện cả ngày hôm nay cũng có nhân có duyên, vừa rồi có một đoàn y bác sĩ gần cả trăm vị lên núi chúng ta vừa để cầu pháp vừa đi làm từ thiện chữa trị cho hàng ngàn người nghèo trong những vùng xa xôi, hẻo lánh, sẵn tiện lúc đó con có gặp một vị bác sĩ quốc tế đi trị bệnh ở nhiều nước thì con có nhờ bác sĩ xem mạch và trình bày bệnh trạng thì bác sĩ khuyến khích con nên đi khám sức khỏe vì đã 4-5 năm chưa đi nên hôm nay con mới có mặt trong bệnh viện.

Con đi vào bệnh viện lúc 6h, còn bệnh viện đã làm việc từ 3h sáng, so với người xuất gia chúng ta những vị đó thức sớm hơn chứ không thức trễ hơn mình, nếu làm việc từ 4h thì hơn 3h phải có mặt, con nhìn thấy có những vị chỉ là những người thu tiền nhưng vị này bị tai biến nhẹ trên gương mặt. Con nhìn xung quanh mọi người chờ đợi, lo lắng, hồi hộp cũng như nhìn trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình, khi nghe lời bác sĩ nói thì mình cũng thấy rất bất ngờ, những bác sĩ nói rằng thấy dịch bệnh, chiến tranh có chết chóc nhiều nên bàng hoàng, hoảng hốt, sợ hãi nhưng thật ra dịch bệnh, chiến tranh không chết nhiều bằng ung thư, hiện nay trên 300.000 ngàn người bệnh.

Người Việt chúng ta sống chung với ung thư, một năm có hơn 100.000 người phát bệnh ung thư chứ chưa tính người bệnh cũ, nhất là gan thì bác sĩ cho biết người Việt hơn 80% bị viêm gan siêu vi A, B, C, bốn người ngồi với nhau thì có thể ba người đã bị, đó chỉ mới một chứng bệnh, chưa kể tim mạch, đường tiết niệu, hệ tiêu hóa, chưa kể tiểu đường, những dịch sốt xuất huyết, năm nay dịch sốt xuất huyết gấp 5-6 lần mọi năm. Con nhìn vào mọi người và nhìn vào tự thân mình thì thấy chỉ một cái khổ là bệnh thôi mà trên gương mặt của mỗi người đều hiện lên nét lo âu, chờ đợi, lo lắng, sợ hãi, chưa kể những người nghèo không được đi khám bệnh hoặc những người phải vay nợ đi khám bệnh.

Chỉ mới một cái khổ là một phần nhỏ trong tứ đại thôi đã não nề, phải siêu âm, xét nghiệm máu, thử nước tiểu… biết bao thứ mà cái nào cũng dơ bẩn, bẩn thỉu, hôi tanh, vậy mà trong đó là sân si, cống cao ngã mạn, có được một chút vai trò, được một chút học thức, trình độ, địa vị là ta đây, bản ngã. Thật sự bây giờ con nói mà cả trái tim dâng lên dạt dào một sự đau xót, xót xa, có khi tim cũng nhói lên luôn.

Khi chúng ta phải mang vác một tấm thân da thịt, xương máu, tim, gan, lá lách, bao tử, ruột già, ruột non, máu, mủ, nước tiểu, phân… Trong ba mươi hai thể trược này thứ nào cũng có thể trở thành ung thư, thứ nào cũng có thể có vi khuẩn, vi trùng, siêu vi, bất cứ lúc nào cũng có thể đổ ra bệnh, ngay khi sanh ra thì mầm bệnh đã ở trong đó. Trên núi mình có biết bao vị bị bệnh, không những người lớn tuổi mà ngay cả người trẻ tuổi cũng bệnh, như vậy tự thân mình sanh ra đã mang chứng bệnh đi theo hoặc một thời gian ngắn thì biểu hiện ra, hiện hành ra, hiện bày ra, lộ bày ra và tất cả chúng ta lại không nhìn thấy, không biết gì cả, phải nhờ những dụng cụ siêu âm, xét nghiệm, soi chiếu, đo chụp, có khi âm thầm trong cơ thể mình 5 năm, 10 năm cũng không biết, đến khi biết ra thì thời kì cuối.

Tuy rằng kiểm tra sức khỏe con mọi thứ đều tạm ổn nhưng con không thấy vui vẻ gì cả, cũng không thấy có gì vui khi bệnh của mình không nghiêm trọng, mình biết rằng vào một ngày nào đó nó cũng hoại. Khi vào viện mới thấm thía thân xác này phiền phức, phiền não, phiền đau, buồn phiền, người này chạy lên, người kia chạy xuống, xét nghiệm vầy chưa đủ phải làm thêm, có những người thì cười hỷ hả, có những người sầu đau, khổ sở vì bệnh thân hoặc vì không đủ tài chính, thậm chí những người cười vì mình không phải là người bệnh nhưng nhìn tổng thể chỉ thấy một đống khổ dù cho người đó đang cười. Cái này lạ, đại khổ uẩn, nhiều khi một cái thân bệnh tật nhưng có một chức quyền, địa vị, có một vai trò thì khi nói chuyện cũng ta đây, tôi ta, bản ngã, cũng thấy hãnh diện trong cương vị đó.

Dù cái thân tai biến, bệnh thân và cả bệnh tâm nhưng cái đau đớn là mình không biết mình bệnh cho nên cái khổ nhất trong tất cả cái khổ là không biết mình bệnh, cái đau nhất trong tất cả cái đau là không biết mình đau, cái vô minh lớn nhất trong tất cả vô minh là không biết mình vô minh, cái chết cay đắng nhất là không biết mình sẽ chết, sự sanh u ám nhất là không biết mình bị sanh, không biết mình bị già, không biết mình bị bệnh, không biết mình bị chết, không biết mình bị áp bức, thống khổ ngự trị, không biết mình đang gặp tai nạn trong cái thân này. Cái tâm này gặp nạn trong thân này vì tâm lầm tưởng hình hài này là nó, vì cái tâm nó lầm tưởng những cảm giác của ba thọ là nó, vì tâm lầm tưởng những hình bóng trong tâm là nó, vì cái tâm lầm tưởng những suy nghĩ là nó, những nhận thức, thấy biết là nó, vì nó lầm tưởng trong ngũ uẩn này là nó cho nên gặp tai nạn, ách nạn, khổ nạn, đại nạn, gặp sầu, bi, khổ, ưu, não chất chứa, tích tập trở thành đống đại khổ uẩn to lớn.

Thật là nhiều cảm xúc! Ngày xưa mỗi lần thấy máu là con sợ, từ khi vào dòng pháp này bị lấy hai ống máu vẫn bình thản, bình thường, nhiều khi còn tác ý "chết sớm khỏe, phải mang vác cái thân này thật mệt mỏi, nhọc nhằn, thật là phiền phức, phiền não. Vì say đắm trong đây, vì mê đắm trong đây, vì vô minh, khát ái, vì tham ái trong đây mà mình cứ quanh quẩn trong những cái sân si, bản ngã, trong kiến chấp, nắm giữ, nắm chặt vào khối bất tịnh, ô uế, tanh hôi, đáng tủi hổ này". Vừa rồi có sự kiện rất thương tâm, một cậu học sinh mới lớp 8 bị bạn bè giỡn với nhau thì tụt quần cậu này làm cậu xấu hổ vì bạn chọc, đang trong giờ học thì cậu xin ra ngoài rồi nhảy lầu xuống, thân này đáng xấu hổ, đáng nhục nhã nhưng dù cho mình tu hoặc xuất gia vẫn say mê, say đắm, yêu thích tự ngã, không đủ sức mạnh phá tan, phá nát cái kiến chấp về thân này. Trên cơ thể mình đó là những chỗ nhạy cảm, xấu hổ, những nơi bẩn thỉu nhưng chúng ta vì những thứ đó mà đau khổ, thèm muốn, khao khát, mê đắm, chúng ta nhìn sâu vào và quán chiếu sâu sẽ thấy cái vô minh và khát ái này rất mâu thuẫn, rất ác độc.

Ai cười, ai thích nhìn thân xác,

Thì khổ mất thân sẽ dài dài.

Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,

Các cõi luân hồi chấm dứt ngay.

Vì hằng ngày mình không nhớ Thân Hành Niệm, vì hằng giờ mình không nhớ tứ đại, vì hằng giây mình không nhìn ra được chín giai đoạn của một tử thi, mình sống trong suy nghĩ, trong những cảm xúc, nhận thức tôi, của tôi và tự ngã của tôi trong thân tứ đại này, không tháo gỡ trong từng suy nghĩ, từng cảm thọ, nhận thức, mình không phá vỡ hình bóng của tự thân nơi nội tâm cho nên sự chấp thủ, sự nắm chặt vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là thâm căn cố đế, là tường đồng vách sắt cho nên sự thiền quán là tuyệt đối quan trọng, sự tư duy tác ý cũng tuyệt đối quan trọng, là một sự nội chiến, nội soi, nội quán, nội tỉnh, nội lực.

Từ sự nhận diện ngũ uẩn rồi nhìn lại những suy nghĩ đó để mình xoay chuyển những suy nghĩ đó, lật đổ những suy nghĩ đó, đánh phá, phá nát những suy nghĩ cho rằng tứ đại này là mình, là của mình. Công trình quán chiếu này đòi hỏi công phu tu tập biết bao lâu mà mình cứ muốn ngồi im để tự động bừng lên là ngộ, khỏi cần suy nghĩ gì cả chứ để tự nhiên thì cái tự nhiên này theo vô minh, tự nhiên của nó là khát ái, là chấp thủ, là bản ngã, đó là tự nhiên của nó, là câu sanh phiền não, mình sanh ra nó đã đi theo mình.

Nếu mình không phá được cái nhìn, cái kiến chấp, tà kiến, cái thấy sai lệch trong sắc uẩn này thì thọ; tưởng; hành; thức bị nhốt chặt, bị tù đày, bị giam hãm trong sắc uẩn này, tất cả những nhận thức, nghĩ tưởng không đi ra sao sắc uẩn này. Suốt ngày những cảm giác, suy nghĩ, nhận thức đều lòng vòng trong khối thịt này thôi, trong cái giả danh này thôi, trong một cái ảo tưởng về tự ngã này thôi cho nên qua đây chúng ta thấy được tầm vóc quan trọng của việc quán thân. Đức Phật dạy đến sáu phương diện quán thân, đây là sáu thanh đao trảm tà kiến, kiến chấp về tự ngã lệch lạc, sai lầm của phàm phu chúng sanh.

Từ hơi thở thứ nhất đã phá được vô minh, đem mình về thực tại, hơi thở là phong đại để mình nhìn thấy mạng sống này vô cùng mong manh chứ không phải hơi thở để mình thấy nhẹ nhàng, an lạc, sung sướng, đó chỉ là những pháp tạm thời đối trị tâm bất lạc, tâm buồn chán trong sự tu. Điều thật sự của hơi thở đó là để cho mình nhìn ra tính chất vô thường, khổ, vô ngã của phong đại chứ không phải bám vào hơi thở, lấy hơi thở làm cứu cánh vì hơi thở chỉ là một pháp rất nhỏ, không đủ sức công phá.

Trong Tương Ưng Hơi Thở những gì Đức Phật nói về hơi thở đó là để cho những vị đã thành tựu chánh tri kiến thì tu hơi thở đó mới đưa đến diệt tận các lậu hoặc, còn mình chưa nhận diện ngũ uẩn, chưa nhìn thấy lậu hoặc, chưa thành tựu chánh kiến mà cứ nắm chặt vào hơi thở, tu hơi thở thì nó chỉ giúp mình an tịnh, lắng dịu thôi. Cho nên điều quan trọng trong tạng kinh Nikāya là phải nhìn ra được ngũ uẩn trước, kế đó là nhìn ra được lậu hoặc dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, khi thấy được lậu hoặc thì mình có duyên với môn nào thì đi theo môn đó, dùng nó làm phương tiện để tẩy rửa các lậu hoặc, chúng ta phải thấy được pháp ấn trong Nikāya là thấy được ngũ uẩn trước rồi thấy được lậu hoặc sau, Đức Thế Tôn chứng ngộ bốn Thánh trí về ngũ uẩn, sau đó mới chứng ngộ bốn Thánh trí về lậu hoặc, tiếp đến ngài mới đạt lậu tận. Điều đầu tiên trong Bát Chánh Đạo là phải đi vào cái thấy đúng của bậc Thánh.

Thấy đúng của bậc Thánh là thấy được vô thường, khổ, vô ngã. Ngày xưa chưa vào dòng pháp này con chỉ hiểu vô thường trên sắc uẩn, thấy được vô thường này rất thâm sâu, cái vô thường này, sự đột ngột, đột biến, đột tử này chúng ta chẳng những nhìn thấy nơi sắc pháp, sắc uẩn, sắc chất, ở nơi đồ vật, tứ đại mà chúng ta còn nhìn thấy vô thường trong cảm giác, trong những hình bóng, suy nghĩ và nhận thức.

Nền tảng của khổ là ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, cho nên nhận diện ngũ uẩn là chìa khóa để mở cánh cửa ngôi nhà nội tâm, không thấy được ngũ uẩn là không thấy trong nhà có gì thì làm sao quét dọn, lau chùi vì vậy muốn thấy được vô thường, khổ, vô ngã là phải thấy được ngũ uẩn. Khi thấy được ngũ uẩn thì cái vô thường đó ở trong ngũ uẩn, cái khổ ở trong ngũ uẩn, cái vô ngã, trống rỗng cũng ở trong ngũ uẩn. Nó vô thường, vô ngã, trống rỗng như vậy nhưng tạo ra biết bao ác nghiệp, dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã cho nên mình mới quay trở lại để mình thanh tẩy, tẩy rửa các lậu hoặc.

Cái lậu hoặc đầu tiên trong tất cả cái lậu hoặc là thân kiến, là cái nhìn sai lầm về thân, nếu không thay đổi nhận thức về cái nhìn sai này thì tất cả sự tu hành đều tu trong hữu vi, hữu lậu, bản ngã, trong vô minh cho nên phần nhận diện ngũ uẩn là tuyệt đối quan trọng, khi mình đã nhìn rồi mình sẽ thấy, sẽ biết, sẽ cảm nhận bằng tất cả trái tim sự vô thường, đau khổ, trống rỗng, đầy hiểm nạn, tai họa và bất an trong hình hài, cảm giác, suy tư, nghĩ tưởng và nhận thức này, từ đó mới có sự nhàm chán tận cùng, tột độ mới dẫn đến ly tham, từ bỏ, thoát ra.

Nhân duyên tiếp theo là con gặp chú xe ôm, sau khi xét nghiệm khám bệnh xong hết thì con mới đi tìm đồ ăn, con kêu chú xe ôm chở tới chỗ có bán đồ ăn chay. Ăn xong thì con thấy chú có treo một hộp cơm trên xe thì con hỏi sao chú không ăn sáng đi, chú nói rằng "thưa thầy, lúc sáng con có cúng cái bánh bao cho vợ, con mới ăn xong chưa có đói", chú bắt đầu tâm sự vợ chú sinh năm 1975 bằng tuổi con, trong đợt dịch vừa rồi thì cô mất, chú bảo như một giấc mơ, không thể tưởng tượng được, mới bữa trước còn nói chuyện với vợ mà hôm sau nhận cái bao có đề tên vợ trên đó, "bây giờ con ăn cái gì thì con kêu bả về ăn cái nấy, hồi sáng con cúng cho bả cái bánh bao, cúng xong con ăn bánh bao nên giờ chưa đói bụng", chú nói trong sự xót xa, chú bảo lúc đó cũng nghĩ quẩn, sau đó chích mấy mũi vaccine thì chú nghĩ còn hai đứa con cũng bị nhiễm, chú bàng hoàng không biết gì xảy ra, vào một buổi chiều nọ xe đến đưa vợ đi rồi mấy ngày sau nghe tin vợ chết, mấy đứa con cũng bị đưa đi, cái nhà bị phong tỏa, chú bàng hoàng, kinh sợ, chú nói "con cũng không muốn sống nữa, con thấy cuộc đời vô thường như Phật nói. Khi con lãnh xác vợ thì con nhìn nổi da gà, run rẩy, đi không nổi vì thấy chất đống không biết bao nhiêu người, chất như chất bao gạo, con đường thì bên đây là xe lạnh ướp xác, bên kia là xe cấp cứu đậu hàng dài".

Con ngồi sau lưng chú để nghe chú thuyết kinh Nikāya sống, nghe chú tuyên dương Thánh trí, Thánh pháp của Đức Thế Tôn bằng người thật, sự thật, lẽ thật, nghe tới đâu thấm tới đó, nghe tới đâu là ngấm vào da, vào thịt, vào tủy, từ đảnh tóc cho đến gót chân, bây giờ nhắc nhở vẫn còn cảm thọ đó. Ai biết rằng một chút nữa hay ngày mai mình sẽ ra sao? Không ai biết được, cổ nhân có viết:

Sinh niên bất mãn bách,

Thường hoài thiên tuế ưu.

Dịch nghĩa: Ðời người chẳng được trăm năm

Mà thường ôm mối lo nghìn thuở.

Chúng ta không biết được tối nay ra sao hay sáng mai sẽ ra sao, chúng ta tính chục năm, hai chục năm, một trăm năm bởi vì chúng sanh là ưa thích sự hiện hữu, ưa thích tái sanh, tham ái trong tái sanh là đồng nghĩa với tham ái, sầu, bi, khổ, ưu, não. Chúng sanh muốn không khổ nhưng lại yêu thích những thứ chất chứa khổ đau, khi chú xe ôm đó tâm sự như vậy thì con ngồi nghe pháp thuyết, con nghe Thánh thuyết, con nghe tuệ thuyết, con nghe chân lý thuyết, đó là chánh pháp Nikāya, đó là bốn sự thật của cuộc đời này, đó là Tứ Thánh Đế, là bốn Thánh trí về ngũ uẩn, là tam pháp ấn. Con để những lời nói của chú thấm đẫm vào tim, vào tủy, vào não và giữ gìn nó làm pháp bảo, làm đề mục thiền quán, làm tư liệu cho sự chiêm nghiệm để càng tích lũy, tăng thượng, phát triển, lớn thêm Thánh tuệ uẩn này, lòng dặn lòng không bao giờ được quên tính chất của ngũ uẩn này là như vậy, không vượt qua khỏi bản chất ấy.

II. Khuyến tấn tu tập

"Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)

Chúng ta giành giật, chúng ta hơn thua, chúng ta phấn đấu trong những cái bèo dạt ảo ảnh, phù du, sương khói, bong bóng, bọt bèo. Chúng ta đi tìm kiếm những lâu đài trên bãi cát, những ảo ảnh từ trong những ảo tưởng, ảo vọng, ảo mộng, từ trong những cái điên đảo mộng tưởng. Chúng ta quên mất sự thật trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, chúng ta không hướng nội quay về nhìn thấy sự thật, biết sự thật, chứng đắc sự thật, thể nhập sự thật, sống trọn vẹn với sự thật.

Chúng ta quên lời Đức Phật, quên lời bậc đạo sư, chúng ta hướng ngoại đi tìm những cái phù du, những cái bất an, những cái tai họa, những cái hư ảo, những cái chúng ta đã vứt bỏ trước khi chúng ta đi xuất gia, những cái mà người cư sĩ, những thiện gia nam tử, những thí chủ đã bỏ ra để cúng dường. Chúng ta cất chứa, tự hào, tự mãn, tự cao trong những món đồ của người ta quăng bỏ, chúng ta hài lòng, thỏa thích trong những pháp hạ liệt, phàm phu thấp hèn.

"Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng" (Tương Ưng Bộ kinh, tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)

Chúng phải luôn nhớ thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh. Pháp của bậc thượng nhân chính là nhìn ra ngũ uẩn, nhìn ra tính chất đau khổ, bất an, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, trống rỗng, nguy hiểm và tác hại của ngũ uẩn này, kẻ giết người chính là sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, chính là những cảm giác thúc giục, thiêu đốt, bản ngã bên trong, nó là kẻ giết người thầm lặng, kẻ giết người ẩn danh, kẻ giết người không thấy mặt.

Làm sao chúng sanh có thể nhìn ra kẻ sát nhân thầm lặng trú ẩn bên trong thân xác này, bên trong cảm giác này? Làm sao kẻ phàm phu có thể nhìn ra tên đao phủ luôn theo sau chúng ta bén gót lẩn trốn trong những suy nghĩ, nhận thức này? Làm sao với một trí tuệ hạ liệt thấp kém của kẻ vô văn phàm phu có thể nhìn ra được thần chết đang rình rập, ác nghiệp đang ẩn nấp, quả dị thục đang chờ đợi trước mặt?

Khi con về nhà nằm lên võng là một cảm thọ tràn ngập từ đảnh tóc cho đến gót chân cho nên bây giờ con chia sẻ để mọi người cùng hưởng được cảm giác ly tham, nhàm chán này, trí tuệ lột trần, phơi bày hết tất cả những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy sắc, chỉ đường cho người lạc hướng.

Qua đây mới thấy được Thánh trí tuệ này tuyệt đỉnh vô song, tối tôn, tối thượng giữa chư thiên và loài người, một ngọn đèn rực sáng trong nội tâm chúng ta mà không có gì thổi tắt được, một khi đã thắp sáng được Thánh trí tuệ này thì ngọn đèn đó sẽ cháy vĩnh hằng. Chúng ta phải thắp sáng nó lên trong từng phút, từng giây, không bao giờ được quên, mình hãy nhìn xung quanh, nhìn vào tự thân ngũ uẩn này, nhìn vào nùi giẻ rách này, nhìn vào cái toilet di động bẩn thỉu này rồi nhìn ra những ngũ uẩn xung quanh bằng một ánh mắt thiện cảm, từ tâm, thấu hiểu, cảm thông, bao dung, thương yêu và độ lượng.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Tâm vào đây làm tổ chi tâm

Tâm vào đây làm ổ làm gì

Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.

Phải nhắc nhở bản thân liên tục như vậy chứ đừng tu bằng tâm thụ động, đừng tu bằng tâm buông lung, buông thả, buông lơi mà phải tu bằng sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác. Nhiệt tâm là một trái tim rực cháy, một trái tim nóng bỏng, một nội tâm nhiệt huyết giống Đức Thế Tôn nói tu như lửa cháy trên đầu, cầu chứng cảnh bất động.

"-- Này các Tỳ-kheo, khi khăn đầu hay đầu bị lửa cháy, thời phải làm gì?

-- Bạch Thế Tôn, khi khăn đầu hay đầu bị bị lửa cháy, để dập tắt khăn đầu hay đầu bị lửa cháy cần phải có ước muốn tăng thượng (chanda), tinh tấn (vàyàmo), cố gắng (ussàho), nỗ lực (ussohii), không có thối thất (appativami), chánh niệm và tỉnh giác" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IV. Khăn Ðầu)

Khi cái khăn trên đầu bị cháy thì làm sao mình thong thả, thảnh thơi, cười nói được, còn nếu như vậy thì người đó không thấy khăn bị cháy, không thấy tóc bị cháy, không thấy đầu bị cháy nên mới buông lung, buông thả, tâm người đó không an trú trong pháp, không an trú trong tuệ, không an trú trong trí, không an trú trong sự thật, vì thế mới có những ngôn ngữ, hành vi buông lung phóng dật, thả lỏng các căn. Nếu một người có an trú trong Thân Hành Niệm, an trú trong tuệ, an trú trong sự thật thì người đó như cứu lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động.

Cái khăn bị cháy trên đầu thì phải tìm mọi cách nhanh chóng dập lửa, như vậy mới gọi là nhiệt tâm, tinh cần, còn mình tu chỉ muốn ngồi im thở ra thở vô, cái gì sanh thì để cho sanh, mặc kệ nó, như vậy thì Tứ Chánh Cần ở đâu? Dục như ý túc ở đâu? Cái tâm mãnh liệt muốn chấm dứt khổ ở đâu? Ngược lại phải tìm đủ mọi cách thức, tuy duy cách mau nhất, hiệu quả nhất để thoát ra, muốn có cái tâm như vậy thì phải có sự an tịnh, lắng dịu và sự quán chiếu, tác ý, thiền quán, song song chỉ quán định tuệ đồng hành, tương trợ, tương thành, cân bằng, quân bình.

Chúng ta thấy rằng sự tác ý đó nuôi lớn sự thật, làm cho sự thật càng tỏ sáng, chiếu sáng và bừng sáng nơi nội tâm, mỗi một lần tác ý, mỗi lần mình nhìn, mình suy nghĩ, cảm giác, nhận thức như vậy là mỗi lần Thánh trí được tô đậm, mỗi lần cho dầu vô là ánh sáng càng được tỏa rạng. Thời gian đầu tu thì tâm rất mãnh liệt, rất cung kính, tinh tấn nhưng tu một thời gian không còn những cái đó nữa vì dầu đã khô, tim lụi, không cháy sáng nữa nên không muốn nghe pháp, không muốn hành thiền, chỉ muốn làm những việc bên ngoài để được vỗ tay, phát bằng khen.

Vì vậy cứu cánh phạm hạnh là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, cứu cánh phạm hạnh là đập tan bản ngã, diệt tận vô minh, phá trừ kiết sử, đập vỡ thân kiến, thành tựu chánh trí, viên mãn thánh giải thoát, tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Còn nếu chúng ta không nuôi lớn thì làm sao nó phát triển, chúng ta không tác ý, không quán chiếu, chúng ta nghe của người này người nọ, đi theo đạo lộ sau này trong khi lời dạy của bậc Chánh Đẳng Giác thì bỏ qua một bên, đạo lộ Đức Phật đi như thế nào thì lại không học, không hiểu, chúng ta phải suy tư rất nhiều, phải nhìn lại sự tu học của chúng ta.

Có những bài kinh Đức Phật nói rất vắn tắt, chỉ có vài câu nhưng các vị Tỳ-kheo khi nghe được, trở về thực hành là đoạn tận các lậu hoặc, thành tựu Thánh quả tối cao vì các ngài là những bậc đã thành tựu chánh tri kiến, đã nhìn thấy ngũ uẩn, đã nội soi lậu hoặc. Con đường, bản đồ đi như thế nào, quẹo ở đâu, thẳng ra sao thì các ngài đều đã biết, Đức Phật chỉ cần chỉ điểm để các ngài làm theo là thành công, còn mình bây giờ đọc mênh mông thiên địa cái gì cũng biết nhưng thực ra chẳng biết cái gì, mình không đào sâu vào, để toàn tâm toàn ý vào đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, ngoài Đức Phật ra không có người thứ hai nào có thể giúp mình đoạn tận được sanh tử, ngoài tạng kinh Nikāya ra không có tạng kinh nào có thể giúp mình đập vỡ được bản ngã, phá tan thân kiến, cắt đứt kiết sử. Phải là lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hoặc là lời của các bậc A-la-hán hay là lời mà Đức Thế Tôn ấn chứng trong kinh tạng Nikāya, còn những lời khác chỉ là thứ yếu không quan trọng, không cần nghe cũng được.

Xin thưa các ngài là bây giờ con chỉ cần bộ kinh Nikāya thì đi đến đâu cũng được để đoạn tận các lậu hoặc, con không có tìm một vị thầy nào nữa ngoài bậc đạo sư và tạng kinh Nikāya đó. Đức Thế Tôn là bổn sư, mình học tận nguồn cội thì mới tìm thấy đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, mình đi đúng theo đại lộ đó thì mình sẽ đi đến đúng nơi các ngài đã đến, còn gặp phàm phu chỉ thì làm sao đi tới thánh đạo?

Đó là lý do tu lâu mà bản ngã không diệt được, phàm phu làm sao có khả năng nhìn thấy được, làm sao có khả năng đoạn tận được, cho dù nhìn thấy hay đoạn tận được thì cũng chỉ trên cành lá, những cái thô thiển bên ngoài, còn gốc rễ không thấy được, chỉ có Thánh nhãn của Đức Phật, tức là bốn Thánh trí về ngũ uẩn, bốn Thánh trí về lậu hoặc mới có thể giúp chúng ta nhìn ra được, phơi bày những gì bị che kín, vạch trần được tham, sân, si, dục ái, vô minh và bản ngã của tên sát thủ giấu mặt, tên phóng hỏa tự thiêu nằm trong cảm thọ, trong suy nghĩ, tư tưởng, nhận thức của chúng ta. Chúng ta không thể tự nhìn ra được trừ khi được Đức Thế Tôn chỉ cho cách mở thiên nhãn, pháp nhãn, Thánh nhãn, trí nhãn, tuệ nhãn, minh nhãn, đó chính là phương pháp nhận diện ngũ uẩn.

Con mong rằng các thầy các cô cố gắng chia sẻ phương pháp nhận diện ngũ uẩn trong đạo tràng, từ người cũ cho đến người mới đều phải thuần thục. Ai còn chưa nhận diện ngũ uẩn một cách thuần thục thì cần phải được thực tập, cần phải được làm bài tập, làm bài kiểm tra. Một người nhận diện được ngũ uẩn và khéo tu tập thì tối thiểu cũng tránh được ba đường ác, tối đa là đoạn tận các lậu hoặc tức là hết tâm cấu nhiễm, cho nên chỉ riêng việc tu viên mãn phần Thân Hành Niệm cũng có thể đoạn tận các lậu hoặc, thành tựu chánh kiến và đoạn tận các lậu hoặc cũng đủ sức chứng quả A-la-hán nhưng không có nghĩa mình chỉ học mỗi Thân Hành Niệm, còn lại bỏ hết là không đúng, khi nào thành tựu chánh kiến, có nền tảng thì lúc đó nhìn cái pháp nào trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng có khả năng đưa đến đoạn tận các lậu hoặc, một người thành tựu chánh kiến và tu ngũ căn ngũ lực cũng chứng A-la-hán, một người thành tựu chánh kiến và tu tứ chánh cần cũng chứng A-la-hán, một người thành tựu chánh tri kiến và tu Tứ Niệm Xứ cũng đủ để chứng đắc tâm giải thoát, tuệ giải thoát, một người thành tựu chánh kiến và tu Bát Chánh Đạo là đi đến thánh quả tối thượng nhưng điều kiện tiên quyết là phải thành tựu chánh kiến, thấy biết về thân tâm, nhận diện được ngũ uẩn, lậu hoặc, nếu chưa có cái này mà có tu cái nào thì cũng lòng vòng trong thân kiến, trong hữu vi, hữu lậu, trong nhân thiên phước báo vì còn chấp nhận vô minh, còn dung túng vô minh, còn bao biện, bao che cho vô minh, bản ngã phát triển thì làm sao đi đến chỗ sạch hết các cấu nhiễm được, mình còn yêu thích sắc thân này, còn nắm giữ vào những cảm giác, nghĩ tưởng, cho nó là mình thì làm sao ra khỏi ngũ uẩn, không có cách nào khác ngoài cách nhận diện ngũ uẩn, không có một cách thứ hai, chỉ có một cánh cửa, chỉ có một chìa khóa.

Trong đạo tràng chúng ta dù là các vị mới hay các vị cũ đều phải thực hành ba pháp, nhận diện ngũ uẩn, sau khi thuần thục rồi mới nhận diện về dục, ái tham, sân, si, vô minh, bản ngã, ít nhất phải ba năm mới vững được. Nếu không nhận diện ngũ uẩn sát sao, khít khao, cẩn trọng, cẩn thận, miên mật thì dù có sám hối, lạy lục khóc lóc, với khổ với ưu nước mắt đầy mặt, bứt tóc đấm ngực nhưng rồi trở về cũng y như vậy, hoặc đang sám hối nhưng nói trong bản ngã, dù có thiện pháp nhưng lại lồng vào bất thiện mà mình lại không thấy được, mình sám hối nhưng lại thành chỉ lỗi người vì không nhận diện ngũ uẩn nên không biết, nói trong vô minh, không biết pháp gì đang diễn ra.

Khi đi vào dòng pháp này rồi mới thấy sự rạch ròi, minh bạch, tường tận, giống như xem chỉ trong lòng bàn tay, pháp gì cũng hiện rõ ra chứ không che giấu được, tu như vậy thì mới đi đến chỗ sạch sẽ. Đức Phật nói một người tu xong hết giống như tắm sạch rồi, làm công việc xong rồi, qua sông rồi, ngài dùng từ rất bình dị, gần gũi nhưng những từ bình thường như vậy mình không chịu, phải là "đáo bỉ ngạn" nghe cho khó hiểu, sang chảnh, đáo bỉ ngạn là qua khỏi dòng sông đau khổ, qua khỏi dòng sông sầu bi, qua khỏi dòng sông đầy rẫy nước độc, máu, huyết lệ để đi đến chỗ bình an.

III. Thân vô ngã

Một người tu theo đúng tinh thần Đức Phật rất nhẹ nhàng, không hướng ra ngoài để làm gì cả, tới lúc mình tu hoàn chỉnh là thành công, sau đó người nào có duyên thì mình giúp, không có duyên thì thôi, nhẹ nhàng chứ không có dự tính, dự án gì cả, lúc nào muốn đi là đi, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi, tới lúc thân này rã thì rã vì nó là ngũ uẩn. Một vị Tỳ-kheo bị rắn độc cắn thì tôn giả Xá-lợi-phất hỏi tại sao không thấy ngài ấy đổi sắc mặt, vị Tỳ-kheo trả lời đã từ lâu ngài ấy không xem cục thịt mấy chục kí lô này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi cho nên tại sao phải đổi sắc mặt, đã từ rất lâu tôi không xem suy nghĩ, cảm giác này là tôi, là của tôi thì tại sao phải đổi sắc mặt.

"Một thời Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Upasena trú ở Ràjagaha (Vương Xá), rừng Sitavana (Hàn Lâm), tại hang Ðầu Con Rắn (Sappapon-dikapabbàra).

Tôn giả Upasena gọi các Tỳ-kheo:

-- Chư Hiền, hãy đến và nhắc cái giường cùng với cái thân này của tôi đưa ra ngoài, trước khi thân này ở đây phân tán như một nắm rơm.

Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Upasena:

-- Nhưng chúng tôi không thấy thân Tôn giả Upasena đổi khác hay các căn bị biến hoại.

Nhưng Tôn giả Upasena nói như sau:

Này Hiền giả Sàriputta, đối với ai nghĩ rằng: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời đối với các người ấy, này Hiền giả Sàriputta, thân có thể bị đổi khác, hay các căn bị biến hoại. Và này Hiền giả Sàriputta, tôi không nghĩ như sau: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi"... 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Cái lưỡi là của tôi'... hay: 'Tôi là ý', hay: 'Ý là của tôi', thời này Hiền giả Sàriputta, làm sao thân ấy của tôi lại có thể đổi khác, hay các căn có thể biến hoại.

Vì rằng trong một thời gian dài, Tôn giả Upasena đã khéo nhổ tận gốc ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên, cho nên Tôn giả Upasena không có những tư tưởng như: 'Tôi là con mắt', hay: 'Con mắt là của tôi'... hay: 'Tôi là cái lưỡi', hay: 'Lưỡi là của tôi'... hay: "Tôi là ý", hay: 'Ý là của tôi'.

Rồi các Tỳ-kheo ấy nhắc cái giường cùng với Tôn giả Upasena ra ngoài.

Rồi thân của Tôn giả Upasena, ngay tại chỗ ấy phân tán như một nắm rơm" (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, II. Phẩm Migajàla, VII. Upasena)

Vị Tỳ-kheo ấy đạt được tâm bất động giải thoát dù cho thân ngũ uẩn này tàn hoại, tiêu ma, hoại diệt, tan rã, đó là Thánh chánh định, Thánh trí tuệ, Thánh giải thoát đối với ngũ uẩn này. Bây giờ mình bị muỗi cắn một chút thì sao? Đắp y nóng nực một chút thì sao? Ngồi thiền tê chân một chút thì sao? Mình có chiến đấu với những cảm thọ đó không?

Mình có quán chiếu không? gặp chuyện trái ý nghịch lòng có tác ý không hay để những cảm thọ đó sanh khởi, xâm chiếm, áp đảo, quật ngã mình cho nên nhận diện ngũ uẩn để tách từ từ ra, mở từ từ ra rồi mình sẽ thấy hạnh phúc, không gì trên thế giới này sánh bằng, mình khai tử giữa cuộc đời này, mình hoàn toàn vô sở hữu, bất cứ lúc nào mình cũng có thể ra đi một cách nhẹ nhàng, bình an, thanh thản, không lưu luyến, không luyến tiếc đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức quá khứ, hiện tại, vị lai, trong ngoài, thô tế, thắng liệt, xa gần.

"-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

"Như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã", câu này cần phải tu từ đây cho đến khi viên mãn phạm hạnh, đó là Thánh pháp ấn của tất cả chư Phật. Đức Phật nói quán vô thường, khổ, vô ngã đối với năm thủ uẩn là không giới hạn, bất cứ lúc nào cũng có thể tác ý, quán chiếu.

Chúng ta thường quán rồi chúng ta sẽ thấy một cảm giác bình an, cảm giác tự do, hạnh phúc, cảm giác giải thoát, cảm giác đi ra ngoài không dự phần vào trong thế giới này, chúng ta thật sự độc lập, tự do, thật sự là người sống một mình, thật sự là người tự chủ, tự tại khi chúng ta thành tựu cái thấy biết đúng như thật, chúng ta sẽ được bình an, ngọt ngào, cái thân này có rã rời thì chúng ta cũng khỏe, ngày mình trông đợi cuối cùng cũng đến. Chúng ta phải hộ trì căn, bớt duyên xúc vì xúc sẽ sanh thọ, đó là định lý chứng ngộ của Đức Phật, không thể nào bắt nó không sanh thọ được, khi mình nói xúc mà bảo không làm cho nó sanh thọ là chưa nắm vững được pháp, mình chỉ tránh bớt duyên xúc, thu thúc lục căn thanh tịnh giới chứ mình không thể ngăn chặn không cho thọ sanh khởi, điều đó không thể xảy ra vì pháp của Đức Phật chứng ngộ xúc sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành.

./.