Vô Minh 2 - Dòng Chảy Của Minh - Vô Minh
Dòng Chảy Của Vô Minh – Vô Minh
Thích Minh Thành
Ngày 09 tháng 02 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô minh PAGEREF _Toc97748910 \h 1
II. Vô minh – vô tàm vô quý PAGEREF _Toc97748911 \h 5
III. Vô minh – tà kiến sanh PAGEREF _Toc97748912 \h 7
I. Vô minh
Kính bạch các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử, những con người đang thực tập sự an tịnh, trầm lặng.
Chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn khai thị, trình bày các khía cạnh, góc độ về sự dại khờ của chúng sanh, các phương diện mê lầm, si ám của hữu tình. Các ngõ ngách, ngóc ngách của vô minh, tâm thức.
Chúng ta đã từ rất lâu với tâm này mê muội, không biết từ khi nào đến nay tâm này bị si ám, tâm này ưa thích sống trong dại khờ, tham đắm sống trong lững lờ, ngu ngơ, tâm này đã quen thuộc sống trong sự buông lơi, thả lỏng. Tâm này đã thuần thục trong vô minh, khát ái. Tâm này bị mờ mắt trước những màu sắc lòe loẹt của thế giới. Tâm này dễ chao đảo, chỉ cần nghe một âm thanh, thấy một hình ảnh là nó mất tự chủ, không còn tự chủ nữa.
Tâm này yêu thích trong bóng tối, quen sinh hoạt trong vô tri, không minh kiến, không nhìn thấy ngay khi tiếp xúc được với Thánh trí tuệ nhưng nó cũng trở về nằm ì ở vũng lầy, dậm chân tại chỗ trong bóng tối. Tâm này thường quên, quên sự thật, quên tỉnh táo, quên tỉnh thức, quên tỉnh giấc, quên phản tỉnh, nên trong bài Xưng tán đạo sư Minh Thành đã nói
“Nguyện con xuyên thấu thế giới ảo
Nguyện con phá vỡ trần gian mê
Nguyện con thành tựu Thánh trí tuệ
Nguyện con phá sạch khói ám si.”
Mình muốn vô minh vắng mặt, minh kiến, ánh sáng được chiếu soi thì phải luôn luôn được tỉnh táo trong mọi ánh nhìn, mọi nghe, mọi ngửi nếm, tiếp xúc, mọi thấy biết, nhận thức bên trong và bên ngoài. Mình phải để tâm vào và cái nhìn của mình phải là cái nhìn xuyên thấu. Con mắt của mình không còn là mắt thường mà phải là mắt pháp để nhìn xuyên thấu sự vật, xuyên thủng sự vật, vì “Nguyện con xuyên thấu trần gian mê”.
Ví dụ mắt mình nhìn thấy một chậu hoa đào, thì mình nhìn với ánh nhìn ra sao? Và trong ánh nhìn xác định minh và vô minh. Khi có chậu hoa mai, hoa đào, hoa cúc, mắt mình nhìn thấy, mắt, chậu hoa và khởi lên sự rõ biết, ba pháp này tạo thành sự tiếp xúc của con mắt đó, lập tức sanh ra cảm thọ đẹp, vui, thích hay là dở, xấu, không thích, hoặc là không có gì để thích hay không thích. Cả ba cái nhìn đó đều là vô minh.
Nếu mình dừng lại ở đó thì mình và phàm phu đều giống nhau, nhưng người tu không phải là người không biết đẹp hay xấu mà là khi cảm nhận được có sự yêu thích thì tác ý ngay bằng Thánh trí tuệ: “Sau đó cũng héo tàn, rơi rụng, tả tơi! Đây là thứ vô thường, tan nát, biến hoại, đây là pháp tiên ma, diệt tận. Có gì đâu mà ham mà thích, ái, luyến trong này.” Khi mình tác ý như vậy là công phu tu tập, phá được vô minh. Còn nếu mình thấy đẹp nên thích, khoái, ưa, quyến luyến, say sưa thì vô minh và tham ái đang vận hành, xâm chiếm tâm mình. Vì vô minh và tham ái sẵn bên trong, câu hữu, đi chung với mình nên gọi là “câu sanh phiền não” tức là những thứ mình sanh ra đã đi chung trong nhiều đời, nhiều kiếp, vô lượng, vô biên kiếp. Là dù mình sanh ở chỗ nào thì vô minh đã ở trong tâm của mình sẵn. Sự tham muốn, thèm khát đã ở trong tâm mình sẵn.
Có ai dạy mình yêu thích, khao khát, thèm muốn không? Không có ai dạy mà nó đã có sẵn bên trong. Còn Thánh trí tuệ là mình vừa được học, những gì mình vừa tác ý khi nãy và nếu mình không tu học Chánh Pháp thì làm sao mình có được suy nghĩ đó, tư duy đó, tác động tâm ý đó.
Như vậy khi mình nhìn sự vật đẹp xấu hay không đẹp không xấu thì chúng ta có tác ý không? Tác ý được bao nhiêu? Tác ý, nhắc nhở tâm mình về sự thật, vô thường, trống rỗng, khổ đau và trống rỗng vô ngã, biến hoại của các pháp thì tác ý đó là tu, nhắc nhở mình, dặn dò, dò xét tâm mình. Khi nào tâm mình rực sáng ba đặc tính biến hoại, khổ đau và trống rỗng thì đó là vô thường, khổ, vô ngã.
Khi nào tâm mình luôn luôn rõ ràng, nhớ kĩ tính chất đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử và khi nào tâm mình luôn nhớ kĩ, nhớ rõ tính chất đau buồn, thống khổ, thấy rõ được nước mắt, khổ sầu, bất an, sợ hãi, buồn đau. Khi nào tâm mình nhớ rõ, thấy rõ, biết rõ tính chất trống rỗng, trống không, giả dối, hư ảo thì lúc đó vô minh được vắng mặt, minh trí hiện hữu, lúc đó bóng đêm bị xóa tan bởi ánh sáng có mặt.
Còn lúc nào chạy theo đẹp, theo xấu, theo vui, theo buồn, ưa hay không ưa, theo hơn, thua thì lúc đó vô minh, bản ngã, ganh đua, thị phi, hơn thua, thắng bại, thương ghét, thân sơ, phải quấy, cao thấp, nhân ngã có mặt; khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh, khổ đau, buồn lo, bất an, sợ hãi, chia li, đổ vỡ, tan rã xuất hiện.
Vậy chúng ta nhớ hay quên? Bà cụ tám mươi lăm tuổi nói là “Nhớ!” còn nếu không nhớ là mệt, phải tính từng ngày, từng giờ của sự sống. Hay những người năm mươi tám tuổi cũng đừng nghĩ là mình còn ổn, hay người hai mươi tám đừng tưởng là mình chắc. Phải nhớ, đừng quên, nhớ mãi không quên.
Đến đây là cốt lõi của tất cả vấn đề, dù có nói mãi thì cũng chỉ có bấy nhiêu đó. Là thấy được tính chất tan hoại của nó, biến hoại, hoại diệt, diệt vong, sanh diệt của nó. Đừng để tâm mình đam mê, dính mắc, trói cột dù cho đó là lời êm ái hay chỉ trích, mắng chửi đều quán chiếu như vậy. Tính chất rỗng không của các âm thanh, vì chưa nghe qua thì không tức giận, nghe qua rồi lại phẫn nộ lên. Trước khi nghe không có khoan khoái, nhưng sau khi nghe xong rồi thì say đắm. Vậy nên cần phải giữ sự an tịnh, trầm lặng bên trong.
Sự tu này giúp từng giây, từng phút, từng ý niệm nhìn lại tâm mình, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản giáo, quản lý, quản thúc nội tâm của mình.
Hôm nay chúng ta sẽ nghe bài Dòng chảy của vô minh và minh trong Tương Ưng Bộ kinh tập năm, bài kinh Vô minh
“1. Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Thắng Lâm, trong vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
3) –
Khi nào vô minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện, thời vô tàm, vô quý nối tiếp theo.
Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỷ- kheo, tà kiến sanh.
Ðối với kẻ có tà kiến, tà tư duy sanh.
Ðối với kẻ có tà tư duy, tà ngữ sanh.
Ðối với kẻ có tà ngữ, tà nghiệp sanh.
Ðối với kẻ có tà nghiệp, tà mạng sanh.
Ðối với kẻ có tà mạng, tà tinh tấn sanh.
Ðối với kẻ có tà tinh tấn, tà niệm sanh.
Ðối với kẻ có tà niệm, tà định sanh.
4)
Khi nào minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các thiện pháp, thời tàm và quý nối tiếp theo.
Với kẻ được minh chi phối, có trí, này các Tỷ-kheo, chánh kiến sanh.
Ðối với vị chánh kiến, chánh tư duy sanh.
Ðối với vị chánh tư duy, chánh ngữ sanh.
Ðối với vị chánh ngữ, chánh nghiệp sanh.
Ðối với vị chánh nghiệp, chánh mạng sanh.
Ðối với vị chánh mạng, chánh tinh tấn sanh.
Ðối với vị chánh tinh tấn, chánh niệm sanh.
Ðối với vị chánh niệm, chánh định sanh.”
(Bài kinh Vô minh – Phẩm Vô minh – Chương I. Tương Ưng Đạo – Tập V. Thiên Đại Phẩm – Tương Ưng Bộ Kinh)
Câu trên ý nói: Khi nào vô minh dẫn đầu, khi nào tâm mờ tối, khi nào tâm không có ánh sáng, tâm không thấy được những sự thật về biến hoại, khổ đau, về sự trống rỗng của năm uẩn, đời sống, thân tâm này. Khi nào tâm lãng quên, tâm mờ tối, tâm u ám, không thấy được ba đặc tính vô thường, khổ vô ngã thì lúc đó, các pháp ác, bất thiện được thành tựu, được tạo ra. Những điều xấu ác sẽ có mặt khi tâm mờ tối, không thấy được tam tướng – ba đặc tính vô thường, khổ đau, vô ngã, trống rỗng của năm uẩn thì các pháp ác sẽ được thiết lập, thành lập, thành tựu.
II. Vô minh – vô tàm vô quý
Khi đó tiếp theo sau các pháp ác là không hổ thẹn, không sợ hãi sẽ tiếp gót theo sau. Một tâm thức đầy bất thiện và theo sau tâm thức đầy bất thiện đó là một tâm vô tàm vô quý, không xấu hổ và không sợ hãi đối với những điều tội lỗi.
Ngược lại, “Khi nào minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các thiện pháp, thời tàm và quý nối tiếp theo.” Là khi nào tâm mình nhớ rõ ràng sự biến động, biến đổi vô thường, nhớ rõ ràng bản chất đau khổ của đời sống thì đó gọi là minh. Khi nào tâm mình nhớ rõ tính chất duyên sanh pháp, duyên khởi pháp, lắp ráp, vay mượn, nương dựa, giả dối, trống rỗng, vô ngã, khi nào tâm mình nhớ rõ, thấy rõ, biết rõ, nhìn rõ ra ba đặc tính đó, thì lúc đó sẽ thành tựu được các pháp lành, thiện pháp, các pháp lành sẽ được thành lập, thiết lập, có mặt. Và khi các pháp lành có mặt, nối tiếp theo đó là trong tâm mình có sự xấu hổ và sợ hãi.
Chúng ta đối chiếu giữa hai phần vô minh và minh. Lúc nào tâm mình không thấy xấu hổ thì lúc đó ác bất thiện pháp xâm chiếm, vô minh đang có mặt. Lúc nào mình nhìn lại và thấy “Thật là hổ thẹn, xấu hổ, xấu xí cho thân tâm này!” Xấu xí, hổ thẹn, xấu hổ như thế nào?
“Nguyện tâm luôn nhớ thân lủng lỗ
Nguyện tâm trú như nùi giẻ rách
Nguyện tâm mình luôn nhìn thấy ung nhọt chín lỗ rỉ chảy ngày đêm.”
Khi chánh niệm, tỉnh thức có mặt và khi sự quán chiếu có mặt, khi niệm thân hành niệm có mặt thì tự động lúc đó có sự xấu hổ, hổ thẹn, lúc nào cũng cúi xuống, khom xuống, hạ xuống, khiêm hạ, khiêm cung, nhìn lại thân mình từ bên ngoài đến bên trong là một đống bất tịnh, là ung nhọt chín lỗ, ngày đêm rỉ chảy, những thứ nhờm gớm, rỉ chảy ra những nhàm chán, bất tịnh, tanh hôi, xú uế rỉ chảy ra bên ngoài mà mình không kịp che đậy, hay tìm chỗ kín đáo bày tiết ra thì một sự xấu hổ tột độ.
Đừng nói về bày tiết, rỉ chảy, chỉ cần rách áo hay quần ở chỗ nhạy cảm thôi đã là xấu hổ. Vậy nên có sự niệm thân, quán niệm về thân, nghĩ nhớ về thân, quán nhớ, quán chiếu về thân, quán xét, soi rọi về thân thì lúc đó sẽ an trú trong sự tàm quý, xấu hổ và lúc nào quên thì nó vênh váo, lơ láo, vỗ ngực xưng tên, ưỡng ngực hất mặt, kênh kiệu. Lúc đó là vô minh có mặt, bất thiện pháp có mặt thì lúc đó mới có ra những pháp vô tàm vô quý như vậy.
Điều này rất rõ ràng, một người an trú thân niệm như tôn giả Xá-lợi-phất nói trong bài kinh Sau khi an cư:
“Làm sao có thể xúc phạm người khác mà không xin lỗi?”
Một người an trú tâm mình như một nùi giẻ rách, giống như con bò bị cưa hai sừng, an trú tâm mình giống như vết thương chín lỗ, ung nhọt chín lỗ. Một người an trú tâm mình với sự xấu hổ những thứ rịn ra, rỉ ra, chảy ra thì làm sao quên mất được sự tàm quý.
Nên người trú trong thân, hành, niệm, trú trong tâm từ, trú trong minh trí, minh kiến, sự thật về thân thì tự động tâm có tàm quý hiện hữu. Còn một người hung hăn, dữ dằn, ta đây, hơn thua, kênh kiệu thì người đó ở trong ác, bất thiện pháp và bắt nguồn từ vô minh.
Khi chúng ta thực tập, pháp vận hành thì đó là quán pháp trong pháp, chúng ta sẽ thấy rất rõ. Vậy nên:
“Khi nào vô minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện, thời vô tàm, vô quý nối tiếp theo”
“Khi nào minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các thiện pháp, thời tàm và quý nối tiếp theo.”
Không xấu hổ, sợ hãi tội lỗi, nhân quả, nghiệp quả, không sợ những cảm thọ sân hận, thiêu đốt, đốt cháy, tranh đấu, hơn thua đều không sợ, đưa đến địa ngục ngạ quỷ, súc sanh cũng không sợ, làm cho đã nư, hả dạ, nói cho đã miệng, đánh cho đã tay đã chân thì cuối cùng lại kết thúc cuộc đời trong tù tội, tật nguyền, chết chóc, khổ đau. Đó chính là vô minh, không thấy không biết nhân quả, không biết tội lỗi, ác nghiệp, quả báo khốc liệt của những hành động ác bất thiện pháp từ tâm vô minh dẫn dắt, điều khiển, chi phối, xâm chiếm, áp đảo, chế ngự trong tâm mình là một khối vô minh uẩn to lớn.
Kẻ vô văn phàm phu không học hay tu những lời dạy nguyên chất của Đức Phật thì con mắt, lỗ tai, lỗ mũi vô minh, mắt là mù, tai là điếc, toàn thân vô minh, sáu căn đều bị phong tỏa hết, dù cho có thấy, nghe, nhận thức, có cảm giác nhưng nhận thức, cảm giác theo chiều:
III. Vô minh – tà kiến sanh
“Này các Tỳ-kheo, với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí. Này các Tỳ-kheo, tà kiến sanh.”
Ý nói có thấy thì đó là thấy sai, lầm lạc, đảo ngược. Ví dụ như lúc tối đi trên núi này không có đèn pin, đèn cầy, đèn dầu, đèn điện, đang đi thì đạp trúng rễ cây, mình nhìn xuống ngay, hết hồn và hoảng sợ vì sợ đạp trúng con rắn thì nhìn thấy xa xa là nhìn ra rễ cây, hay là sợi dây mà tưởng là con rắn. Đến khi đến gần thì phát hiện đó là rễ cây, sợi dây mà nghĩ rõ ràng là con rắn. Thì khi đó, sự thấy con rắn đó là thấy sai, là tà kiến.
Đó là ví dụ, tất cả chúng sanh đều nhìn trong bóng đêm là sai hết. Tà kiến gồm có bốn, Đức Phật gọi đó là Bốn sự điên đảo của tâm thức, của tư tưởng, của tri kiến. Thứ nhất, vô thường mình cho là thường. Thứ hai, khổ đau mà mình cho là vui sướng. Thứ ba, dơ bẩn mà mình cho là sạch sẽ, tức bất tịnh mình cho là tịnh. Thứ tư, giả dối mà mình cho là cứng chắc, sự thật, tức vô ngã mà mình cho là ngã, có tôi, có ta, có tự ngã. Đây là bốn cái nhìn mà Đức Phật gọi là bốn sự điên đảo, lộn lạo, tứ đảo. Tâm của mình, tư tưởng của mình bị điên đảo, mà tri kiến của mình cũng bị điên đảo. Trong bốn lớp mê, khía cạnh, nhận định sai lầm về thân tâm và thế giới, cũng là bốn khía cạnh, nhận định sai lầm về ngũ uẩn.
Mình cho hình hài này còn sống mãi, giờ mình ngồi ở đây thì mai mình cũng ngồi ở đây, nay mình nghe không được thì mai nghe, nay tu không được thì để vài ngày nữa tu. Đó là suy nghĩ vô minh, đó là suy nghĩ còn hoài, như vậy hoài.
Như suy nghĩ cái nhà này vẫn còn hoài với mình, nhưng bất thình lình một ngày nó cháy hay sụp đổ thì lúc đó mình đau khổ. Vì mình cứ nghĩ trong mình là nó sẽ như vậy hoài, nên những người thân của mình ra đi, mình đau khổ lắm, mình yêu thương, yêu dấu, mình nghĩ rằng những người này sẽ ở với mình như vậy hoài, căn nhà của mình vậy hoài, tình cảm của mình sẽ vậy hoài.
Hai người thương yêu nhau vài ngày lại đổi thành hận thù nhau làm mình đau khổ vô cùng “Tại sao như vậy, mình muốn nó phải như kia mà giờ sao lại như vậy?” Mình đau khổ vì mình không biết thọ là vô thường, những cảm giác đó đổi thay, mình không nhìn thấy tam tướng trong ngũ uẩn (ba đặc tính). Tình cảm sẽ đổi thay, suy nghĩ này rồi sẽ đổi thay, những nhận thức này rồi sẽ đổi thay.
Mình cứ nghĩ là sẽ vậy hoài, tiếng Việt của mình là từ đó, nhưng trong tiếng Hán là thường, dịch tiếng Việt ra là vậy hoài, đây là dịch bình dân, dịch mà tất cả mọi người đều hiểu được hết. Chấp thường là vậy hoài hay là thầy cứ vậy hoài, ngày nào thầy cũng lên ngồi giảng, giảng riết rất ngán. Nhưng bất thình lình xe đụng chết, máy bay rớt làm thầy chết, hay nhiễm vi rút làm thầy chết thì khóc lóc, lạy và kêu “Sư phụ!” Vì ngày nào thầy cũng lên ngồi, đó là nghĩ vô minh, chỉ có khoảnh khắc ngay bây giờ, khoảnh khắc sau thật sự không biết như thế nào.
Đức Phật hay dùng: Các hành là khổ đau, vô thường với tuệ quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán, chính con đường thanh tịnh.
Đức Phật dùng từ các hành là để chỉ cho ngũ uẩn. Khi mình hiểu ra được thì mình rúng động hết, lông tóc dựng ngược, nổi da gà vì con mắt của Đức Phật từ hai ngàn sáu trăm năm trước mà Đức Phật khi nhìn vào các ngôi nhà, tượng Phật, cây, bông hoa, con người mà Đức Phật nhìn thấy là nó đang vận hành hết, không có cái nào đứng yên thì Đức Phật dùng từ là các hành pháp, đất, nước, gió, lửa, đang vận hành. Tứ đại đang vận hành là tất cả đang vận hành, dịch chuyển thiên lưu, đổi khác nên Đức Thế Tôn nói các hạnh là vô thường, vì nó vận hành nên nó không vậy hoài. Không vậy hoài là vô thường, vậy hoài là thường. Đức Phật nhìn vào và thấy sắc này là một sự vận hành liên tục, vì vận hành nên đi đến chỗ biến đổi và hoại diệt.
Đức Thế Tôn gọi sắc pháp này là pháp diệt tận, biến hoại, hoại diệt. Vì nó vận hành để đi đến biến đổi, diệt tận thế giới nên chúng ta thấy như Trái đất bây giờ khắp nơi là sóng thần, lũ lụt, bão tuyết hàng trăm trận mà chưa từng có ở các nước châu Âu. Nào là lũ lụt, động đất, núi lửa chưa từng thấy, núi lửa phun trào, Trái đất đi đến kiếp biến hoại, biết diệt.
Tại sao nó lại như vậy? Vì nó là hành pháp, tức nó đang vận hành, dịch chuyển, thiên lưu, biến đổi để tan hoại. Và làm gì có sự đứng yên, vững trú, thường trú ở trong thứ vô thường biến hoại này. Mà một thứ luôn luôn biến đổi như đám mây, như ngày mình quán chiếu về ánh mặt trời về tưởng uẩn thì làm sao có đám mây nào cứ vậy hoài không biến đổi. Nếu nó không biến đổi thì không còn là đám mây nữa, như vậy là các pháp, Đức Thế Tôn gọi đó là các hành vô thường.
Với tuệ quán thấy vậy, Đức Phật nhìn nó bằng con mắt tuệ và Đức Phật thấy được sắc thân này, cảnh vật này, đồ đạc này, nhà cửa, đất đai, xe cộ, tiền bạc, ruộng vườn, tài sản này là pháp biến hoại, đổi thay. Nhưng nó biến hoại, đổi thay là làm cho con người đau khổ. Vì tâm chấp vào sắc đó là tôi, của tôi, là sắc thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong tổ hợp sắc chất này nên tâm không nhả ra được. Chiều vô minh chúng ta có năm khía cạnh, đó là nói gọn, nói rộng ra là một trăm lẻ tám, nói rộng ra nữa là vô số.
Vô minh chúng ta rất khủng khiếp, nó phong tỏa, bao vây, vây hãm chúng ta mà chúng ta thì rất ngây thơ như nai tơ, ngơ ngác nhìn, vô tư. Nhìn cái nào cũng đẹp, cũng vui nhưng phía sau là mãnh hổ, sói, sư tử trong khi chúng ta thì ngây thơ như nai tơ “Khổ gì đâu, chúng tôi thấy có gì đâu khổ!” Thật đáng thương cho những con nai tơ. Bất cứ lúc nào cũng có thể bị xé xác, bị mãnh hổ vô thường xé xác. Đó là vô minh, là không thấy, không biết về sắc.
Vô minh đối với sắc là mình không thấy, không biết những đặc tính, thành phần, yếu tố, cấu tạo, vận hành của sắc này mình hoàn toàn không biết gì, mình cứ cho là “Nhà này là của tôi, thân thể này là tôi!” Như vậy gọi là vô minh đối với sắc uẩn, chính vì vô minh nên mình mới thủ, nên gọi là sắc thủ uẩn, cứ nắm chặt trong đó, yêu, say đắm, đam mê, khao khát, thèm thuồng trong đó, ai đụng tới thì “Đồ của tôi!” rồi vung tay, nào là “Nhà của tôi, tài sản của tôi, vợ của tôi, chồng của tôi, ai dám đụng vào đây, biết tay tôi!”
Chúng ta thấy được từ vô minh rồi có tham ái, có chấp thủ, sau đó là sầu bi, khổ, ưu não. Nên khi mình tu mà không biết vô minh là gì thì thật sự tới ngày nào thì mình mới đạt được minh trí, chấp dứt khổ đau. Nên mình cần phải học loạt mấy chục bài về vô minh.
Đối với các cảm giác, cảm thọ thì mình cũng không thấy, không biết gì cả, nó điều khiển mình, không biết duyên khởi ra sao, tại sao nó sanh ra, sao nó phừng phừng lên và nó thúc giục không xong, sao nó dẫn dắt, ngấm ngầm, nó hoạt động bên trong mà mình cũng không thấy, không biết gì. Nên mình cũng ngây thơ như con nai tơ đối với cảm thọ nữa mà mình không biết rằng nhà sát bên đang cháy, mình bên đây thì đang tổ chức tiệc sinh nhật. Sắp cháy lan sang nhưng bên đây thì mình cứ thản nhiên ăn sinh nhật. Đó là để ví dụ cho các cảm thọ đó, chỉ tích tắc là lửa lan qua.
Còn đối với người trí tuệ thì sẽ nghĩ là lửa cháy tới nơi rồi, lấy đồ quý, đồ giá trị chạy ra ngoài thoát thân trước. Mình không biết về tưởng, hành, thức, hoàn toàn không biết về gì nhưng lại rất ta đây, nói ra câu thứ nhất là ta, câu thứ hai là tôi, câu thứ ba là “Biết tôi là ai không? Có biết tôi là ai hay không?” Như vậy chúng ta có thấy thương cho vô minh của mình nhiều không? Nên khi mình đi vào dòng pháp và học ra được vô minh của mình rồi mình thương mình vô cùng thương, mình là người vô minh nhất hành tinh chứ không phải ai, chỉ biết hơn thua những chuyện bồn chậu, giấm muối nhưng chuyện đại sự, quan trọng, người chết đến nơi, nhà cháy sắp tới, sắp rơi xuống vực mà không lo, ở đó hơn thua từng chút.
“Thương thay tâm mờ tối,
Chúng sanh đáng thương thay”
Tâm mờ tối là vô minh, suốt ngày cứ suy nghĩ tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ mọn, suốt ngày cứ suy nghĩ nóng giận, bực bội, hận thù, suốt ngày cứ suy nghĩ “Mình bằng, mình hơn, mình thua…”
Thương thay tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay. Nhưng người khác không biết chúng ta đang bị hại, chỗ ấy ai biết được tranh luận được lắng yên. Và người khác không biết chúng ta đang bị hãm hại, chỗ đó ai biết được mọi tranh luận sẽ được lắng yên.
Chúng ta trở lại ví dụ khi nãy, nếu chúng ta biết được nhà bên có lửa chuẩn bị bốc qua nhà mình, ở đây mình gây lộn, tranh luận. Như vậy là tâm của bậc trí tuệ, hiền trí, nhìn thấy khắp địa cầu này đang bốc cháy, là tâm của bậc hiền trí, minh trí, minh kiến, bậc Chánh Kiến, nhìn thấy tim của ai cũng đang rực lửa tham, lửa sân, lửa si, chạm tới là phựt.
Chạm tới đâu là phựt tới đó, tâm của bậc hiền trí là cả một tình thương mênh mông, bao la và ôm trọn địa cầu này, một tâm từ vô lượng đối với hữu tình chúng sanh mà không biết họ đang bị hại, đang gặp nguy hiểm, đang gặp tai họa, họ vẫn nhởn nhơ qua ngày tháng, ẩn dương nương Phật, họ vẫn trơ trơ với một tâm thức ù lì, dại khờ, cứng cỏi. Đi học đạo nhưng với một tâm kiêu ngạo, ngã mạn thì làm sao thể nhập được Thánh pháp vô ngã.
Môt người thấy biết thì tự giác họ sẽ an trú cảm thọ xấu hổ và sợ hãi, đó là tâm của bậc hiền thánh như câu “Nhục nhã sanh Thánh quả” Nhìn lại thấy xấu hổ từ bên ngoài đến bên trong, từ tấm thân bất tịnh đến bên trong là nội tâm uế nhiễm, đầy sân, hại, tham lam, ngã mạn, xấu hổ và sợ hãi với những tâm thức đó.
“Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỷ-kheo, tà kiến sanh.”
Ý nói, với một tâm sáng suốt như vậy, sẽ có sự thấy đúng về thân tâm, đời sống này. Đối với vị thấy đúng Chánh Kiến thì vị này sẽ có những suy nghĩ đúng, có suy nghĩ đúng sẽ có lời nói đúng, đối với vị có lời nói đúng thì sẽ có hành động đúng, việc làm đúng, người này sẽ nuôi sống đúng, nuôi thân mạng mình một cách chân chánh. Vị này sẽ có sự siêng năng đúng đắn, nghĩ nhớ, quán chiếu đúng đắn, chân chánh.
Và khi vị này có sự nhớ đúng, nghĩ đúng, quán xét đúng thì vị này sẽ có một nội tâm an định, đúng theo sự an định của bậc Thánh, đó là dòng chảy của vô minh.
“Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỷ-kheo, tà kiến sanh.”
Thấy sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, nuôi mạng mình sai, siêng năng sai lầm và có những nghĩ nhớ sai lầm, từ đó tập trung tâm ý vào chỗ sai lầm, bát tà đạo xuất hiện, không phải bát chánh đạo. Với một người vô minh thì bát tà đạo sanh khởi.
Thế nào gọi là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ? Một khi mình thấy rằng có một cái tôi thật thì mình sẽ suy nghĩ, gom góp cho cái tôi đó nhiều, muốn chiếm hữu nhiều vì mình tham lam. Nên mình mới nói và hành động những lời để mình gom về cho mình, chiếm, giành về cho mình thì từ đó ích kỷ sanh, lừa gạt, trộm cướp, hãm hại nhau sanh khởi.
Từ đó dẫn thành một mạch từ nhìn sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, những hành động sai lầm và mình đặt siêng năng của mình đi vào mục đích sai lầm. Mục đích là để phát huy cái tôi, cái ta để sở hữu, chiếm hữu thật nhiều hơn người khác hoặc “Ai muốn đụng chạm tới tôi thì phải trừng phạt người đó, thuận tôi thì sống, nghịch tôi thì chết!” Sau đó tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp, suốt ngày cứ suy nghĩ những thứ đó, tâm mình cứ tập trung vào những đề mục đó, chủ đề đó, những chủ đề về tôi, của tôi.
Như vậy thì bát tà đạo sanh khởi từ vô minh mà dẫn đến từ tâm mờ tối, dẫn đến tâm không xấu hổ, không sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp. Tâm mờ tối làm ra những điều ác, bất thiện, tiếp theo đó là không xấu hổ với những điều ác, bất thiện đó và cũng không sợ hãi đối với những điều ác, bất thiện đó.
Từ không xấu hổ, không sợ hãi đó đưa đến sự nhìn sai về tự thân, về tha nhân, về đời sống, khi nhìn sai thì nghĩ sai, nói sai, làm sai. Những nghề nghiệp nuôi sống sai lầm, siêng năng sai, nhớ nghĩ những điều lầm lạc, tà bại nhưng tập trung tâm ý vào những chuyện sai quấy. Như vậy thì từ vô minh sanh ra các ác bất thiện pháp, từ ác bất thiện pháp dẫn tới không xấu hổ và sợ hãi, từ đó dẫn tới bát tà đạo. Đó chính là dòng chảy của vô minh tạo ra bao nhiêu ác nghiệp trong đời sống này, bắt nguồn từ việc không thấy không biết về ngũ uẩn, cho rằng năm uẩn này là tôi, của tôi, tự ngã của tôi.
Vậy nên trong sự tu này, nên thường nhớ như câu “Niệm ngũ uẩn này không phải ta!” nên phải thường niệm, cứ nhắc mình hoài là sắc này không phải ta, không phải mình, những cảm giác, cảm thọ này không phải mình, những hình bóng trong tâm này không phải mình, không phải của mình, đó là pháp duyên sinh. Những suy nghĩ này, nhận thức này cũng không phải mình, của mình, đó là pháp vô ngã, duyên sanh, là pháp khổ đau, phải từ bỏ, nhàm chán nó, ly tham, đừng chấp nhận nó. Niệm hoài như vậy, dù là sáng, trưa, chiều hay hôm giật mình đều niệm, thường xuyên tác ý để phá vô minh và gỡ dần dần. Vì gốc vô minh và khát ái, chấp thủ đã sẵn ở trong này, từ khi được sinh ra, ở trong bụng mẹ là đã có sẵn.
Nhưng giờ mình không tồn lực quyết tâm, dồn sức lực, nghị lực, trí lực, nguyện lực, hạnh lực của mình thì không thể nào nhổ được gốc rễ của nó, không thể nào làm lung lay được chuyển động từ những chấp thủ đó. Còn nếu mình không lung lay, không bứng gốc rễ đó thì cổ thụ ngàn năm vô lượng kiếp này đến ngày nào mới thoát ra được trong dòng chảy của vô minh, tham ái, chấp thủ này. Nắm giữ để đầy nước mắt, đầy khổ đau, máu này. Chúng ta nên chiêm nghiệm thêm về bài kinh này rất thâm sâu, bao trùm hết thế giới này là dòng chảy của vô minh và dòng chảy của minh trí – bài kinh Vô minh, Tương Ưng Bộ Kinh tập năm.
Với tấm lòng của bà cụ tám mươi lăm tuổi từ Bình Định đi vào đây, tấm lòng của người con hiếu thảo, tấm lòng của các Phật tử, Minh Thành cố gắng chia sẻ bằng trái tim của mình, mong rằng chúng ta hãy thọ nhận, lưu giữ, hành trì pháp này và nhớ mãi đừng quên.
71-112: Phật tử trình pháp
Thương thay tâm mờ tối,
Chúng sanh đáng thương thay.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
Thích Minh Thành
Ngày 09 tháng 02 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô minh PAGEREF _Toc97748910 \h 1
II. Vô minh – vô tàm vô quý PAGEREF _Toc97748911 \h 5
III. Vô minh – tà kiến sanh PAGEREF _Toc97748912 \h 7
I. Vô minh
Kính bạch các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử, những con người đang thực tập sự an tịnh, trầm lặng.
Chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn khai thị, trình bày các khía cạnh, góc độ về sự dại khờ của chúng sanh, các phương diện mê lầm, si ám của hữu tình. Các ngõ ngách, ngóc ngách của vô minh, tâm thức.
Chúng ta đã từ rất lâu với tâm này mê muội, không biết từ khi nào đến nay tâm này bị si ám, tâm này ưa thích sống trong dại khờ, tham đắm sống trong lững lờ, ngu ngơ, tâm này đã quen thuộc sống trong sự buông lơi, thả lỏng. Tâm này đã thuần thục trong vô minh, khát ái. Tâm này bị mờ mắt trước những màu sắc lòe loẹt của thế giới. Tâm này dễ chao đảo, chỉ cần nghe một âm thanh, thấy một hình ảnh là nó mất tự chủ, không còn tự chủ nữa.
Tâm này yêu thích trong bóng tối, quen sinh hoạt trong vô tri, không minh kiến, không nhìn thấy ngay khi tiếp xúc được với Thánh trí tuệ nhưng nó cũng trở về nằm ì ở vũng lầy, dậm chân tại chỗ trong bóng tối. Tâm này thường quên, quên sự thật, quên tỉnh táo, quên tỉnh thức, quên tỉnh giấc, quên phản tỉnh, nên trong bài Xưng tán đạo sư Minh Thành đã nói
“Nguyện con xuyên thấu thế giới ảo
Nguyện con phá vỡ trần gian mê
Nguyện con thành tựu Thánh trí tuệ
Nguyện con phá sạch khói ám si.”
Mình muốn vô minh vắng mặt, minh kiến, ánh sáng được chiếu soi thì phải luôn luôn được tỉnh táo trong mọi ánh nhìn, mọi nghe, mọi ngửi nếm, tiếp xúc, mọi thấy biết, nhận thức bên trong và bên ngoài. Mình phải để tâm vào và cái nhìn của mình phải là cái nhìn xuyên thấu. Con mắt của mình không còn là mắt thường mà phải là mắt pháp để nhìn xuyên thấu sự vật, xuyên thủng sự vật, vì “Nguyện con xuyên thấu trần gian mê”.
Ví dụ mắt mình nhìn thấy một chậu hoa đào, thì mình nhìn với ánh nhìn ra sao? Và trong ánh nhìn xác định minh và vô minh. Khi có chậu hoa mai, hoa đào, hoa cúc, mắt mình nhìn thấy, mắt, chậu hoa và khởi lên sự rõ biết, ba pháp này tạo thành sự tiếp xúc của con mắt đó, lập tức sanh ra cảm thọ đẹp, vui, thích hay là dở, xấu, không thích, hoặc là không có gì để thích hay không thích. Cả ba cái nhìn đó đều là vô minh.
Nếu mình dừng lại ở đó thì mình và phàm phu đều giống nhau, nhưng người tu không phải là người không biết đẹp hay xấu mà là khi cảm nhận được có sự yêu thích thì tác ý ngay bằng Thánh trí tuệ: “Sau đó cũng héo tàn, rơi rụng, tả tơi! Đây là thứ vô thường, tan nát, biến hoại, đây là pháp tiên ma, diệt tận. Có gì đâu mà ham mà thích, ái, luyến trong này.” Khi mình tác ý như vậy là công phu tu tập, phá được vô minh. Còn nếu mình thấy đẹp nên thích, khoái, ưa, quyến luyến, say sưa thì vô minh và tham ái đang vận hành, xâm chiếm tâm mình. Vì vô minh và tham ái sẵn bên trong, câu hữu, đi chung với mình nên gọi là “câu sanh phiền não” tức là những thứ mình sanh ra đã đi chung trong nhiều đời, nhiều kiếp, vô lượng, vô biên kiếp. Là dù mình sanh ở chỗ nào thì vô minh đã ở trong tâm của mình sẵn. Sự tham muốn, thèm khát đã ở trong tâm mình sẵn.
Có ai dạy mình yêu thích, khao khát, thèm muốn không? Không có ai dạy mà nó đã có sẵn bên trong. Còn Thánh trí tuệ là mình vừa được học, những gì mình vừa tác ý khi nãy và nếu mình không tu học Chánh Pháp thì làm sao mình có được suy nghĩ đó, tư duy đó, tác động tâm ý đó.
Như vậy khi mình nhìn sự vật đẹp xấu hay không đẹp không xấu thì chúng ta có tác ý không? Tác ý được bao nhiêu? Tác ý, nhắc nhở tâm mình về sự thật, vô thường, trống rỗng, khổ đau và trống rỗng vô ngã, biến hoại của các pháp thì tác ý đó là tu, nhắc nhở mình, dặn dò, dò xét tâm mình. Khi nào tâm mình rực sáng ba đặc tính biến hoại, khổ đau và trống rỗng thì đó là vô thường, khổ, vô ngã.
Khi nào tâm mình luôn luôn rõ ràng, nhớ kĩ tính chất đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử và khi nào tâm mình luôn nhớ kĩ, nhớ rõ tính chất đau buồn, thống khổ, thấy rõ được nước mắt, khổ sầu, bất an, sợ hãi, buồn đau. Khi nào tâm mình nhớ rõ, thấy rõ, biết rõ tính chất trống rỗng, trống không, giả dối, hư ảo thì lúc đó vô minh được vắng mặt, minh trí hiện hữu, lúc đó bóng đêm bị xóa tan bởi ánh sáng có mặt.
Còn lúc nào chạy theo đẹp, theo xấu, theo vui, theo buồn, ưa hay không ưa, theo hơn, thua thì lúc đó vô minh, bản ngã, ganh đua, thị phi, hơn thua, thắng bại, thương ghét, thân sơ, phải quấy, cao thấp, nhân ngã có mặt; khẩu tranh, cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh, khổ đau, buồn lo, bất an, sợ hãi, chia li, đổ vỡ, tan rã xuất hiện.
Vậy chúng ta nhớ hay quên? Bà cụ tám mươi lăm tuổi nói là “Nhớ!” còn nếu không nhớ là mệt, phải tính từng ngày, từng giờ của sự sống. Hay những người năm mươi tám tuổi cũng đừng nghĩ là mình còn ổn, hay người hai mươi tám đừng tưởng là mình chắc. Phải nhớ, đừng quên, nhớ mãi không quên.
Đến đây là cốt lõi của tất cả vấn đề, dù có nói mãi thì cũng chỉ có bấy nhiêu đó. Là thấy được tính chất tan hoại của nó, biến hoại, hoại diệt, diệt vong, sanh diệt của nó. Đừng để tâm mình đam mê, dính mắc, trói cột dù cho đó là lời êm ái hay chỉ trích, mắng chửi đều quán chiếu như vậy. Tính chất rỗng không của các âm thanh, vì chưa nghe qua thì không tức giận, nghe qua rồi lại phẫn nộ lên. Trước khi nghe không có khoan khoái, nhưng sau khi nghe xong rồi thì say đắm. Vậy nên cần phải giữ sự an tịnh, trầm lặng bên trong.
Sự tu này giúp từng giây, từng phút, từng ý niệm nhìn lại tâm mình, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản giáo, quản lý, quản thúc nội tâm của mình.
Hôm nay chúng ta sẽ nghe bài Dòng chảy của vô minh và minh trong Tương Ưng Bộ kinh tập năm, bài kinh Vô minh
“1. Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Thắng Lâm, trong vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2) Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
3) –
Khi nào vô minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện, thời vô tàm, vô quý nối tiếp theo.
Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỷ- kheo, tà kiến sanh.
Ðối với kẻ có tà kiến, tà tư duy sanh.
Ðối với kẻ có tà tư duy, tà ngữ sanh.
Ðối với kẻ có tà ngữ, tà nghiệp sanh.
Ðối với kẻ có tà nghiệp, tà mạng sanh.
Ðối với kẻ có tà mạng, tà tinh tấn sanh.
Ðối với kẻ có tà tinh tấn, tà niệm sanh.
Ðối với kẻ có tà niệm, tà định sanh.
4)
Khi nào minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các thiện pháp, thời tàm và quý nối tiếp theo.
Với kẻ được minh chi phối, có trí, này các Tỷ-kheo, chánh kiến sanh.
Ðối với vị chánh kiến, chánh tư duy sanh.
Ðối với vị chánh tư duy, chánh ngữ sanh.
Ðối với vị chánh ngữ, chánh nghiệp sanh.
Ðối với vị chánh nghiệp, chánh mạng sanh.
Ðối với vị chánh mạng, chánh tinh tấn sanh.
Ðối với vị chánh tinh tấn, chánh niệm sanh.
Ðối với vị chánh niệm, chánh định sanh.”
(Bài kinh Vô minh – Phẩm Vô minh – Chương I. Tương Ưng Đạo – Tập V. Thiên Đại Phẩm – Tương Ưng Bộ Kinh)
Câu trên ý nói: Khi nào vô minh dẫn đầu, khi nào tâm mờ tối, khi nào tâm không có ánh sáng, tâm không thấy được những sự thật về biến hoại, khổ đau, về sự trống rỗng của năm uẩn, đời sống, thân tâm này. Khi nào tâm lãng quên, tâm mờ tối, tâm u ám, không thấy được ba đặc tính vô thường, khổ vô ngã thì lúc đó, các pháp ác, bất thiện được thành tựu, được tạo ra. Những điều xấu ác sẽ có mặt khi tâm mờ tối, không thấy được tam tướng – ba đặc tính vô thường, khổ đau, vô ngã, trống rỗng của năm uẩn thì các pháp ác sẽ được thiết lập, thành lập, thành tựu.
II. Vô minh – vô tàm vô quý
Khi đó tiếp theo sau các pháp ác là không hổ thẹn, không sợ hãi sẽ tiếp gót theo sau. Một tâm thức đầy bất thiện và theo sau tâm thức đầy bất thiện đó là một tâm vô tàm vô quý, không xấu hổ và không sợ hãi đối với những điều tội lỗi.
Ngược lại, “Khi nào minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các thiện pháp, thời tàm và quý nối tiếp theo.” Là khi nào tâm mình nhớ rõ ràng sự biến động, biến đổi vô thường, nhớ rõ ràng bản chất đau khổ của đời sống thì đó gọi là minh. Khi nào tâm mình nhớ rõ tính chất duyên sanh pháp, duyên khởi pháp, lắp ráp, vay mượn, nương dựa, giả dối, trống rỗng, vô ngã, khi nào tâm mình nhớ rõ, thấy rõ, biết rõ, nhìn rõ ra ba đặc tính đó, thì lúc đó sẽ thành tựu được các pháp lành, thiện pháp, các pháp lành sẽ được thành lập, thiết lập, có mặt. Và khi các pháp lành có mặt, nối tiếp theo đó là trong tâm mình có sự xấu hổ và sợ hãi.
Chúng ta đối chiếu giữa hai phần vô minh và minh. Lúc nào tâm mình không thấy xấu hổ thì lúc đó ác bất thiện pháp xâm chiếm, vô minh đang có mặt. Lúc nào mình nhìn lại và thấy “Thật là hổ thẹn, xấu hổ, xấu xí cho thân tâm này!” Xấu xí, hổ thẹn, xấu hổ như thế nào?
“Nguyện tâm luôn nhớ thân lủng lỗ
Nguyện tâm trú như nùi giẻ rách
Nguyện tâm mình luôn nhìn thấy ung nhọt chín lỗ rỉ chảy ngày đêm.”
Khi chánh niệm, tỉnh thức có mặt và khi sự quán chiếu có mặt, khi niệm thân hành niệm có mặt thì tự động lúc đó có sự xấu hổ, hổ thẹn, lúc nào cũng cúi xuống, khom xuống, hạ xuống, khiêm hạ, khiêm cung, nhìn lại thân mình từ bên ngoài đến bên trong là một đống bất tịnh, là ung nhọt chín lỗ, ngày đêm rỉ chảy, những thứ nhờm gớm, rỉ chảy ra những nhàm chán, bất tịnh, tanh hôi, xú uế rỉ chảy ra bên ngoài mà mình không kịp che đậy, hay tìm chỗ kín đáo bày tiết ra thì một sự xấu hổ tột độ.
Đừng nói về bày tiết, rỉ chảy, chỉ cần rách áo hay quần ở chỗ nhạy cảm thôi đã là xấu hổ. Vậy nên có sự niệm thân, quán niệm về thân, nghĩ nhớ về thân, quán nhớ, quán chiếu về thân, quán xét, soi rọi về thân thì lúc đó sẽ an trú trong sự tàm quý, xấu hổ và lúc nào quên thì nó vênh váo, lơ láo, vỗ ngực xưng tên, ưỡng ngực hất mặt, kênh kiệu. Lúc đó là vô minh có mặt, bất thiện pháp có mặt thì lúc đó mới có ra những pháp vô tàm vô quý như vậy.
Điều này rất rõ ràng, một người an trú thân niệm như tôn giả Xá-lợi-phất nói trong bài kinh Sau khi an cư:
“Làm sao có thể xúc phạm người khác mà không xin lỗi?”
Một người an trú tâm mình như một nùi giẻ rách, giống như con bò bị cưa hai sừng, an trú tâm mình giống như vết thương chín lỗ, ung nhọt chín lỗ. Một người an trú tâm mình với sự xấu hổ những thứ rịn ra, rỉ ra, chảy ra thì làm sao quên mất được sự tàm quý.
Nên người trú trong thân, hành, niệm, trú trong tâm từ, trú trong minh trí, minh kiến, sự thật về thân thì tự động tâm có tàm quý hiện hữu. Còn một người hung hăn, dữ dằn, ta đây, hơn thua, kênh kiệu thì người đó ở trong ác, bất thiện pháp và bắt nguồn từ vô minh.
Khi chúng ta thực tập, pháp vận hành thì đó là quán pháp trong pháp, chúng ta sẽ thấy rất rõ. Vậy nên:
“Khi nào vô minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện, thời vô tàm, vô quý nối tiếp theo”
“Khi nào minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các thiện pháp, thời tàm và quý nối tiếp theo.”
Không xấu hổ, sợ hãi tội lỗi, nhân quả, nghiệp quả, không sợ những cảm thọ sân hận, thiêu đốt, đốt cháy, tranh đấu, hơn thua đều không sợ, đưa đến địa ngục ngạ quỷ, súc sanh cũng không sợ, làm cho đã nư, hả dạ, nói cho đã miệng, đánh cho đã tay đã chân thì cuối cùng lại kết thúc cuộc đời trong tù tội, tật nguyền, chết chóc, khổ đau. Đó chính là vô minh, không thấy không biết nhân quả, không biết tội lỗi, ác nghiệp, quả báo khốc liệt của những hành động ác bất thiện pháp từ tâm vô minh dẫn dắt, điều khiển, chi phối, xâm chiếm, áp đảo, chế ngự trong tâm mình là một khối vô minh uẩn to lớn.
Kẻ vô văn phàm phu không học hay tu những lời dạy nguyên chất của Đức Phật thì con mắt, lỗ tai, lỗ mũi vô minh, mắt là mù, tai là điếc, toàn thân vô minh, sáu căn đều bị phong tỏa hết, dù cho có thấy, nghe, nhận thức, có cảm giác nhưng nhận thức, cảm giác theo chiều:
III. Vô minh – tà kiến sanh
“Này các Tỳ-kheo, với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí. Này các Tỳ-kheo, tà kiến sanh.”
Ý nói có thấy thì đó là thấy sai, lầm lạc, đảo ngược. Ví dụ như lúc tối đi trên núi này không có đèn pin, đèn cầy, đèn dầu, đèn điện, đang đi thì đạp trúng rễ cây, mình nhìn xuống ngay, hết hồn và hoảng sợ vì sợ đạp trúng con rắn thì nhìn thấy xa xa là nhìn ra rễ cây, hay là sợi dây mà tưởng là con rắn. Đến khi đến gần thì phát hiện đó là rễ cây, sợi dây mà nghĩ rõ ràng là con rắn. Thì khi đó, sự thấy con rắn đó là thấy sai, là tà kiến.
Đó là ví dụ, tất cả chúng sanh đều nhìn trong bóng đêm là sai hết. Tà kiến gồm có bốn, Đức Phật gọi đó là Bốn sự điên đảo của tâm thức, của tư tưởng, của tri kiến. Thứ nhất, vô thường mình cho là thường. Thứ hai, khổ đau mà mình cho là vui sướng. Thứ ba, dơ bẩn mà mình cho là sạch sẽ, tức bất tịnh mình cho là tịnh. Thứ tư, giả dối mà mình cho là cứng chắc, sự thật, tức vô ngã mà mình cho là ngã, có tôi, có ta, có tự ngã. Đây là bốn cái nhìn mà Đức Phật gọi là bốn sự điên đảo, lộn lạo, tứ đảo. Tâm của mình, tư tưởng của mình bị điên đảo, mà tri kiến của mình cũng bị điên đảo. Trong bốn lớp mê, khía cạnh, nhận định sai lầm về thân tâm và thế giới, cũng là bốn khía cạnh, nhận định sai lầm về ngũ uẩn.
Mình cho hình hài này còn sống mãi, giờ mình ngồi ở đây thì mai mình cũng ngồi ở đây, nay mình nghe không được thì mai nghe, nay tu không được thì để vài ngày nữa tu. Đó là suy nghĩ vô minh, đó là suy nghĩ còn hoài, như vậy hoài.
Như suy nghĩ cái nhà này vẫn còn hoài với mình, nhưng bất thình lình một ngày nó cháy hay sụp đổ thì lúc đó mình đau khổ. Vì mình cứ nghĩ trong mình là nó sẽ như vậy hoài, nên những người thân của mình ra đi, mình đau khổ lắm, mình yêu thương, yêu dấu, mình nghĩ rằng những người này sẽ ở với mình như vậy hoài, căn nhà của mình vậy hoài, tình cảm của mình sẽ vậy hoài.
Hai người thương yêu nhau vài ngày lại đổi thành hận thù nhau làm mình đau khổ vô cùng “Tại sao như vậy, mình muốn nó phải như kia mà giờ sao lại như vậy?” Mình đau khổ vì mình không biết thọ là vô thường, những cảm giác đó đổi thay, mình không nhìn thấy tam tướng trong ngũ uẩn (ba đặc tính). Tình cảm sẽ đổi thay, suy nghĩ này rồi sẽ đổi thay, những nhận thức này rồi sẽ đổi thay.
Mình cứ nghĩ là sẽ vậy hoài, tiếng Việt của mình là từ đó, nhưng trong tiếng Hán là thường, dịch tiếng Việt ra là vậy hoài, đây là dịch bình dân, dịch mà tất cả mọi người đều hiểu được hết. Chấp thường là vậy hoài hay là thầy cứ vậy hoài, ngày nào thầy cũng lên ngồi giảng, giảng riết rất ngán. Nhưng bất thình lình xe đụng chết, máy bay rớt làm thầy chết, hay nhiễm vi rút làm thầy chết thì khóc lóc, lạy và kêu “Sư phụ!” Vì ngày nào thầy cũng lên ngồi, đó là nghĩ vô minh, chỉ có khoảnh khắc ngay bây giờ, khoảnh khắc sau thật sự không biết như thế nào.
Đức Phật hay dùng: Các hành là khổ đau, vô thường với tuệ quán thấy vậy, đau khổ được nhàm chán, chính con đường thanh tịnh.
Đức Phật dùng từ các hành là để chỉ cho ngũ uẩn. Khi mình hiểu ra được thì mình rúng động hết, lông tóc dựng ngược, nổi da gà vì con mắt của Đức Phật từ hai ngàn sáu trăm năm trước mà Đức Phật khi nhìn vào các ngôi nhà, tượng Phật, cây, bông hoa, con người mà Đức Phật nhìn thấy là nó đang vận hành hết, không có cái nào đứng yên thì Đức Phật dùng từ là các hành pháp, đất, nước, gió, lửa, đang vận hành. Tứ đại đang vận hành là tất cả đang vận hành, dịch chuyển thiên lưu, đổi khác nên Đức Thế Tôn nói các hạnh là vô thường, vì nó vận hành nên nó không vậy hoài. Không vậy hoài là vô thường, vậy hoài là thường. Đức Phật nhìn vào và thấy sắc này là một sự vận hành liên tục, vì vận hành nên đi đến chỗ biến đổi và hoại diệt.
Đức Thế Tôn gọi sắc pháp này là pháp diệt tận, biến hoại, hoại diệt. Vì nó vận hành để đi đến biến đổi, diệt tận thế giới nên chúng ta thấy như Trái đất bây giờ khắp nơi là sóng thần, lũ lụt, bão tuyết hàng trăm trận mà chưa từng có ở các nước châu Âu. Nào là lũ lụt, động đất, núi lửa chưa từng thấy, núi lửa phun trào, Trái đất đi đến kiếp biến hoại, biết diệt.
Tại sao nó lại như vậy? Vì nó là hành pháp, tức nó đang vận hành, dịch chuyển, thiên lưu, biến đổi để tan hoại. Và làm gì có sự đứng yên, vững trú, thường trú ở trong thứ vô thường biến hoại này. Mà một thứ luôn luôn biến đổi như đám mây, như ngày mình quán chiếu về ánh mặt trời về tưởng uẩn thì làm sao có đám mây nào cứ vậy hoài không biến đổi. Nếu nó không biến đổi thì không còn là đám mây nữa, như vậy là các pháp, Đức Thế Tôn gọi đó là các hành vô thường.
Với tuệ quán thấy vậy, Đức Phật nhìn nó bằng con mắt tuệ và Đức Phật thấy được sắc thân này, cảnh vật này, đồ đạc này, nhà cửa, đất đai, xe cộ, tiền bạc, ruộng vườn, tài sản này là pháp biến hoại, đổi thay. Nhưng nó biến hoại, đổi thay là làm cho con người đau khổ. Vì tâm chấp vào sắc đó là tôi, của tôi, là sắc thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong tổ hợp sắc chất này nên tâm không nhả ra được. Chiều vô minh chúng ta có năm khía cạnh, đó là nói gọn, nói rộng ra là một trăm lẻ tám, nói rộng ra nữa là vô số.
Vô minh chúng ta rất khủng khiếp, nó phong tỏa, bao vây, vây hãm chúng ta mà chúng ta thì rất ngây thơ như nai tơ, ngơ ngác nhìn, vô tư. Nhìn cái nào cũng đẹp, cũng vui nhưng phía sau là mãnh hổ, sói, sư tử trong khi chúng ta thì ngây thơ như nai tơ “Khổ gì đâu, chúng tôi thấy có gì đâu khổ!” Thật đáng thương cho những con nai tơ. Bất cứ lúc nào cũng có thể bị xé xác, bị mãnh hổ vô thường xé xác. Đó là vô minh, là không thấy, không biết về sắc.
Vô minh đối với sắc là mình không thấy, không biết những đặc tính, thành phần, yếu tố, cấu tạo, vận hành của sắc này mình hoàn toàn không biết gì, mình cứ cho là “Nhà này là của tôi, thân thể này là tôi!” Như vậy gọi là vô minh đối với sắc uẩn, chính vì vô minh nên mình mới thủ, nên gọi là sắc thủ uẩn, cứ nắm chặt trong đó, yêu, say đắm, đam mê, khao khát, thèm thuồng trong đó, ai đụng tới thì “Đồ của tôi!” rồi vung tay, nào là “Nhà của tôi, tài sản của tôi, vợ của tôi, chồng của tôi, ai dám đụng vào đây, biết tay tôi!”
Chúng ta thấy được từ vô minh rồi có tham ái, có chấp thủ, sau đó là sầu bi, khổ, ưu não. Nên khi mình tu mà không biết vô minh là gì thì thật sự tới ngày nào thì mình mới đạt được minh trí, chấp dứt khổ đau. Nên mình cần phải học loạt mấy chục bài về vô minh.
Đối với các cảm giác, cảm thọ thì mình cũng không thấy, không biết gì cả, nó điều khiển mình, không biết duyên khởi ra sao, tại sao nó sanh ra, sao nó phừng phừng lên và nó thúc giục không xong, sao nó dẫn dắt, ngấm ngầm, nó hoạt động bên trong mà mình cũng không thấy, không biết gì. Nên mình cũng ngây thơ như con nai tơ đối với cảm thọ nữa mà mình không biết rằng nhà sát bên đang cháy, mình bên đây thì đang tổ chức tiệc sinh nhật. Sắp cháy lan sang nhưng bên đây thì mình cứ thản nhiên ăn sinh nhật. Đó là để ví dụ cho các cảm thọ đó, chỉ tích tắc là lửa lan qua.
Còn đối với người trí tuệ thì sẽ nghĩ là lửa cháy tới nơi rồi, lấy đồ quý, đồ giá trị chạy ra ngoài thoát thân trước. Mình không biết về tưởng, hành, thức, hoàn toàn không biết về gì nhưng lại rất ta đây, nói ra câu thứ nhất là ta, câu thứ hai là tôi, câu thứ ba là “Biết tôi là ai không? Có biết tôi là ai hay không?” Như vậy chúng ta có thấy thương cho vô minh của mình nhiều không? Nên khi mình đi vào dòng pháp và học ra được vô minh của mình rồi mình thương mình vô cùng thương, mình là người vô minh nhất hành tinh chứ không phải ai, chỉ biết hơn thua những chuyện bồn chậu, giấm muối nhưng chuyện đại sự, quan trọng, người chết đến nơi, nhà cháy sắp tới, sắp rơi xuống vực mà không lo, ở đó hơn thua từng chút.
“Thương thay tâm mờ tối,
Chúng sanh đáng thương thay”
Tâm mờ tối là vô minh, suốt ngày cứ suy nghĩ tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ mọn, suốt ngày cứ suy nghĩ nóng giận, bực bội, hận thù, suốt ngày cứ suy nghĩ “Mình bằng, mình hơn, mình thua…”
Thương thay tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay. Nhưng người khác không biết chúng ta đang bị hại, chỗ ấy ai biết được tranh luận được lắng yên. Và người khác không biết chúng ta đang bị hãm hại, chỗ đó ai biết được mọi tranh luận sẽ được lắng yên.
Chúng ta trở lại ví dụ khi nãy, nếu chúng ta biết được nhà bên có lửa chuẩn bị bốc qua nhà mình, ở đây mình gây lộn, tranh luận. Như vậy là tâm của bậc trí tuệ, hiền trí, nhìn thấy khắp địa cầu này đang bốc cháy, là tâm của bậc hiền trí, minh trí, minh kiến, bậc Chánh Kiến, nhìn thấy tim của ai cũng đang rực lửa tham, lửa sân, lửa si, chạm tới là phựt.
Chạm tới đâu là phựt tới đó, tâm của bậc hiền trí là cả một tình thương mênh mông, bao la và ôm trọn địa cầu này, một tâm từ vô lượng đối với hữu tình chúng sanh mà không biết họ đang bị hại, đang gặp nguy hiểm, đang gặp tai họa, họ vẫn nhởn nhơ qua ngày tháng, ẩn dương nương Phật, họ vẫn trơ trơ với một tâm thức ù lì, dại khờ, cứng cỏi. Đi học đạo nhưng với một tâm kiêu ngạo, ngã mạn thì làm sao thể nhập được Thánh pháp vô ngã.
Môt người thấy biết thì tự giác họ sẽ an trú cảm thọ xấu hổ và sợ hãi, đó là tâm của bậc hiền thánh như câu “Nhục nhã sanh Thánh quả” Nhìn lại thấy xấu hổ từ bên ngoài đến bên trong, từ tấm thân bất tịnh đến bên trong là nội tâm uế nhiễm, đầy sân, hại, tham lam, ngã mạn, xấu hổ và sợ hãi với những tâm thức đó.
“Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỷ-kheo, tà kiến sanh.”
Ý nói, với một tâm sáng suốt như vậy, sẽ có sự thấy đúng về thân tâm, đời sống này. Đối với vị thấy đúng Chánh Kiến thì vị này sẽ có những suy nghĩ đúng, có suy nghĩ đúng sẽ có lời nói đúng, đối với vị có lời nói đúng thì sẽ có hành động đúng, việc làm đúng, người này sẽ nuôi sống đúng, nuôi thân mạng mình một cách chân chánh. Vị này sẽ có sự siêng năng đúng đắn, nghĩ nhớ, quán chiếu đúng đắn, chân chánh.
Và khi vị này có sự nhớ đúng, nghĩ đúng, quán xét đúng thì vị này sẽ có một nội tâm an định, đúng theo sự an định của bậc Thánh, đó là dòng chảy của vô minh.
“Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các Tỷ-kheo, tà kiến sanh.”
Thấy sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, nuôi mạng mình sai, siêng năng sai lầm và có những nghĩ nhớ sai lầm, từ đó tập trung tâm ý vào chỗ sai lầm, bát tà đạo xuất hiện, không phải bát chánh đạo. Với một người vô minh thì bát tà đạo sanh khởi.
Thế nào gọi là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ? Một khi mình thấy rằng có một cái tôi thật thì mình sẽ suy nghĩ, gom góp cho cái tôi đó nhiều, muốn chiếm hữu nhiều vì mình tham lam. Nên mình mới nói và hành động những lời để mình gom về cho mình, chiếm, giành về cho mình thì từ đó ích kỷ sanh, lừa gạt, trộm cướp, hãm hại nhau sanh khởi.
Từ đó dẫn thành một mạch từ nhìn sai, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, những hành động sai lầm và mình đặt siêng năng của mình đi vào mục đích sai lầm. Mục đích là để phát huy cái tôi, cái ta để sở hữu, chiếm hữu thật nhiều hơn người khác hoặc “Ai muốn đụng chạm tới tôi thì phải trừng phạt người đó, thuận tôi thì sống, nghịch tôi thì chết!” Sau đó tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp, suốt ngày cứ suy nghĩ những thứ đó, tâm mình cứ tập trung vào những đề mục đó, chủ đề đó, những chủ đề về tôi, của tôi.
Như vậy thì bát tà đạo sanh khởi từ vô minh mà dẫn đến từ tâm mờ tối, dẫn đến tâm không xấu hổ, không sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp. Tâm mờ tối làm ra những điều ác, bất thiện, tiếp theo đó là không xấu hổ với những điều ác, bất thiện đó và cũng không sợ hãi đối với những điều ác, bất thiện đó.
Từ không xấu hổ, không sợ hãi đó đưa đến sự nhìn sai về tự thân, về tha nhân, về đời sống, khi nhìn sai thì nghĩ sai, nói sai, làm sai. Những nghề nghiệp nuôi sống sai lầm, siêng năng sai, nhớ nghĩ những điều lầm lạc, tà bại nhưng tập trung tâm ý vào những chuyện sai quấy. Như vậy thì từ vô minh sanh ra các ác bất thiện pháp, từ ác bất thiện pháp dẫn tới không xấu hổ và sợ hãi, từ đó dẫn tới bát tà đạo. Đó chính là dòng chảy của vô minh tạo ra bao nhiêu ác nghiệp trong đời sống này, bắt nguồn từ việc không thấy không biết về ngũ uẩn, cho rằng năm uẩn này là tôi, của tôi, tự ngã của tôi.
Vậy nên trong sự tu này, nên thường nhớ như câu “Niệm ngũ uẩn này không phải ta!” nên phải thường niệm, cứ nhắc mình hoài là sắc này không phải ta, không phải mình, những cảm giác, cảm thọ này không phải mình, những hình bóng trong tâm này không phải mình, không phải của mình, đó là pháp duyên sinh. Những suy nghĩ này, nhận thức này cũng không phải mình, của mình, đó là pháp vô ngã, duyên sanh, là pháp khổ đau, phải từ bỏ, nhàm chán nó, ly tham, đừng chấp nhận nó. Niệm hoài như vậy, dù là sáng, trưa, chiều hay hôm giật mình đều niệm, thường xuyên tác ý để phá vô minh và gỡ dần dần. Vì gốc vô minh và khát ái, chấp thủ đã sẵn ở trong này, từ khi được sinh ra, ở trong bụng mẹ là đã có sẵn.
Nhưng giờ mình không tồn lực quyết tâm, dồn sức lực, nghị lực, trí lực, nguyện lực, hạnh lực của mình thì không thể nào nhổ được gốc rễ của nó, không thể nào làm lung lay được chuyển động từ những chấp thủ đó. Còn nếu mình không lung lay, không bứng gốc rễ đó thì cổ thụ ngàn năm vô lượng kiếp này đến ngày nào mới thoát ra được trong dòng chảy của vô minh, tham ái, chấp thủ này. Nắm giữ để đầy nước mắt, đầy khổ đau, máu này. Chúng ta nên chiêm nghiệm thêm về bài kinh này rất thâm sâu, bao trùm hết thế giới này là dòng chảy của vô minh và dòng chảy của minh trí – bài kinh Vô minh, Tương Ưng Bộ Kinh tập năm.
Với tấm lòng của bà cụ tám mươi lăm tuổi từ Bình Định đi vào đây, tấm lòng của người con hiếu thảo, tấm lòng của các Phật tử, Minh Thành cố gắng chia sẻ bằng trái tim của mình, mong rằng chúng ta hãy thọ nhận, lưu giữ, hành trì pháp này và nhớ mãi đừng quên.
71-112: Phật tử trình pháp
Thương thay tâm mờ tối,
Chúng sanh đáng thương thay.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.