Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 4- Thâm Quán Vô Ngã
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 4
Thâm Quán Vô Ngã
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ái nhiễm PAGEREF _Toc141966763 \h 1
II. Xúc PAGEREF _Toc141966764 \h 2
III. Mong ước không ái nhiễm PAGEREF _Toc141966765 \h 5
IV. Từ bỏ tái sanh PAGEREF _Toc141966766 \h 9
I. Ái nhiễm
“Ái nhiễm, này các Tỳ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụn nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỳ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương”.
(Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa,VII. Ái Nhiễm)
Hàng ngày mình bị trúng mũi tên liên miên. Sáng cho đến chiếu trúng hàng trăm mũi tên. Chưa có đợi lúc thức dậy, ngay trong giấc ngủ đã trúng tên. Cách đây 2 ngày Minh Thành nằm ngủ, không biết đang ngủ hay đang nằm chiêm bao. Minh Thành ở trong trạng thái quán thọ suốt hơn một tiếng đồng hồ để mình nhìn cái cảm giác của mình đang nằm nhắm mắt coi cái thọ coi nó vận hành làm sao, coi cái dòng cảm giác bên trong nó vận hành làm sao, còn thấy được có cái ái nó nằm ở trong đó.
Nói đúng ra ngồi thiền mới phải, lúc đó không biết mấy giờ vì bình thường không có ngủ. Lúc đó chắc khoảng chừng 2 giờ đêm. Thì thấy nó vận hành như vậy liên tục hơn một tiếng đồng hồ mà lúc đó không rõ là thức hay là ngủ. Chỉ biết đang nhìn cảm thọ suốt một tiếng mấy.
Nếu chúng ta chịu khó nhìn lại rồi thực tập mới thấy được mình bị trúng tên. Đức Phật nói ta như voi giữa trận hứng chịu cung tên rơi, ác giới rất nhiều người bắn tên vô. Đó là nói cái ở ngoài, còn nói sâu vô đó là hằng ngày chúng ta là bị sáu mũi tên bắn. Khi con mắt tiếp xúc với sắc, sanh ra cảm nghĩ, cảm thọ khả lạc; khả hỷ; khả ý; khả ái hấp dẫn liên hệ đến dục thì nó sanh ra yêu thích, đó là trúng tên. Lỗ tai mình tiếp xúc với tiếng là dễ thương, hay, đáng lưu luyến, hấp dẫn, thu hút, cuốn hút, thích thú trong cái tiếng đó là trúng tên rồi. Khi lỗ mũi tiếp xúc với mùi, cái lưỡi tiếp xúc với cái vị mà có ái trong đó mình không thấy, tham trong đó mình không thấy, dục trong đó mình không thấy thực ra mình đang trúng tên. Trúng 6 mũi tên. Buổi trưa mình đi xe đạp, đi xe Honda ngoài trời nắng.
Đi ngoài nắng khó chịu là bình thường, nhưng khi lên xe là mình muốn chạy cho nhanh. Cái việc muốn chạy cho nhanh thì trong đó vừa có dục vừa có tham rồi trong đó có khó chịu, có sân trong đó luôn. Ở trong cảm giác nhỏ mà mình phải nhìn ra được tất cả những cái ở trong đó. Tại vì trong đó nó muốn lẹ lẹ đi tới trường. Không muốn cảm giác nóng này nữa. Đi nhanh nhanh cho nó thoát cảm giác này. Đó là dục. Rồi đó nó khó chịu cái cảm giác này, nó bực lắm, "Sao mà nóng quá", rồi mặt nhăn nhó, khó chịu. Đó là sân. Dắt xe bước nhanh vào trường chứ không đi thiền hành, đó là tham ái.
Vô kia cho mát, đó là lạc thọ, vô đây để tìm lạc thọ. Tìm ngay chỗ có quạt để ngồi, không thì lấy quạt giấy ra quạt, nhưng quạt nhẹ nhẹ còn đỡ chứ còn đây quạt phạch phạch, đó là dục mà mình không kiểm soát được. Dục ái đều có trong đó. Tham cái cảm giác cho nó khỏe, sướng nó cái thân mà mình không thấy được lúc đó nó đang có cảm giác gì, đang có tưởng gì, đang có hành gì đều không thấy hết, đó gọi là vô minh.
Tu cái này rất thâm sâu thì mới đi đến thánh trí. Tu cái này sẽ đạt tới trí huệ của bậc thánh. Tức là tất cả các cảm giác, tư tưởng, nhận thức trong nội tâm của mình không có một cái gì qua mặt được hết. Đều ở trong tầm kiểm soát của mình hết. Tất cả những nhỏ nhiệm nhỏ nhất. Những cái tinh vi nhất đều thấy hết đều biết được, đều thấu suốt được hết. Đó mới là thành tựu trí huệ. Bình thường mình đâu có nghĩ mấy cái đó là tham, là dục, mà sân chỉ nghĩ cái ngọn ở bên ngoài. Nghĩ đơn giản ăn thì gắp lia lịa, mấy cái đó đỏ mặt tía tai lên là sân.
II. Xúc
Nhưng mấy cái đó thực ra là pháp của phàm phu, mấy cái đó không có tu gì hết. Đâu có cần phải tu mà mình biết tham sân si đó đâu. Cái đó ai nhìn cũng biết hết. Đa văn thánh đệ tử là khác. Còn đỏ mặt tía tai là nó quá thô, tim đập thình thịch thình thịch. Cái đó là pháp của phàm phu, không phải của Đa văn thánh đệ tử. Cho nên hàng ngày mình bị rất là nhiều mũi tên nó bắn vô. Đó là nói mấy cái pháp thô của sắc; thanh; hương; vị.
Còn cái xúc nó càng thâm sâu. Cái xúc, tức là cái tiếp xúc hàng ngày của mình. Trong sự tiếp xúc có ái nhiều lắm. Bản thân Minh Thành, bây giờ được cho bộ đồ lam. Vải nó xám xám sậm sậm mà êm. Hễ trời nóng mặc thì mát, mà trời lạnh thì mặc ấm. Mình mặc bộ đồ đó vô là thấy đã, thấy vải này êm. Chính cái êm này có ái, vậy là trúng tên. Vậy thì mình là thành cây, thành đá không biết hay sao?
Không phải, mình vẫn biết, vẫn thấy được cái ái ở trong đó và mình hóa giải nó, không có chấp nhận, không có nuôi dưỡng nó. Tại vì bình thường là mình chấp nhận, nuôi dưỡng mà mình không có từ bỏ và chấm dứt. Người có tu tập là người nhận diện ra hết, từ bỏ và chấm dứt nó. Người không biết tu tập là người đó chấp nhận, nuôi dưỡng nó, làm cho nó tăng trưởng và phát triển ở trong nội tâm mà trong kinh Nikāya gọi là nó xâm chiếm và an trú ở trong nội tâm. Từ này phải nhớ kỹ: Xâm chiếm và an trú ở trong nội tâm của mình.
Cái đó nó có chỗ đứng ở trong nội tâm của mình khi mà mình đã thọ cảm giác đó. Chấp nhận cảm giác đó là mình thọ. Thọ là mình nhận. Cái này là cái rất là thâm sâu. Thí dụ như một người một vật, một việc hay cái gì đó tiếp xúc đó mà lúc đó mình không thấy được cái xúc, mình không thấy được căn, trần, thức giao thoa thì lúc đó mình thọ. Thí dụ nói đơn giản một người không biết nam hay nữ gì nhưng nhìn dễ thương quá. Dễ thương quá là thọ, lúc đầu nó đi vô nó nhẹ nhàng nó êm ái không có một cái gì hết.
Nên là mới cách đây mấy ngày đây ở bên khu rừng ở bên Châu Âu bị cháy mấy ngàn mẫu, dùng mười mấy chiếc trực thăng đi lại dập lửa mà dập không được vậy mà lúc đầu mấy người này chơi trò chơi, giỡn chơi. Thì thọ với ái cũng như vậy. Lúc đầu, có chút xíu như vậy nè, không có gì đâu. Nhưng một khi nó thọ nhận cảm giác đó rồi cảm giác đó đi sâu vào xâm chiếm nội tâm, nó an trú ở trong đó. Danh từ này ở trong tạng kinh gọi là tồn chỉ, tức là nó tồn tại. Chỉ là nó ở đó, dừng lại ở đó.
Như vậy là hàng tồn kho lưu trữ ở trong đó. Và bây giờ mình đi ngang những đường ghi thanh lý, giảm 75% cả một dãy. Thanh lý hàng tồn kho, kho sạch thì mới đem hàng mới về. Mà như vậy thì mình tu mình phải thanh lý bớt hàng tồn kho. Vì kho của mình trong này nó chứa đựng rất là nhiều, nhìn vô cảm thọ mình mới thấy được ở trong đó là cái kho vĩ đại tồn trữ bao nhiêu loại cảm giác. Kho này nó tồn trữ từ nhỏ tới lớn, từ nhiều khiếp trước.
Cho nên mỗi một người nó ái một kiểu cảm giác khác nhau nhưng nó không đi ra ngoài tham sân si và bản ngã. Ái các kiểu khác nhau, thích ăn phở hay là thích ăn cháo hay là thích ăn hủ tiếu thì cũng là thích. Đức Thế Tôn đã nói 3 pháp tham sân si này chiếm ngự hết tất cả. Ngũ Uẩn này là Ngũ Hành Sơn nó đè xuống, chụp xuống, nó không đi ra ngoài tham sân si và bản ngã. Khi mình nhận ở trong cái cảm giác sâu sắc, mình quán chiếu nó sẽ thấy ở trong đó có nhiều lớp, nhiều ngõ ngách, tinh vi, ma mãnh, xảo quyệt vô cùng ở trong cái thọ của mình.
Trước khi nhìn cái thọ mình mới thấy được cái hành, cái lời nói trong nội tâm, cái này là lớp nổi bên trên thành cái lời nói, những cái hình bóng, cái tưởng nó xuyên suốt trong cái cảm giác. Mà cảm giác này nó nhiều lắm. Cảm giác này nói những lời nói lầm thầm. Nhưng khi cái thọ không nói thành lời được thì nó bung lên, nó từ thô rồi nó tế, đến vi tế, tế ở trong cái tế. Khi mình đã quán chiếu được cái Ngũ Uẩn của mình thì mình sẽ đọc được Năm Uẩn của tất cả người khác, họ không cần nói mà mình chỉ cần nhìn vẻ mặt thôi là tất cả được biểu hiện ra hết, nó hiện bày ra như gương chiếu yêu, chiếu hết tất cả. Nhưng trước tiên mình phải chiếu chính mình trước, gọi là tự giác đến giác tha. Mình không biết mình thì làm sao biết người? Bản thân mình còn chưa biết rõ chính mình thì làm sao biết được người ta.
Học và tu pháp Năm Uẩn này hay lắm, mình đọc vô tự chân kinh, tức là đọc kinh nhưng không có chữ. Mình đọc ở trong cảm giác của mình, đọc ở trong ý hành của mình, mình đọc trong hình bóng của nội tâm, mình đọc ở trong nhận thức. Đọc trong cảm giác tư tưởng nhận thức. Đó là quyển kinh rất là lớn. Mà kinh này cũng có kinh thánh và cũng có kinh ma. Không biết đọc là đọc kinh ma, biết đọc thì đọc kinh thánh. Cho nên phải cẩn thận với mũi tên này. Trúng tên hết từ sáng tới chiều, mọi người đừng tưởng lên ngồi trước bàn Phật mà không trúng tên. Đang ngồi tụng kinh như vậy mà ái nó cũng xâm chiếm, sân nó cũng xâm chiếm, si nó cũng xâm chiếm, bản ngã nó cũng xâm chiếm. Nhiều người làm thơ mà đọc vô thấy Ngũ Uẩn nó hiện ra rõ trong đó, vậy là mình biết người này tu theo hướng gì rồi, họ không thấy được ngũ uẩn của chính họ.
III. Mong ước không ái nhiễm
“Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có mong ước, hãy mong ước không ái nhiễm, không bị mũi tên bắn.”
Hay sao là hay! Đây là chánh nguyện. Nếu như có ước nguyện, có mong muốn, có hy vọng đó thì hãy mong muốn đừng có bị ái nhiễm, không có bị mũi tên bắn. Mong ước như vậy là chánh nguyện. Đây mới là mong ước tối thượng. Hãy mong ước, mong muốn làm sao cho con không còn ước muốn gì nữa. Đó là mong muốn tuyệt diệu. "Con thưa thầy là bây giờ con không mong muốn gì nữa hết. Con chỉ có một điều là con không muốn gì nữa. Con muốn một cái là không muốn gì nữa và con muốn thực hiện cái đó".
Đây là ái diệt, tức là Niết-bàn. Mình phải hiểu rằng mình không muốn cái gì nữa, mình mong muốn cái không muốn gì hết, tức là mình không muốn đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp. Nếu muốn là phải muốn chứng được sơ quả, nhị- tam-tứ quả. Mình muốn tẩy sạch hết phiền não. Mình muốn dẹp hết dục lậu, hủ lậu. Chỗ này rất thâm sâu, khi Minh Thành học tới đây là rúng động, cái này không đọc kĩ là không hiểu nổi, không biết đang nói cái gì.
“Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: "Mắt là của ta".”
Tại sao lại không nghĩ tới con mắt? Tại sao Đức Phật kêu như vậy? Bởi vì nghĩ tới con mắt là nghĩ tới mắt của mình, hoặc là nghĩ tới con mắt của người kia. Đó là ái. Đó là chỗ sâu xa. Con mắt nó xấu vô cùng mà xem gương một hồi thì thấy cũng cười, coi cũng được, chính là ái ở trong đó. Không thấy con mắt này vô thường nên có bài kinh Con Mắt trong Tương Ưng Bộ kinh.
“Này các Tỳ-kheo, mắt là vô thường, biến hoại, đổi khác. Tai là vô thường, biến hoại, đổi khác. Mũi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Lưỡi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Thân là vô thường, biến hoại, đổi khác. Ý là vô thường, biến hoại, đổi khác.
Này các Tỳ-kheo, ai có lòng tin, có tín giải đối với những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy tín hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.
Với ai, này các Tỳ-kheo, kham nhẫn một ít Thiền quán, như vậy với trí tuệ về những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy pháp hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy, phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu”
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương IV. Tương Ưng Nhập, I. Con Mắt).
Cho nên đừng chỉ nhìn con mắt. Đó là chỉ là sắc tưởng. Khi nó hiện khởi lên thì mình không chấp nhận và tác ý "Đây là vô thường, là khổ, vô ngã, là tứ đại chứ có gì đâu" thì cảm giác về con mắt sẽ tan biến, Đây là phương pháp đẻ trị vọng tưởng khi ngồi thiền. Chính là việc từ bỏ, không chấp nhận, không nhận nó là tôi, là của tôi thì từ từ nó sẽ hết. Còn cái kia là mình cố gắng mình dẹp bỏ vọng tưởng nhưng trong khi đó mình lại thấy nó đẹp, dễ thương, khả ái. Như vậy thì các ái sẽ trú ẩn trong đó, nó chấp nhận, tăng trưởng và phát triển ở trong đó.
Cho nên mình hãy nghĩ con mắt này là vô thường. Đọc câu đó lên "con mắt này là tứ đại, là vô thường, là bất tịnh, là vô ngã, duyên sanh. Không có gì đáng thích thú, đáng đẹp trong con mắt này. Không có gì để vui trong con mắt này". Mình quán con mắt này một ngày nó lọt xuống hố, dòi bọ bò ra trong con mắt này, từ đó mình sẽ từ bỏ con mắt này. Đó là trí huệ của bậc thánh. Mình nghĩ được như vậy, quán được như vậy thì vọng tưởng về con mắt sẽ lắng dịu. Còn nếu không sử dụng pháp quán này thì không bao giờ lắng dịu được. Bởi vì mình thấy nó là khả ái, là khả ý, là hấp dẫn liên hệ đến dục thì làm sao mà giết được người trong mộng?
Ở ngoài đời không được con mắt người xưa nên đi tu, vào chùa lại nhìn con mắt này hiền, con mắt kia dễ thương, con mắt kia liếc, khó chịu rồi lại về đau khổ, sầu bi ưu não với con mắt. Cho nên chớ có nghĩ tới con mắt. Chớ có nghĩ tới trong con mắt. Chớ có nghĩ tới từ con mắt. Chớ có nghĩ tới con mắt là của ta. Con mắt là ta. Đó là trí huệ siêu việt. Đừng đọc kinh như đọc báo coi tivi mà phải nghiền ngẫm bài kinh hàng trăm lần mới thấy được cái thậm thâm tuệ giác ở trong đó.
“Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: Các sắc là của tôi.”
Một khi mình đã thể nhập thánh pháp này rồi là mình an lạc tự tại giữa cuộc đời, không còn gì vướng bận nữa vì làm gì có cái sắc nào là của mình? Đây là một đống tim; gan; phèo; phổi. Ngày nào cũng nhìn thấy như vậy trong bất tịnh quán, làm gì có cái nào của mình? Phải quán chiếu cho thâm sâu chỗ này là mình được một gia tài khủng của Đức Thế Tôn. Chỗ này gọi là tài sản của người xuất gia. Đây mới là duy tuệ thị nghiệp. Vì vậy phải đọc cho kỹ, quán cho sâu mới không uổng cơm của Đàn-na tín thí, không uổng ba mẹ cho mình đi tu, không uổng chiếc ghế của nhà trường. Tất cả quần áo mình mặc, cơm cháo mình ăn, thuốc men mình uống, phòng ốc mình ở không có uổng phí, người bố thí cúng dường sẽ được lợi ích to lớn và dài lâu.
“Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: "Nhãn thức là của tôi"”
Đừng nghĩ rằng cái này đẹp, cái kia xấu, cái nọ tốt,… mình chấp vào cái rõ biết các sắc, mình nói rằng "tôi thấy", thì đó là thân kiến. Cái thấy này là cái pháp duyên sanh. Đừng lầm tưởng là tánh thấy, tánh nghe, tánh hay, tánh biết là không có. Do có con mắt không bị bệnh, các sắc, ánh sáng, có sự rõ biết các sắc. Ba pháp này hội tụ lại thành nhãn xúc, tức là sự tiếp xúc của con mắt. Nên ở trong cái thấy mình phải biết là không có mình, không có của mình. Bất cứ chỗ nào nó khởi lên mình phải dùng cái thánh trí mình soi rọi nó đến khi không còn là mình, của mình nữa. Trong ngôn ngữ vẫn sử dụng là tôi nhưng cái trí của mình là mình phải thấy không có gì là tôi. Tu cái này mới có được cái gọi là thầy của trời và người, đây là những điều kiện.
“ Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là tôi".”
Đây là trí tuệ của cảm giác. Do sự tiếp xúc của con mắt này nó sanh ra cái cảm giác. Cảm giác đó là khổ, là vui hay không khổ không vui,... thì tất cả các cảm giác đó, chớ có nghĩ đến nó. Tức là không phải mình đè cái tâm xuống để không nghĩ đến nó mà mình phải biết đó là pháp duyên sanh. Nó vô thường, nó là pháp biến hoại, nó là khổ cho nên mình không để tâm tới nó. Không cho nó là thật. Không cho cái cảm thọ này là mình, là của mình. Không phải nhắm mắt bịt tai lại cho mình như cái cây không có cảm giác mà chớ nghĩ đến nó tức là chớ có cho nó là thật. Tại vì mình cho nó cái thật rồi mình nhảy vô trong đó, gắn với nó là một rồi buồn vui, khổ sở trong đó với nó.
Như vậy mình bị nhấn chìm trong cảm giác, trong cảm thọ. Mình phải thấy nó là một pháp. Pháp này không có ra gì, không phải là cái xứng đáng để cho mình đeo đuổi, để cho mình đam mê, để cho mình nắm bắt, để cho mình bám chặt vô đó. Nó là cái không đáng để cho mình để tâm. Đó là trí huệ. Bây giờ mới nghe một câu nói rồi tức, rồi trôi theo cái tức. Nghe một câu là giận rồi trôi theo cái giận, không đi ra được. Đó là vô văn phàm phu nghiệp chướng nặng nề, nhân ngã bỉ thử không thấy pháp.
Mình phải thấy được cái thọ vận hành thế nào, sanh khởi ra làm sao, không chấp nhận cái thọ đó và biết nó là cái không ra gì hết, đó là pháp duyên sanh. Nó là vô thường, là khổ, chịu sự biến hoại. Nó không phải là cái đáng để cho mình để ý lưu tâm rồi mình khổ với nó, mình trói vô đó, mình chìm đắm trong đó và mình chết trong đó. Đó là trí tuệ xuất ly của bậc thánh, xuất ly khỏi cảm thọ.
IV. Từ bỏ tái sanh
“Này các Tỳ-kheo, nghĩ đến cái gì, nghĩ đến trong cái gì, nghĩ đến từ cái gì, nghĩ đến: "Cái gì là của ta", từ đấy cái ấy đổi khác. Vì rằng bị đổi khác, vì chấp trước tái sanh, nên thế giới hoan hỷ tái sanh.”
(Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa,VIII. Ái Nhiễm)
Câu này mình lạy hói đầu cũng chưa nói ra nổi câu này, tu cả ngàn tỷ kiếp cũng không nói nổi câu này. Chỉ có Chánh Đẳng Giác mới nói được. Chữ cái gì ở đây nó là cái gì? Đây là đại từ thay thế cho tất cả mọi cái. Cho nên trong kinh TỨ NIỆM XỨ đã nói các vị Tỳ-kheo không có chấp trước bất cứ một vật gì ở trên đời. Nếu không có thâm quán về tứ đại ngũ uẩn, không trực chỉ vào danh và sắc thì làm sao không dính vào cái gì? Khi đã dính vào cái gì mà nó đổi khác thì chắc chắn mình sẽ sầu bi khổ ưu não.
Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán vô trước Chánh Đẳng Giác. Vô trước tức là không dính mắc tới tất cả cái gì trên cuộc đời này. Cho nên chớ có nghĩ đến cái gì, hay là từ cái gì, đến cái gì, cái gì là của ta. Nó là pháp vô thường mà, nó đổi khác là mình khổ, mình sầu bi khổ ưu não. Tại vì mình nghĩ đến cái gì là mình chấp trước tái sanh, nên thế giới hoan hỷ tái sanh. Mình tu mà không khéo là mình nghĩ rằng mình có chân tâm, mình có Phật tánh, mình có một cái gì đó vậy hoài thì cái đó lọt vô tái sanh nữa.
Vì mình vì mình có một cái gì thì đó là chấp ngã rồi. Chính vì cái nghĩ đó làm cho cái tâm mình dao động, tâm mình sẽ chấp vô một cái gì đó của cái tưởng thì lúc đó mình sẽ không chấp dứt được Năm Uẩn, nghĩa là không đi tới cứu cánh giải thoát. Cho nên đi tới chỗ tận cùng của nó là phá tan hết tất cả Năm Uẩn, không còn một chút xíu nào là tôi, là của tôi nữa hết. Cho nên có một bài kinh Phân Bò. Đức Thế Tôn cúi xuống, lấy móng tay khơi một ít phân bò đưa lên và nói:
“Này các Tỳ-kheo, ta không có tán thán, ta không đồng thuận với sự hiện hữu tái sanh dầu cho một chút như phân bò này.”
Tức là chấm dứt mọi sanh tử. Mình muốn giả thoát mà mình yêu thích cái thân này thì có trái ngược không? Đây hoàn toàn là sự mâu thuẫn thì làm sao mình tu tới chỗ giải thoát? Mình ưa thích cái chùa của mình, ưa thích món đồ ở trong tủ, mình ưa thích chiếc xe, mình ưa thích thân thể của mình mà mình nói muốn chấm dứt luân hồi sanh tử là sao? Hoàn toàn trái ngược. Ví dụ có người để quên bao đồ 15 ngày trong chùa, trong đó có bắp cải, nấm rơm, đậu hũ, thịt. Có người phát hiện ra thấy bao gì đẹp quá, mở ra nhìn vô là bịt mũi liền, vậy là quăng cái bao đó đi một cách không thương tiếc.
Đối với bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là từ bỏ thân Ngũ Uẩn này cũng giống như vứt bỏ bao đồ hỏng đó. Còn mình yêu thích trong cái thân Năm Uẩn này cho nên mình đầu tư cho Năm Uẩn chứ mình không có tàn diệt, không chấm dứt, không từ bỏ Năm Uẩn làm sao mình giải thoát? Cho nên nếu mình có cái thọ, có tưởng, có cái hành nghĩ rằng mình có một chân tâm, Phật tánh nào đó thì cái đó đối với trong đây là nguyên nhân để cho mình không thể chấm dứt sanh tử. Đây là pháp rất thâm sâu, nếu mình không nắm vững cái này là mình tu không đi tới đâu.
Mình chỉ đi tới cảnh tầng thiền trong Tam giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới vì bản ngã chưa phá sạch. Cho nên Hòa Thượng Minh Châu có viết quyển sách Vô Ngã Là Niết-bàn. Bây giờ nếu mình nói mình có một cái gì đó mà cái đó không thay đổi thì đó là bản ngã nên không khéo lúc nhỏ tu thì bản ngã nhỏ nhỏ, tu riết rồi bản ngã leo trên bàn thờ. Vì giờ nó không phải là bản ngã của người bình thường mà là bản ngã của thầy tu. Một bản ngã của cái gì mà siêu lắm, nó lớn dữ lắm, trùm trời trùm đất nên tu hoài đâu có giải thoát được. Mình còn để trong tâm mình cái gì là mình đó, mà nếu như cái đó bị đổi khác là mình khổ đau lắm.
Chấp trước tái sanh cho nên thế giới này hoan hỷ với sự tái sanh. Mỗi người đều có một sở thích khác nhau, gọi là ái sai biệt. Có người thích xe, người thích ăn, có người thích nấu cho người ta ăn, có người thích cắm bông, có người thích giảng pháp... Cái đó gọi là ái sai biệt, tức là sự yêu thích khác nhau. Giả sử nếu như bình thường ở chùa 10 năm, chức của mình là chức cắm bông. Bữa nay có một cô mới cạo đầu vô thì cô ấy nói với sư phụ "bữa nay con xin phần cắm bông. Con cắm là không cho ai đụng vô, một mình con làm thôi. Có gì con chịu trách nhiệm".
Nếu sư phụ cho thì lúc đó người cắm bông bị trúng tên. Mình yêu thích chiếc xe đó, có người hỏi mượn. Mình thấy tình nghĩa, tội nghiệp, cũng dễ thương kêu gì cũng nghe, không lẽ nhờ người ta hoài mà hỏi mượn xe không lẽ không cho? Cho mượn mà ở nhà hồi hộp, nhìn đồng hồ hoài, đến khi người đó về thì không thấy xe, hỏi ra thì bị tai nạn giao thông, đống sắt nằm ngoài đường. Lúc đó là trúng tên. Rồi giờ thích nấu lắm. Có đám lớn nên bỏ công sức nấu 3 ngày, cuối cùng mấy người kia chê nấu đồ ăn tệ, vậy là trúng tên. Nếu mình không có quán chiếu tứ đại, Năm Uẩn, mình không có nhìn lại cảm giác, không nhìn lại lỗ tai, âm thanh, không nhìn lại nhĩ xúc, không nhìn lại thọ là mình chết. Chỉ một tiếng chê thôi làm cho mình đảo điên, lật đổ hết trời đất, càn khôn này dịch chuyển hết.
Đó là cái thô thiển nhất của pháp phàm phu, pháp của người tầm thường còn chưa vượt qua được. Mới cạo đầu thôi mà "Mai đây con sẽ đi hoằng pháp độ sanh. Con phát đại Bồ đề tâm, Bồ tát hạnh". Những điều mình nói có phải là dục, bản ngã, danh lợi không? Nguy hiểm vô cùng! Mình không có nhìn rõ chính mình đang vô minh, đang bản ngã, đang tham sân si, đang phiền não đủ thứ mà cứ muốn hướng ra ngoài, muốn làm thầy thiên hạ, nói những từ đại ngôn. Kết quả cuối cùng là bản ngã to tướng, một khối vô minh, ái dục. Nên chính chỗ này phải nắm thật vững trí huệ trong kinh tạng Nikāya, sơ quả Tu-đà-hoàn là phải nhìn ra được cái bao đồ thối rình. Thấy được bao đó là trí huệ của bậc thánh. Thấy được tham dục sân si, bản ngã vô minh. Thấy được những cái tệ nhất, xấu xa nhất của chính mình. Thấy một cách rõ ràng, thấy một cách đầy đủ, thấy được một cách triệt để. Đó là trí huệ của bậc thánh.
Bây giờ toàn dùng những từ hoa mỹ xưng tụng với nhau. Nhưng bên trong là rắn rết, bò cạp, lựu đạn, chất nổ, gươm đao. Động tới mới biết. Kinh tạng Nikāya là vạch trần được hết các sự thật. Mình phải thấy được chỗ rồi mình điều chỉnh thì mình tuyệt vời lắm. Mình càng tu thì càng khiêm cung, càng cung kính, càng hiền hòa, càng dễ thương. Mình càng thấy mình chẳng có ra cái giống gì, tệ vô cùng, xấu xí vô cùng, hôi hám vô cùng, một đống phân, nước tiểu không có ra cái gì hết. Mà rủi ai có nói chị sao hôi quá thì "Đúng rồi, tôi thấy tôi thối chứ không phải là hôi".
Thấy rõ được thì an lạc vô cùng. Bây giờ mình tu mà có ai chê là cái mặt như cái mền. Tu đúng chánh pháp là tuyệt diệu lắm. Mình tu kiểu gì mà đến thầy dạy mình cũng sân si thì phải coi lại mình đang tu cái gì. Mình thấy một sự thất bại lớn lao không? Mình tưởng là mình cao siêu hay lắm, ở bên trong là một cái tôi ngất trời, cống cao ngạo mạn kinh khiếp. Mình không nhiếp phục được bản ngã đó thì làm sao mà mình học đạo?
Chỗ này là chỗ thậm thâm của trí huệ. Phải thấy được hết tất cả cảm giác của mình, tư tưởng của mình, nhận thức của mình vận hành ở trong đó, thấy được bao nhiêu cái ngõ ngách ở trong đó. Thấy rồi mình phải nhiếp phục nó, chuyển hóa nó. Mình hoàn toàn làm chủ được hết, nó không khống chế mình mà mình điều phục và chế ngự. Nhìn kĩ rồi thấy đau lòng, bên trong là những thứ nhơ nhớp, luôn nghĩ ta đây hơn thiên hạ, không coi ai ra gì. Mình có nhìn sâu mình mới thấy cái bản ngã là cái nguy hiểm giết người, chính là cái bản ngã giết mình chứ không phải ai ở bên ngoài giết mình.
./.
Thâm Quán Vô Ngã
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ái nhiễm PAGEREF _Toc141966763 \h 1
II. Xúc PAGEREF _Toc141966764 \h 2
III. Mong ước không ái nhiễm PAGEREF _Toc141966765 \h 5
IV. Từ bỏ tái sanh PAGEREF _Toc141966766 \h 9
I. Ái nhiễm
“Ái nhiễm, này các Tỳ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụn nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỳ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương”.
(Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa,VII. Ái Nhiễm)
Hàng ngày mình bị trúng mũi tên liên miên. Sáng cho đến chiếu trúng hàng trăm mũi tên. Chưa có đợi lúc thức dậy, ngay trong giấc ngủ đã trúng tên. Cách đây 2 ngày Minh Thành nằm ngủ, không biết đang ngủ hay đang nằm chiêm bao. Minh Thành ở trong trạng thái quán thọ suốt hơn một tiếng đồng hồ để mình nhìn cái cảm giác của mình đang nằm nhắm mắt coi cái thọ coi nó vận hành làm sao, coi cái dòng cảm giác bên trong nó vận hành làm sao, còn thấy được có cái ái nó nằm ở trong đó.
Nói đúng ra ngồi thiền mới phải, lúc đó không biết mấy giờ vì bình thường không có ngủ. Lúc đó chắc khoảng chừng 2 giờ đêm. Thì thấy nó vận hành như vậy liên tục hơn một tiếng đồng hồ mà lúc đó không rõ là thức hay là ngủ. Chỉ biết đang nhìn cảm thọ suốt một tiếng mấy.
Nếu chúng ta chịu khó nhìn lại rồi thực tập mới thấy được mình bị trúng tên. Đức Phật nói ta như voi giữa trận hứng chịu cung tên rơi, ác giới rất nhiều người bắn tên vô. Đó là nói cái ở ngoài, còn nói sâu vô đó là hằng ngày chúng ta là bị sáu mũi tên bắn. Khi con mắt tiếp xúc với sắc, sanh ra cảm nghĩ, cảm thọ khả lạc; khả hỷ; khả ý; khả ái hấp dẫn liên hệ đến dục thì nó sanh ra yêu thích, đó là trúng tên. Lỗ tai mình tiếp xúc với tiếng là dễ thương, hay, đáng lưu luyến, hấp dẫn, thu hút, cuốn hút, thích thú trong cái tiếng đó là trúng tên rồi. Khi lỗ mũi tiếp xúc với mùi, cái lưỡi tiếp xúc với cái vị mà có ái trong đó mình không thấy, tham trong đó mình không thấy, dục trong đó mình không thấy thực ra mình đang trúng tên. Trúng 6 mũi tên. Buổi trưa mình đi xe đạp, đi xe Honda ngoài trời nắng.
Đi ngoài nắng khó chịu là bình thường, nhưng khi lên xe là mình muốn chạy cho nhanh. Cái việc muốn chạy cho nhanh thì trong đó vừa có dục vừa có tham rồi trong đó có khó chịu, có sân trong đó luôn. Ở trong cảm giác nhỏ mà mình phải nhìn ra được tất cả những cái ở trong đó. Tại vì trong đó nó muốn lẹ lẹ đi tới trường. Không muốn cảm giác nóng này nữa. Đi nhanh nhanh cho nó thoát cảm giác này. Đó là dục. Rồi đó nó khó chịu cái cảm giác này, nó bực lắm, "Sao mà nóng quá", rồi mặt nhăn nhó, khó chịu. Đó là sân. Dắt xe bước nhanh vào trường chứ không đi thiền hành, đó là tham ái.
Vô kia cho mát, đó là lạc thọ, vô đây để tìm lạc thọ. Tìm ngay chỗ có quạt để ngồi, không thì lấy quạt giấy ra quạt, nhưng quạt nhẹ nhẹ còn đỡ chứ còn đây quạt phạch phạch, đó là dục mà mình không kiểm soát được. Dục ái đều có trong đó. Tham cái cảm giác cho nó khỏe, sướng nó cái thân mà mình không thấy được lúc đó nó đang có cảm giác gì, đang có tưởng gì, đang có hành gì đều không thấy hết, đó gọi là vô minh.
Tu cái này rất thâm sâu thì mới đi đến thánh trí. Tu cái này sẽ đạt tới trí huệ của bậc thánh. Tức là tất cả các cảm giác, tư tưởng, nhận thức trong nội tâm của mình không có một cái gì qua mặt được hết. Đều ở trong tầm kiểm soát của mình hết. Tất cả những nhỏ nhiệm nhỏ nhất. Những cái tinh vi nhất đều thấy hết đều biết được, đều thấu suốt được hết. Đó mới là thành tựu trí huệ. Bình thường mình đâu có nghĩ mấy cái đó là tham, là dục, mà sân chỉ nghĩ cái ngọn ở bên ngoài. Nghĩ đơn giản ăn thì gắp lia lịa, mấy cái đó đỏ mặt tía tai lên là sân.
II. Xúc
Nhưng mấy cái đó thực ra là pháp của phàm phu, mấy cái đó không có tu gì hết. Đâu có cần phải tu mà mình biết tham sân si đó đâu. Cái đó ai nhìn cũng biết hết. Đa văn thánh đệ tử là khác. Còn đỏ mặt tía tai là nó quá thô, tim đập thình thịch thình thịch. Cái đó là pháp của phàm phu, không phải của Đa văn thánh đệ tử. Cho nên hàng ngày mình bị rất là nhiều mũi tên nó bắn vô. Đó là nói mấy cái pháp thô của sắc; thanh; hương; vị.
Còn cái xúc nó càng thâm sâu. Cái xúc, tức là cái tiếp xúc hàng ngày của mình. Trong sự tiếp xúc có ái nhiều lắm. Bản thân Minh Thành, bây giờ được cho bộ đồ lam. Vải nó xám xám sậm sậm mà êm. Hễ trời nóng mặc thì mát, mà trời lạnh thì mặc ấm. Mình mặc bộ đồ đó vô là thấy đã, thấy vải này êm. Chính cái êm này có ái, vậy là trúng tên. Vậy thì mình là thành cây, thành đá không biết hay sao?
Không phải, mình vẫn biết, vẫn thấy được cái ái ở trong đó và mình hóa giải nó, không có chấp nhận, không có nuôi dưỡng nó. Tại vì bình thường là mình chấp nhận, nuôi dưỡng mà mình không có từ bỏ và chấm dứt. Người có tu tập là người nhận diện ra hết, từ bỏ và chấm dứt nó. Người không biết tu tập là người đó chấp nhận, nuôi dưỡng nó, làm cho nó tăng trưởng và phát triển ở trong nội tâm mà trong kinh Nikāya gọi là nó xâm chiếm và an trú ở trong nội tâm. Từ này phải nhớ kỹ: Xâm chiếm và an trú ở trong nội tâm của mình.
Cái đó nó có chỗ đứng ở trong nội tâm của mình khi mà mình đã thọ cảm giác đó. Chấp nhận cảm giác đó là mình thọ. Thọ là mình nhận. Cái này là cái rất là thâm sâu. Thí dụ như một người một vật, một việc hay cái gì đó tiếp xúc đó mà lúc đó mình không thấy được cái xúc, mình không thấy được căn, trần, thức giao thoa thì lúc đó mình thọ. Thí dụ nói đơn giản một người không biết nam hay nữ gì nhưng nhìn dễ thương quá. Dễ thương quá là thọ, lúc đầu nó đi vô nó nhẹ nhàng nó êm ái không có một cái gì hết.
Nên là mới cách đây mấy ngày đây ở bên khu rừng ở bên Châu Âu bị cháy mấy ngàn mẫu, dùng mười mấy chiếc trực thăng đi lại dập lửa mà dập không được vậy mà lúc đầu mấy người này chơi trò chơi, giỡn chơi. Thì thọ với ái cũng như vậy. Lúc đầu, có chút xíu như vậy nè, không có gì đâu. Nhưng một khi nó thọ nhận cảm giác đó rồi cảm giác đó đi sâu vào xâm chiếm nội tâm, nó an trú ở trong đó. Danh từ này ở trong tạng kinh gọi là tồn chỉ, tức là nó tồn tại. Chỉ là nó ở đó, dừng lại ở đó.
Như vậy là hàng tồn kho lưu trữ ở trong đó. Và bây giờ mình đi ngang những đường ghi thanh lý, giảm 75% cả một dãy. Thanh lý hàng tồn kho, kho sạch thì mới đem hàng mới về. Mà như vậy thì mình tu mình phải thanh lý bớt hàng tồn kho. Vì kho của mình trong này nó chứa đựng rất là nhiều, nhìn vô cảm thọ mình mới thấy được ở trong đó là cái kho vĩ đại tồn trữ bao nhiêu loại cảm giác. Kho này nó tồn trữ từ nhỏ tới lớn, từ nhiều khiếp trước.
Cho nên mỗi một người nó ái một kiểu cảm giác khác nhau nhưng nó không đi ra ngoài tham sân si và bản ngã. Ái các kiểu khác nhau, thích ăn phở hay là thích ăn cháo hay là thích ăn hủ tiếu thì cũng là thích. Đức Thế Tôn đã nói 3 pháp tham sân si này chiếm ngự hết tất cả. Ngũ Uẩn này là Ngũ Hành Sơn nó đè xuống, chụp xuống, nó không đi ra ngoài tham sân si và bản ngã. Khi mình nhận ở trong cái cảm giác sâu sắc, mình quán chiếu nó sẽ thấy ở trong đó có nhiều lớp, nhiều ngõ ngách, tinh vi, ma mãnh, xảo quyệt vô cùng ở trong cái thọ của mình.
Trước khi nhìn cái thọ mình mới thấy được cái hành, cái lời nói trong nội tâm, cái này là lớp nổi bên trên thành cái lời nói, những cái hình bóng, cái tưởng nó xuyên suốt trong cái cảm giác. Mà cảm giác này nó nhiều lắm. Cảm giác này nói những lời nói lầm thầm. Nhưng khi cái thọ không nói thành lời được thì nó bung lên, nó từ thô rồi nó tế, đến vi tế, tế ở trong cái tế. Khi mình đã quán chiếu được cái Ngũ Uẩn của mình thì mình sẽ đọc được Năm Uẩn của tất cả người khác, họ không cần nói mà mình chỉ cần nhìn vẻ mặt thôi là tất cả được biểu hiện ra hết, nó hiện bày ra như gương chiếu yêu, chiếu hết tất cả. Nhưng trước tiên mình phải chiếu chính mình trước, gọi là tự giác đến giác tha. Mình không biết mình thì làm sao biết người? Bản thân mình còn chưa biết rõ chính mình thì làm sao biết được người ta.
Học và tu pháp Năm Uẩn này hay lắm, mình đọc vô tự chân kinh, tức là đọc kinh nhưng không có chữ. Mình đọc ở trong cảm giác của mình, đọc ở trong ý hành của mình, mình đọc trong hình bóng của nội tâm, mình đọc ở trong nhận thức. Đọc trong cảm giác tư tưởng nhận thức. Đó là quyển kinh rất là lớn. Mà kinh này cũng có kinh thánh và cũng có kinh ma. Không biết đọc là đọc kinh ma, biết đọc thì đọc kinh thánh. Cho nên phải cẩn thận với mũi tên này. Trúng tên hết từ sáng tới chiều, mọi người đừng tưởng lên ngồi trước bàn Phật mà không trúng tên. Đang ngồi tụng kinh như vậy mà ái nó cũng xâm chiếm, sân nó cũng xâm chiếm, si nó cũng xâm chiếm, bản ngã nó cũng xâm chiếm. Nhiều người làm thơ mà đọc vô thấy Ngũ Uẩn nó hiện ra rõ trong đó, vậy là mình biết người này tu theo hướng gì rồi, họ không thấy được ngũ uẩn của chính họ.
III. Mong ước không ái nhiễm
“Do vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có mong ước, hãy mong ước không ái nhiễm, không bị mũi tên bắn.”
Hay sao là hay! Đây là chánh nguyện. Nếu như có ước nguyện, có mong muốn, có hy vọng đó thì hãy mong muốn đừng có bị ái nhiễm, không có bị mũi tên bắn. Mong ước như vậy là chánh nguyện. Đây mới là mong ước tối thượng. Hãy mong ước, mong muốn làm sao cho con không còn ước muốn gì nữa. Đó là mong muốn tuyệt diệu. "Con thưa thầy là bây giờ con không mong muốn gì nữa hết. Con chỉ có một điều là con không muốn gì nữa. Con muốn một cái là không muốn gì nữa và con muốn thực hiện cái đó".
Đây là ái diệt, tức là Niết-bàn. Mình phải hiểu rằng mình không muốn cái gì nữa, mình mong muốn cái không muốn gì hết, tức là mình không muốn đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp. Nếu muốn là phải muốn chứng được sơ quả, nhị- tam-tứ quả. Mình muốn tẩy sạch hết phiền não. Mình muốn dẹp hết dục lậu, hủ lậu. Chỗ này rất thâm sâu, khi Minh Thành học tới đây là rúng động, cái này không đọc kĩ là không hiểu nổi, không biết đang nói cái gì.
“Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: "Mắt là của ta".”
Tại sao lại không nghĩ tới con mắt? Tại sao Đức Phật kêu như vậy? Bởi vì nghĩ tới con mắt là nghĩ tới mắt của mình, hoặc là nghĩ tới con mắt của người kia. Đó là ái. Đó là chỗ sâu xa. Con mắt nó xấu vô cùng mà xem gương một hồi thì thấy cũng cười, coi cũng được, chính là ái ở trong đó. Không thấy con mắt này vô thường nên có bài kinh Con Mắt trong Tương Ưng Bộ kinh.
“Này các Tỳ-kheo, mắt là vô thường, biến hoại, đổi khác. Tai là vô thường, biến hoại, đổi khác. Mũi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Lưỡi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Thân là vô thường, biến hoại, đổi khác. Ý là vô thường, biến hoại, đổi khác.
Này các Tỳ-kheo, ai có lòng tin, có tín giải đối với những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy tín hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.
Với ai, này các Tỳ-kheo, kham nhẫn một ít Thiền quán, như vậy với trí tuệ về những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy pháp hành, đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy, phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu”
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương IV. Tương Ưng Nhập, I. Con Mắt).
Cho nên đừng chỉ nhìn con mắt. Đó là chỉ là sắc tưởng. Khi nó hiện khởi lên thì mình không chấp nhận và tác ý "Đây là vô thường, là khổ, vô ngã, là tứ đại chứ có gì đâu" thì cảm giác về con mắt sẽ tan biến, Đây là phương pháp đẻ trị vọng tưởng khi ngồi thiền. Chính là việc từ bỏ, không chấp nhận, không nhận nó là tôi, là của tôi thì từ từ nó sẽ hết. Còn cái kia là mình cố gắng mình dẹp bỏ vọng tưởng nhưng trong khi đó mình lại thấy nó đẹp, dễ thương, khả ái. Như vậy thì các ái sẽ trú ẩn trong đó, nó chấp nhận, tăng trưởng và phát triển ở trong đó.
Cho nên mình hãy nghĩ con mắt này là vô thường. Đọc câu đó lên "con mắt này là tứ đại, là vô thường, là bất tịnh, là vô ngã, duyên sanh. Không có gì đáng thích thú, đáng đẹp trong con mắt này. Không có gì để vui trong con mắt này". Mình quán con mắt này một ngày nó lọt xuống hố, dòi bọ bò ra trong con mắt này, từ đó mình sẽ từ bỏ con mắt này. Đó là trí huệ của bậc thánh. Mình nghĩ được như vậy, quán được như vậy thì vọng tưởng về con mắt sẽ lắng dịu. Còn nếu không sử dụng pháp quán này thì không bao giờ lắng dịu được. Bởi vì mình thấy nó là khả ái, là khả ý, là hấp dẫn liên hệ đến dục thì làm sao mà giết được người trong mộng?
Ở ngoài đời không được con mắt người xưa nên đi tu, vào chùa lại nhìn con mắt này hiền, con mắt kia dễ thương, con mắt kia liếc, khó chịu rồi lại về đau khổ, sầu bi ưu não với con mắt. Cho nên chớ có nghĩ tới con mắt. Chớ có nghĩ tới trong con mắt. Chớ có nghĩ tới từ con mắt. Chớ có nghĩ tới con mắt là của ta. Con mắt là ta. Đó là trí huệ siêu việt. Đừng đọc kinh như đọc báo coi tivi mà phải nghiền ngẫm bài kinh hàng trăm lần mới thấy được cái thậm thâm tuệ giác ở trong đó.
“Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: Các sắc là của tôi.”
Một khi mình đã thể nhập thánh pháp này rồi là mình an lạc tự tại giữa cuộc đời, không còn gì vướng bận nữa vì làm gì có cái sắc nào là của mình? Đây là một đống tim; gan; phèo; phổi. Ngày nào cũng nhìn thấy như vậy trong bất tịnh quán, làm gì có cái nào của mình? Phải quán chiếu cho thâm sâu chỗ này là mình được một gia tài khủng của Đức Thế Tôn. Chỗ này gọi là tài sản của người xuất gia. Đây mới là duy tuệ thị nghiệp. Vì vậy phải đọc cho kỹ, quán cho sâu mới không uổng cơm của Đàn-na tín thí, không uổng ba mẹ cho mình đi tu, không uổng chiếc ghế của nhà trường. Tất cả quần áo mình mặc, cơm cháo mình ăn, thuốc men mình uống, phòng ốc mình ở không có uổng phí, người bố thí cúng dường sẽ được lợi ích to lớn và dài lâu.
“Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: "Nhãn thức là của tôi"”
Đừng nghĩ rằng cái này đẹp, cái kia xấu, cái nọ tốt,… mình chấp vào cái rõ biết các sắc, mình nói rằng "tôi thấy", thì đó là thân kiến. Cái thấy này là cái pháp duyên sanh. Đừng lầm tưởng là tánh thấy, tánh nghe, tánh hay, tánh biết là không có. Do có con mắt không bị bệnh, các sắc, ánh sáng, có sự rõ biết các sắc. Ba pháp này hội tụ lại thành nhãn xúc, tức là sự tiếp xúc của con mắt. Nên ở trong cái thấy mình phải biết là không có mình, không có của mình. Bất cứ chỗ nào nó khởi lên mình phải dùng cái thánh trí mình soi rọi nó đến khi không còn là mình, của mình nữa. Trong ngôn ngữ vẫn sử dụng là tôi nhưng cái trí của mình là mình phải thấy không có gì là tôi. Tu cái này mới có được cái gọi là thầy của trời và người, đây là những điều kiện.
“ Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: "Cảm thọ ấy là tôi".”
Đây là trí tuệ của cảm giác. Do sự tiếp xúc của con mắt này nó sanh ra cái cảm giác. Cảm giác đó là khổ, là vui hay không khổ không vui,... thì tất cả các cảm giác đó, chớ có nghĩ đến nó. Tức là không phải mình đè cái tâm xuống để không nghĩ đến nó mà mình phải biết đó là pháp duyên sanh. Nó vô thường, nó là pháp biến hoại, nó là khổ cho nên mình không để tâm tới nó. Không cho nó là thật. Không cho cái cảm thọ này là mình, là của mình. Không phải nhắm mắt bịt tai lại cho mình như cái cây không có cảm giác mà chớ nghĩ đến nó tức là chớ có cho nó là thật. Tại vì mình cho nó cái thật rồi mình nhảy vô trong đó, gắn với nó là một rồi buồn vui, khổ sở trong đó với nó.
Như vậy mình bị nhấn chìm trong cảm giác, trong cảm thọ. Mình phải thấy nó là một pháp. Pháp này không có ra gì, không phải là cái xứng đáng để cho mình đeo đuổi, để cho mình đam mê, để cho mình nắm bắt, để cho mình bám chặt vô đó. Nó là cái không đáng để cho mình để tâm. Đó là trí huệ. Bây giờ mới nghe một câu nói rồi tức, rồi trôi theo cái tức. Nghe một câu là giận rồi trôi theo cái giận, không đi ra được. Đó là vô văn phàm phu nghiệp chướng nặng nề, nhân ngã bỉ thử không thấy pháp.
Mình phải thấy được cái thọ vận hành thế nào, sanh khởi ra làm sao, không chấp nhận cái thọ đó và biết nó là cái không ra gì hết, đó là pháp duyên sanh. Nó là vô thường, là khổ, chịu sự biến hoại. Nó không phải là cái đáng để cho mình để ý lưu tâm rồi mình khổ với nó, mình trói vô đó, mình chìm đắm trong đó và mình chết trong đó. Đó là trí tuệ xuất ly của bậc thánh, xuất ly khỏi cảm thọ.
IV. Từ bỏ tái sanh
“Này các Tỳ-kheo, nghĩ đến cái gì, nghĩ đến trong cái gì, nghĩ đến từ cái gì, nghĩ đến: "Cái gì là của ta", từ đấy cái ấy đổi khác. Vì rằng bị đổi khác, vì chấp trước tái sanh, nên thế giới hoan hỷ tái sanh.”
(Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, Phần Hai. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa,VIII. Ái Nhiễm)
Câu này mình lạy hói đầu cũng chưa nói ra nổi câu này, tu cả ngàn tỷ kiếp cũng không nói nổi câu này. Chỉ có Chánh Đẳng Giác mới nói được. Chữ cái gì ở đây nó là cái gì? Đây là đại từ thay thế cho tất cả mọi cái. Cho nên trong kinh TỨ NIỆM XỨ đã nói các vị Tỳ-kheo không có chấp trước bất cứ một vật gì ở trên đời. Nếu không có thâm quán về tứ đại ngũ uẩn, không trực chỉ vào danh và sắc thì làm sao không dính vào cái gì? Khi đã dính vào cái gì mà nó đổi khác thì chắc chắn mình sẽ sầu bi khổ ưu não.
Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán vô trước Chánh Đẳng Giác. Vô trước tức là không dính mắc tới tất cả cái gì trên cuộc đời này. Cho nên chớ có nghĩ đến cái gì, hay là từ cái gì, đến cái gì, cái gì là của ta. Nó là pháp vô thường mà, nó đổi khác là mình khổ, mình sầu bi khổ ưu não. Tại vì mình nghĩ đến cái gì là mình chấp trước tái sanh, nên thế giới hoan hỷ tái sanh. Mình tu mà không khéo là mình nghĩ rằng mình có chân tâm, mình có Phật tánh, mình có một cái gì đó vậy hoài thì cái đó lọt vô tái sanh nữa.
Vì mình vì mình có một cái gì thì đó là chấp ngã rồi. Chính vì cái nghĩ đó làm cho cái tâm mình dao động, tâm mình sẽ chấp vô một cái gì đó của cái tưởng thì lúc đó mình sẽ không chấp dứt được Năm Uẩn, nghĩa là không đi tới cứu cánh giải thoát. Cho nên đi tới chỗ tận cùng của nó là phá tan hết tất cả Năm Uẩn, không còn một chút xíu nào là tôi, là của tôi nữa hết. Cho nên có một bài kinh Phân Bò. Đức Thế Tôn cúi xuống, lấy móng tay khơi một ít phân bò đưa lên và nói:
“Này các Tỳ-kheo, ta không có tán thán, ta không đồng thuận với sự hiện hữu tái sanh dầu cho một chút như phân bò này.”
Tức là chấm dứt mọi sanh tử. Mình muốn giả thoát mà mình yêu thích cái thân này thì có trái ngược không? Đây hoàn toàn là sự mâu thuẫn thì làm sao mình tu tới chỗ giải thoát? Mình ưa thích cái chùa của mình, ưa thích món đồ ở trong tủ, mình ưa thích chiếc xe, mình ưa thích thân thể của mình mà mình nói muốn chấm dứt luân hồi sanh tử là sao? Hoàn toàn trái ngược. Ví dụ có người để quên bao đồ 15 ngày trong chùa, trong đó có bắp cải, nấm rơm, đậu hũ, thịt. Có người phát hiện ra thấy bao gì đẹp quá, mở ra nhìn vô là bịt mũi liền, vậy là quăng cái bao đó đi một cách không thương tiếc.
Đối với bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là từ bỏ thân Ngũ Uẩn này cũng giống như vứt bỏ bao đồ hỏng đó. Còn mình yêu thích trong cái thân Năm Uẩn này cho nên mình đầu tư cho Năm Uẩn chứ mình không có tàn diệt, không chấm dứt, không từ bỏ Năm Uẩn làm sao mình giải thoát? Cho nên nếu mình có cái thọ, có tưởng, có cái hành nghĩ rằng mình có một chân tâm, Phật tánh nào đó thì cái đó đối với trong đây là nguyên nhân để cho mình không thể chấm dứt sanh tử. Đây là pháp rất thâm sâu, nếu mình không nắm vững cái này là mình tu không đi tới đâu.
Mình chỉ đi tới cảnh tầng thiền trong Tam giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới vì bản ngã chưa phá sạch. Cho nên Hòa Thượng Minh Châu có viết quyển sách Vô Ngã Là Niết-bàn. Bây giờ nếu mình nói mình có một cái gì đó mà cái đó không thay đổi thì đó là bản ngã nên không khéo lúc nhỏ tu thì bản ngã nhỏ nhỏ, tu riết rồi bản ngã leo trên bàn thờ. Vì giờ nó không phải là bản ngã của người bình thường mà là bản ngã của thầy tu. Một bản ngã của cái gì mà siêu lắm, nó lớn dữ lắm, trùm trời trùm đất nên tu hoài đâu có giải thoát được. Mình còn để trong tâm mình cái gì là mình đó, mà nếu như cái đó bị đổi khác là mình khổ đau lắm.
Chấp trước tái sanh cho nên thế giới này hoan hỷ với sự tái sanh. Mỗi người đều có một sở thích khác nhau, gọi là ái sai biệt. Có người thích xe, người thích ăn, có người thích nấu cho người ta ăn, có người thích cắm bông, có người thích giảng pháp... Cái đó gọi là ái sai biệt, tức là sự yêu thích khác nhau. Giả sử nếu như bình thường ở chùa 10 năm, chức của mình là chức cắm bông. Bữa nay có một cô mới cạo đầu vô thì cô ấy nói với sư phụ "bữa nay con xin phần cắm bông. Con cắm là không cho ai đụng vô, một mình con làm thôi. Có gì con chịu trách nhiệm".
Nếu sư phụ cho thì lúc đó người cắm bông bị trúng tên. Mình yêu thích chiếc xe đó, có người hỏi mượn. Mình thấy tình nghĩa, tội nghiệp, cũng dễ thương kêu gì cũng nghe, không lẽ nhờ người ta hoài mà hỏi mượn xe không lẽ không cho? Cho mượn mà ở nhà hồi hộp, nhìn đồng hồ hoài, đến khi người đó về thì không thấy xe, hỏi ra thì bị tai nạn giao thông, đống sắt nằm ngoài đường. Lúc đó là trúng tên. Rồi giờ thích nấu lắm. Có đám lớn nên bỏ công sức nấu 3 ngày, cuối cùng mấy người kia chê nấu đồ ăn tệ, vậy là trúng tên. Nếu mình không có quán chiếu tứ đại, Năm Uẩn, mình không có nhìn lại cảm giác, không nhìn lại lỗ tai, âm thanh, không nhìn lại nhĩ xúc, không nhìn lại thọ là mình chết. Chỉ một tiếng chê thôi làm cho mình đảo điên, lật đổ hết trời đất, càn khôn này dịch chuyển hết.
Đó là cái thô thiển nhất của pháp phàm phu, pháp của người tầm thường còn chưa vượt qua được. Mới cạo đầu thôi mà "Mai đây con sẽ đi hoằng pháp độ sanh. Con phát đại Bồ đề tâm, Bồ tát hạnh". Những điều mình nói có phải là dục, bản ngã, danh lợi không? Nguy hiểm vô cùng! Mình không có nhìn rõ chính mình đang vô minh, đang bản ngã, đang tham sân si, đang phiền não đủ thứ mà cứ muốn hướng ra ngoài, muốn làm thầy thiên hạ, nói những từ đại ngôn. Kết quả cuối cùng là bản ngã to tướng, một khối vô minh, ái dục. Nên chính chỗ này phải nắm thật vững trí huệ trong kinh tạng Nikāya, sơ quả Tu-đà-hoàn là phải nhìn ra được cái bao đồ thối rình. Thấy được bao đó là trí huệ của bậc thánh. Thấy được tham dục sân si, bản ngã vô minh. Thấy được những cái tệ nhất, xấu xa nhất của chính mình. Thấy một cách rõ ràng, thấy một cách đầy đủ, thấy được một cách triệt để. Đó là trí huệ của bậc thánh.
Bây giờ toàn dùng những từ hoa mỹ xưng tụng với nhau. Nhưng bên trong là rắn rết, bò cạp, lựu đạn, chất nổ, gươm đao. Động tới mới biết. Kinh tạng Nikāya là vạch trần được hết các sự thật. Mình phải thấy được chỗ rồi mình điều chỉnh thì mình tuyệt vời lắm. Mình càng tu thì càng khiêm cung, càng cung kính, càng hiền hòa, càng dễ thương. Mình càng thấy mình chẳng có ra cái giống gì, tệ vô cùng, xấu xí vô cùng, hôi hám vô cùng, một đống phân, nước tiểu không có ra cái gì hết. Mà rủi ai có nói chị sao hôi quá thì "Đúng rồi, tôi thấy tôi thối chứ không phải là hôi".
Thấy rõ được thì an lạc vô cùng. Bây giờ mình tu mà có ai chê là cái mặt như cái mền. Tu đúng chánh pháp là tuyệt diệu lắm. Mình tu kiểu gì mà đến thầy dạy mình cũng sân si thì phải coi lại mình đang tu cái gì. Mình thấy một sự thất bại lớn lao không? Mình tưởng là mình cao siêu hay lắm, ở bên trong là một cái tôi ngất trời, cống cao ngạo mạn kinh khiếp. Mình không nhiếp phục được bản ngã đó thì làm sao mà mình học đạo?
Chỗ này là chỗ thậm thâm của trí huệ. Phải thấy được hết tất cả cảm giác của mình, tư tưởng của mình, nhận thức của mình vận hành ở trong đó, thấy được bao nhiêu cái ngõ ngách ở trong đó. Thấy rồi mình phải nhiếp phục nó, chuyển hóa nó. Mình hoàn toàn làm chủ được hết, nó không khống chế mình mà mình điều phục và chế ngự. Nhìn kĩ rồi thấy đau lòng, bên trong là những thứ nhơ nhớp, luôn nghĩ ta đây hơn thiên hạ, không coi ai ra gì. Mình có nhìn sâu mình mới thấy cái bản ngã là cái nguy hiểm giết người, chính là cái bản ngã giết mình chứ không phải ai ở bên ngoài giết mình.
./.