Làm Sao Để Thành Người Xuất Gia Đúng Nghĩa 6 - Kinh Xóm Ngựa
9-11-2020 KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI - LÀM SAO ĐẾ THÀNH NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 6 - KINH XÓM NGỰA - TRUNG BỘ
Thích Minh Thành
Nếu mình không biết năm triền cái là những pháp cấu nhiễm, làm ô uế tâm, làm ô nhiễm trí huệ mà mình không nắm vững, không thấy biết, không có phương pháp nhiếp phục, diệt tận thì tu không tiến bộ.
Sau khi đã đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly ác, bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Khi đoạn được năm triền cái rồi sẽ ly dục, ly ác bất thiện pháp vì triền cái thứ nhất là tham dục mà mình đoạn được nó thì mình ly dục. Nếu tu đúng pháp thì thiền thứ nhất mình có khả năng chạm tới, không khó nếu tu đúng, thậm chí nếu biết thì đang nghe pháp vẫn có thể trú vào tầng thiền thứ nhất, nhưng điều quan trọng là phải biết còn nếu không biết thì dù cho mình ở trong đó mình cũng không biết, mình ở trong đó mà không biết cũng giống như không ở, là vô minh. Tầm là sự hướng tâm, tứ là bám vào đối tượng, ví dụ hình ảnh con bướm bay hướng về cây bông là tầm, khi đậu xuống cây bông là tứ. Như vậy hướng tâm có tầm có tứ là ngồi thiền phải tác ý, cái tâm hướng về sự hỷ lạc, tác ý "Thật là may mắn cho ta, thật là phước báu cho ta, thật là an lạc cho ta khi giờ này những bạn đồng trang lứa đang phải tất bật mưu sinh, khổ sở phiền muộn, sầu bi khổ não mà ta được ngồi yên trên bồ đoàn lìa hết tham dục, không bị dính mắc vào cuộc sống vợ chồng con cái. Thật là giải thoát cho ta khi ta sống đời sống xuất gia không nhà được thanh bình, an lạc như vầy. Thật là hỷ lạc cho ta trong trạng thái tâm an tịnh, thân lắng dịu. Thật là một hạnh phúc của người tu khi tâm ta đã lìa được những ham muốn, sân hận, hôn trầm – thụy miên, trạo cử. Ta ngồi trong sự tỉnh táo sáng suốt, ta ngồi một mình giữa đêm khuya vắng trên non thiêng mây ngàn". Mình có thể ngồi một mình tại chùa của mình vào buổi sáng hoặc trên thiền đường rồi tác ý "Thật là hạnh phúc, hỷ lạc cho ta khi sống đời sống viễn ly không nhà, đời sống giải thoát thanh tịnh. Thật là hoan hỉ, an lạc, vui sướng cho ta". Có nhiều cách tác ý để tâm hướng về sự hỷ lạc gọi là tầm, khi tác ý như vậy thì cảm thọ hỷ lạc sẽ sanh khởi lên, thấy hạnh phúc, an lạc, mình trú luôn trong cảm thọ hỷ lạc đó, khi hết thì lại tác ý tiếp tục, cứ ở trong cảm giác vui sướng, hạnh phúc khi được sống một mình, khi được ngồi trên thiền đường an lạc, bình an, giữa đêm khuya thanh vắng mọi người say sưa mê ngủ mà mình được tỉnh táo, chánh niệm tỉnh giác nhìn thấy năm uẩn, đánh được tham sân si, bản ngã, những ác bất thiện pháp, ngũ cái tan biến trong giây phút đó thì hỷ lạc sanh, hoan hỉ sanh thì đó là trạng thái của sơ thiền. Mình phải tác ý thì pháp mới sanh còn không tác ý thì không thể sanh khởi được.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Vì thế khi tác ý để tâm hướng đến cảm thọ hỷ lạc, mình trú trong cảm thọ đó sẽ hoan hỉ, an lạc, hạnh phúc thì đó là trạng thái của sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Cần phải nhớ rằng trạng thái này là trạng thái hỷ lạc do ly dục của thế giới mà mình được cái lạc trong pháp vị, thiền vị còn cái vui của thế gian như được ăn ngon, đi chơi vui thì cái đó chỉ là dục lạc chứ không phải sơ thiền. Trong khi nghe pháp cũng vậy, tập trung tư tưởng tâm ý chuyên nhất và tác ý theo pháp, tâm mình an trú trong pháp không có ngũ cái thì đó là trạng thái của sơ thiền hỷ lạc. Ngài Anan phá năm triền cái cho nên tất cả lời pháp của Đức Phật ngài đều ghi nhớ không sót chữ nào, ngài thường xuyên trú trong trạng thái của sơ thiền. Chính vì vậy một khi tham, sân, hôn trầm – thụy miện, trạo cử, hoài nghi không còn nữa thì tâm trong sáng, không bị che mời nên sức nhớ của ngài Anan là siêu việt. Tại sao một người thường hay quên trước quên sau? Là do người đó bị ngũ cái nặng nề, cái tâm không trong sáng, mới nói đã quên vì trong tâm là dục, sân, trạo cử, hôn trầm – thụy miên, hoài nghi trộn lẫn như đống xà bần nên thường hay quên, có nhớ thì cũng "râu ông này cắm càm bà kia", còn một người đã không còn ngũ cái thì tâm rất trong sáng, thanh tịnh cho nên tâm này chỉ cần tác ý nhẹ nhàng sẽ trú ngay vào sơ thiền, và sơ thiền này có thể trú suốt ngày, suốt tuần, suốt năm cho đến nhiều năm nhưng phải biết cách mới trú được. Tại sao mình tu không được? Vì ngoài dục lạc ra mình không biết còn có pháp lạc, thiền lạc, vì thế mà mình không ra khỏi dục lạc được, mình nếm được hương vị của pháp lạc, thiền lạc thì mình mới biết được cái vui khác thù thắng hơn, cao quý hơn, đó là trạng thái của sơ thiền. Cho nên những người đạt được trạng thái này sẽ ly dục, không còn tham muốn những dục lạc thấp hèn của thế gian vì đây là cái vui của sự cao thượng, trong sạch, thanh tịnh, cái vui này không bị lệ thuộc vào đối tượng bên ngoài. Còn cái vui dục lạc bị lệ thuộc đối tượng nên khổ, vui với điếu thuốc mà không có thuốc là khổ, vui với chung rượu mà không có rượu là khổ, vui với cảnh đẹp, món đồ đẹp mà không có cảnh đẹp, món đồ là buồn chán, vui với người nào đó mà không có người đó thì khổ. Còn cái vui này không bị lệ thuộc vào bất kì đối tượng nào, cái vui này do ly dục sanh hỷ lạc, đó gọi là trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, hỷ là mừng, lạc là vui, một thái mừng vui do ly dục mà có. Cho nên phải biết tu, còn không thì nhìn mặt thấy thảm não vì bỏ dục lạc bên ngoài mà không có pháp lạc, thiền vị thì khổ, tuy rằng thân viễn ly mà tâm không viễn ly, thân ở trong chùa còn tâm ở ngoài đời vì trong tâm vẫn còn thèm thuồng, khát ái, khao khát, chẳng qua chưa có cơ hội chứ có là bắt chụp ngay do không nếm được pháp lạc, pháp vị, thiền lạc. Không được pháp lạc, thiền lạc thì nhất định sẽ đi tìm dục lạc vì trên đời con người chúng ta thường xuyên tìm cái vui, không có vui làm sao sống nổi, vì thế người nào không có thiền lạc, pháp lạc thì người đó sẽ đi tìm dục lạc. Đây là lý do mình không giữ giới được, mình không vui trong đời sống của thiền môn, cũng do không nếm được pháp vị, thiền lạc. Nếu không nếm được thiền lạc, pháp vị thì mình tìm dục lạc trong những món ăn, trong bạn bè, trong những chuyến đi chơi, trong những thứ thông thường của thế gian, vì thế trạng thái sơ thiền là cực kì cần thiết của người tu, nếu người tu không nếm được cái này thì tu uổng công, một đời tu nhìn khổ vô cùng và rất dễ bi sân si, bản ngã, rất dễ bị tham đắm vì không biết ngũ cái là gì, không để tâm vào để nhiếp phục ngũ cái nên bị ô nhiễm tâm tư, yếu ớt trí huệ cho nên phải thường xuyên tác ý, còn không ngồi một mình lại thấy chán "buồn quá", nhất là Noel, lễ tết, thấy mọi người đi chơi có bạn bè, còn mình ngồi trong chùa một mình lặng lẽ rồi không ngồi thiền nghe pháp, tác ý lại mở điện thoại ra xem cảnh người ta đi chơi vui vẻ thì có khổ không, tu như vậy có khổ không? Ngoài đời thì không hưởng được, trong đạo cũng không nếm được pháp lạc, như vậy là lưỡng đồ câu thất, cả hai đường đều mất, vì thế tu phải nếm được thiền vị, pháp lạc rồi sẽ thấy hạnh phúc, vi diệu.
Cao thượng là đời sống của người xuất gia!
Thiêng liêng, thần thánh, tối thượng là đời sống của người xuất gia!
Xin thưa với đại chúng, con có thể trú trong trạng thái sơ thiền không phải hằng tháng mà có thể kéo dài hằng năm, lúc nào con muốn là tác ý sẽ ở trong trạng thái sơ thiền. Thành ra mình phải biết rồi thực tập, mở kinh Nikāya lên là trú trong trạng thái sơ thiền, hỷ lạc khắp thân thể, sung mãn pháp hỷ, pháp lạc vì tiếp xúc được thánh trí huệ, tiếp xúc được với sự thật vì thế mà ở một mình không thấy buồn chỉ thấy hạnh phúc, an lạc. Nếu không có pháp lạc, không có thiền vị thì không thể ở một mình được, cho nên phải học để biết rồi thực tập, nhưng không phải chứng được là ở trong đó hoài, còn cái này có khi được có khi không nhưng vẫn đỡ hơn người không được gì hết. Cho nên chứng thiền là khác, còn nếm được, trải nghiệm được sơ thiền là khác. Chứng thiền là bất cứ lúc nào muốn sẽ ở trong đó, cho nên khi Đức Phật chuẩn bị nhập Niết-bàn là ngài vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, ngài lên các trạng thái tứ thiền bát định, đi một vòng như vậy là bao nhiêu cấp độ thiền định, ngài biểu diễn tất cả các trạng thái tâm trước khi nhập Niết-bàn, cuối cùng ngài mới viên tịch, tức là sự tự tại đối với các pháp của Đức Phật, còn mình tu mà đến khi gần chết lại rên rỉ ỉ ôi, đau khổ chứ nhập thiền hồi nào, là do tu không đúng pháp, không tha thiết chân thành cầu học chánh pháp.
Và Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: "Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật".
Ðó là lời cuối cùng Như Lai.
Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền.
Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền.
Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền.
Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền.
Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Không vô biên xứ.
Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên xứ.
Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ.
Xuất Vô Sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.
Khi ấy tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:
- Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.
- Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt độ.
Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.
Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định.
Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định.
Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định.
Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền.
Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền.
Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.
Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền.
Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.
Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền.
Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền.
Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.
Khi Thế Tôn diệt độ, cùng với sự diệt độ, đại địa chấn động khủng khiếp, râu tóc dựng ngược, sấm trời vang động. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Vì thế phải thường xuyên tác ý để thấy hạnh phúc trong pháp. Khi con qua Đài Loan thăm Hòa Thượng bên đó, Hòa Thượng ngồi nói chuyện với con bằng tiếng Hoa trong 10 tiếng, khách vào Hòa Thượng không tiếp, ăn cho có, không ăn cũng được. Khi đã vào pháp hỷ thì những sự sinh hoạt thông thường không còn quan trọng nữa. Có một vị đại thần hỏi Đức Phật hạnh phúc hay nhà vua hạnh phúc hơn thì Đức Phật hỏi lại ngài có thể ngồi một ngày đêm vẫn được an lạc không thì người này nói không, bảy ngày bảy đêm được không thì vẫn trả lời không, Phật nói ta có thể suốt bảy ngày bảy đêm ngồi bất động vẫn trú trong hỷ lạc, còn mình ngồi một tiếng là đau nhức, buồn ngủ, rên rỉ vì công việc chính của mình là im lặng như bậc thánh, nói năng theo chánh pháp, thảo luận chánh pháp, những cái này mình không để tâm vào rèn luyện mà luyện những cái khác, mình không thấy được giá trị vĩ đại của chánh pháp.
--"Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc thì vua Magadha Seniya Bimbisara (Tần-bà-ta-la) có thể đạt được hạnh phúc, và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama.
"Lời nói này thật sự đã được các Tôn giả Nigantha nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư. Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Và chính ta ở đây cần phải được hỏi như sau: 'Giữa các bậc Tôn Giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'
"Hiền giả Gotama, lời nói này thật sự đã được chúng tôi nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư: Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Hãy để yên sự việc như vậy. Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Gotama: 'Giữa quý vị Tôn giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'
--"Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc thì vua Magadha Seniya Bimbisara (Tần-bà-ta-la) có thể đạt được hạnh phúc, và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama.
"Lời nói này thật sự đã được các Tôn giả Nigantha nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư. Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Và chính ta ở đây cần phải được hỏi như sau: 'Giữa các bậc Tôn Giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'
"Hiền giả Gotama, lời nói này thật sự đã được chúng tôi nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư: Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Hãy để yên sự việc như vậy. Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Gotama: 'Giữa quý vị Tôn giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'
--"Chư Hiền Nigantha, nay Ta sẽ hỏi các Ngươi một câu, cũng vấn đề này. Nếu các Ngươi vui lòng, hãy trả lời câu hỏi ấy. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn bảy ngày bảy đêm có được không?
--"Này Hiền giả, không thể được.
--"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn sáu ngày sáu đêm, luôn năm ngày năm đêm, luôn bốn ngày bốn đêm, luôn ba ngày ba đêm, luôn hai ngày hai đêm, luôn một ngày một đêm không?
--"Này Hiền giả, không thể được.
--"Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong một ngày một đêm. Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong hai ngày hai đêm, luôn trong ba ngày ba đêm, luôn trong bốn ngày bốn đêm, luôn trong năm ngày năm đêm, luôn trong sáu ngày sáu đêm, luôn trong bảy ngày bảy đêm. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Ta?
--"Sự kiện là như vậy, Tôn giả Gotama sống hạnh phúc hơn vua Magadha Seniya Bimbisara."
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Mahànàma thuộc giòng họ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. (Trung Bộ Kinh, 14. Tiểu kinh Khổ uẩn)
Phải dành nhiều thời gian học chánh pháp Nikāya và thiền tập để nếm được hương vị thật sự của người xuất gia, nếu không cuộc đời tu rất hoang phí, ngoài đời không làm được gì, dục lạc cũng không được hưởng, trong đạo thì pháp lạc không nếm được, không thành cái gì hết, đời không ra đời, đạo không ra đạo vì thế phải cố gắng để tâm học hỏi và hành trì. Chúng ta phải biết tác ý, khi ngồi học mà làm biếng thì phải tác ý "Giờ này lũ lụt ngập tới nóc nhà của người ta. Giờ này chồng xa vợ, mẹ xa con, bà xa cháu, trong một gia đình mà chết hết 7 người, tan nhà nát cửa, đau khổ, hiểm họa, tai ương, dịch bệnh trong giờ phút này, gần 1,3 triệu người chết vì dịch bệnh trong giờ phút này, những thây chết chất chồng trong bao ni lông đổ đầy sân vận động. Tại sao mình không tinh tấn? Tại sao mình không nỗ lực mà lại buông lung phóng dật, thả lỏng các căn? Tại sao mình lại vô cảm, vô tâm như vậy? Tại sao mình lại si mê, vô minh như vậy?", tác ý như vậy thì sanh khởi lên sự tinh tấn, sanh khởi lên sự trân trọng cái pháp, sanh khởi lên sự hy hữu hiếm có khó gặp khi học pháp, còn không tác ý mà cứ ngồi trơ ra thì sanh khởi lên cái gì là dẫn mình theo đó, buồn ngủ là ngủ, trạo cử là táy máy tay chân, cái miệng muốn nói là nói. Như vậy mình hoàn toàn là kẻ nô lệ, kẻ đáng thương xót, kẻ thấp hèn trong giáo pháp, mình không thấy được các pháp đang sanh khởi, không nhìn thấy những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm, không thấy dục nói, cục ăn uống, cựa quậy, dục đam mê ngủ nghỉ, tất cả những cái này phải được nhìn thấy rồi tác ý một cách mạnh mẽ thì mới đánh đuổi những cái đó ra khỏi tâm được. Cho nên làm biếng, buồn ngủ trong giờ tu là phải tác ý "mày ngủ đi rồi dịch bệnh tới là chết dịch, đồ ngu si", phải quở trách tâm, Đức Phật gọi là tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng mình.
Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỷ Kheo, kệ 379)
Ở đây, này Bhaddali, có Tỳ-kheo không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc Ðạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh". Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Ðạo Sư quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, chư Thiên quở trách, tự mình quở trách mình. Vị này bị bậc Ðạo Sư quở trách, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, bị chư Thiên quở trách, bị tự mình quở trách mình, nên không chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bahaddali, là vì vị ấy không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. (Trung Bộ Kinh, 65. Kinh Bhaddàli)
Không phải như mình cứ trơ ra, ngồi một đống là đi đến vô minh, si mê, không thì cứ ngồi đó nhắm mắt rồi tưởng tượng. Cho nên phải tác ý, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tác ý là sự tác động tâm ý, khích lệ, làm cho phấn khởi, hướng thượng, tăng thượng, phát triển, bước tới phía trước. Vì thế sơ thiền có tầm, có tứ, tức là có sự hướng tâm và trú vào đối tượng đó, nếu tâm người nào nhu nhuyến, có một sự tương đối khi thực hành sẽ chạm được sơ thiền khi ngồi thiền, ngồi thiền rất hỷ lạc, nhưng đòi hỏi phải diệt được ngũ cái, còn nếu thiền mà giận ai sẽ không thể sanh hỷ lạc được, ngồi mà nhớ nhung hình bóng thì làm sao sanh hỷ lạc được? Phải phá cho được năm triền cái thì mới vào được hỷ lạc của sơ thiền, vì thế mà pháp nhĩ như thị, trình tự của pháp là như vậy chứ mình muốn để được mà làm không đúng thì không được.
Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Trạng thái sơ thiền thấm vào từng tế bào, từ đỉnh đầu đến gót chân đều thấm nhuần trạng thái mừng vui, hoan hỉ. Tức là toàn bộ thân tâm trong từ lỗ chân lông đều rúng động, thân tâm đều ở trong trạng thái hỷ lạc, không chỗ nào không thấm nhuần hỷ lạc.
Này các Tỳ-kheo, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Ngày xưa tắm bằng bột, bây giờ mình tắm thì dội nước, dùng vòi hoa sen hoặc múc bằng ca dội thì toàn thân mình không có chỗ nào không có nước. Trạng thái hỷ lạc cũng vậy, nó tràn ngập khắp chân thân, sung sướng, hạnh phúc trong pháp. Nếu người nào bây giờ trong trạng thái tâm không bị ngũ cái chi phối thì người đó cũng hỷ lạc giống vậy, rất hoan hỉ, an lạc, tuyệt vời vi diệu, không cần đi tìm bên ngoài. Đây là trạng thái vui sướng, hạnh phúc nhưng trạng thái này thô, còn giờ tế nhị hơn.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Chỗ này hỷ lạc đi vào vi tế vì cái gì còn thô thì cái đó sẽ bị sanh diệt, sẽ làm cho tâm mình không đi đến chỗ cực kì thanh tịnh, cho nên các tầng thiền càng sâu chừng nào thì càng vi tế chừng đó. Cho nên tầng thứ hai là diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh. Tức là một cái vui nhè nhẹ, cái tâm yên định, an định nhưng trong an định đó có một niềm vui nhẹ nhàng, khi nãy là thân lẫn tâm đều vui sướng sung mãn, còn giờ cái vui này tế nhẹ, cái tâm đi vào trạng thái tĩnh lặng của định, nhưng trong định vẫn có hỷ lạc nhẹ, không còn tầm tứ, tức là không cần khởi tâm lên nữa, an định nhưng hỷ lạc. Nhưng mình ở trạng thái sơ thiền là tốt lắm rồi, nếu nghĩ sơ thiền là thấp nên tập nhị thiền cho cao là không được, phải đi theo trình tự từ thấp lên cao. Nội tĩnh nhất tâm nghĩa là bên trong là một sự tĩnh lặng, một cái tâm thuần nhất.
Này các Tỳ-kheo, ví như một hồ nước, nước từ trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Tức làm một sự thấm nhuần nhưng tĩnh lặng, một sự hỷ lạc nhưng an định, tĩnh lặng. Bây giờ là định sanh hỷ lạc còn khi nãy là ly dục sanh hỷ lạc.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là "xả niệm lạc trú", chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Bây giờ là lìa cái vui, tâm ở trạng thái buông xả, chánh niệm tỉnh giác. Vị ấy chỉ còn thọ lạc trên thân, tâm không động mà định. Có hai loại cảm thọ là thọ thân và thọ tâm, cảm giác của thân và của tâm khác nhau, vì tâm định rồi nên không sanh khởi nữa nên gọi là ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác nhưng thân cảm sự lạc thọ, cái thọ bây giờ chỉ còn trên thân.
Này các Tỳ-kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Hoa sen mọc dưới hồ chưa ngoi lên mặt nước thì từ gốc đến ngọn đều thấm nước, sự lạc thọ trong trạng thái thiền thứ ba này giống vậy. Tầng thiền thứ tư còn thâm sâu hơn nữa.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Này các Tỳ-kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Thiền thứ ba bên Phật giáo phát triển gọi là ly hỷ diệu lạc, tức là sự vui của thiền thứ ba rất màu nhiệm, vi diệu. Còn tới tầng thiền thứ tư là xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Đức Phật ví dụ một người lấy tấm vải trắng trùm toàn thân, không có chỗ nào không được phủ lên tấm vải, thiền thứ tư cũng vậy, khổ bỏ, hỷ, ưu cũng bỏ. Đây là trạng thái thâm sâu của tâm hoàn toàn thanh tịnh vì còn vui là còn động, còn động là còn luân hồi sanh diệt. Cái tâm này là tâm cực kì thanh tịnh, trong sáng. Thiền thứ nhất đã phá hết năm triền cái, thiền thứ hai càng vi tế, thiền thứ ba xả hết, thiền thứ tư là không khổ không lạc, cái tâm thuần tịnh, đây là trạng thái tâm của bậc thánh.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỳ-kheo, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình, người ấy nghĩ: "Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây, ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa (Ba Minh))
Thật sự rất khủng khiếp, khi cái tâm đã đạt đến bất động thanh tịnh thì bắt đầu vị này trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, vững chắc thì hướng tâm về túc mạng minh, tức là về quá khứ. Đem cái tâm thanh tịnh hướng ngược về các đời trước, xem mình là người như thế nào thì nó hiển hiện ra như vô số tập phim, các đời sống trong quá khứ đều hiện ra. Trái Đất này sẽ đi đến hoại diệt, hoại cho đến khi tam tai sanh khởi lên là hỏa tai, thủy tai, phong tai, bây giờ chỉ mới lũ lụt một chút thôi còn thủy tai là nhận chìm thế giới, đại tam tai sẽ sanh khởi, lửa trong lòng đất phựt lên, núi lửa trong lòng đất cháy lan ra gọi là hỏa tai, phong tai là gió thổi mà thổi với vận tốc 300km/h là xong hết mọi thứ, thổi tới đâu là tan nát hết tới đó gọi là đại phong tai, tam tai sanh khởi tức là tứ đại sẽ tới kiếp hoại của nó. Trái Đất trong kinh ví dụ giống như tim đèn, đốt hết tim còn lại tàn, gió thổi mạnh là bay ra thành cát bụi. Trái Đất tới đó gọi là hoại kiếp, như vậy mà một vị chứng tam minh nhớ hết quá khứ rồi Trái Đất hình thành thế giới mới, đời sống mới. Bao nhiêu thành kiếp, hoại kiếp vị ấy nhớ hết cho nên tâm phải định thì mới chứng thần thông, có những vị chứng thánh quả nhưng không có thần thông, không phải ai cũng chứng thần thông, có nhiều vị A-la-hán không có thần thông, không phải ai cũng chứng được lục thông, cái căn bản là lậu tận, tức là sạch tham sân si, vô minh và bản ngã còn thần thông là do duyên của người đó trong nhiều kiếp tu thiền định mới có, chứ không phải ai tu chứng quả cũng có thần thông, ngài Xá-lợi-phất chứng thánh quả nhưng không có thần thông. Ví dụ bình thường không nhớ nhưng khi ngồi thiền yên tịnh lại nhớ đến chuyện lúc 5 tuổi, có các thầy tu trong thiền viện kể ngồi thiền tự nhiên nhớ đến gương mặt đứa con nít gặp lúc mười mấy tuổi mà giờ thầy đó đã 60 tuổi, những trạng thái thiền định sâu lắng thì tâm sẽ sáng tỏ, còn mình bây giờ một ngày thiền được mấy tiếng? Không ngồi nên không có định, không có thần thông là đúng rồi, còn ngày xưa các vị ngồi thiền thường xuyên và liên tục, ở Myanmar các vị thầy ngồi thiền một tiếng, đi kinh hành một tiếng như vậy là suốt ngày trong thiền đường, mình tu có nổi không? Một ngày ngồi thiền 6-7 tiếng đồng hồ. Túc là xưa, mạng là sinh mạng, minh là sự sáng tỏ, nhìn thấy những sinh mạng của những đời kiếp quá khứ, gọi là Túc mạng minh, đó là minh thứ nhất được Bồ-tát chứng đắc. Vì thế bây giờ đừng lo nhớ chuyện của người này người kia mà hãy tu thiền định, tu thành công sẽ nhớ vô lượng vô biên kiếp.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Ba Minh))
Lúc này cái tâm hướng về đâu đều sáng rực vì lúc đó là vô ngại thuần tịnh, khi nãy là hướng tâm về tự thân mình còn giờ là hướng tâm về tất cả chúng sanh.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
Thích Minh Thành
Nếu mình không biết năm triền cái là những pháp cấu nhiễm, làm ô uế tâm, làm ô nhiễm trí huệ mà mình không nắm vững, không thấy biết, không có phương pháp nhiếp phục, diệt tận thì tu không tiến bộ.
Sau khi đã đoạn trừ năm triền cái này, những triền cái làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly ác, bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Khi đoạn được năm triền cái rồi sẽ ly dục, ly ác bất thiện pháp vì triền cái thứ nhất là tham dục mà mình đoạn được nó thì mình ly dục. Nếu tu đúng pháp thì thiền thứ nhất mình có khả năng chạm tới, không khó nếu tu đúng, thậm chí nếu biết thì đang nghe pháp vẫn có thể trú vào tầng thiền thứ nhất, nhưng điều quan trọng là phải biết còn nếu không biết thì dù cho mình ở trong đó mình cũng không biết, mình ở trong đó mà không biết cũng giống như không ở, là vô minh. Tầm là sự hướng tâm, tứ là bám vào đối tượng, ví dụ hình ảnh con bướm bay hướng về cây bông là tầm, khi đậu xuống cây bông là tứ. Như vậy hướng tâm có tầm có tứ là ngồi thiền phải tác ý, cái tâm hướng về sự hỷ lạc, tác ý "Thật là may mắn cho ta, thật là phước báu cho ta, thật là an lạc cho ta khi giờ này những bạn đồng trang lứa đang phải tất bật mưu sinh, khổ sở phiền muộn, sầu bi khổ não mà ta được ngồi yên trên bồ đoàn lìa hết tham dục, không bị dính mắc vào cuộc sống vợ chồng con cái. Thật là giải thoát cho ta khi ta sống đời sống xuất gia không nhà được thanh bình, an lạc như vầy. Thật là hỷ lạc cho ta trong trạng thái tâm an tịnh, thân lắng dịu. Thật là một hạnh phúc của người tu khi tâm ta đã lìa được những ham muốn, sân hận, hôn trầm – thụy miên, trạo cử. Ta ngồi trong sự tỉnh táo sáng suốt, ta ngồi một mình giữa đêm khuya vắng trên non thiêng mây ngàn". Mình có thể ngồi một mình tại chùa của mình vào buổi sáng hoặc trên thiền đường rồi tác ý "Thật là hạnh phúc, hỷ lạc cho ta khi sống đời sống viễn ly không nhà, đời sống giải thoát thanh tịnh. Thật là hoan hỉ, an lạc, vui sướng cho ta". Có nhiều cách tác ý để tâm hướng về sự hỷ lạc gọi là tầm, khi tác ý như vậy thì cảm thọ hỷ lạc sẽ sanh khởi lên, thấy hạnh phúc, an lạc, mình trú luôn trong cảm thọ hỷ lạc đó, khi hết thì lại tác ý tiếp tục, cứ ở trong cảm giác vui sướng, hạnh phúc khi được sống một mình, khi được ngồi trên thiền đường an lạc, bình an, giữa đêm khuya thanh vắng mọi người say sưa mê ngủ mà mình được tỉnh táo, chánh niệm tỉnh giác nhìn thấy năm uẩn, đánh được tham sân si, bản ngã, những ác bất thiện pháp, ngũ cái tan biến trong giây phút đó thì hỷ lạc sanh, hoan hỉ sanh thì đó là trạng thái của sơ thiền. Mình phải tác ý thì pháp mới sanh còn không tác ý thì không thể sanh khởi được.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Vì thế khi tác ý để tâm hướng đến cảm thọ hỷ lạc, mình trú trong cảm thọ đó sẽ hoan hỉ, an lạc, hạnh phúc thì đó là trạng thái của sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Cần phải nhớ rằng trạng thái này là trạng thái hỷ lạc do ly dục của thế giới mà mình được cái lạc trong pháp vị, thiền vị còn cái vui của thế gian như được ăn ngon, đi chơi vui thì cái đó chỉ là dục lạc chứ không phải sơ thiền. Trong khi nghe pháp cũng vậy, tập trung tư tưởng tâm ý chuyên nhất và tác ý theo pháp, tâm mình an trú trong pháp không có ngũ cái thì đó là trạng thái của sơ thiền hỷ lạc. Ngài Anan phá năm triền cái cho nên tất cả lời pháp của Đức Phật ngài đều ghi nhớ không sót chữ nào, ngài thường xuyên trú trong trạng thái của sơ thiền. Chính vì vậy một khi tham, sân, hôn trầm – thụy miện, trạo cử, hoài nghi không còn nữa thì tâm trong sáng, không bị che mời nên sức nhớ của ngài Anan là siêu việt. Tại sao một người thường hay quên trước quên sau? Là do người đó bị ngũ cái nặng nề, cái tâm không trong sáng, mới nói đã quên vì trong tâm là dục, sân, trạo cử, hôn trầm – thụy miên, hoài nghi trộn lẫn như đống xà bần nên thường hay quên, có nhớ thì cũng "râu ông này cắm càm bà kia", còn một người đã không còn ngũ cái thì tâm rất trong sáng, thanh tịnh cho nên tâm này chỉ cần tác ý nhẹ nhàng sẽ trú ngay vào sơ thiền, và sơ thiền này có thể trú suốt ngày, suốt tuần, suốt năm cho đến nhiều năm nhưng phải biết cách mới trú được. Tại sao mình tu không được? Vì ngoài dục lạc ra mình không biết còn có pháp lạc, thiền lạc, vì thế mà mình không ra khỏi dục lạc được, mình nếm được hương vị của pháp lạc, thiền lạc thì mình mới biết được cái vui khác thù thắng hơn, cao quý hơn, đó là trạng thái của sơ thiền. Cho nên những người đạt được trạng thái này sẽ ly dục, không còn tham muốn những dục lạc thấp hèn của thế gian vì đây là cái vui của sự cao thượng, trong sạch, thanh tịnh, cái vui này không bị lệ thuộc vào đối tượng bên ngoài. Còn cái vui dục lạc bị lệ thuộc đối tượng nên khổ, vui với điếu thuốc mà không có thuốc là khổ, vui với chung rượu mà không có rượu là khổ, vui với cảnh đẹp, món đồ đẹp mà không có cảnh đẹp, món đồ là buồn chán, vui với người nào đó mà không có người đó thì khổ. Còn cái vui này không bị lệ thuộc vào bất kì đối tượng nào, cái vui này do ly dục sanh hỷ lạc, đó gọi là trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, hỷ là mừng, lạc là vui, một thái mừng vui do ly dục mà có. Cho nên phải biết tu, còn không thì nhìn mặt thấy thảm não vì bỏ dục lạc bên ngoài mà không có pháp lạc, thiền vị thì khổ, tuy rằng thân viễn ly mà tâm không viễn ly, thân ở trong chùa còn tâm ở ngoài đời vì trong tâm vẫn còn thèm thuồng, khát ái, khao khát, chẳng qua chưa có cơ hội chứ có là bắt chụp ngay do không nếm được pháp lạc, pháp vị, thiền lạc. Không được pháp lạc, thiền lạc thì nhất định sẽ đi tìm dục lạc vì trên đời con người chúng ta thường xuyên tìm cái vui, không có vui làm sao sống nổi, vì thế người nào không có thiền lạc, pháp lạc thì người đó sẽ đi tìm dục lạc. Đây là lý do mình không giữ giới được, mình không vui trong đời sống của thiền môn, cũng do không nếm được pháp vị, thiền lạc. Nếu không nếm được thiền lạc, pháp vị thì mình tìm dục lạc trong những món ăn, trong bạn bè, trong những chuyến đi chơi, trong những thứ thông thường của thế gian, vì thế trạng thái sơ thiền là cực kì cần thiết của người tu, nếu người tu không nếm được cái này thì tu uổng công, một đời tu nhìn khổ vô cùng và rất dễ bi sân si, bản ngã, rất dễ bị tham đắm vì không biết ngũ cái là gì, không để tâm vào để nhiếp phục ngũ cái nên bị ô nhiễm tâm tư, yếu ớt trí huệ cho nên phải thường xuyên tác ý, còn không ngồi một mình lại thấy chán "buồn quá", nhất là Noel, lễ tết, thấy mọi người đi chơi có bạn bè, còn mình ngồi trong chùa một mình lặng lẽ rồi không ngồi thiền nghe pháp, tác ý lại mở điện thoại ra xem cảnh người ta đi chơi vui vẻ thì có khổ không, tu như vậy có khổ không? Ngoài đời thì không hưởng được, trong đạo cũng không nếm được pháp lạc, như vậy là lưỡng đồ câu thất, cả hai đường đều mất, vì thế tu phải nếm được thiền vị, pháp lạc rồi sẽ thấy hạnh phúc, vi diệu.
Cao thượng là đời sống của người xuất gia!
Thiêng liêng, thần thánh, tối thượng là đời sống của người xuất gia!
Xin thưa với đại chúng, con có thể trú trong trạng thái sơ thiền không phải hằng tháng mà có thể kéo dài hằng năm, lúc nào con muốn là tác ý sẽ ở trong trạng thái sơ thiền. Thành ra mình phải biết rồi thực tập, mở kinh Nikāya lên là trú trong trạng thái sơ thiền, hỷ lạc khắp thân thể, sung mãn pháp hỷ, pháp lạc vì tiếp xúc được thánh trí huệ, tiếp xúc được với sự thật vì thế mà ở một mình không thấy buồn chỉ thấy hạnh phúc, an lạc. Nếu không có pháp lạc, không có thiền vị thì không thể ở một mình được, cho nên phải học để biết rồi thực tập, nhưng không phải chứng được là ở trong đó hoài, còn cái này có khi được có khi không nhưng vẫn đỡ hơn người không được gì hết. Cho nên chứng thiền là khác, còn nếm được, trải nghiệm được sơ thiền là khác. Chứng thiền là bất cứ lúc nào muốn sẽ ở trong đó, cho nên khi Đức Phật chuẩn bị nhập Niết-bàn là ngài vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, ngài lên các trạng thái tứ thiền bát định, đi một vòng như vậy là bao nhiêu cấp độ thiền định, ngài biểu diễn tất cả các trạng thái tâm trước khi nhập Niết-bàn, cuối cùng ngài mới viên tịch, tức là sự tự tại đối với các pháp của Đức Phật, còn mình tu mà đến khi gần chết lại rên rỉ ỉ ôi, đau khổ chứ nhập thiền hồi nào, là do tu không đúng pháp, không tha thiết chân thành cầu học chánh pháp.
Và Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
- Này các Tỳ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: "Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật".
Ðó là lời cuối cùng Như Lai.
Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền.
Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền.
Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền.
Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền.
Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Không vô biên xứ.
Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên xứ.
Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ.
Xuất Vô Sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.
Khi ấy tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:
- Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.
- Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt độ.
Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.
Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định.
Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định.
Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định.
Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền.
Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền.
Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.
Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền.
Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.
Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền.
Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền.
Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.
Khi Thế Tôn diệt độ, cùng với sự diệt độ, đại địa chấn động khủng khiếp, râu tóc dựng ngược, sấm trời vang động. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Vì thế phải thường xuyên tác ý để thấy hạnh phúc trong pháp. Khi con qua Đài Loan thăm Hòa Thượng bên đó, Hòa Thượng ngồi nói chuyện với con bằng tiếng Hoa trong 10 tiếng, khách vào Hòa Thượng không tiếp, ăn cho có, không ăn cũng được. Khi đã vào pháp hỷ thì những sự sinh hoạt thông thường không còn quan trọng nữa. Có một vị đại thần hỏi Đức Phật hạnh phúc hay nhà vua hạnh phúc hơn thì Đức Phật hỏi lại ngài có thể ngồi một ngày đêm vẫn được an lạc không thì người này nói không, bảy ngày bảy đêm được không thì vẫn trả lời không, Phật nói ta có thể suốt bảy ngày bảy đêm ngồi bất động vẫn trú trong hỷ lạc, còn mình ngồi một tiếng là đau nhức, buồn ngủ, rên rỉ vì công việc chính của mình là im lặng như bậc thánh, nói năng theo chánh pháp, thảo luận chánh pháp, những cái này mình không để tâm vào rèn luyện mà luyện những cái khác, mình không thấy được giá trị vĩ đại của chánh pháp.
--"Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc thì vua Magadha Seniya Bimbisara (Tần-bà-ta-la) có thể đạt được hạnh phúc, và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama.
"Lời nói này thật sự đã được các Tôn giả Nigantha nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư. Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Và chính ta ở đây cần phải được hỏi như sau: 'Giữa các bậc Tôn Giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'
"Hiền giả Gotama, lời nói này thật sự đã được chúng tôi nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư: Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Hãy để yên sự việc như vậy. Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Gotama: 'Giữa quý vị Tôn giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'
--"Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc thì vua Magadha Seniya Bimbisara (Tần-bà-ta-la) có thể đạt được hạnh phúc, và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama.
"Lời nói này thật sự đã được các Tôn giả Nigantha nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư. Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc. Hạnh phúc phải thành tựu nhờ đau khổ. Hiền giả Gotama, nếu hạnh phúc có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Và chính ta ở đây cần phải được hỏi như sau: 'Giữa các bậc Tôn Giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'
"Hiền giả Gotama, lời nói này thật sự đã được chúng tôi nói lên một cách hấp tấp, không có suy tư: Hiền giả Gotama, hạnh phúc không có thể thành tựu nhờ hạnh phúc, thời vua Magadha Seniya Bimbisara có thể đạt được hạnh phúc; và vua Magadha Seniya Bimbisara sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama. Hãy để yên sự việc như vậy. Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Gotama: 'Giữa quý vị Tôn giả, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Tôn giả Gotama?'
--"Chư Hiền Nigantha, nay Ta sẽ hỏi các Ngươi một câu, cũng vấn đề này. Nếu các Ngươi vui lòng, hãy trả lời câu hỏi ấy. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn bảy ngày bảy đêm có được không?
--"Này Hiền giả, không thể được.
--"Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Vua Magadha Seniya Bimbisara có thể không di động thân thể, không nói lên một tiếng, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn sáu ngày sáu đêm, luôn năm ngày năm đêm, luôn bốn ngày bốn đêm, luôn ba ngày ba đêm, luôn hai ngày hai đêm, luôn một ngày một đêm không?
--"Này Hiền giả, không thể được.
--"Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong một ngày một đêm. Chư Hiền Nigantha, Ta có thể không di động thân thể, không nói lên một lời, sống cảm giác thuần túy lạc thọ luôn trong hai ngày hai đêm, luôn trong ba ngày ba đêm, luôn trong bốn ngày bốn đêm, luôn trong năm ngày năm đêm, luôn trong sáu ngày sáu đêm, luôn trong bảy ngày bảy đêm. Chư Hiền Nigantha, các Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, ai sống hạnh phúc hơn, vua Magadha Seniya Bimbisara hay Ta?
--"Sự kiện là như vậy, Tôn giả Gotama sống hạnh phúc hơn vua Magadha Seniya Bimbisara."
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Mahànàma thuộc giòng họ Sakka hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. (Trung Bộ Kinh, 14. Tiểu kinh Khổ uẩn)
Phải dành nhiều thời gian học chánh pháp Nikāya và thiền tập để nếm được hương vị thật sự của người xuất gia, nếu không cuộc đời tu rất hoang phí, ngoài đời không làm được gì, dục lạc cũng không được hưởng, trong đạo thì pháp lạc không nếm được, không thành cái gì hết, đời không ra đời, đạo không ra đạo vì thế phải cố gắng để tâm học hỏi và hành trì. Chúng ta phải biết tác ý, khi ngồi học mà làm biếng thì phải tác ý "Giờ này lũ lụt ngập tới nóc nhà của người ta. Giờ này chồng xa vợ, mẹ xa con, bà xa cháu, trong một gia đình mà chết hết 7 người, tan nhà nát cửa, đau khổ, hiểm họa, tai ương, dịch bệnh trong giờ phút này, gần 1,3 triệu người chết vì dịch bệnh trong giờ phút này, những thây chết chất chồng trong bao ni lông đổ đầy sân vận động. Tại sao mình không tinh tấn? Tại sao mình không nỗ lực mà lại buông lung phóng dật, thả lỏng các căn? Tại sao mình lại vô cảm, vô tâm như vậy? Tại sao mình lại si mê, vô minh như vậy?", tác ý như vậy thì sanh khởi lên sự tinh tấn, sanh khởi lên sự trân trọng cái pháp, sanh khởi lên sự hy hữu hiếm có khó gặp khi học pháp, còn không tác ý mà cứ ngồi trơ ra thì sanh khởi lên cái gì là dẫn mình theo đó, buồn ngủ là ngủ, trạo cử là táy máy tay chân, cái miệng muốn nói là nói. Như vậy mình hoàn toàn là kẻ nô lệ, kẻ đáng thương xót, kẻ thấp hèn trong giáo pháp, mình không thấy được các pháp đang sanh khởi, không nhìn thấy những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm, không thấy dục nói, cục ăn uống, cựa quậy, dục đam mê ngủ nghỉ, tất cả những cái này phải được nhìn thấy rồi tác ý một cách mạnh mẽ thì mới đánh đuổi những cái đó ra khỏi tâm được. Cho nên làm biếng, buồn ngủ trong giờ tu là phải tác ý "mày ngủ đi rồi dịch bệnh tới là chết dịch, đồ ngu si", phải quở trách tâm, Đức Phật gọi là tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình la mắng mình.
Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỷ Kheo, kệ 379)
Ở đây, này Bhaddali, có Tỳ-kheo không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc Ðạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh". Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Ðạo Sư quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, chư Thiên quở trách, tự mình quở trách mình. Vị này bị bậc Ðạo Sư quở trách, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, bị chư Thiên quở trách, bị tự mình quở trách mình, nên không chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bahaddali, là vì vị ấy không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. (Trung Bộ Kinh, 65. Kinh Bhaddàli)
Không phải như mình cứ trơ ra, ngồi một đống là đi đến vô minh, si mê, không thì cứ ngồi đó nhắm mắt rồi tưởng tượng. Cho nên phải tác ý, tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tác ý là sự tác động tâm ý, khích lệ, làm cho phấn khởi, hướng thượng, tăng thượng, phát triển, bước tới phía trước. Vì thế sơ thiền có tầm, có tứ, tức là có sự hướng tâm và trú vào đối tượng đó, nếu tâm người nào nhu nhuyến, có một sự tương đối khi thực hành sẽ chạm được sơ thiền khi ngồi thiền, ngồi thiền rất hỷ lạc, nhưng đòi hỏi phải diệt được ngũ cái, còn nếu thiền mà giận ai sẽ không thể sanh hỷ lạc được, ngồi mà nhớ nhung hình bóng thì làm sao sanh hỷ lạc được? Phải phá cho được năm triền cái thì mới vào được hỷ lạc của sơ thiền, vì thế mà pháp nhĩ như thị, trình tự của pháp là như vậy chứ mình muốn để được mà làm không đúng thì không được.
Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Trạng thái sơ thiền thấm vào từng tế bào, từ đỉnh đầu đến gót chân đều thấm nhuần trạng thái mừng vui, hoan hỉ. Tức là toàn bộ thân tâm trong từ lỗ chân lông đều rúng động, thân tâm đều ở trong trạng thái hỷ lạc, không chỗ nào không thấm nhuần hỷ lạc.
Này các Tỳ-kheo, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Ngày xưa tắm bằng bột, bây giờ mình tắm thì dội nước, dùng vòi hoa sen hoặc múc bằng ca dội thì toàn thân mình không có chỗ nào không có nước. Trạng thái hỷ lạc cũng vậy, nó tràn ngập khắp chân thân, sung sướng, hạnh phúc trong pháp. Nếu người nào bây giờ trong trạng thái tâm không bị ngũ cái chi phối thì người đó cũng hỷ lạc giống vậy, rất hoan hỉ, an lạc, tuyệt vời vi diệu, không cần đi tìm bên ngoài. Đây là trạng thái vui sướng, hạnh phúc nhưng trạng thái này thô, còn giờ tế nhị hơn.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Chỗ này hỷ lạc đi vào vi tế vì cái gì còn thô thì cái đó sẽ bị sanh diệt, sẽ làm cho tâm mình không đi đến chỗ cực kì thanh tịnh, cho nên các tầng thiền càng sâu chừng nào thì càng vi tế chừng đó. Cho nên tầng thứ hai là diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh. Tức là một cái vui nhè nhẹ, cái tâm yên định, an định nhưng trong an định đó có một niềm vui nhẹ nhàng, khi nãy là thân lẫn tâm đều vui sướng sung mãn, còn giờ cái vui này tế nhẹ, cái tâm đi vào trạng thái tĩnh lặng của định, nhưng trong định vẫn có hỷ lạc nhẹ, không còn tầm tứ, tức là không cần khởi tâm lên nữa, an định nhưng hỷ lạc. Nhưng mình ở trạng thái sơ thiền là tốt lắm rồi, nếu nghĩ sơ thiền là thấp nên tập nhị thiền cho cao là không được, phải đi theo trình tự từ thấp lên cao. Nội tĩnh nhất tâm nghĩa là bên trong là một sự tĩnh lặng, một cái tâm thuần nhất.
Này các Tỳ-kheo, ví như một hồ nước, nước từ trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)
Tức làm một sự thấm nhuần nhưng tĩnh lặng, một sự hỷ lạc nhưng an định, tĩnh lặng. Bây giờ là định sanh hỷ lạc còn khi nãy là ly dục sanh hỷ lạc.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là "xả niệm lạc trú", chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Bây giờ là lìa cái vui, tâm ở trạng thái buông xả, chánh niệm tỉnh giác. Vị ấy chỉ còn thọ lạc trên thân, tâm không động mà định. Có hai loại cảm thọ là thọ thân và thọ tâm, cảm giác của thân và của tâm khác nhau, vì tâm định rồi nên không sanh khởi nữa nên gọi là ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác nhưng thân cảm sự lạc thọ, cái thọ bây giờ chỉ còn trên thân.
Này các Tỳ-kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Hoa sen mọc dưới hồ chưa ngoi lên mặt nước thì từ gốc đến ngọn đều thấm nước, sự lạc thọ trong trạng thái thiền thứ ba này giống vậy. Tầng thiền thứ tư còn thâm sâu hơn nữa.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Này các Tỳ-kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Bốn tầng thiền-na))
Thiền thứ ba bên Phật giáo phát triển gọi là ly hỷ diệu lạc, tức là sự vui của thiền thứ ba rất màu nhiệm, vi diệu. Còn tới tầng thiền thứ tư là xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Đức Phật ví dụ một người lấy tấm vải trắng trùm toàn thân, không có chỗ nào không được phủ lên tấm vải, thiền thứ tư cũng vậy, khổ bỏ, hỷ, ưu cũng bỏ. Đây là trạng thái thâm sâu của tâm hoàn toàn thanh tịnh vì còn vui là còn động, còn động là còn luân hồi sanh diệt. Cái tâm này là tâm cực kì thanh tịnh, trong sáng. Thiền thứ nhất đã phá hết năm triền cái, thiền thứ hai càng vi tế, thiền thứ ba xả hết, thiền thứ tư là không khổ không lạc, cái tâm thuần tịnh, đây là trạng thái tâm của bậc thánh.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sinh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này các Tỳ-kheo, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình, người ấy nghĩ: "Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây, ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa (Ba Minh))
Thật sự rất khủng khiếp, khi cái tâm đã đạt đến bất động thanh tịnh thì bắt đầu vị này trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, vững chắc thì hướng tâm về túc mạng minh, tức là về quá khứ. Đem cái tâm thanh tịnh hướng ngược về các đời trước, xem mình là người như thế nào thì nó hiển hiện ra như vô số tập phim, các đời sống trong quá khứ đều hiện ra. Trái Đất này sẽ đi đến hoại diệt, hoại cho đến khi tam tai sanh khởi lên là hỏa tai, thủy tai, phong tai, bây giờ chỉ mới lũ lụt một chút thôi còn thủy tai là nhận chìm thế giới, đại tam tai sẽ sanh khởi, lửa trong lòng đất phựt lên, núi lửa trong lòng đất cháy lan ra gọi là hỏa tai, phong tai là gió thổi mà thổi với vận tốc 300km/h là xong hết mọi thứ, thổi tới đâu là tan nát hết tới đó gọi là đại phong tai, tam tai sanh khởi tức là tứ đại sẽ tới kiếp hoại của nó. Trái Đất trong kinh ví dụ giống như tim đèn, đốt hết tim còn lại tàn, gió thổi mạnh là bay ra thành cát bụi. Trái Đất tới đó gọi là hoại kiếp, như vậy mà một vị chứng tam minh nhớ hết quá khứ rồi Trái Đất hình thành thế giới mới, đời sống mới. Bao nhiêu thành kiếp, hoại kiếp vị ấy nhớ hết cho nên tâm phải định thì mới chứng thần thông, có những vị chứng thánh quả nhưng không có thần thông, không phải ai cũng chứng thần thông, có nhiều vị A-la-hán không có thần thông, không phải ai cũng chứng được lục thông, cái căn bản là lậu tận, tức là sạch tham sân si, vô minh và bản ngã còn thần thông là do duyên của người đó trong nhiều kiếp tu thiền định mới có, chứ không phải ai tu chứng quả cũng có thần thông, ngài Xá-lợi-phất chứng thánh quả nhưng không có thần thông. Ví dụ bình thường không nhớ nhưng khi ngồi thiền yên tịnh lại nhớ đến chuyện lúc 5 tuổi, có các thầy tu trong thiền viện kể ngồi thiền tự nhiên nhớ đến gương mặt đứa con nít gặp lúc mười mấy tuổi mà giờ thầy đó đã 60 tuổi, những trạng thái thiền định sâu lắng thì tâm sẽ sáng tỏ, còn mình bây giờ một ngày thiền được mấy tiếng? Không ngồi nên không có định, không có thần thông là đúng rồi, còn ngày xưa các vị ngồi thiền thường xuyên và liên tục, ở Myanmar các vị thầy ngồi thiền một tiếng, đi kinh hành một tiếng như vậy là suốt ngày trong thiền đường, mình tu có nổi không? Một ngày ngồi thiền 6-7 tiếng đồng hồ. Túc là xưa, mạng là sinh mạng, minh là sự sáng tỏ, nhìn thấy những sinh mạng của những đời kiếp quá khứ, gọi là Túc mạng minh, đó là minh thứ nhất được Bồ-tát chứng đắc. Vì thế bây giờ đừng lo nhớ chuyện của người này người kia mà hãy tu thiền định, tu thành công sẽ nhớ vô lượng vô biên kiếp.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Ba Minh))
Lúc này cái tâm hướng về đâu đều sáng rực vì lúc đó là vô ngại thuần tịnh, khi nãy là hướng tâm về tự thân mình còn giờ là hướng tâm về tất cả chúng sanh.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.