Thánh Trí Năm uẩn 18 - Nguyên Nhân 5 Uẩn Tích Trữ Trong Tương Lai
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 18
NGUYÊN NHÂN 5 UẨN TÍCH TRỮ TRONG TƯƠNG LAI
THÍCH MINH THÀNH
Này các Tỳ-kheo, không biết, không thấy như chơn mắt; không biết, không thấy như chơn các sắc; không biết, không thấy như chơn nhãn thức; không biết, không thấy như chơn nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; không biết, không thấy như chơn cảm thọ ấy, vị ấy ái trước đối với mắt, ái trước đối với các sắc, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy ái trước đối với cảm thọ ấy.
Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tích trữ trong tương lai. Và ái của vị ấy đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này, chỗ kia; ái ấy được tăng trưởng; những thân ưu não tăng trưởng; những tâm ưu não tăng trưởng; những thân nhiệt não tăng trưởng; những tâm khổ não tăng trưởng. Vị ấy cảm thọ thân khổ và tâm khổ. (Trung Bộ Kinh 149. Ðại kinh Sáu xứ).
Bài này rất khó, có những bài kinh trong tạng kinh Nikāya nghe 100 lần chỉ hiểu trên chữ, hiểu được một chút nghĩa. Bài này nếu không có pháp hành, không có người đã thành tựu đã từng kinh qua, từng thực tập chỉ cho mình thì mình không thể hiểu dù cho mình có đọc 100 lần. Đoạn này liên hệ đến duyên sanh pháp mà duyên sanh pháp trước giờ mình học không chính xác. Hôm nay Minh Thành sẽ giới thiệu cho quý thầy duyên sanh pháp trong kinh Nikāya, mình sẽ thấy nó khác với trước giờ đã học.
Trước nay hay nói căn tiếp xúc với trần sanh khởi lên thức, tới đây dừng lại là chưa đủ. Đây là duyên sanh pháp của căn – trần – thức – thọ – xúc – ái – thủ trong quyển nghi thức tu học Nikāya, trong này có phần căn bản trí ghi đầy đủ và phải học thuộc lòng, vì nếu không học thuộc lòng thì khi thực tập sẽ nhận diện không được. Mình không biết duyên sanh pháp thì khi nhìn lại tâm sẽ rối bời, còn khi nắm được nguyên lý của duyên sanh pháp thì mình sẽ thấy rõ mồn một như chỉ trong lòng bàn tay. Chút nữa mình bước ra cổng trường, có người mẫu đi ngang trước mắt mình thì do duyên có con mắt, cái sắc của người đẹp, có sự rõ biết các sắc. Nói sâu hơn nhãn thức là sự rõ biết các sắc chứ không phải chỉ là cái biết của con mắt. Nếu nhãn thức chỉ là cái biết của con mắt thì khi mình chết vẫn còn con mắt thì sao mình không biết, hay khi mình nhắm mắt thì vẫn còn con mắt đó nhưng sao không thấy? Thành ra sự rõ biết sắc là nhãn thức, vì nhận diện sáu thức sẽ bất ngờ chứ không đơn sơ như nhãn thức; tỷ thứ; thiệt thức; thân thức; ý thức là xong. Khi mình nhận diện được 6 thức thì cái tâm mình không phải là một vì nhãn thức chỉ biết các sắc còn âm thanh nó không biết, cái biết được âm thanh là nhĩ thức, cái rõ biết được mùi là tỷ thức còn vị nó không biết, cái rõ biết được vị khi ăn là thiệt thức còn ngoài ra những cái khác nó không biết. Đây là giới vực của 6 thức, tức là mỗi cái biết có phạm trù, lãnh vực riêng, có phạm vi hoạt động khác nhau. Cho nên khi không nhận diện được 6 thức thì mình tưởng cái biết của mình là một cái nhưng đó là sai lầm. Chỗ này rất sâu sắc, phải có sự thiền định và thực tập nhận diện.
Nhận diện thân thức là rõ biết ngay sự đụng chạm. Chỗ nào tiếp xúc, đụng chạm có cái rõ biết ngay đó thì đó là thân thức. Nó chỉ biết ngay chỗ thân nó tiếp xúc với quần áo hay bàn ghế thì đó là thân thức. Còn ý thức là nó chỉ biết thọ; tưởng; hành, tức là ý thức là cái nhìn trở vô thì thấy được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó. Nó chỉ biết được 3 cái đó, đó là ý thức. Không giống lúc trước mình học chỉ có nhãn thức; tỷ thức; thân thức; thiệt thức; nhĩ thức là xong, như vậy không có đủ. Rõ biết sắc là nhãn thức chứ không phải cái biết của con mắt. Như vậy khi có con mắt, khi có người đẹp, khởi lên sự rõ biết có người đẹp đó thì đó là căn; trần; thức, mắt và sắc sanh khởi lên sự rõ biết các sắc, sau đó cảm giác sanh khởi lên. Có 3 loại cảm giác: Lạc thọ; khổ thọ; bất lạc bất khổ thọ. Trường hợp mình nhìn người đẹp thì đương nhiên lạc thọ sanh khởi, cảm giác dễ chịu, thích thú, luyến ái sanh khởi. Khi mình tiếp xúc mà thọ đã sanh khởi nhưng mình không biết do mình không học duyên sanh pháp, do mình không nhận diện ngũ uẩn nên lúc đó mình chất chứa lạc thọ đó. Khi người đó đi qua rồi nhưng hình bóng của người đó vẫn còn lưu lại, được cất giữ trong tâm thì đó là sắc tưởng. Sau đó mình suy nghĩ về người đó thì tất cả mọi suy nghĩ từ con mắt người đó, bàn tay ra sao, dáng đi thế nào, tóc ngắn hay dài thì cái này gọi là sắc tư. Đây là sự vận hành duyên sanh pháp của con mắt.
Vậy khi mình gặp một người mà mình ghét, mình không ưa thì sao? Do duyên có con mắt, do sắc của người đó và sự rõ biết về sắc của người đó nên sanh khởi cảm giác bực bội, khó chịu. Đó là khổ thọ. Khi người đó đi qua rồi nhưng hình bóng người đó còn lại trong tâm thì gọi là sắc tưởng, tiếp tục về nhà suy nghĩ về người đó là sắc tư. Đây là duyên sanh pháp của kinh Nikāya. Tâm thức mình vận hành như vậy là hằng ngày hằng giờ mà mình không biết, cho nên mọi người phải quay lại đọc quyển Nghi thức tu học Nikāya, học thuộc phần căn bản trí, trong đây có định nghĩa ngũ uẩn, định nghĩa 6 thức, 6 trần, 6 thọ, 6 tưởng, 6 tư rất rõ ràng.
Tai nghe tiếng cũng y như vậy, chỉ đổi thành thanh tưởng, thanh tư. Người ta mời mình đi tụng đám, mình ngồi lên xe đời mới có máy lạnh mát rượi, dựa lưng vào ghế có nhạc trữ tình. Vậy là do duyên có lỗ tai, duyên có âm thanh của bài nhạc sanh khởi lên sự rõ biết âm thanh. Sau khi căn – trần – thức hội tụ sanh khởi lên cảm thọ dễ chịu. Khi bài nhạc đó hết rồi mình về chùa ngồi thiền trong phòng một mình thì lúc đó hình bóng của âm thanh đó, suy nghĩ về bài nhạc đó thì gọi là thanh tưởng, thanh tư. Hình bóng âm thanh đó vang vọng lại, âm điệu của bài nhạc đó gợi lên và mình suy nghĩ về bài nhạc đó thì gọi là thanh tưởng, thanh tư. Đương nhiên đó gọi là lạc thọ và có ái, sự thích thú trong đó, thậm chí là mở lên bài đó nghe lại, như vậy là có sự thúc giục bên trong.
Do duyên có lỗ mũi, có mùi, khởi lên sự rõ biết các mùi gọi là tỷ thức. Ba pháp này hội tụ, giao thoa gọi là tỷ xúc, tức là sự tiếp xúc của lỗ mũi. Khi 3 pháp này hội tụ, khi lỗ mũi tiếp xúc thì có thọ do tỷ xúc sanh, tức là cảm thọ do lỗ mũi tiếp xúc sanh ra cảm giác đó. Sau đó mình có hương tưởng, hương tư. Tức là hình bóng mùi đó, những suy nghĩ về mùi đó còn ở trong tâm. Tuy là mùi đó đã đi qua rồi không còn hiện hữu nữa nhưng hình bóng và những suy nghĩ về mùi đó còn lại trong tâm. Chính vì vậy khi gặp ai trên máy bay hay trên xe mà ngửi được mùi thơm lạ thì thường nhắc lại, vậy thì đó là những hình bóng, suy nghĩ về mùi hương đó thì gọi là hương tưởng, hương tư. Trong mùi đó có thể mình thích hoặc không thích hay là mình trơ trơ không cảm giác gì. Trong 3 loại cảm thọ này đều có 3 trạng thái của tham sân si. Thích là tham, ái; không thích là sân, không ưa; không thích cũng không ưa là si. Cho nên sự tu này rất thâm sâu, mỗi khi có gì vận hành trong thân tâm mình đều thấy biết.
Do duyên có lưỡi, có vị khi gắp đồ ăn để vào lưỡi, có sự rõ biết mùi vị đó gọi là thiệt thức. Ba pháp này hội tụ, giao thoa tương tác trở thành thiệt xúc, tức là lưỡi tiếp xúc với món ăn có sự rõ biết trong đó, sanh ra cảm giác. Cảm giác ngon, không ngon, hoặc là thường thường. Sau đó có vị tưởng, vị tư. Sau khi ăn rồi nhưng hình bóng của món đó hiện ra gọi là vị tưởng, suy nghĩ về món đó là vị tư. Hình bóng hiện ra ngay khi ăn đã có tham sân si trong đó, sau khi ăn rồi nhớ lại, suy nghĩ về nó lại thì có tham sân si trong đó nữa. Cho nên cái tham sân si được Đức Phật gọi là tham tùy miên, sân tùy miên, si tùy miên. Tùy là đi theo, miên là miên man. Trong lạc thọ, cảm giác dễ chịu có tham tùy miên, bất cứ lúc nào có cảm giác dễ chịu thì cái tham luôn đi theo miên man trong đó, ghê gớm như vậy mà mình không thấy vì mình không quán chiếu thọ trên thọ, không quán ngũ uẩn nên không thấy được, ví dụ trời nóng mà vào toa lét dội nước lạnh ào ào thì đó là cảm thọ dễ chịu nên có tham tùy miên, tức là muốn dội thêm nữa. Trong cảm giác khó chịu có sân tùy miên, như khi đang khát nước bưng ly trà lên uống ừng ực thì nóng bỏng lưỡi nên bực bội, sân lên. Vậy là có sân tùy miên trong cảm giác khó chịu.
Khi vào lớp ngồi thiền thì tập nhận diện, lý thuyết thực hành ngay tại chỗ. Đây là pháp hành nhìn thấy rõ trong thân tâm, mọi thứ đang vận hành như thế nào mình có thể trình bày rành rõ minh bạch, cho nên gọi là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu). Người trí là người quay lại nhận diện thân tâm mình thường xuyên liên tục. Còn người quay ra ngoài để nhìn rồi phê phán người này người kia, rồi có tham sân si gọi là người ngu. Học nhận diện 6 pháp rồi mới có thể vào học kinh chứ không phải muốn học kinh là học, lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không phải dễ để hiểu liền giống như đọc báo, đọc tin tức.
Này các Tỳ-kheo, không biết, không thấy như chơn mắt. Như chơn còn được hiểu là như thật. Như thật tri, như thật kiến là 2 từ hết sức quan trọng trong kinh tạng Nikāya. Như thật tri, như thật kiến là thấy đúng như thật, biết đúng như thật. Chữ như là đúng sự thật, nó là động từ. Không biết đúng như thật, thấy đúng như thật về con mắt cho nên vị ấy ái trước đối với mắt, ái trước đối với các sắc, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc. Thế nào là thấy đúng như thật, biết đúng như thật về con mắt? Nghĩa là phải biết, phải thấy con mắt này là tứ đại, là một cục thịt đầy máu, gân, những tế bào. Phải thường trực quán chiếu về tứ đại và bất tịnh thì mình mới biết như thật, thấy như thật về con mắt. Nó chỉ là đất, nước, gió, lửa. Nó chỉ là máu, là nhơ nhớp, bình thường nhìn đẹp biết bao nhưng khi lọt con mắt ra ngoài thì máu chảy ra, gân dính vào đó. Trí tuệ của mình mỗi ngày quán chiếu thâm sâu vào bất tịnh, vào bản chất thân thể này thì khi nhìn mình sẽ biết con mắt này vô thường, chính con mắt này nhìn các sắc nên bị mình giam cầm trong sắc đó, không thể ra khỏi nó nên "con mắt này là đồ ngu", dùng Như lý tác ý để mình thoát ra khỏi con mắt. "Chính mày là cửa ngõ đưa giặc vào nhà, con mắt này làm môi giới cho giặc", nhìn thấy thôi là về ngồi thiền tu không được vì mê mẩn vào sắc tưởng, sắc tư. Ảo tưởng về nó, không thấy người là mở mạng lên xem rồi chết trong đó. Cho nên quán như thật về con mắt, quán như thật về đối tượng của con mắt là các sắc. Sắc là vô thường, bại hoại, tan nát. Như vậy mới gọi là như thật biết, như thật thấy. Còn không thấy, không biết một cách đúng như thật về con mắt, về các sắc, về sự rõ biết các sắc. Không thấy, không biết như thật về các cảm thọ, cảm giác cho nên ái trước đối với con mắt, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc, ái trước đối với các cảm giác sanh khởi lên.
Đừng tưởng mình chỉ ái, chỉ thích cảm giác dễ chịu còn mình không ái, không thích cảm giác sân. Mình vẫn yêu thích cảm giác sân hận cho nên khối sân trong người mình bỏ không được, nếu không ưa thích, không có vị ngọt trong sân hận thì làm gì mình chất chứa trong tâm 10 năm – 20 năm? Mình vẫn ưa thích cảm giác bực bội, mình vẫn chất chứa, tích trữ, mình nuôi dưỡng, tích tập trong đó cho nên mới giận 20 năm, thậm chí có mấy phim Trung Quốc thường nói quân tử trả thù 10 năm chưa muộn. Vậy là nó dạy luân hồi sanh tử, nó dạy sự ngu si, nó dạy vô minh, tạo nghiệp chứ nó không dạy mình giải thoát. Nó dạy phải nuôi dưỡng thù hận, dạy mình đi trong đau khổ, nước mắt và máu, dạy mình thây chất chồng như núi cả, nước mắt như biển sâu. Những cái đó không phải để học mà phải học kinh của Đức Phật. Cho nên những cái không thấy, không biết các cảm thọ; không thấy, không biết đây chỉ là sắc tưởng, sắc tư, chỉ là thứ vô thường, trống rỗng, những hình bóng bên ngoài còn bại hoại do dịch bệnh, chết mấy trăm ngàn người. Hình bóng thật sự, cầm được, sờ được mà còn bại hoại, vô thường, tan nát, huống gì hình bóng mờ ảo chập chờn mà mình lại đi khổ với nó, mình sân hận, yêu ghét, ganh tỵ với những hình bóng đó. Trời ơi là trời! Tỉnh đi! Không thấy, không biết cái gì hết, con mắt cũng không biết, các sắc cũng không biết, nhãn thức cũng không biết, thọ do nhãn xúc sanh cũng không biết. Nhãn xúc là khi con mắt, sắc, sự rõ biết các sắc hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành nhãn xúc, từ nhãn xúc mới sanh ra thọ. Cho nên đó là quy trình vận hành của tâm mà mình không biết gì hết. Cứ nhìn thấy có một người đẹp thì đó là vô văn phàm phu, không thấy các pháp đang diễn ra rồi sập bẫy của sắc uẩn, sắc pháp, vô lượng vô biên kiếp cũng không ra khỏi hình bóng đó. Sắc tầm là tâm mình hướng về hình bóng đó, ví dụ trong đây là 70 người, có bóng xa đằng kia thì cái tâm cứ hướng về hình bóng đó để nhìn. Tầm là tầm cầu. Sắc tứ là bám vào đối tượng đó để suy nghĩ. Học mới thấy cái tâm rất ghê gớm, khủng khiếp, bom nguyên tử chưa là gì so với cái tâm mình, tâm mình rất siêu việt, rất khủng khiếp. Cho nên khám phá được tâm mới gọi là khám phá tối thượng, còn bên ngoài không là gì với cái tâm. Do mình không thấy không biết nên mình ái trước, ưa thích và bị dính mắc trong nguyên một chuỗi hoạt động của tâm. Nhìn con mắt chỉ thấy con mắt đó đẹp hay xấu, nhìn người hay món đồ chỉ biết tốt xấu, cái biết con mắt thì dính vào tôi biết, tôi thấy. Khi con mắt, sắc và nhãn thức hội tụ lại mình không biết gì hết, chỉ thấy tôi, cái nào cũng gắn tôi vào, tôi đang có cảm giác dễ chịu, sướng quá. Mình không thấy thọ đang sanh khởi cũng không biết thọ gì sanh khởi, duyên sanh pháp của cảm giác đó cũng không biết, không thấy như thật. Do không biết không thấy nên hình bóng trong tâm khởi lên là mình nhập vào luôn, nói là "tôi đang tưởng, tôi đang suy tưởng" mà không biết rằng đó chỉ là sắc tưởng, sắc tư, cộng lại thành tư tưởng. Tư là suy nghĩ, tưởng là hình bóng, chỉ biết đó là tư tưởng của tôi, vậy là tôi chết trong tư tưởng đó, chết trong hình bóng đó. Những người dính vào tình ái họ sẽ chết vì hình bóng trong tâm, cha mẹ ngăn cản thì nhảy cầu tự vẫn hay uống thuốc rầy. Vì những cảm giác, cảm thọ này, sắc tưởng, sắc tư, thanh tưởng, thanh tư, mùi vị xúc chạm dồn đọng trong tâm. 60 pháp bao gồm 6 tưởng; 6 tư; 6 tầm; 6 tứ; 6 căn; 6 trần; 6 thức; 6 thọ; 6 ái dồn cục lại rồi đồng loạt tấn công thì chỉ có nước nhảy cầu tự tử. Do không như thật thấy, không như thật biết các pháp bên ngoài và bên trong, thành ra hoàn toàn ở trong vô minh, tham ái, chấp thủ nên si ái, mê ly, bị ma trận không biết đường ra.
Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tích trữ trong tương lai. Quán sát nguy hại thì không quán mà lại quán sát vị ngọt nên đặt tâm sai hướng. Mình tu là quán sát sự xuất ly trong 3 loại trí tuệ: Vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly. Đây là 3 loại trí huệ căn bản trong sự tu học. Ba loại trí huệ này là bậc Chánh Đẳng Giác thành tựu.
Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào ta như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, ta mới xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, 101.- Trước Khi Giác Ngộ)
Còn chúng ta là phàm phu thì chết trong vị ngọt, chỗ nào có đường là kiến chết trong đó, ngọt mật chết ruồi, chỗ nào có mồi thì mấy người nhậu là chết, chỗ nào có thuốc phiện thì mấy người nghiền là chết, chỗ nào có con gái nhiều thì mấy người con trai sẽ chết. Mình chết trong đó vì mình chỉ thấy vị ngọt mà không thấy sự nguy hại của vị ngọt. Người tu là phát triển cùng cực, sung mãn tột độ tính nguy hại của các pháp, trí huệ nằm ngay đây. Quán sát vị ngọt là suốt ngày cứ nhìn, để ý, tìm chỗ vui, đi chỗ nào ăn cho ngon, chỗ nào có đồ đẹp, người đẹp, cảnh đẹp thì đến. Thậm chí trong đó là tai họa, là miệng cọp, hang hùm, cạm bẫy khủng khiếp dẫn mình chết trong đó. Họ chết trong vị ngọt vì ngoài vị ngọt của dục lạc họ không có thiền lạc, không có pháp lạc, trí tuệ lạc, giải thoát lạc, viễn ly lạc, chánh giác lạc, chỉ có bậc đa văn thánh đệ tử thường xuyên quán chiếu về tính nguy hại của ngũ uẩn mới có được độc cư lạc, viễn ly lạc, chánh giác lạc, an ổn lạc, Niết-bàn lạc. Cho nên sự quán chiếu về nguy hại là công phu tu của người xuất gia, mỗi ngày phải quán bất tịnh khi thiền quán mỗi tối, phải nhìn thấy bộ xương, đống máu mủ này hại mình, vì đống thịt này ác độc, làm cho mình đắm đuối không ra được. Tất cả đều nghĩ cho đống thịt này, lòng vòng trong này như bài kinh dây thằng đã nói:
Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng).
Đức Thế Tôn ví dụ vô văn phàm phu có đi đâu cũng không ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, có ngồi nằm cũng không ra khỏi năm uẩn này. Cho nên bây giờ quán nguy hại, quán tứ đại, quán 32 thể trược này, nếu không mình không thoát ra được, suốt ngày trong vô minh, sân hận, bản ngã hoài. Phải quán chiếu thâm sâu, đánh cho sập hết những thứ xấu ác này để trở thành sát tặc đại sư, tức là trở thành những bậc A-la-hán, hoàn toàn diệt tận dục tham ái, vô minh, sân si và bản ngã. Những bất thiện pháp này nằm trong cảm giác, trong những hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Phải tập thường xuyên, liên tục nhìn lại cảm giác và nghĩ tưởng, nếu có ác và bất thiện pháp là thẳng tay trừng trị, như vậy mới là đại sĩ, tu sĩ, xuất sĩ. Còn không nhìn lại nội tâm chỉ lo hình thức thì không được lợi ích gì, phía sau những hình thức đó là đầy rẫy những dục tham ái, sân si và bản ngã, thật là đau khổ và trống rỗng. Phải thành tựu trí huệ thật sự về nội tâm, phải nhìn thấy tính chất nguy hại và ác độc của những cảm giác, suy nghĩ, hình sắc này. Phải nhìn cho ra được bộ mặt thật sự của nó đã hại mình, nó đày đọa mình trong nhiều đời nhiều kiếp. Tất cả chúng sanh là nô lệ cho tham dục, nô lệ cho tham ái, là đầy tớ cho những ham muốn dục vọng. Suốt cuộc đời này nó dẫn mình đi tìm những tham muốn hoài không ngừng nghỉ, mình không thành tựu trí huệ năm uẩn là không thể thấy được vì nó rất thâm sâu. Tôn Ngộ Không nhìn ra bộ xương bạch cốt tinh còn Đường Tăng chỉ nhìn thấy bà già, cô gái. Cho nên thánh trí năm uẩn này là thần nhãn, pháp nhãn, minh nhãn, trí nhãn mới nhìn xuyên thấu ra bạch cốt tinh. Mình phải có bạch cốt tưởng mới trị được bạch cốt tinh, phải thường quán chiếu bộ xương, nếu không tu bạch cốt tưởng sẽ bị bạch cốt tinh giết mình chết. Mình không thể ra khỏi những bộ xương đó, những bộ xương này thích những bộ xương kia, chạy đi tìm bộ xương khác rồi tiếp tục đời sau thành bộ xương mà không biết xương gì, có thể là xương gà, xương chó, xương vịt… Nó tham đắm vị ngọt trong đó, nếu không thành tựu trí huệ nguy hại đến sung mãn thì không thể xuất ly. Ví dụ các thầy có bao đồ nhưng không biết trong đó đựng gì nhưng bao đó rất đẹp, lại gần có mùi lạ. Mở ra là thịt heo thối, đầy giòi vậy là đem đi quăng nhanh. Có nghĩa là phải thấy bản chất thật sự của nó thì mới quăng bỏ nó được chứ làm gì có chuyện ngồi đó rồi bừng lên là chứng ngộ. Không thể có chuyện này mà phải thấy thật sự bên trong đó là thứ nhơ nhớp bất tịnh, hôi thối thì mới quăng bỏ được.
Này các Tỳ-kheo, Như Lai quăng bỏ cái thân này như đống rác bẩn thỉu, các bậc A-la-hán cũng vậy thì mới xuất ly được, tức là đời sau không còn tiếp tục cái thân nữa, không đi tìm bộ xương nữa thì mới chứng cảnh bất động giải thoát, mới ra khỏi ngũ uẩn. Đây là chỗ thâm sâu của thánh giáo còn mình chỉ thấy mắt 1 mí đẹp giống Hàn Quốc, nhìn mũi thấy cũng tạm, đi tu mà tướng hảo, ai khen thầy có tướng hảo là vui mừng. Như vậy là còn đam mê trong sắc pháp này thì làm sao đi ra, mà mình nói là mình tu giải thoát luân hồi sanh tử nhưng trong này đầy rẫy những cảm giác, nghĩ tưởng yêu thích, đam mê, tham ái thì làm sao ra khỏi luân hồi sanh tử? Đây là sự mâu thuẫn, phi lý, sự kiện đó không thể xảy ra cho đến khi nào mình nhìn thấy thân này là một bao thịt thối, là một thây ma, trong này không có bất cứ cái gì sạch sẽ đáng để tham đắm, ôm ấp, chất chứa thì lúc đó mình sẽ phá được sắc thủ uẩn, xuất ly khỏi sắc uẩn. Đây mới chỉ là sắc uẩn thôi nên sự tu tập của chúng ta rất thâm sâu, phải rất nỗ lực. Bây giờ Minh Thành mới thấy hình ảnh Thái tử Tất-đạt-đa ngồi dưới cội Bồ đề là khủng khiếp, không phải ngồi im lặng như vậy 49 ngày rồi bừng lên là ngộ mà đó là sự chiến đấu tâm linh vĩ đại và mãnh liệt chưa từng có trong vô lượng vô biên kiếp lịch sử của chúng sanh, của hữu tình. Đó là sự chiến đấu khủng khiếp với vô minh, tham ái, chấp thủ trong nội tâm chứ không phải ngồi nhắm mắt thở ra thở vô, đó là dành cho những người ban đầu, sơ cơ mới vào tập ngồi. Còn mình là phải ngồi quán về tính nguy hại bằng cách nhìn những người cùi lở, què, điên khùng, bệnh nan y, nhìn những xác chết bị tai nạn giao thông văng ra tung tóe, phải nhìn cho thâm sâu, tất cả những hình bóng đó bất cứ lúc nào cũng có thể hiện ra trong tâm mình. Phải chứng nhập những hình bóng đó, đó là sự tu tập để phá được sắc uẩn, sắc pháp, sắc chất. Nếu trong tâm còn y nguyên tôi là đẹp, tôi là hay, tôi hài lòng với tấm thân này thì mình vẫn chỉ đứng ngoài cửa chùa, dù cho làm được một chút thiện pháp nhưng vẫn không phải là đa văn thánh đệ tử.
Này các Tỳ-kheo, thấy và biết như chơn mắt, thấy và biết như chơn các sắc, thấy và biết như chơn nhãn thức, thấy và biết như chơn nhãn xúc, thấy và biết như chơn cảm thọ ấy; vị ấy không ái trước đối với con mắt, không ái trước đối với các sắc, không ái trước đối với nhãn thức, không ái trước đối với nhãn xúc.
Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, không bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tàn diệt trong tương lai (Trung Bộ Kinh, 149. Đại Kinh Sáu Xứ).
Tàn diệt là tàn phá và tiêu diệt, tận diệt. Không còn sự tham đắm, chấp thủ trong đống sắc, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này nữa thì mới ra khỏi năm uẩn, từ đó mới chứng cái tâm bất động giải thoát. Như vậy mới gọi là chấm dứt luân hồi sanh tử, đời sống này là đời sống cuối trong những hình thức của năm uẩn. Đó gọi là siêu sanh thoát tử, giải thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi. Đó cũng được gọi là vô sanh. Từ đó đến giờ mình hiểu sai ý nghĩa của Niết-bàn và vô sanh, cứ nghĩ rằng Niết-bàn và vô sanh là không còn ở đây nữa mà về một cảnh giới nào đó để hưởng nhàn, đó là tham ái và chấp thủ. Ý nghĩa của Niết-bàn và vô sanh là ra khỏi năm uẩn, không còn những hình thái mê đắm trong năm uẩn nữa.
Đức Phật ví dụ nhà chòi bằng đất sét của những đứa trẻ, cho đến khi nào những đứa trẻ này không còn tham đắm, mê say nữa mà nó đập vỡ, phá nát tất cả những nhà chòi bằng đất sét dơ bẩn này thì lúc đó mới hết chơi, không còn tái tạo những căn nhà chòi bằng đất sét nữa. Cho đến lúc nào còn lòng dục tham ái, lòng ưa thích với nhà chòi bằng đất sét đó thì nó còn làm ra những căn nhà đó nữa. Giống như mình còn ưa thích tứ đại trong ngũ uẩn thì đời sau tiếp tục tái sanh ra những tấm thân nữa. Còn khi đã ly tham, từ bỏ, chấm dứt, xuất ly thì lúc đó mình ra khỏi ngũ uẩn, gọi là xuất ly thánh đạo, là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư Thiên và loài người. Lúc đó là thành tựu được thánh trí huệ của bậc thánh, nếu mình không thành tựu thì ái trước với mắt; tai; mũi; lưỡi, ái trước đối với các pháp và tham đắm, hệ lụy trong đó.
Ái của vị ấy đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này, chỗ kia.
Câu hữu là đi cùng với, hỷ là vui mừng, tham là ưa muốn. Nó mừng vui và ưa muốn rồi muốn đi tìm sự hoan lạc chỗ này, chỗ kia. Vậy là ái ấy được tăng trưởng; những thân ưu não tăng trưởng; những tâm ưu não tăng trưởng. Vì bất cứ hình thức nào của ái cũng có ra những cái thân vô thường, vô ngã nên nó là chỗ làm cho lo lắng, buồn phiền (Ưu là lo lắng, não là buồn phiền), dù cho người tu cũng có sự lo lắng, buồn phiền, không người nào không có những cái thân ưu não, tâm ưu não tăng trưởng, gọi là phiền não. Lúc nào cũng lo, không biết mai đây mình ra sao, tương lai mình sẽ sao, người ta có chùa trụ trì còn mình không có gì hết, người ta có bằng cấp nước ngoài cấp còn mình không có, mình phải lo cho tương lai của mình. Đó là lo lắng ưu não vì cái tâm ưu não, thân ưu não mà không biết rằng thân này là bại hoại, tu 20 năm mà chưa từng quán bất tịnh. Như vậy là nó tích trữ trong tương lai, ví dụ làm ác nhiều rồi để dành quả báo ác cho đời sau hoặc cuối đời là ác nghiệp biểu hiện ra. Nếu làm nhiều việc phước lành thì để dành cho cuối đời hoặc đời sau trổ thiện nghiệp ra, nhưng nghiệp thiện hay ác đều có tham sân si, vô minh và bản ngã. Cho nên khi hưởng quả nghiệp thiện rồi tham đắm trong đó thì sanh ra sa đọa, vì vậy giàu khó rất khó tu, trong kinh thường nói phú quý học đạo nan (giàu sang học đạo là khó), càng giàu có chừng nào càng khó tu chừng đó, càng giàu có chừng nào càng dễ tạo nghiệp chừng đó, càng giàu có chừng nào thì càng thuận lợi cho dục tham ái, sân si, bản ngã phát huy chừng đó. Đừng có ham giàu. HYPERLINK "http://www.tinhdo.net/khaithi/56-khac/220-dungtamcauphuquy_chicauvothuongdao"
Dừng tâm cầu phú quý, chỉ cầu Vô thượng đạo.
Báo đăng vào tù vì chức vụ càng lớn, giàu có càng nhiều. Tai nạn kề cận sát bên, nguy hiểm rình rập chưa bao giờ ghê gớm như lúc này, 2-3 bữa nghe giết cha, 3-4 nghe giết mẹ, vài bữa đăng tin anh em giết nhau. Chưa bao giờ tham sân si, bản ngã mà nó ác nghiệt, khủng bố, hoành hành ghê gớm như giai đoạn này. Chưa bao giờ thế giới chứng kiến cảnh dịch bệnh thê lương, đau đớn cùng cực như lúc này, vậy mà cũng không chịu tu, vậy mà cũng không chịu thức tỉnh, vậy mà cứ ngủ. Cái vô minh, tham sân si, bản ngã này rất nặng nề vì nó tích lũy chồng chất, dày đặc che phủ thì làm sao mình có thể ngóc đầu lên khỏi nó? Vào lớp học thì lóe sáng lên được chút "thầy nói phải", còn trở về thì thọ; tưởng; hành y nguyên "ổng nói là chuyện của ổng, mình làm chuyện của mình. Ổng nói là trong kinh, còn mình là chuyện thật ngoài đời, đời sống thiết thực hơn". Cho nên mình học hoài mà không tương ưng được với thánh trí, thánh đạo, thánh quả, thánh pháp của Phật vì mình không lấy trí huệ của Phật đưa vào trong tâm mình. Toàn nói khó "mới mua được chiếc xe mà bỏ uổng quá", "thầy kêu nhìn cái nào cũng vô thường thì uổng" để cho có cảm thọ khoái trong tâm. Như vậy là mê hồn trận, nó sẽ giết mình chết.
Kiến gì như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy gì như chơn của vị ấy, tư duy ấy là chánh tư duy. Tinh tấn gì như chơn của vị ấy, tinh tấn ấy là chánh tinh tấn. Niệm gì như chơn của vị ấy, niệm ấy là chánh niệm. Ðịnh gì như chơn của vị ấy, định ấy là chánh định. Thân nghiệp, ngữ nghiệp, sinh mạng của vị ấy được thanh tịnh tốt đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và phát triển sung mãn cho vị ấy. Do sự tu tập Thánh đạo Tám ngành này như vậy, bốn niệm xứ đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bốn chánh tinh tấn cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bốn như ý túc cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; năm căn cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; năm lực cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bảy giác chi cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn (Trung Bộ Kinh, 149. Đại Kinh Sáu Xứ).
Những điều này có khi quá sức với quý thầy nhưng hãy cố gắng. Chỉ còn vài tháng là mọi người tốt nghiệp nên Minh Thành mới gửi cái này là bí kíp của chánh pháp, tinh tủy của tạng Nikāya. Minh Thành biết là nó khó nghe, khó chấp nhận nhưng sau này mọi người hãy lấy đây làm kim chỉ nam, lấy đây làm phương châm, làm khuôn phép tu học sẽ có được lợi ích dài lâu chứ tạng kinh này thật sự khó, không phải dễ. Tạng kinh này còn hơn bom nguyên tử, nó đánh sập hết toàn bộ bất thiện pháp, đây là đại bát nhã ba la mật. Chỉ có cái này mới chấm dứt luân hồi, diệt tận sanh tử chứ nếu chỉ còn một chút gì của ngũ uẩn để mình tham ái là mình sẽ không đi ra được./.
NGUYÊN NHÂN 5 UẨN TÍCH TRỮ TRONG TƯƠNG LAI
THÍCH MINH THÀNH
Này các Tỳ-kheo, không biết, không thấy như chơn mắt; không biết, không thấy như chơn các sắc; không biết, không thấy như chơn nhãn thức; không biết, không thấy như chơn nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; không biết, không thấy như chơn cảm thọ ấy, vị ấy ái trước đối với mắt, ái trước đối với các sắc, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy ái trước đối với cảm thọ ấy.
Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tích trữ trong tương lai. Và ái của vị ấy đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này, chỗ kia; ái ấy được tăng trưởng; những thân ưu não tăng trưởng; những tâm ưu não tăng trưởng; những thân nhiệt não tăng trưởng; những tâm khổ não tăng trưởng. Vị ấy cảm thọ thân khổ và tâm khổ. (Trung Bộ Kinh 149. Ðại kinh Sáu xứ).
Bài này rất khó, có những bài kinh trong tạng kinh Nikāya nghe 100 lần chỉ hiểu trên chữ, hiểu được một chút nghĩa. Bài này nếu không có pháp hành, không có người đã thành tựu đã từng kinh qua, từng thực tập chỉ cho mình thì mình không thể hiểu dù cho mình có đọc 100 lần. Đoạn này liên hệ đến duyên sanh pháp mà duyên sanh pháp trước giờ mình học không chính xác. Hôm nay Minh Thành sẽ giới thiệu cho quý thầy duyên sanh pháp trong kinh Nikāya, mình sẽ thấy nó khác với trước giờ đã học.
Trước nay hay nói căn tiếp xúc với trần sanh khởi lên thức, tới đây dừng lại là chưa đủ. Đây là duyên sanh pháp của căn – trần – thức – thọ – xúc – ái – thủ trong quyển nghi thức tu học Nikāya, trong này có phần căn bản trí ghi đầy đủ và phải học thuộc lòng, vì nếu không học thuộc lòng thì khi thực tập sẽ nhận diện không được. Mình không biết duyên sanh pháp thì khi nhìn lại tâm sẽ rối bời, còn khi nắm được nguyên lý của duyên sanh pháp thì mình sẽ thấy rõ mồn một như chỉ trong lòng bàn tay. Chút nữa mình bước ra cổng trường, có người mẫu đi ngang trước mắt mình thì do duyên có con mắt, cái sắc của người đẹp, có sự rõ biết các sắc. Nói sâu hơn nhãn thức là sự rõ biết các sắc chứ không phải chỉ là cái biết của con mắt. Nếu nhãn thức chỉ là cái biết của con mắt thì khi mình chết vẫn còn con mắt thì sao mình không biết, hay khi mình nhắm mắt thì vẫn còn con mắt đó nhưng sao không thấy? Thành ra sự rõ biết sắc là nhãn thức, vì nhận diện sáu thức sẽ bất ngờ chứ không đơn sơ như nhãn thức; tỷ thứ; thiệt thức; thân thức; ý thức là xong. Khi mình nhận diện được 6 thức thì cái tâm mình không phải là một vì nhãn thức chỉ biết các sắc còn âm thanh nó không biết, cái biết được âm thanh là nhĩ thức, cái rõ biết được mùi là tỷ thức còn vị nó không biết, cái rõ biết được vị khi ăn là thiệt thức còn ngoài ra những cái khác nó không biết. Đây là giới vực của 6 thức, tức là mỗi cái biết có phạm trù, lãnh vực riêng, có phạm vi hoạt động khác nhau. Cho nên khi không nhận diện được 6 thức thì mình tưởng cái biết của mình là một cái nhưng đó là sai lầm. Chỗ này rất sâu sắc, phải có sự thiền định và thực tập nhận diện.
Nhận diện thân thức là rõ biết ngay sự đụng chạm. Chỗ nào tiếp xúc, đụng chạm có cái rõ biết ngay đó thì đó là thân thức. Nó chỉ biết ngay chỗ thân nó tiếp xúc với quần áo hay bàn ghế thì đó là thân thức. Còn ý thức là nó chỉ biết thọ; tưởng; hành, tức là ý thức là cái nhìn trở vô thì thấy được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó. Nó chỉ biết được 3 cái đó, đó là ý thức. Không giống lúc trước mình học chỉ có nhãn thức; tỷ thức; thân thức; thiệt thức; nhĩ thức là xong, như vậy không có đủ. Rõ biết sắc là nhãn thức chứ không phải cái biết của con mắt. Như vậy khi có con mắt, khi có người đẹp, khởi lên sự rõ biết có người đẹp đó thì đó là căn; trần; thức, mắt và sắc sanh khởi lên sự rõ biết các sắc, sau đó cảm giác sanh khởi lên. Có 3 loại cảm giác: Lạc thọ; khổ thọ; bất lạc bất khổ thọ. Trường hợp mình nhìn người đẹp thì đương nhiên lạc thọ sanh khởi, cảm giác dễ chịu, thích thú, luyến ái sanh khởi. Khi mình tiếp xúc mà thọ đã sanh khởi nhưng mình không biết do mình không học duyên sanh pháp, do mình không nhận diện ngũ uẩn nên lúc đó mình chất chứa lạc thọ đó. Khi người đó đi qua rồi nhưng hình bóng của người đó vẫn còn lưu lại, được cất giữ trong tâm thì đó là sắc tưởng. Sau đó mình suy nghĩ về người đó thì tất cả mọi suy nghĩ từ con mắt người đó, bàn tay ra sao, dáng đi thế nào, tóc ngắn hay dài thì cái này gọi là sắc tư. Đây là sự vận hành duyên sanh pháp của con mắt.
Vậy khi mình gặp một người mà mình ghét, mình không ưa thì sao? Do duyên có con mắt, do sắc của người đó và sự rõ biết về sắc của người đó nên sanh khởi cảm giác bực bội, khó chịu. Đó là khổ thọ. Khi người đó đi qua rồi nhưng hình bóng người đó còn lại trong tâm thì gọi là sắc tưởng, tiếp tục về nhà suy nghĩ về người đó là sắc tư. Đây là duyên sanh pháp của kinh Nikāya. Tâm thức mình vận hành như vậy là hằng ngày hằng giờ mà mình không biết, cho nên mọi người phải quay lại đọc quyển Nghi thức tu học Nikāya, học thuộc phần căn bản trí, trong đây có định nghĩa ngũ uẩn, định nghĩa 6 thức, 6 trần, 6 thọ, 6 tưởng, 6 tư rất rõ ràng.
Tai nghe tiếng cũng y như vậy, chỉ đổi thành thanh tưởng, thanh tư. Người ta mời mình đi tụng đám, mình ngồi lên xe đời mới có máy lạnh mát rượi, dựa lưng vào ghế có nhạc trữ tình. Vậy là do duyên có lỗ tai, duyên có âm thanh của bài nhạc sanh khởi lên sự rõ biết âm thanh. Sau khi căn – trần – thức hội tụ sanh khởi lên cảm thọ dễ chịu. Khi bài nhạc đó hết rồi mình về chùa ngồi thiền trong phòng một mình thì lúc đó hình bóng của âm thanh đó, suy nghĩ về bài nhạc đó thì gọi là thanh tưởng, thanh tư. Hình bóng âm thanh đó vang vọng lại, âm điệu của bài nhạc đó gợi lên và mình suy nghĩ về bài nhạc đó thì gọi là thanh tưởng, thanh tư. Đương nhiên đó gọi là lạc thọ và có ái, sự thích thú trong đó, thậm chí là mở lên bài đó nghe lại, như vậy là có sự thúc giục bên trong.
Do duyên có lỗ mũi, có mùi, khởi lên sự rõ biết các mùi gọi là tỷ thức. Ba pháp này hội tụ, giao thoa gọi là tỷ xúc, tức là sự tiếp xúc của lỗ mũi. Khi 3 pháp này hội tụ, khi lỗ mũi tiếp xúc thì có thọ do tỷ xúc sanh, tức là cảm thọ do lỗ mũi tiếp xúc sanh ra cảm giác đó. Sau đó mình có hương tưởng, hương tư. Tức là hình bóng mùi đó, những suy nghĩ về mùi đó còn ở trong tâm. Tuy là mùi đó đã đi qua rồi không còn hiện hữu nữa nhưng hình bóng và những suy nghĩ về mùi đó còn lại trong tâm. Chính vì vậy khi gặp ai trên máy bay hay trên xe mà ngửi được mùi thơm lạ thì thường nhắc lại, vậy thì đó là những hình bóng, suy nghĩ về mùi hương đó thì gọi là hương tưởng, hương tư. Trong mùi đó có thể mình thích hoặc không thích hay là mình trơ trơ không cảm giác gì. Trong 3 loại cảm thọ này đều có 3 trạng thái của tham sân si. Thích là tham, ái; không thích là sân, không ưa; không thích cũng không ưa là si. Cho nên sự tu này rất thâm sâu, mỗi khi có gì vận hành trong thân tâm mình đều thấy biết.
Do duyên có lưỡi, có vị khi gắp đồ ăn để vào lưỡi, có sự rõ biết mùi vị đó gọi là thiệt thức. Ba pháp này hội tụ, giao thoa tương tác trở thành thiệt xúc, tức là lưỡi tiếp xúc với món ăn có sự rõ biết trong đó, sanh ra cảm giác. Cảm giác ngon, không ngon, hoặc là thường thường. Sau đó có vị tưởng, vị tư. Sau khi ăn rồi nhưng hình bóng của món đó hiện ra gọi là vị tưởng, suy nghĩ về món đó là vị tư. Hình bóng hiện ra ngay khi ăn đã có tham sân si trong đó, sau khi ăn rồi nhớ lại, suy nghĩ về nó lại thì có tham sân si trong đó nữa. Cho nên cái tham sân si được Đức Phật gọi là tham tùy miên, sân tùy miên, si tùy miên. Tùy là đi theo, miên là miên man. Trong lạc thọ, cảm giác dễ chịu có tham tùy miên, bất cứ lúc nào có cảm giác dễ chịu thì cái tham luôn đi theo miên man trong đó, ghê gớm như vậy mà mình không thấy vì mình không quán chiếu thọ trên thọ, không quán ngũ uẩn nên không thấy được, ví dụ trời nóng mà vào toa lét dội nước lạnh ào ào thì đó là cảm thọ dễ chịu nên có tham tùy miên, tức là muốn dội thêm nữa. Trong cảm giác khó chịu có sân tùy miên, như khi đang khát nước bưng ly trà lên uống ừng ực thì nóng bỏng lưỡi nên bực bội, sân lên. Vậy là có sân tùy miên trong cảm giác khó chịu.
Khi vào lớp ngồi thiền thì tập nhận diện, lý thuyết thực hành ngay tại chỗ. Đây là pháp hành nhìn thấy rõ trong thân tâm, mọi thứ đang vận hành như thế nào mình có thể trình bày rành rõ minh bạch, cho nên gọi là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu). Người trí là người quay lại nhận diện thân tâm mình thường xuyên liên tục. Còn người quay ra ngoài để nhìn rồi phê phán người này người kia, rồi có tham sân si gọi là người ngu. Học nhận diện 6 pháp rồi mới có thể vào học kinh chứ không phải muốn học kinh là học, lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không phải dễ để hiểu liền giống như đọc báo, đọc tin tức.
Này các Tỳ-kheo, không biết, không thấy như chơn mắt. Như chơn còn được hiểu là như thật. Như thật tri, như thật kiến là 2 từ hết sức quan trọng trong kinh tạng Nikāya. Như thật tri, như thật kiến là thấy đúng như thật, biết đúng như thật. Chữ như là đúng sự thật, nó là động từ. Không biết đúng như thật, thấy đúng như thật về con mắt cho nên vị ấy ái trước đối với mắt, ái trước đối với các sắc, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc. Thế nào là thấy đúng như thật, biết đúng như thật về con mắt? Nghĩa là phải biết, phải thấy con mắt này là tứ đại, là một cục thịt đầy máu, gân, những tế bào. Phải thường trực quán chiếu về tứ đại và bất tịnh thì mình mới biết như thật, thấy như thật về con mắt. Nó chỉ là đất, nước, gió, lửa. Nó chỉ là máu, là nhơ nhớp, bình thường nhìn đẹp biết bao nhưng khi lọt con mắt ra ngoài thì máu chảy ra, gân dính vào đó. Trí tuệ của mình mỗi ngày quán chiếu thâm sâu vào bất tịnh, vào bản chất thân thể này thì khi nhìn mình sẽ biết con mắt này vô thường, chính con mắt này nhìn các sắc nên bị mình giam cầm trong sắc đó, không thể ra khỏi nó nên "con mắt này là đồ ngu", dùng Như lý tác ý để mình thoát ra khỏi con mắt. "Chính mày là cửa ngõ đưa giặc vào nhà, con mắt này làm môi giới cho giặc", nhìn thấy thôi là về ngồi thiền tu không được vì mê mẩn vào sắc tưởng, sắc tư. Ảo tưởng về nó, không thấy người là mở mạng lên xem rồi chết trong đó. Cho nên quán như thật về con mắt, quán như thật về đối tượng của con mắt là các sắc. Sắc là vô thường, bại hoại, tan nát. Như vậy mới gọi là như thật biết, như thật thấy. Còn không thấy, không biết một cách đúng như thật về con mắt, về các sắc, về sự rõ biết các sắc. Không thấy, không biết như thật về các cảm thọ, cảm giác cho nên ái trước đối với con mắt, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc, ái trước đối với các cảm giác sanh khởi lên.
Đừng tưởng mình chỉ ái, chỉ thích cảm giác dễ chịu còn mình không ái, không thích cảm giác sân. Mình vẫn yêu thích cảm giác sân hận cho nên khối sân trong người mình bỏ không được, nếu không ưa thích, không có vị ngọt trong sân hận thì làm gì mình chất chứa trong tâm 10 năm – 20 năm? Mình vẫn ưa thích cảm giác bực bội, mình vẫn chất chứa, tích trữ, mình nuôi dưỡng, tích tập trong đó cho nên mới giận 20 năm, thậm chí có mấy phim Trung Quốc thường nói quân tử trả thù 10 năm chưa muộn. Vậy là nó dạy luân hồi sanh tử, nó dạy sự ngu si, nó dạy vô minh, tạo nghiệp chứ nó không dạy mình giải thoát. Nó dạy phải nuôi dưỡng thù hận, dạy mình đi trong đau khổ, nước mắt và máu, dạy mình thây chất chồng như núi cả, nước mắt như biển sâu. Những cái đó không phải để học mà phải học kinh của Đức Phật. Cho nên những cái không thấy, không biết các cảm thọ; không thấy, không biết đây chỉ là sắc tưởng, sắc tư, chỉ là thứ vô thường, trống rỗng, những hình bóng bên ngoài còn bại hoại do dịch bệnh, chết mấy trăm ngàn người. Hình bóng thật sự, cầm được, sờ được mà còn bại hoại, vô thường, tan nát, huống gì hình bóng mờ ảo chập chờn mà mình lại đi khổ với nó, mình sân hận, yêu ghét, ganh tỵ với những hình bóng đó. Trời ơi là trời! Tỉnh đi! Không thấy, không biết cái gì hết, con mắt cũng không biết, các sắc cũng không biết, nhãn thức cũng không biết, thọ do nhãn xúc sanh cũng không biết. Nhãn xúc là khi con mắt, sắc, sự rõ biết các sắc hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành nhãn xúc, từ nhãn xúc mới sanh ra thọ. Cho nên đó là quy trình vận hành của tâm mà mình không biết gì hết. Cứ nhìn thấy có một người đẹp thì đó là vô văn phàm phu, không thấy các pháp đang diễn ra rồi sập bẫy của sắc uẩn, sắc pháp, vô lượng vô biên kiếp cũng không ra khỏi hình bóng đó. Sắc tầm là tâm mình hướng về hình bóng đó, ví dụ trong đây là 70 người, có bóng xa đằng kia thì cái tâm cứ hướng về hình bóng đó để nhìn. Tầm là tầm cầu. Sắc tứ là bám vào đối tượng đó để suy nghĩ. Học mới thấy cái tâm rất ghê gớm, khủng khiếp, bom nguyên tử chưa là gì so với cái tâm mình, tâm mình rất siêu việt, rất khủng khiếp. Cho nên khám phá được tâm mới gọi là khám phá tối thượng, còn bên ngoài không là gì với cái tâm. Do mình không thấy không biết nên mình ái trước, ưa thích và bị dính mắc trong nguyên một chuỗi hoạt động của tâm. Nhìn con mắt chỉ thấy con mắt đó đẹp hay xấu, nhìn người hay món đồ chỉ biết tốt xấu, cái biết con mắt thì dính vào tôi biết, tôi thấy. Khi con mắt, sắc và nhãn thức hội tụ lại mình không biết gì hết, chỉ thấy tôi, cái nào cũng gắn tôi vào, tôi đang có cảm giác dễ chịu, sướng quá. Mình không thấy thọ đang sanh khởi cũng không biết thọ gì sanh khởi, duyên sanh pháp của cảm giác đó cũng không biết, không thấy như thật. Do không biết không thấy nên hình bóng trong tâm khởi lên là mình nhập vào luôn, nói là "tôi đang tưởng, tôi đang suy tưởng" mà không biết rằng đó chỉ là sắc tưởng, sắc tư, cộng lại thành tư tưởng. Tư là suy nghĩ, tưởng là hình bóng, chỉ biết đó là tư tưởng của tôi, vậy là tôi chết trong tư tưởng đó, chết trong hình bóng đó. Những người dính vào tình ái họ sẽ chết vì hình bóng trong tâm, cha mẹ ngăn cản thì nhảy cầu tự vẫn hay uống thuốc rầy. Vì những cảm giác, cảm thọ này, sắc tưởng, sắc tư, thanh tưởng, thanh tư, mùi vị xúc chạm dồn đọng trong tâm. 60 pháp bao gồm 6 tưởng; 6 tư; 6 tầm; 6 tứ; 6 căn; 6 trần; 6 thức; 6 thọ; 6 ái dồn cục lại rồi đồng loạt tấn công thì chỉ có nước nhảy cầu tự tử. Do không như thật thấy, không như thật biết các pháp bên ngoài và bên trong, thành ra hoàn toàn ở trong vô minh, tham ái, chấp thủ nên si ái, mê ly, bị ma trận không biết đường ra.
Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tích trữ trong tương lai. Quán sát nguy hại thì không quán mà lại quán sát vị ngọt nên đặt tâm sai hướng. Mình tu là quán sát sự xuất ly trong 3 loại trí tuệ: Vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly. Đây là 3 loại trí huệ căn bản trong sự tu học. Ba loại trí huệ này là bậc Chánh Đẳng Giác thành tựu.
Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào ta như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, ta mới xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, 101.- Trước Khi Giác Ngộ)
Còn chúng ta là phàm phu thì chết trong vị ngọt, chỗ nào có đường là kiến chết trong đó, ngọt mật chết ruồi, chỗ nào có mồi thì mấy người nhậu là chết, chỗ nào có thuốc phiện thì mấy người nghiền là chết, chỗ nào có con gái nhiều thì mấy người con trai sẽ chết. Mình chết trong đó vì mình chỉ thấy vị ngọt mà không thấy sự nguy hại của vị ngọt. Người tu là phát triển cùng cực, sung mãn tột độ tính nguy hại của các pháp, trí huệ nằm ngay đây. Quán sát vị ngọt là suốt ngày cứ nhìn, để ý, tìm chỗ vui, đi chỗ nào ăn cho ngon, chỗ nào có đồ đẹp, người đẹp, cảnh đẹp thì đến. Thậm chí trong đó là tai họa, là miệng cọp, hang hùm, cạm bẫy khủng khiếp dẫn mình chết trong đó. Họ chết trong vị ngọt vì ngoài vị ngọt của dục lạc họ không có thiền lạc, không có pháp lạc, trí tuệ lạc, giải thoát lạc, viễn ly lạc, chánh giác lạc, chỉ có bậc đa văn thánh đệ tử thường xuyên quán chiếu về tính nguy hại của ngũ uẩn mới có được độc cư lạc, viễn ly lạc, chánh giác lạc, an ổn lạc, Niết-bàn lạc. Cho nên sự quán chiếu về nguy hại là công phu tu của người xuất gia, mỗi ngày phải quán bất tịnh khi thiền quán mỗi tối, phải nhìn thấy bộ xương, đống máu mủ này hại mình, vì đống thịt này ác độc, làm cho mình đắm đuối không ra được. Tất cả đều nghĩ cho đống thịt này, lòng vòng trong này như bài kinh dây thằng đã nói:
Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng).
Đức Thế Tôn ví dụ vô văn phàm phu có đi đâu cũng không ra khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, có ngồi nằm cũng không ra khỏi năm uẩn này. Cho nên bây giờ quán nguy hại, quán tứ đại, quán 32 thể trược này, nếu không mình không thoát ra được, suốt ngày trong vô minh, sân hận, bản ngã hoài. Phải quán chiếu thâm sâu, đánh cho sập hết những thứ xấu ác này để trở thành sát tặc đại sư, tức là trở thành những bậc A-la-hán, hoàn toàn diệt tận dục tham ái, vô minh, sân si và bản ngã. Những bất thiện pháp này nằm trong cảm giác, trong những hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Phải tập thường xuyên, liên tục nhìn lại cảm giác và nghĩ tưởng, nếu có ác và bất thiện pháp là thẳng tay trừng trị, như vậy mới là đại sĩ, tu sĩ, xuất sĩ. Còn không nhìn lại nội tâm chỉ lo hình thức thì không được lợi ích gì, phía sau những hình thức đó là đầy rẫy những dục tham ái, sân si và bản ngã, thật là đau khổ và trống rỗng. Phải thành tựu trí huệ thật sự về nội tâm, phải nhìn thấy tính chất nguy hại và ác độc của những cảm giác, suy nghĩ, hình sắc này. Phải nhìn cho ra được bộ mặt thật sự của nó đã hại mình, nó đày đọa mình trong nhiều đời nhiều kiếp. Tất cả chúng sanh là nô lệ cho tham dục, nô lệ cho tham ái, là đầy tớ cho những ham muốn dục vọng. Suốt cuộc đời này nó dẫn mình đi tìm những tham muốn hoài không ngừng nghỉ, mình không thành tựu trí huệ năm uẩn là không thể thấy được vì nó rất thâm sâu. Tôn Ngộ Không nhìn ra bộ xương bạch cốt tinh còn Đường Tăng chỉ nhìn thấy bà già, cô gái. Cho nên thánh trí năm uẩn này là thần nhãn, pháp nhãn, minh nhãn, trí nhãn mới nhìn xuyên thấu ra bạch cốt tinh. Mình phải có bạch cốt tưởng mới trị được bạch cốt tinh, phải thường quán chiếu bộ xương, nếu không tu bạch cốt tưởng sẽ bị bạch cốt tinh giết mình chết. Mình không thể ra khỏi những bộ xương đó, những bộ xương này thích những bộ xương kia, chạy đi tìm bộ xương khác rồi tiếp tục đời sau thành bộ xương mà không biết xương gì, có thể là xương gà, xương chó, xương vịt… Nó tham đắm vị ngọt trong đó, nếu không thành tựu trí huệ nguy hại đến sung mãn thì không thể xuất ly. Ví dụ các thầy có bao đồ nhưng không biết trong đó đựng gì nhưng bao đó rất đẹp, lại gần có mùi lạ. Mở ra là thịt heo thối, đầy giòi vậy là đem đi quăng nhanh. Có nghĩa là phải thấy bản chất thật sự của nó thì mới quăng bỏ nó được chứ làm gì có chuyện ngồi đó rồi bừng lên là chứng ngộ. Không thể có chuyện này mà phải thấy thật sự bên trong đó là thứ nhơ nhớp bất tịnh, hôi thối thì mới quăng bỏ được.
Này các Tỳ-kheo, Như Lai quăng bỏ cái thân này như đống rác bẩn thỉu, các bậc A-la-hán cũng vậy thì mới xuất ly được, tức là đời sau không còn tiếp tục cái thân nữa, không đi tìm bộ xương nữa thì mới chứng cảnh bất động giải thoát, mới ra khỏi ngũ uẩn. Đây là chỗ thâm sâu của thánh giáo còn mình chỉ thấy mắt 1 mí đẹp giống Hàn Quốc, nhìn mũi thấy cũng tạm, đi tu mà tướng hảo, ai khen thầy có tướng hảo là vui mừng. Như vậy là còn đam mê trong sắc pháp này thì làm sao đi ra, mà mình nói là mình tu giải thoát luân hồi sanh tử nhưng trong này đầy rẫy những cảm giác, nghĩ tưởng yêu thích, đam mê, tham ái thì làm sao ra khỏi luân hồi sanh tử? Đây là sự mâu thuẫn, phi lý, sự kiện đó không thể xảy ra cho đến khi nào mình nhìn thấy thân này là một bao thịt thối, là một thây ma, trong này không có bất cứ cái gì sạch sẽ đáng để tham đắm, ôm ấp, chất chứa thì lúc đó mình sẽ phá được sắc thủ uẩn, xuất ly khỏi sắc uẩn. Đây mới chỉ là sắc uẩn thôi nên sự tu tập của chúng ta rất thâm sâu, phải rất nỗ lực. Bây giờ Minh Thành mới thấy hình ảnh Thái tử Tất-đạt-đa ngồi dưới cội Bồ đề là khủng khiếp, không phải ngồi im lặng như vậy 49 ngày rồi bừng lên là ngộ mà đó là sự chiến đấu tâm linh vĩ đại và mãnh liệt chưa từng có trong vô lượng vô biên kiếp lịch sử của chúng sanh, của hữu tình. Đó là sự chiến đấu khủng khiếp với vô minh, tham ái, chấp thủ trong nội tâm chứ không phải ngồi nhắm mắt thở ra thở vô, đó là dành cho những người ban đầu, sơ cơ mới vào tập ngồi. Còn mình là phải ngồi quán về tính nguy hại bằng cách nhìn những người cùi lở, què, điên khùng, bệnh nan y, nhìn những xác chết bị tai nạn giao thông văng ra tung tóe, phải nhìn cho thâm sâu, tất cả những hình bóng đó bất cứ lúc nào cũng có thể hiện ra trong tâm mình. Phải chứng nhập những hình bóng đó, đó là sự tu tập để phá được sắc uẩn, sắc pháp, sắc chất. Nếu trong tâm còn y nguyên tôi là đẹp, tôi là hay, tôi hài lòng với tấm thân này thì mình vẫn chỉ đứng ngoài cửa chùa, dù cho làm được một chút thiện pháp nhưng vẫn không phải là đa văn thánh đệ tử.
Này các Tỳ-kheo, thấy và biết như chơn mắt, thấy và biết như chơn các sắc, thấy và biết như chơn nhãn thức, thấy và biết như chơn nhãn xúc, thấy và biết như chơn cảm thọ ấy; vị ấy không ái trước đối với con mắt, không ái trước đối với các sắc, không ái trước đối với nhãn thức, không ái trước đối với nhãn xúc.
Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, không bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tàn diệt trong tương lai (Trung Bộ Kinh, 149. Đại Kinh Sáu Xứ).
Tàn diệt là tàn phá và tiêu diệt, tận diệt. Không còn sự tham đắm, chấp thủ trong đống sắc, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này nữa thì mới ra khỏi năm uẩn, từ đó mới chứng cái tâm bất động giải thoát. Như vậy mới gọi là chấm dứt luân hồi sanh tử, đời sống này là đời sống cuối trong những hình thức của năm uẩn. Đó gọi là siêu sanh thoát tử, giải thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi. Đó cũng được gọi là vô sanh. Từ đó đến giờ mình hiểu sai ý nghĩa của Niết-bàn và vô sanh, cứ nghĩ rằng Niết-bàn và vô sanh là không còn ở đây nữa mà về một cảnh giới nào đó để hưởng nhàn, đó là tham ái và chấp thủ. Ý nghĩa của Niết-bàn và vô sanh là ra khỏi năm uẩn, không còn những hình thái mê đắm trong năm uẩn nữa.
Đức Phật ví dụ nhà chòi bằng đất sét của những đứa trẻ, cho đến khi nào những đứa trẻ này không còn tham đắm, mê say nữa mà nó đập vỡ, phá nát tất cả những nhà chòi bằng đất sét dơ bẩn này thì lúc đó mới hết chơi, không còn tái tạo những căn nhà chòi bằng đất sét nữa. Cho đến lúc nào còn lòng dục tham ái, lòng ưa thích với nhà chòi bằng đất sét đó thì nó còn làm ra những căn nhà đó nữa. Giống như mình còn ưa thích tứ đại trong ngũ uẩn thì đời sau tiếp tục tái sanh ra những tấm thân nữa. Còn khi đã ly tham, từ bỏ, chấm dứt, xuất ly thì lúc đó mình ra khỏi ngũ uẩn, gọi là xuất ly thánh đạo, là bậc tối tôn, tối thượng giữa chư Thiên và loài người. Lúc đó là thành tựu được thánh trí huệ của bậc thánh, nếu mình không thành tựu thì ái trước với mắt; tai; mũi; lưỡi, ái trước đối với các pháp và tham đắm, hệ lụy trong đó.
Ái của vị ấy đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này, chỗ kia.
Câu hữu là đi cùng với, hỷ là vui mừng, tham là ưa muốn. Nó mừng vui và ưa muốn rồi muốn đi tìm sự hoan lạc chỗ này, chỗ kia. Vậy là ái ấy được tăng trưởng; những thân ưu não tăng trưởng; những tâm ưu não tăng trưởng. Vì bất cứ hình thức nào của ái cũng có ra những cái thân vô thường, vô ngã nên nó là chỗ làm cho lo lắng, buồn phiền (Ưu là lo lắng, não là buồn phiền), dù cho người tu cũng có sự lo lắng, buồn phiền, không người nào không có những cái thân ưu não, tâm ưu não tăng trưởng, gọi là phiền não. Lúc nào cũng lo, không biết mai đây mình ra sao, tương lai mình sẽ sao, người ta có chùa trụ trì còn mình không có gì hết, người ta có bằng cấp nước ngoài cấp còn mình không có, mình phải lo cho tương lai của mình. Đó là lo lắng ưu não vì cái tâm ưu não, thân ưu não mà không biết rằng thân này là bại hoại, tu 20 năm mà chưa từng quán bất tịnh. Như vậy là nó tích trữ trong tương lai, ví dụ làm ác nhiều rồi để dành quả báo ác cho đời sau hoặc cuối đời là ác nghiệp biểu hiện ra. Nếu làm nhiều việc phước lành thì để dành cho cuối đời hoặc đời sau trổ thiện nghiệp ra, nhưng nghiệp thiện hay ác đều có tham sân si, vô minh và bản ngã. Cho nên khi hưởng quả nghiệp thiện rồi tham đắm trong đó thì sanh ra sa đọa, vì vậy giàu khó rất khó tu, trong kinh thường nói phú quý học đạo nan (giàu sang học đạo là khó), càng giàu có chừng nào càng khó tu chừng đó, càng giàu có chừng nào càng dễ tạo nghiệp chừng đó, càng giàu có chừng nào thì càng thuận lợi cho dục tham ái, sân si, bản ngã phát huy chừng đó. Đừng có ham giàu. HYPERLINK "http://www.tinhdo.net/khaithi/56-khac/220-dungtamcauphuquy_chicauvothuongdao"
Dừng tâm cầu phú quý, chỉ cầu Vô thượng đạo.
Báo đăng vào tù vì chức vụ càng lớn, giàu có càng nhiều. Tai nạn kề cận sát bên, nguy hiểm rình rập chưa bao giờ ghê gớm như lúc này, 2-3 bữa nghe giết cha, 3-4 nghe giết mẹ, vài bữa đăng tin anh em giết nhau. Chưa bao giờ tham sân si, bản ngã mà nó ác nghiệt, khủng bố, hoành hành ghê gớm như giai đoạn này. Chưa bao giờ thế giới chứng kiến cảnh dịch bệnh thê lương, đau đớn cùng cực như lúc này, vậy mà cũng không chịu tu, vậy mà cũng không chịu thức tỉnh, vậy mà cứ ngủ. Cái vô minh, tham sân si, bản ngã này rất nặng nề vì nó tích lũy chồng chất, dày đặc che phủ thì làm sao mình có thể ngóc đầu lên khỏi nó? Vào lớp học thì lóe sáng lên được chút "thầy nói phải", còn trở về thì thọ; tưởng; hành y nguyên "ổng nói là chuyện của ổng, mình làm chuyện của mình. Ổng nói là trong kinh, còn mình là chuyện thật ngoài đời, đời sống thiết thực hơn". Cho nên mình học hoài mà không tương ưng được với thánh trí, thánh đạo, thánh quả, thánh pháp của Phật vì mình không lấy trí huệ của Phật đưa vào trong tâm mình. Toàn nói khó "mới mua được chiếc xe mà bỏ uổng quá", "thầy kêu nhìn cái nào cũng vô thường thì uổng" để cho có cảm thọ khoái trong tâm. Như vậy là mê hồn trận, nó sẽ giết mình chết.
Kiến gì như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy gì như chơn của vị ấy, tư duy ấy là chánh tư duy. Tinh tấn gì như chơn của vị ấy, tinh tấn ấy là chánh tinh tấn. Niệm gì như chơn của vị ấy, niệm ấy là chánh niệm. Ðịnh gì như chơn của vị ấy, định ấy là chánh định. Thân nghiệp, ngữ nghiệp, sinh mạng của vị ấy được thanh tịnh tốt đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và phát triển sung mãn cho vị ấy. Do sự tu tập Thánh đạo Tám ngành này như vậy, bốn niệm xứ đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bốn chánh tinh tấn cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bốn như ý túc cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; năm căn cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; năm lực cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bảy giác chi cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn (Trung Bộ Kinh, 149. Đại Kinh Sáu Xứ).
Những điều này có khi quá sức với quý thầy nhưng hãy cố gắng. Chỉ còn vài tháng là mọi người tốt nghiệp nên Minh Thành mới gửi cái này là bí kíp của chánh pháp, tinh tủy của tạng Nikāya. Minh Thành biết là nó khó nghe, khó chấp nhận nhưng sau này mọi người hãy lấy đây làm kim chỉ nam, lấy đây làm phương châm, làm khuôn phép tu học sẽ có được lợi ích dài lâu chứ tạng kinh này thật sự khó, không phải dễ. Tạng kinh này còn hơn bom nguyên tử, nó đánh sập hết toàn bộ bất thiện pháp, đây là đại bát nhã ba la mật. Chỉ có cái này mới chấm dứt luân hồi, diệt tận sanh tử chứ nếu chỉ còn một chút gì của ngũ uẩn để mình tham ái là mình sẽ không đi ra được./.