Làm Bạn Với Thiện 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
LÀM BẠN VỚI THIỆN 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tâm nguyện trong đại dịch PAGEREF _Toc79395782 \h 1
II.Làm bạn với thiện PAGEREF _Toc79395783 \h 1
1.Gần lành tránh ác PAGEREF _Toc79395784 \h 2
2.Lợi ích của việc làm bạn với thiện PAGEREF _Toc79395785 \h 6
Tâm nguyện trong đại dịch
Kính thưa quý thầy, kính thưa đại chúng và tất cả các Phật tử trong đạo tràng Nikāya từ các nơi. Hiện tại đang là mùa an cư kiết hạ năm 2021 Tân Sửu và chúng ta ở tại Linh Quy Pháp Ấn, thôn 4, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn đất nước cũng như cả thế giới phải gánh chịu dịch bệnh rất khốn khổ, khó khăn. Chúng ta là những người đệ tử Phật xuất gia, tại gia nhìn thấy hình ảnh của các bác sĩ, các y sĩ, điều dưỡng mình cũng không cầm lòng được, những bác sĩ vẫn còn rất trẻ phải cạo mái tóc để ra tuyến đầu chống dịch ở Bắc Giang. Có những bác sĩ, điều dưỡng đã ngất xỉu trong thời tiết oi bức, gay gắt của mùa hè. Có những người quá mệt mỏi phải nằm ngủ ngoài đường lộ hoặc ngay trong xe cấp cứu vì suốt đêm đưa người cần cách ly, người bị bệnh đến nơi cần đến.
Chúng ta rất xót xa khi thấy những hình ảnh đó, nhưng vì mình tu nên không thể làm được những việc như thế. Tuy nhiên, tấm lòng chúng ta luôn hướng về sự đau khổ của bà con, của đồng bào, của nhân loại trên toàn thế giới với sự từ tâm, sự đồng cảm, thấu hiểu, thương yêu. Dù rằng chúng ta đang ở núi rừng xa vắng nhưng cũng thắp lên từ tâm, tình thương bằng sự cúng dường Pháp bảo. Trước hết là để nhắc nhở cho tự thân mình an trú vào Chánh Pháp, tinh tấn hành trì pháp. Thứ hai là lan tỏa Chánh Pháp này đến Phật tử ở các đạo tràng Nikāya đang chịu dịch bệnh không thể tập trung tu học. Mong mọi người có thể cùng chúng ta an trú trong pháp, tâm bớt lo lắng, sợ hãi, bất an. Mong đem lại sự bình an cho các Phật tử trong đạo tràng cũng như tất cả những người có duyên với giáo pháp này. Mong rằng những lời dạy chân chánh, những sự thật bất diệt này sẽ thấm nhuần vào tâm chúng ta, tâm của hữu tình trong khắp trời đất rộng lớn này.
Làm bạn với thiện
Trong sự tu học của chúng ta, Đức Thế Tôn thường xuyên nhắc nhở việc làm bạn với thiện là một pháp tuyệt đối quan trọng. Làm bạn là giao tiếp, gần gũi, thân cận, lắng nghe, học hỏi, chia sẻ và việc làm bạn với thiện này có khả năng đưa chúng ta đến với sự tỉnh thức, với sự giác ngộ, chánh giác. Có một lần, Ngài Anan thưa hỏi Đức Phật rằng, một nửa phạm hạnh là từ nơi thiện bạn hữu, từ nơi bạn lành thì Đức Thế Tôn nói là toàn bộ phạm hạnh này đều nhờ từ nơi bạn lành, thiện tri thức, cho nên việc làm bạn với thiện rất quan trọng và thiết yếu.
"Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.
-- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn.
Và này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỳ-kheo tu tập chánh tư duy... tu tập chánh ngữ... tu tập chánh nghiệp... tu tập chánh mạng... tu tập chánh tinh tấn... tu tập chánh niệm... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này Ananda, là Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Chúng ta sẽ nghe lại lời dạy của Đức Phật để chúng ta thấy được giá trị, lợi ích của việc tu học làm bạn với thiện. Trong tất cả cái thiện thì Thánh pháp là chí thiện và chúng ta thường nghe pháp, hỏi pháp, chia sẻ pháp, trình bày, suy tư, quán chiếu pháp cũng là một hình thức làm bạn với thiện để đưa đến chánh giác.
Gần lành tránh ác
Bài kinh “Làm bạn với thiện”, Tăng Chi Bộ, tập I:
"- Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như làm bạn với thiện. Với người làm bạn với thiện, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như hệ lụy với các pháp bất thiện, và không hệ lụy với các pháp thiện. Do hệ lụy với các pháp bất thiện, này các Tỳ-kheo, do không hệ lụy với các pháp thiện, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như hệ lụy với các pháp thiện, không hệ lụy với các pháp bất thiện. Do hệ lụy với các pháp thiện, này các Tỳ-kheo, do không hệ lụy với các pháp bất thiện, nên các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các giác chi chưa sanh không sanh khởi, và các giác chi đã sanh không đi đến tu tập viên mãn, này các Tỳ-kheo, như không như lý tác ý. Do không như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, các giác chi chưa sanh không được sanh khởi, và các giác chi đã sanh không đi đến tu tập viên mãn.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các giác chi chưa sanh được sanh khởi và các giác chi đã sanh đi đến tụ tập viên mãn, này các Tỳ-kheo, như như lý tác ý. Do như lý tác ý, này các Tỷ kheo các giác chi chưa sanh được sanh khởi, và các giác chi đã sanh đi đến tu tập viên mãn.
Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những mất mát này, như mất mát bà con. Cái này là khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỳ-kheo, tức là mất mát trí tuệ.
Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những tăng trưởng này, như tăng trưởng bà con. Cái này là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, tức là tăng trưởng trí tuệ". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, VIII. Phẩm Làm Bạn Với Thiện, 1-11 Làm Bạn Với Thiện)
Đức Thế Tôn nói Ngài không thấy một pháp nào khác mà do pháp ấy nên các thiện pháp chưa sanh được sanh khởi giống như làm bạn với thiện. Và Ngài không thấy một pháp nào khác mà các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận giống như làm bạn với thiện. Như vậy, làm bạn với thiện các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi và các pháp bất thiện được đoạn tận. Nghĩa là làm bạn với thiện thì các pháp lành chưa có bây giờ sẽ có, một người làm bạn với thiện sẽ có các pháp lành trước nay chưa từng có, một người làm bạn với thiện thì những pháp ác trong người đó sẽ được chấm dứt, như vậy làm bạn với thiện cái ác chấm dứt và cái thiện được sanh khởi. Với người làm bạn với thiện những pháp lành mình chưa có sẽ sanh khởi ra, còn những pháp xấu ác trong người mình sẽ đi đến chỗ chấm dứt.
Trong một bài kinh khác, Đức Phật dạy cách làm bạn với thiện là tìm người có giới – định – tuệ ngang bằng hoặc vượt hơn mình để làm bạn với họ. Người nào có giới đức, đạo hạnh trong sạch, thanh cao, cao thượng hơn mình thì hãy làm bạn với họ, nếu không tìm ra người hơn mình thì hãy làm bạn với người ngang bằng với mình về giới đức, thiền định, trí tuệ. Ngược lại làm bạn với ác là những người không tu tập tâm, tuệ, giới mà mình qua lại với những người đó thì các bất thiện chưa sanh sẽ sanh khởi và bất thiện đã sanh sẽ tăng trưởng. Cho nên việc qua lại, giao du với mọi người là tuyệt đối quan trọng.
Trong ca dao dục ngữ có câu "gần mực thì đen, gần đèn thì sáng". Chúng ta cần nhớ phương pháp xông ướp, tức là để những hạt long não vào tủ kinh sách, thời gian sau lấy kinh sách ra có mùi thơm; hoặc là để xà bông thơm vào quần áo thì lâu ngày quần áo sẽ có mùi thơm của xà bông đó. Đó cũng là lợi ích làm bạn với thiện, được xông ướp, được thấm nhuần bởi những điều thiện lành. Nếu gần gũi với các vị có đời sống cao thượng, thanh cao thì tự nhiên mình cũng sẽ hướng đến đó. Còn giao du với người hạ liệt, thấp kém, mục đích đời sống của họ chỉ đi tìm những tham muốn, ưa thích, dục vọng thì chúng ta sẽ không có được pháp tăng thượng, hướng thượng, cao thượng. Nếu giao du với người ưa thích thiền định, hoan hỉ, thích thú, an lạc trong việc ngồi thiền thì chắc chắn chúng ta sẽ được nghe, được học hỏi trong việc ngồi thiền. Nếu giao du với người tu tập trí tuệ, thường xuyên suy tư, quán chiếu, nghiền ngẫm hoặc đọc những lời pháp của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya thì mình sẽ được nghe những lời đó và sẽ thấm nhuần, tẩm ướp bởi pháp thủy – dòng nước Chánh Pháp. Hoặc tự thân mình luôn làm bạn với thiện bằng cách đọc các bộ tạng kinh Nikāya, những bài pháp, những bộ đại tạng kinh đó và những vị tu học trong con đường này giảng đúng Chánh Pháp cũng chính là những người bạn chí thiện của mình.
Chúng ta không được xa rời pháp, nhất là các Phật tử trong đạo tràng Nikāya. Mỗi một ngày ít nhất phải có một thời nghe pháp, ngồi thiền, Như lý tác ý. Mọi người có duyên tu tập trên núi là hằng ngày được xông ướp, thấm nhuần, tưới tẩm, gội rửa với pháp bằng việc làm bạn với thiện, như vậy những ác pháp trong tâm mình được giảm thiểu, nhiếp phục, đoạn tận trên từng phương diện. Chúng ta cũng đừng tham muốn đòi hỏi kết quả quá sức vì "dục tốc bất đạt". Phải nhìn nhận vấn đề chính xác trong thân tâm, xem cái nào đã có phần nhiếp phục được, cái nào đang nhiếp phục và cái nào chưa nhiếp phục được. Chúng ta đừng mong muốn mới vào tu trong thời gian ngắn mà muốn nhiếp phục hết tham, sân, si, đó là mình tu trong cái dục chứ không phải tu trong trí tuệ, vì trí tuệ là thấy biết một cách đúng như thật, gọi là như thật giác sát để mình tu học.
Chúng ta không được tu trong cái tham, cái dục, không được tu trong cái mê, không biết không thấy, cũng không được tu trong ảo tưởng mà phải tu trong sự như thật giác sát. “Giác” là tỉnh giác, “sát” là quán sát, “như thật” là đúng với sự thật. Tức là người tu phải tỉnh giác và quán sát đúng như sự thật nội tâm của mình đang như thế nào, tập nghiệp, phiền não, lậu hoặc của mình đang như thế nào, cái nào mình đã nhiếp phục được, cái nào đang nhiếp phục, cái nào chưa nhiếp phục, và bằng sự làm bạn với thiện mà mình quay trở lại để tu tập cái tâm của mình. Nếu mình hệ lụy với các pháp bất thiện thì các thiện pháp đi đến đoạn tận, pháp ác được sanh. Cho nên chữ "hệ lụy" là liên hệ với các pháp ác, bất thiện thì làm cho mình khổ lụy; còn liên hệ với pháp thiện thì làm cho mình đi đến chỗ từ từ nhiếp phục các cấu nhiễm.
Lợi ích của việc làm bạn với thiện
"Như vậy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử Siva, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Siva nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chỉ tốt hơn, không xấu.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tuệ, không gì khác.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Không sầu giữa sầu muộn.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chói sáng giữa quyến thuộc.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền
Chúng sanh thường hưởng lạc.
Rồi Thế Tôn đáp lại Thiên tử Siva với bài kệ:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau.
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, I. Siva)
Bài kinh này chúng ta cần đọc tụng vì nó giống như điệp khúc. Vị thiên tử này tu tập các thiện pháp, những phước lành, được thân cận với các bậc hiền trí, hiền Thánh nên mới trở thành thiên tử. Chư Thiên khác với người thường ở chỗ họ biết được kiếp trước của họ như thế nào, cho nên những gì họ nói ra là do trí tuệ đã trải nghiệm trong đời trước và họ đến trước mặt Thế Tôn tán thán, cảm thán.
Điều thứ nhất cho chúng ta biết rằng, nếu thân cận, gần gũi người lành, người thiện là mình biết được phép màu, “chỉ tốt chứ không xấu”. Nhưng thân cận không có nghĩa là ở sát nhau 24/24, mà thân cận ở đây là sự để tâm học hỏi, vì dù cho ở kề cạnh nhưng không để tâm học hỏi cũng giống như cái muỗng trong tô canh, còn để tâm học hỏi thì ở xa cũng giống cái lưỡi với vị canh. Cái muỗng để trong tô canh thì làm sao biết được vị canh, cũng như ở gần được chỉ dạy không nghe thì cũng như cái muỗng trong tô canh. Cho nên chỗ quan trọng là phải để tâm như cái lưỡi trong tô canh, chỉ cần nếm một chút thôi cũng biết mặn ngọt như thế nào, cũng vậy, biết diệu pháp người hiền thì chỉ tốt hơn chứ không xấu đi. Cho nên, chữ "thân cận" cần phải hiểu là để tâm và lắng nghe để học hỏi. Mình nhìn oai nghi, cử chỉ của thầy như thế nào để học theo, nhìn huynh đệ, tỉ muội có tánh hi sinh, hiền lành, chịu khó thì phải học hỏi theo đó. Có nhiều trường hợp ở chung với nhau rồi chỉ thấy lỗi của nhau, ở gần bậc Thánh nhân, bậc hiền trí mà chỉ thấy lỗi của họ là do tâm của mình là tâm cấu uế, lậu hoặc, cái tâm thích moi móc những khuyết điểm, tâm này sẽ hại mình đọa ba đường ác.
"Kẻ thù hại kẻ thù,
Oan gia hại oan gia,
Không bằng tâm hướng tà,
Gây ác cho tự thân".
(Kinh Pháp cú 03 – phẩm Tâm, kệ 42)
Cái tâm moi móc nhìn những lỗi xấu dở của những bậc thiện tri thức, những bậc đạo hạnh, những bậc huynh đệ, tỉ muội là cái tâm rất ác, xấu xa, bẩn thỉu. Cái tâm đó sẽ không học được gì cả vì chỉ lo nhìn người ta để tìm cái xấu dở. Một cái tâm vô minh, cấu nhiễm được Đức Phật ví dụ như tô nước có đầy thuốc nhuộm nên tô nước này không trong sạch. Tâm có tham ái, sân hận giống như nồi nước sôi ùng ục hoặc giống như hồ nước bị phủ rong rêu sẽ không thấy được gì cả.
Cho nên tâm nhiếp phục được năm triền cái trở nên trong sáng thì nhìn nhận vấn đề mới đúng như thật, còn tâm có thành kiến với ai thì không bao giờ nhìn thấy cái gì tốt từ họ. Như câu tục ngữ "yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười" hoặc "thương nhau thương cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng", "thương nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau bồ hòn cũng méo". Sự thương ghét đó có thể bẻ cong sự thật, làm cho cái nhìn của mình không chân thật đúng với sự thật. Vì thế, trong bài kinh “Tất Cả Lậu Hoặc” của Trung Bộ Kinh, Đức Phật dùng từ “như lý giác sát” và “như lý tác ý” là cực kì quan trọng.
Như lý giác sát là một sự tỉnh giác quán sát đúng như sự thật của vấn đề, muốn như vậy thì tâm không được có thành kiến với đối tượng đó, nếu mình thương hoặc ghét hay nghi ngờ một ai đó thì sẽ nhìn họ không đúng với sự thật. Cho nên trong sự tu hành phải xem mình có bị tâm như vậy không rồi mới nhìn ra bên ngoài, vì nếu nhìn bằng tâm đó thì mình sẽ không thấy được sự thật, chỉ toàn nhìn thấy cái xấu, cái dở của người ta thôi nên mình tu sẽ không tiến bộ được. Vì thế với cái tâm chân thành, trung thực, trong sáng mới nhìn ra người hiền thiện và chỉ tốt hơn chứ không xấu đi.
Điều thứ hai, thân cận người thiện thì chúng ta sẽ “có trí tuệ”. Từ ngày đi vào Chánh Pháp cho đến hôm nay mình có được sự thành tựu trí tuệ so với lúc trước, đó là nhờ thân cận người lành, gần gũi người thiện, biết được diệu pháp người hiền sẽ có được trí tuệ. Còn nếu cứ nhìn trên lậu tận là sẽ khổ hoài, sẽ tu không nổi. Chúng ta phải nhìn vào hiện thực, phải thấy được những pháp đã đạt được, cái nào chưa thành tựu thì phải biết mình chưa thành tựu, cái nào có thành tựu được phần nào thì mình cũng phải thấy được. Chúng ta thấy được năm uẩn, thấy các cảm thọ, thấy được sự vận hành của tham, sân, si, bản ngã… những cái này là do gần gũi người lành, thân cận người thiện, biết diệu pháp người hiền. Đây cũng là lý do mình phải tu tập tâm hiền, trong kinh Nikāya dùng từ "hiền" rất nhiều xuyên suốt các bài kinh như "hiền giả", "người hiền", trong Tăng Chi Bộ Đức Phật cũng nói phải thành tựu pháp trở thành người hiền. Cho nên trong giai đoạn tu tập tâm hiền, tâm từ phải có cảm thọ, cảm xúc.
Lợi ích thứ ba, khi thân cận người hiền trí là "không sầu giữa sầu muộn", tức là gần người hiền học được diệu pháp sẽ trở thành người không sầu giữa những sầu muộn. Bây giờ có biết bao người đang khổ đau, ưu não, chỉ cần chúng ta trú trong pháp thì ngay đó mình trở thành người "không sầu giữa sầu muộn", còn khi chúng ta không trú trong pháp, tâm hướng ngoại thì chúng ta tuy thân viễn ly nhưng tâm không viễn ly nên vẫn sầu muộn, phiền não.
Chị em vào bếp nấu ăn mà mỗi người mỗi ý sẽ có buồn phiền, giận hờn nhưng mình cần tác ý "cái này có gì đâu, không có gì quan trọng nên hãy an tịnh, lắng dịu đi, ngọt ngào đi. Bên ngoài người ta chết chóc đầy rẫy còn mình có một vài câu nói thì có gì đâu để hơn thua với nhau, mình là người hiền, nên thương nhau, tha thứ cho nhau". Tác ý như vậy là buông xả dễ chịu, nhìn người làm cho mình khó chịu bằng cặp mắt thương mến. Trong kinh Phổ Môn có câu tán thán Đức Quán Thế Âm "từ nhãn thị chúng sanh", nghĩa là nhìn tất cả sự sống bằng đôi mắt thương, dù cho người đó làm mình bực bội, tức giận nhưng chúng ta nhiếp phục, giải tỏa cảm thọ đó, trú vào tâm từ, bao phủ người đó bằng từ tâm và nhìn họ bằng con mắt thương thì đó gọi là "không sầu giữa sầu muộn". Giữa huynh đệ với nhau cũng vậy, mình đang nói vậy mà có người bảo mình nói sai rồi, khi đó phải nhìn lại nội tâm mới thấy cảm giác sanh khởi ra sao, còn không nhìn lại là lập tức sân giận, khó chịu.
Cho nên, tu mà không khéo thì sẽ giống như dân làm ăn kinh doanh, lời lỗ tính sòng phẳng, đó là do không biết tu. Còn khi biết thân cận người lành, gần gũi người thiện, biết diệu pháp người hiền nên "chói sáng giữ quyến thuộc", đó cũng là lợi ích thứ tư khi làm bạn với thiện. Đây là những pháp để mình thực tập tâm hiền, “Làm bạn với thiện” cũng vẫn có thể trở thành đề tài thiền quán. Người hiền thiện đi đến đâu chiếu sáng đến đó nhưng chỉ có người hiền để tâm mới thấy ánh sáng đó, đây là chỗ đặc biệt, còn người không để tâm tu học tâm hiền từ, hiền lương, hiền đức thì người đó cũng sẽ không thấy ánh sáng của người hiền thiện. Ông Năm – thầy Pháp An bây giờ là tấm gương, là ánh sáng để tất cả mọi người bà con nhìn vào, đó là nhờ thân cận với đại chúng, thân cận với quý thầy, quý sư cô hiền thiện, thân cân với bậc thiện tri thức để học hỏi giáo pháp nên bây giờ thầy Pháp An trở thành "chói sáng giữa quyến thuộc". Chúng ta cần chiêm nghiệm câu kinh này để làm đề tài thiền quán.
Hãy thân với người lành
Hãy gần gũi người thiện
Biết diệu pháp người hiền
Chói sáng giữa quyến thuộc
Khi tu thì chúng ta thấy bản thân vẫn còn nhiều điều xấu hổ, hổ thẹn nhưng khi trở về gia đình là mình chói sáng, bừng sáng giữa bà con quyến thuộc. Mình đừng tự ti, đây là chỗ để mình thấy được giá trị của làm bạn với thiện, giá trị của thiện pháp, Chánh Pháp, Thánh pháp. Nếu chúng ta chỉ nhìn theo một chiều thì sẽ không tu được, mà phải nhìn theo chiều hướng tích cực, nhìn những cái mình đã nhiếp phục, đã học hỏi được và mình bừng sáng giữa bà con quyến thuộc là nhờ làm việc với thiện. Hình ảnh những Phật tử trong đạo tràng Nikāya quỳ xuống khóc lóc sám hối, những dòng nước mắt, những cảm thọ trào dâng khi thấy tội lỗi xấu ác thì đó là lúc mình chói sáng giữa đại chúng, giữa bà con, chói sáng giữa kiếp nhân sinh. Trước đây mình chưa từng có những điều đó nhưng nhờ thân người lành, gần với người thiện, học diệu pháp người hiền mà chúng ta được chói sáng như vậy. Những gương mặt ngồi đây là những gương mặt hiền thiện, hiền lành hơn so với lúc chưa tu, chưa học.
./.
LÀM BẠN VỚI THIỆN 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tâm nguyện trong đại dịch PAGEREF _Toc79395782 \h 1
II.Làm bạn với thiện PAGEREF _Toc79395783 \h 1
1.Gần lành tránh ác PAGEREF _Toc79395784 \h 2
2.Lợi ích của việc làm bạn với thiện PAGEREF _Toc79395785 \h 6
Tâm nguyện trong đại dịch
Kính thưa quý thầy, kính thưa đại chúng và tất cả các Phật tử trong đạo tràng Nikāya từ các nơi. Hiện tại đang là mùa an cư kiết hạ năm 2021 Tân Sửu và chúng ta ở tại Linh Quy Pháp Ấn, thôn 4, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn đất nước cũng như cả thế giới phải gánh chịu dịch bệnh rất khốn khổ, khó khăn. Chúng ta là những người đệ tử Phật xuất gia, tại gia nhìn thấy hình ảnh của các bác sĩ, các y sĩ, điều dưỡng mình cũng không cầm lòng được, những bác sĩ vẫn còn rất trẻ phải cạo mái tóc để ra tuyến đầu chống dịch ở Bắc Giang. Có những bác sĩ, điều dưỡng đã ngất xỉu trong thời tiết oi bức, gay gắt của mùa hè. Có những người quá mệt mỏi phải nằm ngủ ngoài đường lộ hoặc ngay trong xe cấp cứu vì suốt đêm đưa người cần cách ly, người bị bệnh đến nơi cần đến.
Chúng ta rất xót xa khi thấy những hình ảnh đó, nhưng vì mình tu nên không thể làm được những việc như thế. Tuy nhiên, tấm lòng chúng ta luôn hướng về sự đau khổ của bà con, của đồng bào, của nhân loại trên toàn thế giới với sự từ tâm, sự đồng cảm, thấu hiểu, thương yêu. Dù rằng chúng ta đang ở núi rừng xa vắng nhưng cũng thắp lên từ tâm, tình thương bằng sự cúng dường Pháp bảo. Trước hết là để nhắc nhở cho tự thân mình an trú vào Chánh Pháp, tinh tấn hành trì pháp. Thứ hai là lan tỏa Chánh Pháp này đến Phật tử ở các đạo tràng Nikāya đang chịu dịch bệnh không thể tập trung tu học. Mong mọi người có thể cùng chúng ta an trú trong pháp, tâm bớt lo lắng, sợ hãi, bất an. Mong đem lại sự bình an cho các Phật tử trong đạo tràng cũng như tất cả những người có duyên với giáo pháp này. Mong rằng những lời dạy chân chánh, những sự thật bất diệt này sẽ thấm nhuần vào tâm chúng ta, tâm của hữu tình trong khắp trời đất rộng lớn này.
Làm bạn với thiện
Trong sự tu học của chúng ta, Đức Thế Tôn thường xuyên nhắc nhở việc làm bạn với thiện là một pháp tuyệt đối quan trọng. Làm bạn là giao tiếp, gần gũi, thân cận, lắng nghe, học hỏi, chia sẻ và việc làm bạn với thiện này có khả năng đưa chúng ta đến với sự tỉnh thức, với sự giác ngộ, chánh giác. Có một lần, Ngài Anan thưa hỏi Đức Phật rằng, một nửa phạm hạnh là từ nơi thiện bạn hữu, từ nơi bạn lành thì Đức Thế Tôn nói là toàn bộ phạm hạnh này đều nhờ từ nơi bạn lành, thiện tri thức, cho nên việc làm bạn với thiện rất quan trọng và thiết yếu.
"Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.
-- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn.
Và này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỳ-kheo tu tập chánh tư duy... tu tập chánh ngữ... tu tập chánh nghiệp... tu tập chánh mạng... tu tập chánh tinh tấn... tu tập chánh niệm... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này Ananda, là Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)
Chúng ta sẽ nghe lại lời dạy của Đức Phật để chúng ta thấy được giá trị, lợi ích của việc tu học làm bạn với thiện. Trong tất cả cái thiện thì Thánh pháp là chí thiện và chúng ta thường nghe pháp, hỏi pháp, chia sẻ pháp, trình bày, suy tư, quán chiếu pháp cũng là một hình thức làm bạn với thiện để đưa đến chánh giác.
Gần lành tránh ác
Bài kinh “Làm bạn với thiện”, Tăng Chi Bộ, tập I:
"- Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như làm bạn với thiện. Với người làm bạn với thiện, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như hệ lụy với các pháp bất thiện, và không hệ lụy với các pháp thiện. Do hệ lụy với các pháp bất thiện, này các Tỳ-kheo, do không hệ lụy với các pháp thiện, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn tận.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận, này các Tỳ-kheo, như hệ lụy với các pháp thiện, không hệ lụy với các pháp bất thiện. Do hệ lụy với các pháp thiện, này các Tỳ-kheo, do không hệ lụy với các pháp bất thiện, nên các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các giác chi chưa sanh không sanh khởi, và các giác chi đã sanh không đi đến tu tập viên mãn, này các Tỳ-kheo, như không như lý tác ý. Do không như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, các giác chi chưa sanh không được sanh khởi, và các giác chi đã sanh không đi đến tu tập viên mãn.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các giác chi chưa sanh được sanh khởi và các giác chi đã sanh đi đến tụ tập viên mãn, này các Tỳ-kheo, như như lý tác ý. Do như lý tác ý, này các Tỷ kheo các giác chi chưa sanh được sanh khởi, và các giác chi đã sanh đi đến tu tập viên mãn.
Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những mất mát này, như mất mát bà con. Cái này là khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỳ-kheo, tức là mất mát trí tuệ.
Ít có giá trị, này các Tỳ-kheo, là những tăng trưởng này, như tăng trưởng bà con. Cái này là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, tức là tăng trưởng trí tuệ". (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, VIII. Phẩm Làm Bạn Với Thiện, 1-11 Làm Bạn Với Thiện)
Đức Thế Tôn nói Ngài không thấy một pháp nào khác mà do pháp ấy nên các thiện pháp chưa sanh được sanh khởi giống như làm bạn với thiện. Và Ngài không thấy một pháp nào khác mà các pháp bất thiện đã sanh được đoạn tận giống như làm bạn với thiện. Như vậy, làm bạn với thiện các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi và các pháp bất thiện được đoạn tận. Nghĩa là làm bạn với thiện thì các pháp lành chưa có bây giờ sẽ có, một người làm bạn với thiện sẽ có các pháp lành trước nay chưa từng có, một người làm bạn với thiện thì những pháp ác trong người đó sẽ được chấm dứt, như vậy làm bạn với thiện cái ác chấm dứt và cái thiện được sanh khởi. Với người làm bạn với thiện những pháp lành mình chưa có sẽ sanh khởi ra, còn những pháp xấu ác trong người mình sẽ đi đến chỗ chấm dứt.
Trong một bài kinh khác, Đức Phật dạy cách làm bạn với thiện là tìm người có giới – định – tuệ ngang bằng hoặc vượt hơn mình để làm bạn với họ. Người nào có giới đức, đạo hạnh trong sạch, thanh cao, cao thượng hơn mình thì hãy làm bạn với họ, nếu không tìm ra người hơn mình thì hãy làm bạn với người ngang bằng với mình về giới đức, thiền định, trí tuệ. Ngược lại làm bạn với ác là những người không tu tập tâm, tuệ, giới mà mình qua lại với những người đó thì các bất thiện chưa sanh sẽ sanh khởi và bất thiện đã sanh sẽ tăng trưởng. Cho nên việc qua lại, giao du với mọi người là tuyệt đối quan trọng.
Trong ca dao dục ngữ có câu "gần mực thì đen, gần đèn thì sáng". Chúng ta cần nhớ phương pháp xông ướp, tức là để những hạt long não vào tủ kinh sách, thời gian sau lấy kinh sách ra có mùi thơm; hoặc là để xà bông thơm vào quần áo thì lâu ngày quần áo sẽ có mùi thơm của xà bông đó. Đó cũng là lợi ích làm bạn với thiện, được xông ướp, được thấm nhuần bởi những điều thiện lành. Nếu gần gũi với các vị có đời sống cao thượng, thanh cao thì tự nhiên mình cũng sẽ hướng đến đó. Còn giao du với người hạ liệt, thấp kém, mục đích đời sống của họ chỉ đi tìm những tham muốn, ưa thích, dục vọng thì chúng ta sẽ không có được pháp tăng thượng, hướng thượng, cao thượng. Nếu giao du với người ưa thích thiền định, hoan hỉ, thích thú, an lạc trong việc ngồi thiền thì chắc chắn chúng ta sẽ được nghe, được học hỏi trong việc ngồi thiền. Nếu giao du với người tu tập trí tuệ, thường xuyên suy tư, quán chiếu, nghiền ngẫm hoặc đọc những lời pháp của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya thì mình sẽ được nghe những lời đó và sẽ thấm nhuần, tẩm ướp bởi pháp thủy – dòng nước Chánh Pháp. Hoặc tự thân mình luôn làm bạn với thiện bằng cách đọc các bộ tạng kinh Nikāya, những bài pháp, những bộ đại tạng kinh đó và những vị tu học trong con đường này giảng đúng Chánh Pháp cũng chính là những người bạn chí thiện của mình.
Chúng ta không được xa rời pháp, nhất là các Phật tử trong đạo tràng Nikāya. Mỗi một ngày ít nhất phải có một thời nghe pháp, ngồi thiền, Như lý tác ý. Mọi người có duyên tu tập trên núi là hằng ngày được xông ướp, thấm nhuần, tưới tẩm, gội rửa với pháp bằng việc làm bạn với thiện, như vậy những ác pháp trong tâm mình được giảm thiểu, nhiếp phục, đoạn tận trên từng phương diện. Chúng ta cũng đừng tham muốn đòi hỏi kết quả quá sức vì "dục tốc bất đạt". Phải nhìn nhận vấn đề chính xác trong thân tâm, xem cái nào đã có phần nhiếp phục được, cái nào đang nhiếp phục và cái nào chưa nhiếp phục được. Chúng ta đừng mong muốn mới vào tu trong thời gian ngắn mà muốn nhiếp phục hết tham, sân, si, đó là mình tu trong cái dục chứ không phải tu trong trí tuệ, vì trí tuệ là thấy biết một cách đúng như thật, gọi là như thật giác sát để mình tu học.
Chúng ta không được tu trong cái tham, cái dục, không được tu trong cái mê, không biết không thấy, cũng không được tu trong ảo tưởng mà phải tu trong sự như thật giác sát. “Giác” là tỉnh giác, “sát” là quán sát, “như thật” là đúng với sự thật. Tức là người tu phải tỉnh giác và quán sát đúng như sự thật nội tâm của mình đang như thế nào, tập nghiệp, phiền não, lậu hoặc của mình đang như thế nào, cái nào mình đã nhiếp phục được, cái nào đang nhiếp phục, cái nào chưa nhiếp phục, và bằng sự làm bạn với thiện mà mình quay trở lại để tu tập cái tâm của mình. Nếu mình hệ lụy với các pháp bất thiện thì các thiện pháp đi đến đoạn tận, pháp ác được sanh. Cho nên chữ "hệ lụy" là liên hệ với các pháp ác, bất thiện thì làm cho mình khổ lụy; còn liên hệ với pháp thiện thì làm cho mình đi đến chỗ từ từ nhiếp phục các cấu nhiễm.
Lợi ích của việc làm bạn với thiện
"Như vậy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử Siva, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Siva nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chỉ tốt hơn, không xấu.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Ðược tuệ, không gì khác.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Không sầu giữa sầu muộn.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chói sáng giữa quyến thuộc.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Chúng sanh sanh thiện thú.
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền
Chúng sanh thường hưởng lạc.
Rồi Thế Tôn đáp lại Thiên tử Siva với bài kệ:
Hãy thân với người lành,
Hãy gần gũi người thiện,
Biết diệu pháp người hiền,
Giải thoát mọi khổ đau.
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương II. Tương Ưng Thiên Tử, III. Phẩm Các Ngoại Ðạo, I. Siva)
Bài kinh này chúng ta cần đọc tụng vì nó giống như điệp khúc. Vị thiên tử này tu tập các thiện pháp, những phước lành, được thân cận với các bậc hiền trí, hiền Thánh nên mới trở thành thiên tử. Chư Thiên khác với người thường ở chỗ họ biết được kiếp trước của họ như thế nào, cho nên những gì họ nói ra là do trí tuệ đã trải nghiệm trong đời trước và họ đến trước mặt Thế Tôn tán thán, cảm thán.
Điều thứ nhất cho chúng ta biết rằng, nếu thân cận, gần gũi người lành, người thiện là mình biết được phép màu, “chỉ tốt chứ không xấu”. Nhưng thân cận không có nghĩa là ở sát nhau 24/24, mà thân cận ở đây là sự để tâm học hỏi, vì dù cho ở kề cạnh nhưng không để tâm học hỏi cũng giống như cái muỗng trong tô canh, còn để tâm học hỏi thì ở xa cũng giống cái lưỡi với vị canh. Cái muỗng để trong tô canh thì làm sao biết được vị canh, cũng như ở gần được chỉ dạy không nghe thì cũng như cái muỗng trong tô canh. Cho nên chỗ quan trọng là phải để tâm như cái lưỡi trong tô canh, chỉ cần nếm một chút thôi cũng biết mặn ngọt như thế nào, cũng vậy, biết diệu pháp người hiền thì chỉ tốt hơn chứ không xấu đi. Cho nên, chữ "thân cận" cần phải hiểu là để tâm và lắng nghe để học hỏi. Mình nhìn oai nghi, cử chỉ của thầy như thế nào để học theo, nhìn huynh đệ, tỉ muội có tánh hi sinh, hiền lành, chịu khó thì phải học hỏi theo đó. Có nhiều trường hợp ở chung với nhau rồi chỉ thấy lỗi của nhau, ở gần bậc Thánh nhân, bậc hiền trí mà chỉ thấy lỗi của họ là do tâm của mình là tâm cấu uế, lậu hoặc, cái tâm thích moi móc những khuyết điểm, tâm này sẽ hại mình đọa ba đường ác.
"Kẻ thù hại kẻ thù,
Oan gia hại oan gia,
Không bằng tâm hướng tà,
Gây ác cho tự thân".
(Kinh Pháp cú 03 – phẩm Tâm, kệ 42)
Cái tâm moi móc nhìn những lỗi xấu dở của những bậc thiện tri thức, những bậc đạo hạnh, những bậc huynh đệ, tỉ muội là cái tâm rất ác, xấu xa, bẩn thỉu. Cái tâm đó sẽ không học được gì cả vì chỉ lo nhìn người ta để tìm cái xấu dở. Một cái tâm vô minh, cấu nhiễm được Đức Phật ví dụ như tô nước có đầy thuốc nhuộm nên tô nước này không trong sạch. Tâm có tham ái, sân hận giống như nồi nước sôi ùng ục hoặc giống như hồ nước bị phủ rong rêu sẽ không thấy được gì cả.
Cho nên tâm nhiếp phục được năm triền cái trở nên trong sáng thì nhìn nhận vấn đề mới đúng như thật, còn tâm có thành kiến với ai thì không bao giờ nhìn thấy cái gì tốt từ họ. Như câu tục ngữ "yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười" hoặc "thương nhau thương cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng", "thương nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau bồ hòn cũng méo". Sự thương ghét đó có thể bẻ cong sự thật, làm cho cái nhìn của mình không chân thật đúng với sự thật. Vì thế, trong bài kinh “Tất Cả Lậu Hoặc” của Trung Bộ Kinh, Đức Phật dùng từ “như lý giác sát” và “như lý tác ý” là cực kì quan trọng.
Như lý giác sát là một sự tỉnh giác quán sát đúng như sự thật của vấn đề, muốn như vậy thì tâm không được có thành kiến với đối tượng đó, nếu mình thương hoặc ghét hay nghi ngờ một ai đó thì sẽ nhìn họ không đúng với sự thật. Cho nên trong sự tu hành phải xem mình có bị tâm như vậy không rồi mới nhìn ra bên ngoài, vì nếu nhìn bằng tâm đó thì mình sẽ không thấy được sự thật, chỉ toàn nhìn thấy cái xấu, cái dở của người ta thôi nên mình tu sẽ không tiến bộ được. Vì thế với cái tâm chân thành, trung thực, trong sáng mới nhìn ra người hiền thiện và chỉ tốt hơn chứ không xấu đi.
Điều thứ hai, thân cận người thiện thì chúng ta sẽ “có trí tuệ”. Từ ngày đi vào Chánh Pháp cho đến hôm nay mình có được sự thành tựu trí tuệ so với lúc trước, đó là nhờ thân cận người lành, gần gũi người thiện, biết được diệu pháp người hiền sẽ có được trí tuệ. Còn nếu cứ nhìn trên lậu tận là sẽ khổ hoài, sẽ tu không nổi. Chúng ta phải nhìn vào hiện thực, phải thấy được những pháp đã đạt được, cái nào chưa thành tựu thì phải biết mình chưa thành tựu, cái nào có thành tựu được phần nào thì mình cũng phải thấy được. Chúng ta thấy được năm uẩn, thấy các cảm thọ, thấy được sự vận hành của tham, sân, si, bản ngã… những cái này là do gần gũi người lành, thân cận người thiện, biết diệu pháp người hiền. Đây cũng là lý do mình phải tu tập tâm hiền, trong kinh Nikāya dùng từ "hiền" rất nhiều xuyên suốt các bài kinh như "hiền giả", "người hiền", trong Tăng Chi Bộ Đức Phật cũng nói phải thành tựu pháp trở thành người hiền. Cho nên trong giai đoạn tu tập tâm hiền, tâm từ phải có cảm thọ, cảm xúc.
Lợi ích thứ ba, khi thân cận người hiền trí là "không sầu giữa sầu muộn", tức là gần người hiền học được diệu pháp sẽ trở thành người không sầu giữa những sầu muộn. Bây giờ có biết bao người đang khổ đau, ưu não, chỉ cần chúng ta trú trong pháp thì ngay đó mình trở thành người "không sầu giữa sầu muộn", còn khi chúng ta không trú trong pháp, tâm hướng ngoại thì chúng ta tuy thân viễn ly nhưng tâm không viễn ly nên vẫn sầu muộn, phiền não.
Chị em vào bếp nấu ăn mà mỗi người mỗi ý sẽ có buồn phiền, giận hờn nhưng mình cần tác ý "cái này có gì đâu, không có gì quan trọng nên hãy an tịnh, lắng dịu đi, ngọt ngào đi. Bên ngoài người ta chết chóc đầy rẫy còn mình có một vài câu nói thì có gì đâu để hơn thua với nhau, mình là người hiền, nên thương nhau, tha thứ cho nhau". Tác ý như vậy là buông xả dễ chịu, nhìn người làm cho mình khó chịu bằng cặp mắt thương mến. Trong kinh Phổ Môn có câu tán thán Đức Quán Thế Âm "từ nhãn thị chúng sanh", nghĩa là nhìn tất cả sự sống bằng đôi mắt thương, dù cho người đó làm mình bực bội, tức giận nhưng chúng ta nhiếp phục, giải tỏa cảm thọ đó, trú vào tâm từ, bao phủ người đó bằng từ tâm và nhìn họ bằng con mắt thương thì đó gọi là "không sầu giữa sầu muộn". Giữa huynh đệ với nhau cũng vậy, mình đang nói vậy mà có người bảo mình nói sai rồi, khi đó phải nhìn lại nội tâm mới thấy cảm giác sanh khởi ra sao, còn không nhìn lại là lập tức sân giận, khó chịu.
Cho nên, tu mà không khéo thì sẽ giống như dân làm ăn kinh doanh, lời lỗ tính sòng phẳng, đó là do không biết tu. Còn khi biết thân cận người lành, gần gũi người thiện, biết diệu pháp người hiền nên "chói sáng giữ quyến thuộc", đó cũng là lợi ích thứ tư khi làm bạn với thiện. Đây là những pháp để mình thực tập tâm hiền, “Làm bạn với thiện” cũng vẫn có thể trở thành đề tài thiền quán. Người hiền thiện đi đến đâu chiếu sáng đến đó nhưng chỉ có người hiền để tâm mới thấy ánh sáng đó, đây là chỗ đặc biệt, còn người không để tâm tu học tâm hiền từ, hiền lương, hiền đức thì người đó cũng sẽ không thấy ánh sáng của người hiền thiện. Ông Năm – thầy Pháp An bây giờ là tấm gương, là ánh sáng để tất cả mọi người bà con nhìn vào, đó là nhờ thân cận với đại chúng, thân cận với quý thầy, quý sư cô hiền thiện, thân cân với bậc thiện tri thức để học hỏi giáo pháp nên bây giờ thầy Pháp An trở thành "chói sáng giữa quyến thuộc". Chúng ta cần chiêm nghiệm câu kinh này để làm đề tài thiền quán.
Hãy thân với người lành
Hãy gần gũi người thiện
Biết diệu pháp người hiền
Chói sáng giữa quyến thuộc
Khi tu thì chúng ta thấy bản thân vẫn còn nhiều điều xấu hổ, hổ thẹn nhưng khi trở về gia đình là mình chói sáng, bừng sáng giữa bà con quyến thuộc. Mình đừng tự ti, đây là chỗ để mình thấy được giá trị của làm bạn với thiện, giá trị của thiện pháp, Chánh Pháp, Thánh pháp. Nếu chúng ta chỉ nhìn theo một chiều thì sẽ không tu được, mà phải nhìn theo chiều hướng tích cực, nhìn những cái mình đã nhiếp phục, đã học hỏi được và mình bừng sáng giữa bà con quyến thuộc là nhờ làm việc với thiện. Hình ảnh những Phật tử trong đạo tràng Nikāya quỳ xuống khóc lóc sám hối, những dòng nước mắt, những cảm thọ trào dâng khi thấy tội lỗi xấu ác thì đó là lúc mình chói sáng giữa đại chúng, giữa bà con, chói sáng giữa kiếp nhân sinh. Trước đây mình chưa từng có những điều đó nhưng nhờ thân người lành, gần với người thiện, học diệu pháp người hiền mà chúng ta được chói sáng như vậy. Những gương mặt ngồi đây là những gương mặt hiền thiện, hiền lành hơn so với lúc chưa tu, chưa học.
./.