Nhận Diện Thân Tâm 18 - Tóm Tắt Thánh Trí 5 Uẩn
Tinh Hoa Nikāya
Nhận Diện Thân Tâm 18
Tóm Tắt Thánh Trí 5 Uẩn
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bậc Dự Lưu PAGEREF _Toc181285973 \h 1
II. Thân kiến – sắc thủ uẩn PAGEREF _Toc181285974 \h 3
III. Nguyên nhân sanh khởi ngũ uẩn PAGEREF _Toc181285975 \h 8
IV. Thấy biết tận tường bản chất của ngũ uẩn PAGEREF _Toc181285976 \h 9
I. Bậc Dự Lưu
Từ tiết đầu cho đến hôm nay cũng như những câu hỏi ôn thi thì chúng ta có điều gì cần hỏi thêm không? Nếu chúng ta không có câu hỏi thì con sẽ nói về tổng cương lĩnh của Thánh trí ngũ uẩn, nhân duyên không biết học kì tới chúng ta còn gặp nhau hay không cho nên các thầy không hỏi thì con sẽ tổng kết toàn bộ cương lĩnh của Thánh trí ngũ uẩn trong một buổi học hôm nay. Chúng ta sẽ căn cứ vào những bài kinh quan trọng trong Tương Ưng Bộ chứ chúng ta không dám tự ý đưa ra.
Tất cả theo tinh thần tu học theo kinh tạng Nikāya thì Đức Phật dạy rằng tuyệt đối không đưa ra tư kiến cá nhân, điều này rất quan trọng cho nên những bậc Thánh thời Đức Phật, từ ngài Maha Ca-diếp, ngài Xá-lợi-phất, ngài Mục-kiền-liên cho đến ngài Ananda khi nói điều gì cũng nói đây là lời dạy của Đức Thế Tôn, khi một vị Tỳ-kheo nêu ra điều gì đều nói Đức Thế Tôn có dạy cái này hay không, các ngài có nghe từ chính Đức Phật nói hay không thì mới dám thọ trì, tức là mới dám tiếp nhận và tu học, đó là cái chuẩn mực trong tạng kinh Nikāya. Còn chúng ta sau này học rất rộng trong khi thời Đức Phật thì chỉ thọ trì lời của ngài mà thôi, bây giờ chúng ta sẽ nghe bài kinh Bậc Dự Lưu trong Tương Ưng Bộ.
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm ? Sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn.
Này Ràdha, khi nào bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này. Vị này, này Ràdha, được gọi là vị Thánh đệ tử đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến cứu cánh bồ-đề" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, VII. Bậc Dự Lưu)
Bài kinh thứ hai là bài kinh Bậc A-La-Hán trong Tương Ưng Bộ, tập III.
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này Rdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn.
-- Này Ràdha, khi nào Tỷ-kheo sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy, gọi vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, VII. Bậc Dự Lưu)
Những gì quan trọng thì Đức Phật sẽ lặp tới lặp lui rất nhiều lần, cả một Tương Ưng Uẩn có rất nhiều bài kinh Đức Phật chỉ nói về ngũ uẩn.
"Bậc Dự lưu là vị đã thấy biết rõ về ngũ uẩn nhưng chưa thoát khỏi sự chi phối của ngũ uẩn. Còn bậc A-la-hán là vị đã thấy biết rõ về ngũ uẩn và đã hoàn toàn được giải thoát khỏi tất cả những chấp thủ đối với ngũ uẩn.
Hai bài kinh trên giúp ta xác quyết rằng: Trí về ngũ uẩn là đầu đuôi của sự tu tập. Từ quả Dự Lưu đến quả A-la-hán thì tất cả đều phải thành tựu Trí về ngũ uẩn" (Tóm tắt ngũ uẩn)
Bậc Dự Lưu tức là bậc Tu-đà-hoàn, là bậc đã thành tựu cái thấy biết của bậc Thánh gọi là Thánh tri kiến, từ Thánh quả thứ nhất cho đến Thánh quả thứ tư đầu đuôi của sự tu tập đều phải thấy biết rõ về ngũ uẩn và giải thoát khỏi ngũ uẩn, giải thoát khỏi sự chấp thủ trong ngũ uẩn đó. Chúng ta ở đây đã đôi phần thấy biết được ngũ uẩn, nếu mình có thực tập từ đầu học kì đến giờ, nếu người nào để tâm, siêng năng, thực tập nhận diện ngũ uẩn và nhìn ra các cảm thọ dục, ái, sân si, vô minh, bản ngã thì những vị đó bắt đầu thành tựu trí tuệ thấy biết về ngũ uẩn. Trong cảm thọ lạc có tham tùy miên trong đó, trong cảm thọ khổ có sân tùy miên, trong cảm thọ không khổ không vui có vô minh tùy miên hoặc si tùy miên. Tùy là đi theo, miên là miên man, tùy miên là đi theo miên man.
Đức Phật nói một vị Đa văn Thánh đệ tử biết đúng sự thật, biết một cách chính xác, thấu đáo, tận tường về vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly, sự đoạn diệt của năm thủ uẩn thì vị này gọi là vị Thánh đệ tử đã chứng Dự Lưu, không còn bị thối đọa và đạt đến cứu cánh giác ngộ Bồ-đề. Thánh quả Dự Lưu ở trong tầm tay của chúng ta, nếu là người nỗ lực nghe, tư duy, quán chiếu, học hỏi và thiền tập thì những điều chúng ta đã thấy biết từ buổi đầu cho đến nay là đủ để có thể thành tựu được chánh tri kiến. Sau đây chúng ta sẽ đi tới phần bốn Thánh trí về ngũ uẩn:
"Trí về Ngũ uẩn: Sự chấp thủ ngũ uẩn là những đau khổ, những phiền não về sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não cho các chúng sanh.
- Trí về Ngũ uẩn tập: Sự không thấy biết rõ ngũ uẩn là nguyên nhân đưa đến sự tái tạo ra những thân ngũ uẩn vô thường, phiền não, sanh tử và đau khổ này.
- Trí về Ngũ uẩn diệt: Khi vô minh được đoạn diệt, thành tựu trí thấy biết rõ về ngũ uẩn thì luân hồi sanh tử và phiền não được chấm dứt, sự tái tạo những thân ngũ uẩn sẽ được chấm dứt.
- Trí về Ngũ uẩn diệt đạo: Bát chánh đạo là phương pháp chân chánh, phương pháp đúng đắn đưa đến sự chấm dứt sanh tử, chấm dứt sự tái tạo ra những thân ngũ uẩn đầy phiền não, tham ái, dính mắc, vô thường, vô ngã và đau khổ" (Tóm tắt ngũ uẩn)
Bốn Thánh trí này là kết hợp Tứ Thánh Đế và ngũ uẩn để nêu lên trong cốt tủy của kinh tạng Nikāya. Trí đầu tiên là sự chấp thủ vào ngũ uẩn là những đau khổ, là những phiền não, tất cả chúng ta bị khổ đau, phiền não, sở dĩ có sanh ra, có già nua, bệnh tật, chết chóc, có sự lo lắng, bất an, sợ hãi là nguyên nhân là sự chấp thủ vào ngũ uẩn, tức là một cái tâm nắm giữ vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vì cái tâm nắm giữ này mà chúng ta có phiền não và khổ đau. Cái này rất rõ ràng, minh bạch như mặt trời, không có gì là khó hiểu, mơ hồ hay xa vời viễn vong.
II. Thân kiến – sắc thủ uẩn
Trong tâm chúng ta đang nắm giữ hình hài này, đó là sắc thủ uẩn, chữ "thủ" đó chính là chấp thủ. Vì chúng ta rất yêu thích, rất khoái, rất thích nắm giữ cái thân này cho nên chúng ta có thân này, đó là cái nhân của quá khứ và trong hiện tại là chúng ta tiếp tục yêu thích, khoan khoái nữa thì đó là tâm chấp thủ trong hiện tại đến khi cái thân này mất đi thì chúng ta đau khổ, sợ hãi, hoảng loạn và muốn có một cái thân giống như vậy nữa, đó là tâm chấp thủ trong ba thời, sắc thủ uẩn trong cả ba thời.
Trước kia tâm này nắm giữ vào trong hình hài này, bây giờ tâm cũng nắm giữ vào thân xác này, khi chúng ta nhắm mắt chuẩn bị ra đi thì tâm vẫn chấp thủ, vẫn muốn nắm giữ vào trong hình hài này, thân xác này, chính cái tâm nắm giữ đó làm chúng ta đau khổ vì nó là pháp biến hoại, pháp vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, bây giờ chúng ta nắm vào rồi cho sắc đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì làm sao chúng ta không đau khổ được.
Cho đến khi nào mình phá được sắc thủ uẩn, tức là phá được cái tâm nắm giữ, bám chấp, đam mê, say đắm vào trong hình hài này thì lúc đó mình mới giải thoát khỏi sắc. Nếu một người tu mà chưa từng quán bất tịnh, chưa từng thành tựu trí về cửu tưởng, không quán xác chết, không quán tứ đại thì người này không thể nào phá được sắc thủ uẩn vì đây là đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Giác, không lẽ có một người giỏi hơn Đức Phật hay sao?
Cho nên mình tu mà không quán bất tịnh, không quán tứ đại, không quán bất tịnh, không quán ba mươi hai thể trược thì không bao giờ có thể phá nổi sắc thủ uẩn, dù cho ở trong rừng một mình không tiếp xúc với ai nhưng trong thâm tâm thì cái tâm chấp thủ vẫn y nguyên, cũng cho sắc thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Mình chưa nhìn thấy được cái tâm đó, nó chính là nhân quả để tạo ra thân này, nó chính nhân duyên, là điều kiện để tạo ra cái thân này, do mình thích cái chuông thì nó mới có mặt ở đây, còn không thích thì mình đã quăng bỏ hoặc đem cho rồi, vì mình thích sắc, mình ưa sắc, mình khoái sắc, mình muốn sắc, mình nắm giữ trong sắc cho nên có ra sắc, đó là sắc thủ uẩn.
"-- Này Tỳ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỳ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: 'Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm)
Câu kinh này được Đức Phật nói lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong Tương Ưng Bộ, dùng trí tuệ này để phá cái tâm nắm giữ ở trong thân xác này cho nên dùng phép quán chín giai đoạn của một tử thi để phá hết tất cả hình tướng trong tâm, phá tất cả ảo ảnh về một tự ngã trong tâm, chỉ có như vậy mới phá được sắc ái này, mới phá được sắc thủ uẩn này cũng chính là phá dục tham.
Sự tu thâm sâu đến mức như vậy chứ không phải ngồi cho tâm yên là hết chuyện, dù tâm yên nhưng thâm sâu bên trong lại cho rằng sắc này là tôi, chưa tháo gỡ, đập vỡ được cái thân kiến, tức là cái kiến chấp về thân còn y nguyên dù cho có ngồi yên bao nhiêu năm, bao nhiêu kiếp đi nữa thì thân kiến vẫn còn nguyên cho nên các vị đạt được tứ thiền bát định vẫn có thể bị đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vì thân kiến chưa phá, thân kiến là kiến chấp về thân cũng là sắc thủ uẩn cũng là chấp ngã.
Chúng ta cần kiểm tra lại trong quá trình tu tập đã nhìn ra được thân kiến chưa, đã chạm đến sắc thủ uẩn chưa, có nhìn thấy tâm chấp thủ hằng ngày của mình trong sinh hoạt thường nhật chưa, trong khi người ta đụng vào mình thì lúc đó có nghĩ thân này không phải tôi, không phải của tôi, tôi làm nùi giẻ cho mọi người giẫm đạp được không. Cho nên sự tu học rất sâu sắc, chúng ta phải loại bỏ từng ý niệm, loại bỏ từng suy nghĩ, từng hình bóng, từng cảm giác, loại bỏ từng nhận thức, loại bỏ cho đến khi nào hết suy nghĩ tôi, của tôi, là tự ngã của tôi thì lúc đó mới thể nhập được Thánh trí tuệ, tức là trong tâm các bậc Thánh không có suy nghĩ cho rằng sắc này là tôi, là của tôi, phá bỏ luôn cả hình bóng ảo tưởng về tự ngã trong tâm.
Khi nói vài nữa là được về quê thăm nhà thì trong tâm có hình bóng của mình, có cảnh quê hiện ra, hình bóng đó chính là tự ngã, là thân kiến, là sắc tưởng của tự ngã. Khi nào nói về quê mà trong tâm không có bất kì hình bóng nào, trống rỗng, trống không, chẳng qua là sử dụng từ ngữ "tôi về quê" thôi, đó là sắc pháp đi, tứ đại đi chứ không có cái mình, cái ta, cái tôi trong đó thì mới có thể phá được thân kiến, cái ảo tưởng về tự ngã, phá luôn một ảo ảnh về tự thân mình ở trong tâm, đối với thọ; tưởng; hành; thức cũng vậy.
Chúng ta nhìn thấy được nhân duyên sanh diệt của nó, tại sao có ra cảm giác này, làm sao chấm dứt cảm giác này, đó là chúng ta nắm quyền chủ động trong tay chứ không phải ai làm cho mình chứng ngộ được. Mình thấy rõ được tại sao có hình bóng đó, làm sao cho hết hình bóng đó, sở dĩ những hình bóng đó ám ảnh trong tâm là do mình chưa quán bộ xương trong tâm, chưa đưa hình bóng cốt tưởng vào trong tâm của mình, hình bóng bộ xương chưa an trú trong tâm.
Trong tâm chỉ có gương mặt trắng trẻo, đẹp trai của chính mình, khi nào mình đổi gương mặt đó thành bộ xương, đổi thành một thây chết, tử thi, đổi thành gương mặt một đống bầy nhầy thì mới phá được ảo tưởng về tự thân. Khi nói đến mình chỉ thấy có bộ xương chứ không có gì là mình cả, khi nói đến tôi là thấy một đống tro tàn, những pháp quán đó đi sâu vào trong trí não, vào trong tâm tưởng của mình, an trú trong tâm. Ngài Xá-lợi-phất an trú tâm vào chín pháp quán trong đó có hình ảnh nùi giẻ rách, hình ảnh tấm thân lủng lỗ ngày đêm rỉ chảy ra những thứ bất tịnh cho nên ngài phá được thân kiến, phá được hình ảnh về tự ngã.
Ở đây chỉ mới nói về thân, ngoài ra còn sự bám chấp vào đồ vật ngoài thân nữa. Bây giờ đi tu chỉ có mấy món đồ ở trong cái đơn thôi chứ không có nhiều nhưng lỡ có ai lấy mất thì lúc đó nổi sân lên, tối nào mình cũng tụng "ngũ uẩn giai không" nhưng tại sao khi cái đơn trống không mà mình không hoát nhiên đại ngộ? Các bậc Thánh an trú tâm trong tánh trống rỗng của các pháp nhưng muốn vậy phải có trình tự chứ không phải tự nhiên quán không được liền.
Đầu tiên phải bóc tách cái thân này ra bốn loại là đất, nước, gió, lửa, quán tứ đại trước, kế đó là bóc tách nó ra ba mươi hai thể trược và ba mươi hai thể trược này là có thật, tóc, lông, móng, răng, tim, gan, phèo, phổi… là có thật chứ không phải Đức Phật nói mình tưởng một cái không có thật. Nếu không có mà mình tưởng ra thì đó là vọng tưởng, còn nó có đúng như vậy mà mình quán tưởng thì gọi là chánh quán, nhiều khi mình hiểu lầm, cứ nghĩ rằng ngồi yên không suy nghĩ gì mới là tốt, còn ngồi mà có suy nghĩ thì đều là vọng tưởng là không đúng.
Khi tưởng ra một thứ không có thật thì đó là vọng tưởng, còn khi tưởng một cái đúng pháp, đúng sự thật thì cái tưởng đó trở thành quán tưởng, trở thành thiền quán, trở thành sự triển khai tuệ giác tương ưng với chánh lý sự thật, đây là chỗ mà rất nhiều người hiểu lầm, nghĩ rằng ngồi thiền là không nghĩ gì hết nhưng không phải vậy, ngồi im nhưng nghĩ lung tung là không được, còn cái này nghĩ theo suy nghĩ của bậc Thánh.
Suy nghĩ về bộ xương là suy nghĩ của bậc Thánh, suy nghĩ về đống tro tàn là suy nghĩ của bậc Thánh, suy nghĩ về tóc, lông, móng, răng… là suy nghĩ của bậc Thánh vì suy nghĩ đó đưa đến nhàm chán, ly tham, suy nghĩ đó đưa đến sự xuất ly, sự viễn ly, xả ly, đưa đến sự thoát ly, đó là suy nghĩ của bậc Thánh nên cần phải suy nghĩ.
Phải như lý tác ý thường xuyên cả ngày lẫn đêm về ung nhọt, là mũi tên, là người lạ, là hố than hừng, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là kẻ giết người, tác ý cho mạnh mẽ để chấm dứt cái tâm chấp thủ vào sắc. Chính cái tâm yêu thích, tâm khoan khoái, thèm muốn đó là ác ma nên cần diệt tận cái tâm đó thì mình sẽ gặp được bậc Thánh.
Phải có sự hỷ lạc, hạnh phúc, sung sướng trong sự tu, còn tu mà cảm thấy ngày nào cũng như ngày nào, cứ trơ ra, tu biết bao năm vẫn không thấy được ngũ uẩn mà không thấy ngũ uẩn là còn đứng ngoài cổng chùa, tức là mình không nhìn thấy được những thứ kết hợp thành thân tâm của mình cho nên thấy được ngũ uẩn là chứng được quả Dự Lưu.
Chúng ta không biết được cảm giác đang dẫn dắt, đang điều khiển, gặp món ăn ngon là ăn liên tục chứ không thấy cảm giác đang dẫn dắt, gặp cái gì khó chịu là liếc, háy, lườm nguýt, đó là vô minh, sống trong bóng đêm, không thấy thân tâm thì làm sao tu, trong cái tưởng bị ám ảnh hết cái này đến cái kia, tại sao nó sanh khởi và làm cách nào để chấm dứt đều không biết, đó là lý do Đức Phật nói rất nhiều bài kinh về Thánh trí ngũ uẩn.
III. Nguyên nhân sanh khởi ngũ uẩn
Cái trí ngũ uẩn thứ hai là nguyên nhân sanh khởi ra ngũ uẩn, không thấy biết rõ ngũ uẩn chính là nguyên nhân tái tạo ra những tấm thân này. Tại sao có ra ngũ uẩn này? Vì không thấy, không biết nên thích thú, ham muốn, yêu thích trong ngũ uẩn. Cứ nghĩ khổ là do người này người kia làm mình khổ hay do hoàn cảnh làm khổ chứ không biết cái khổ nằm trong cảm thọ, trong suy nghĩ, do mình không thấy được những hình bóng trong tâm, do những dục tham, bản ngã nên tu không được.
Bản ngã cao là không bao giờ tu được, dù có thành tựu cái gì thì cũng chỉ thành tựu pháp thế gian thôi, vì đây là pháp diệt ngã cho nên bản ngã cao là không bao giờ thể nhập được Thánh pháp này, cái pháp này chủ lực đánh vào bản ngã nên người nào bản ngã cao là không thể vào được, đó là pháp nhĩ như thị. Cánh cửa đầu tiên của Tu-đà-hoàn là đập tan bản ngã, phá thân kiến, diệt chấp thủ cho nên không thấy biết về ngũ uẩn chính là nguyên nhân đưa đến tái sanh đầy phiền não, khổ đau, sống chết cho nên trong kinh Đức Phật nói thấy ngũ uẩn là thấy Phật, thấy ngũ uẩn là thấy pháp.
"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Chỉ có ngũ uẩn mới giải mã được hết nhân sinh, vũ trụ, thế giới này. Nếu không thấy ngũ uẩn thì làm sao phá được chấp ngã, không có cách nào phá ngã được nếu không thấy ngũ uẩn cho nên nguyên nhân sanh khởi ngũ uẩn là không thấy không biết nên tham đắm, say mê, ái thủ trong thân xác này. Yêu thích và nắm giữ cái bệnh hoạn, cái bất an, yêu thích và nắm giữ cái lo lắng, cái sợ hãi, yêu thích và nắm giữ cái vô thường, cái bộ xương, cái đống tro tàn, cái hủ cốt, cái huyệt đạo, yêu thích sắc thủ uẩn này là yêu thích nước mắt, yêu thích ung thư, ung nhọt, ung bướu, ung hạch, yêu thích thân này là yêu thích bệnh hoạn, yêu thích tai nạn.
Hai vợ chồng chở con đang đi thì bị tài xế xe hơi có men rượu trong người đâm vào chết cả ba người trong gia đình tại chỗ, trường hợp khác xe tải chở hàng quá tải bị lật xe đè chết người, mỗi ngày không biết có bao nhiêu chuyện như vậy xảy ra xung quanh chúng ta chứ không hề có sự an ổn, tất cả đang biến hoại, hiểm nguy và tai họa, bất an. Qua đây chúng ta thấy được nguồn cơn chính là thân này và tâm chấp thủ, vô minh, tham ái bên trong, vì có thân này nên mới có ra rất nhiều chuyện, cũng vì không hiểu biết ngũ uẩn nên mình nghĩ nó là thường còn, tốt tươi, đẹp đẽ, sạch sẽ, bền chắc nên mình mới đam mê, thích thú, nắm giữ rồi đau khổ.
"-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Nếu mình biết bản chất thật sự của nó, thấy được như vậy, biết được như vậy và hiểu được như vậy, chứng đạt được như vậy, liễu tri, tuệ tri, thắng tri như vậy thì mình không yêu thích cái thứ ác độc, khốn khổ này.
IV. Thấy biết tận tường bản chất của ngũ uẩn
Cái trí thứ ba là khi hết vô minh là thấy biết tận tường bản chất của ngũ uẩn, mình còn chưa thấy tột cùng bản chất của nó thì mình còn vô minh đối với nó. Một suy nghĩ thôi cũng có thể giết người, một cái suy nghĩ thôi cũng có thể làm nhà tan cửa nát, chúng ta phải nghiền ngẫm, quán chiếu, tư duy tính nguy hiểm và tác hại của những cảm giác, nghĩ tưởng, của những nhận thức theo vô minh, tham ái này, chúng ta phải nhìn thấy được nó vì không thấy biết được nó là chúng ta gặp nạn trong đó. Như vậy từ nãy giờ chúng ta tóm tắt tổng cương lĩnh về Thánh trí ngũ uẩn, thâu tóm lại cái lõi từ ngày đầu học cho đến giờ. Trong bài kinh Channa của Tăng Chi Bộ, Tập I.
"- Người có tham, thưa Hiền giả, bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ, nghĩ đến hại mình, nghĩ đến hại người, nghĩ đến hại cả hai, cảm giác khổ ưu thuộc về tâm. Khi tham được đoạn tận, không nghĩ đến hại mình, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm giác khổ ưu thuộc về tâm
Tham, thưa Hiền giả, làm thành mù, làm thành không mắt, làm thành không trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn não, không đưa đến Niết-bàn" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, Channa)
Đức Phật nói kẻ bị tham, sân, si áp đảo làm cho mất tự chủ giống như kẻ mù, không còn thấy gì nữa, không còn biết gì nữa nên làm ra những việc hại mình hại người, khổ mình khổ người, còn khi chấm dứt được tham, sân, si thì mình sẽ thoát ra khỏi những cái này, đạt được Niết-bàn. Quán bất tịnh dùng để trị tham dục, quán vô thường là phần chung để tâm xả ra nhưng quán bất tịnh đó sâu sắc hay không là do người đó có hiểu vấn đề hay không rồi khai triển cái pháp cho sâu sắc do Đức Phật dạy.
Trong quán bất tịnh gồm quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi, do sự chiêm nghiệm của mình rồi dẫn chứng lời kinh cho chính xác và sự hiểu trong thực tập, quán chiếu của mình. Để đối trị cái sân thì dùng tâm từ, trong quán tâm từ thì phải nhớ thương mình trước chứ không phải trải tâm từ thương người ta, mình đang sân giận thì làm sao thương được người ta mà là thương cơn giận đang thiêu đốt mình, nó đang làm cho mình nóng bức, nhiệt não, nó đang làm cho mình ăn không được ngủ không xong thì phải thương cơn giận của mình, tội nghiệp mình, sau khi thương mình dạt dào rồi mới trải tình thương đó đến với người kia vì chúng ta đều là nạn nhân của cơn giận, đó chính là trải tâm từ. Còn phá cái si là phải quán về ánh sáng, quán về trí tuệ, phải tác ý làm cho mình tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, Đức Phật ví dụ giống như khăn cháy trên đầu thì phải dùng hết sức lực, tâm lực dập tắt được ngọn lửa.
"-- Này các Tỳ-kheo, khi khăn đầu hay đầu bị lửa cháy, thời phải làm gì?
-- Bạch Thế Tôn, khi khăn đầu hay đầu bị bị lửa cháy, để dập tắt khăn đầu hay đầu bị lửa cháy cần phải có ước muốn tăng thượng (chanda), tinh tấn (vàyàmo), cố gắng (ussàho), nỗ lực (ussohii), không có thối thất (appativami), chánh niệm và tỉnh giác" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IV. Khăn Ðầu)
Khi mình tác ý tinh cần, tinh tấn, trí tuệ như vậy mới phá được cái si mê, tâm lờ đờ, không nhiệt huyết tu hành, không chánh niệm tỉnh giác.
./.
Nhận Diện Thân Tâm 18
Tóm Tắt Thánh Trí 5 Uẩn
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bậc Dự Lưu PAGEREF _Toc181285973 \h 1
II. Thân kiến – sắc thủ uẩn PAGEREF _Toc181285974 \h 3
III. Nguyên nhân sanh khởi ngũ uẩn PAGEREF _Toc181285975 \h 8
IV. Thấy biết tận tường bản chất của ngũ uẩn PAGEREF _Toc181285976 \h 9
I. Bậc Dự Lưu
Từ tiết đầu cho đến hôm nay cũng như những câu hỏi ôn thi thì chúng ta có điều gì cần hỏi thêm không? Nếu chúng ta không có câu hỏi thì con sẽ nói về tổng cương lĩnh của Thánh trí ngũ uẩn, nhân duyên không biết học kì tới chúng ta còn gặp nhau hay không cho nên các thầy không hỏi thì con sẽ tổng kết toàn bộ cương lĩnh của Thánh trí ngũ uẩn trong một buổi học hôm nay. Chúng ta sẽ căn cứ vào những bài kinh quan trọng trong Tương Ưng Bộ chứ chúng ta không dám tự ý đưa ra.
Tất cả theo tinh thần tu học theo kinh tạng Nikāya thì Đức Phật dạy rằng tuyệt đối không đưa ra tư kiến cá nhân, điều này rất quan trọng cho nên những bậc Thánh thời Đức Phật, từ ngài Maha Ca-diếp, ngài Xá-lợi-phất, ngài Mục-kiền-liên cho đến ngài Ananda khi nói điều gì cũng nói đây là lời dạy của Đức Thế Tôn, khi một vị Tỳ-kheo nêu ra điều gì đều nói Đức Thế Tôn có dạy cái này hay không, các ngài có nghe từ chính Đức Phật nói hay không thì mới dám thọ trì, tức là mới dám tiếp nhận và tu học, đó là cái chuẩn mực trong tạng kinh Nikāya. Còn chúng ta sau này học rất rộng trong khi thời Đức Phật thì chỉ thọ trì lời của ngài mà thôi, bây giờ chúng ta sẽ nghe bài kinh Bậc Dự Lưu trong Tương Ưng Bộ.
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này Ràdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm ? Sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn.
Này Ràdha, khi nào bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này. Vị này, này Ràdha, được gọi là vị Thánh đệ tử đã chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến cứu cánh bồ-đề" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, VII. Bậc Dự Lưu)
Bài kinh thứ hai là bài kinh Bậc A-La-Hán trong Tương Ưng Bộ, tập III.
"Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này Rdha, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn.
-- Này Ràdha, khi nào Tỷ-kheo sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ; như vậy, gọi vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, VII. Bậc Dự Lưu)
Những gì quan trọng thì Đức Phật sẽ lặp tới lặp lui rất nhiều lần, cả một Tương Ưng Uẩn có rất nhiều bài kinh Đức Phật chỉ nói về ngũ uẩn.
"Bậc Dự lưu là vị đã thấy biết rõ về ngũ uẩn nhưng chưa thoát khỏi sự chi phối của ngũ uẩn. Còn bậc A-la-hán là vị đã thấy biết rõ về ngũ uẩn và đã hoàn toàn được giải thoát khỏi tất cả những chấp thủ đối với ngũ uẩn.
Hai bài kinh trên giúp ta xác quyết rằng: Trí về ngũ uẩn là đầu đuôi của sự tu tập. Từ quả Dự Lưu đến quả A-la-hán thì tất cả đều phải thành tựu Trí về ngũ uẩn" (Tóm tắt ngũ uẩn)
Bậc Dự Lưu tức là bậc Tu-đà-hoàn, là bậc đã thành tựu cái thấy biết của bậc Thánh gọi là Thánh tri kiến, từ Thánh quả thứ nhất cho đến Thánh quả thứ tư đầu đuôi của sự tu tập đều phải thấy biết rõ về ngũ uẩn và giải thoát khỏi ngũ uẩn, giải thoát khỏi sự chấp thủ trong ngũ uẩn đó. Chúng ta ở đây đã đôi phần thấy biết được ngũ uẩn, nếu mình có thực tập từ đầu học kì đến giờ, nếu người nào để tâm, siêng năng, thực tập nhận diện ngũ uẩn và nhìn ra các cảm thọ dục, ái, sân si, vô minh, bản ngã thì những vị đó bắt đầu thành tựu trí tuệ thấy biết về ngũ uẩn. Trong cảm thọ lạc có tham tùy miên trong đó, trong cảm thọ khổ có sân tùy miên, trong cảm thọ không khổ không vui có vô minh tùy miên hoặc si tùy miên. Tùy là đi theo, miên là miên man, tùy miên là đi theo miên man.
Đức Phật nói một vị Đa văn Thánh đệ tử biết đúng sự thật, biết một cách chính xác, thấu đáo, tận tường về vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly, sự đoạn diệt của năm thủ uẩn thì vị này gọi là vị Thánh đệ tử đã chứng Dự Lưu, không còn bị thối đọa và đạt đến cứu cánh giác ngộ Bồ-đề. Thánh quả Dự Lưu ở trong tầm tay của chúng ta, nếu là người nỗ lực nghe, tư duy, quán chiếu, học hỏi và thiền tập thì những điều chúng ta đã thấy biết từ buổi đầu cho đến nay là đủ để có thể thành tựu được chánh tri kiến. Sau đây chúng ta sẽ đi tới phần bốn Thánh trí về ngũ uẩn:
"Trí về Ngũ uẩn: Sự chấp thủ ngũ uẩn là những đau khổ, những phiền não về sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não cho các chúng sanh.
- Trí về Ngũ uẩn tập: Sự không thấy biết rõ ngũ uẩn là nguyên nhân đưa đến sự tái tạo ra những thân ngũ uẩn vô thường, phiền não, sanh tử và đau khổ này.
- Trí về Ngũ uẩn diệt: Khi vô minh được đoạn diệt, thành tựu trí thấy biết rõ về ngũ uẩn thì luân hồi sanh tử và phiền não được chấm dứt, sự tái tạo những thân ngũ uẩn sẽ được chấm dứt.
- Trí về Ngũ uẩn diệt đạo: Bát chánh đạo là phương pháp chân chánh, phương pháp đúng đắn đưa đến sự chấm dứt sanh tử, chấm dứt sự tái tạo ra những thân ngũ uẩn đầy phiền não, tham ái, dính mắc, vô thường, vô ngã và đau khổ" (Tóm tắt ngũ uẩn)
Bốn Thánh trí này là kết hợp Tứ Thánh Đế và ngũ uẩn để nêu lên trong cốt tủy của kinh tạng Nikāya. Trí đầu tiên là sự chấp thủ vào ngũ uẩn là những đau khổ, là những phiền não, tất cả chúng ta bị khổ đau, phiền não, sở dĩ có sanh ra, có già nua, bệnh tật, chết chóc, có sự lo lắng, bất an, sợ hãi là nguyên nhân là sự chấp thủ vào ngũ uẩn, tức là một cái tâm nắm giữ vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vì cái tâm nắm giữ này mà chúng ta có phiền não và khổ đau. Cái này rất rõ ràng, minh bạch như mặt trời, không có gì là khó hiểu, mơ hồ hay xa vời viễn vong.
II. Thân kiến – sắc thủ uẩn
Trong tâm chúng ta đang nắm giữ hình hài này, đó là sắc thủ uẩn, chữ "thủ" đó chính là chấp thủ. Vì chúng ta rất yêu thích, rất khoái, rất thích nắm giữ cái thân này cho nên chúng ta có thân này, đó là cái nhân của quá khứ và trong hiện tại là chúng ta tiếp tục yêu thích, khoan khoái nữa thì đó là tâm chấp thủ trong hiện tại đến khi cái thân này mất đi thì chúng ta đau khổ, sợ hãi, hoảng loạn và muốn có một cái thân giống như vậy nữa, đó là tâm chấp thủ trong ba thời, sắc thủ uẩn trong cả ba thời.
Trước kia tâm này nắm giữ vào trong hình hài này, bây giờ tâm cũng nắm giữ vào thân xác này, khi chúng ta nhắm mắt chuẩn bị ra đi thì tâm vẫn chấp thủ, vẫn muốn nắm giữ vào trong hình hài này, thân xác này, chính cái tâm nắm giữ đó làm chúng ta đau khổ vì nó là pháp biến hoại, pháp vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, bây giờ chúng ta nắm vào rồi cho sắc đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì làm sao chúng ta không đau khổ được.
Cho đến khi nào mình phá được sắc thủ uẩn, tức là phá được cái tâm nắm giữ, bám chấp, đam mê, say đắm vào trong hình hài này thì lúc đó mình mới giải thoát khỏi sắc. Nếu một người tu mà chưa từng quán bất tịnh, chưa từng thành tựu trí về cửu tưởng, không quán xác chết, không quán tứ đại thì người này không thể nào phá được sắc thủ uẩn vì đây là đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Giác, không lẽ có một người giỏi hơn Đức Phật hay sao?
Cho nên mình tu mà không quán bất tịnh, không quán tứ đại, không quán bất tịnh, không quán ba mươi hai thể trược thì không bao giờ có thể phá nổi sắc thủ uẩn, dù cho ở trong rừng một mình không tiếp xúc với ai nhưng trong thâm tâm thì cái tâm chấp thủ vẫn y nguyên, cũng cho sắc thân này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Mình chưa nhìn thấy được cái tâm đó, nó chính là nhân quả để tạo ra thân này, nó chính nhân duyên, là điều kiện để tạo ra cái thân này, do mình thích cái chuông thì nó mới có mặt ở đây, còn không thích thì mình đã quăng bỏ hoặc đem cho rồi, vì mình thích sắc, mình ưa sắc, mình khoái sắc, mình muốn sắc, mình nắm giữ trong sắc cho nên có ra sắc, đó là sắc thủ uẩn.
"-- Này Tỳ-kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc, Tỳ-kheo như thật quán với chánh trí tuệ như sau: 'Ðây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi'". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm)
Câu kinh này được Đức Phật nói lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong Tương Ưng Bộ, dùng trí tuệ này để phá cái tâm nắm giữ ở trong thân xác này cho nên dùng phép quán chín giai đoạn của một tử thi để phá hết tất cả hình tướng trong tâm, phá tất cả ảo ảnh về một tự ngã trong tâm, chỉ có như vậy mới phá được sắc ái này, mới phá được sắc thủ uẩn này cũng chính là phá dục tham.
Sự tu thâm sâu đến mức như vậy chứ không phải ngồi cho tâm yên là hết chuyện, dù tâm yên nhưng thâm sâu bên trong lại cho rằng sắc này là tôi, chưa tháo gỡ, đập vỡ được cái thân kiến, tức là cái kiến chấp về thân còn y nguyên dù cho có ngồi yên bao nhiêu năm, bao nhiêu kiếp đi nữa thì thân kiến vẫn còn nguyên cho nên các vị đạt được tứ thiền bát định vẫn có thể bị đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vì thân kiến chưa phá, thân kiến là kiến chấp về thân cũng là sắc thủ uẩn cũng là chấp ngã.
Chúng ta cần kiểm tra lại trong quá trình tu tập đã nhìn ra được thân kiến chưa, đã chạm đến sắc thủ uẩn chưa, có nhìn thấy tâm chấp thủ hằng ngày của mình trong sinh hoạt thường nhật chưa, trong khi người ta đụng vào mình thì lúc đó có nghĩ thân này không phải tôi, không phải của tôi, tôi làm nùi giẻ cho mọi người giẫm đạp được không. Cho nên sự tu học rất sâu sắc, chúng ta phải loại bỏ từng ý niệm, loại bỏ từng suy nghĩ, từng hình bóng, từng cảm giác, loại bỏ từng nhận thức, loại bỏ cho đến khi nào hết suy nghĩ tôi, của tôi, là tự ngã của tôi thì lúc đó mới thể nhập được Thánh trí tuệ, tức là trong tâm các bậc Thánh không có suy nghĩ cho rằng sắc này là tôi, là của tôi, phá bỏ luôn cả hình bóng ảo tưởng về tự ngã trong tâm.
Khi nói vài nữa là được về quê thăm nhà thì trong tâm có hình bóng của mình, có cảnh quê hiện ra, hình bóng đó chính là tự ngã, là thân kiến, là sắc tưởng của tự ngã. Khi nào nói về quê mà trong tâm không có bất kì hình bóng nào, trống rỗng, trống không, chẳng qua là sử dụng từ ngữ "tôi về quê" thôi, đó là sắc pháp đi, tứ đại đi chứ không có cái mình, cái ta, cái tôi trong đó thì mới có thể phá được thân kiến, cái ảo tưởng về tự ngã, phá luôn một ảo ảnh về tự thân mình ở trong tâm, đối với thọ; tưởng; hành; thức cũng vậy.
Chúng ta nhìn thấy được nhân duyên sanh diệt của nó, tại sao có ra cảm giác này, làm sao chấm dứt cảm giác này, đó là chúng ta nắm quyền chủ động trong tay chứ không phải ai làm cho mình chứng ngộ được. Mình thấy rõ được tại sao có hình bóng đó, làm sao cho hết hình bóng đó, sở dĩ những hình bóng đó ám ảnh trong tâm là do mình chưa quán bộ xương trong tâm, chưa đưa hình bóng cốt tưởng vào trong tâm của mình, hình bóng bộ xương chưa an trú trong tâm.
Trong tâm chỉ có gương mặt trắng trẻo, đẹp trai của chính mình, khi nào mình đổi gương mặt đó thành bộ xương, đổi thành một thây chết, tử thi, đổi thành gương mặt một đống bầy nhầy thì mới phá được ảo tưởng về tự thân. Khi nói đến mình chỉ thấy có bộ xương chứ không có gì là mình cả, khi nói đến tôi là thấy một đống tro tàn, những pháp quán đó đi sâu vào trong trí não, vào trong tâm tưởng của mình, an trú trong tâm. Ngài Xá-lợi-phất an trú tâm vào chín pháp quán trong đó có hình ảnh nùi giẻ rách, hình ảnh tấm thân lủng lỗ ngày đêm rỉ chảy ra những thứ bất tịnh cho nên ngài phá được thân kiến, phá được hình ảnh về tự ngã.
Ở đây chỉ mới nói về thân, ngoài ra còn sự bám chấp vào đồ vật ngoài thân nữa. Bây giờ đi tu chỉ có mấy món đồ ở trong cái đơn thôi chứ không có nhiều nhưng lỡ có ai lấy mất thì lúc đó nổi sân lên, tối nào mình cũng tụng "ngũ uẩn giai không" nhưng tại sao khi cái đơn trống không mà mình không hoát nhiên đại ngộ? Các bậc Thánh an trú tâm trong tánh trống rỗng của các pháp nhưng muốn vậy phải có trình tự chứ không phải tự nhiên quán không được liền.
Đầu tiên phải bóc tách cái thân này ra bốn loại là đất, nước, gió, lửa, quán tứ đại trước, kế đó là bóc tách nó ra ba mươi hai thể trược và ba mươi hai thể trược này là có thật, tóc, lông, móng, răng, tim, gan, phèo, phổi… là có thật chứ không phải Đức Phật nói mình tưởng một cái không có thật. Nếu không có mà mình tưởng ra thì đó là vọng tưởng, còn nó có đúng như vậy mà mình quán tưởng thì gọi là chánh quán, nhiều khi mình hiểu lầm, cứ nghĩ rằng ngồi yên không suy nghĩ gì mới là tốt, còn ngồi mà có suy nghĩ thì đều là vọng tưởng là không đúng.
Khi tưởng ra một thứ không có thật thì đó là vọng tưởng, còn khi tưởng một cái đúng pháp, đúng sự thật thì cái tưởng đó trở thành quán tưởng, trở thành thiền quán, trở thành sự triển khai tuệ giác tương ưng với chánh lý sự thật, đây là chỗ mà rất nhiều người hiểu lầm, nghĩ rằng ngồi thiền là không nghĩ gì hết nhưng không phải vậy, ngồi im nhưng nghĩ lung tung là không được, còn cái này nghĩ theo suy nghĩ của bậc Thánh.
Suy nghĩ về bộ xương là suy nghĩ của bậc Thánh, suy nghĩ về đống tro tàn là suy nghĩ của bậc Thánh, suy nghĩ về tóc, lông, móng, răng… là suy nghĩ của bậc Thánh vì suy nghĩ đó đưa đến nhàm chán, ly tham, suy nghĩ đó đưa đến sự xuất ly, sự viễn ly, xả ly, đưa đến sự thoát ly, đó là suy nghĩ của bậc Thánh nên cần phải suy nghĩ.
Phải như lý tác ý thường xuyên cả ngày lẫn đêm về ung nhọt, là mũi tên, là người lạ, là hố than hừng, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là kẻ giết người, tác ý cho mạnh mẽ để chấm dứt cái tâm chấp thủ vào sắc. Chính cái tâm yêu thích, tâm khoan khoái, thèm muốn đó là ác ma nên cần diệt tận cái tâm đó thì mình sẽ gặp được bậc Thánh.
Phải có sự hỷ lạc, hạnh phúc, sung sướng trong sự tu, còn tu mà cảm thấy ngày nào cũng như ngày nào, cứ trơ ra, tu biết bao năm vẫn không thấy được ngũ uẩn mà không thấy ngũ uẩn là còn đứng ngoài cổng chùa, tức là mình không nhìn thấy được những thứ kết hợp thành thân tâm của mình cho nên thấy được ngũ uẩn là chứng được quả Dự Lưu.
Chúng ta không biết được cảm giác đang dẫn dắt, đang điều khiển, gặp món ăn ngon là ăn liên tục chứ không thấy cảm giác đang dẫn dắt, gặp cái gì khó chịu là liếc, háy, lườm nguýt, đó là vô minh, sống trong bóng đêm, không thấy thân tâm thì làm sao tu, trong cái tưởng bị ám ảnh hết cái này đến cái kia, tại sao nó sanh khởi và làm cách nào để chấm dứt đều không biết, đó là lý do Đức Phật nói rất nhiều bài kinh về Thánh trí ngũ uẩn.
III. Nguyên nhân sanh khởi ngũ uẩn
Cái trí ngũ uẩn thứ hai là nguyên nhân sanh khởi ra ngũ uẩn, không thấy biết rõ ngũ uẩn chính là nguyên nhân tái tạo ra những tấm thân này. Tại sao có ra ngũ uẩn này? Vì không thấy, không biết nên thích thú, ham muốn, yêu thích trong ngũ uẩn. Cứ nghĩ khổ là do người này người kia làm mình khổ hay do hoàn cảnh làm khổ chứ không biết cái khổ nằm trong cảm thọ, trong suy nghĩ, do mình không thấy được những hình bóng trong tâm, do những dục tham, bản ngã nên tu không được.
Bản ngã cao là không bao giờ tu được, dù có thành tựu cái gì thì cũng chỉ thành tựu pháp thế gian thôi, vì đây là pháp diệt ngã cho nên bản ngã cao là không bao giờ thể nhập được Thánh pháp này, cái pháp này chủ lực đánh vào bản ngã nên người nào bản ngã cao là không thể vào được, đó là pháp nhĩ như thị. Cánh cửa đầu tiên của Tu-đà-hoàn là đập tan bản ngã, phá thân kiến, diệt chấp thủ cho nên không thấy biết về ngũ uẩn chính là nguyên nhân đưa đến tái sanh đầy phiền não, khổ đau, sống chết cho nên trong kinh Đức Phật nói thấy ngũ uẩn là thấy Phật, thấy ngũ uẩn là thấy pháp.
"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Chỉ có ngũ uẩn mới giải mã được hết nhân sinh, vũ trụ, thế giới này. Nếu không thấy ngũ uẩn thì làm sao phá được chấp ngã, không có cách nào phá ngã được nếu không thấy ngũ uẩn cho nên nguyên nhân sanh khởi ngũ uẩn là không thấy không biết nên tham đắm, say mê, ái thủ trong thân xác này. Yêu thích và nắm giữ cái bệnh hoạn, cái bất an, yêu thích và nắm giữ cái lo lắng, cái sợ hãi, yêu thích và nắm giữ cái vô thường, cái bộ xương, cái đống tro tàn, cái hủ cốt, cái huyệt đạo, yêu thích sắc thủ uẩn này là yêu thích nước mắt, yêu thích ung thư, ung nhọt, ung bướu, ung hạch, yêu thích thân này là yêu thích bệnh hoạn, yêu thích tai nạn.
Hai vợ chồng chở con đang đi thì bị tài xế xe hơi có men rượu trong người đâm vào chết cả ba người trong gia đình tại chỗ, trường hợp khác xe tải chở hàng quá tải bị lật xe đè chết người, mỗi ngày không biết có bao nhiêu chuyện như vậy xảy ra xung quanh chúng ta chứ không hề có sự an ổn, tất cả đang biến hoại, hiểm nguy và tai họa, bất an. Qua đây chúng ta thấy được nguồn cơn chính là thân này và tâm chấp thủ, vô minh, tham ái bên trong, vì có thân này nên mới có ra rất nhiều chuyện, cũng vì không hiểu biết ngũ uẩn nên mình nghĩ nó là thường còn, tốt tươi, đẹp đẽ, sạch sẽ, bền chắc nên mình mới đam mê, thích thú, nắm giữ rồi đau khổ.
"-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Nếu mình biết bản chất thật sự của nó, thấy được như vậy, biết được như vậy và hiểu được như vậy, chứng đạt được như vậy, liễu tri, tuệ tri, thắng tri như vậy thì mình không yêu thích cái thứ ác độc, khốn khổ này.
IV. Thấy biết tận tường bản chất của ngũ uẩn
Cái trí thứ ba là khi hết vô minh là thấy biết tận tường bản chất của ngũ uẩn, mình còn chưa thấy tột cùng bản chất của nó thì mình còn vô minh đối với nó. Một suy nghĩ thôi cũng có thể giết người, một cái suy nghĩ thôi cũng có thể làm nhà tan cửa nát, chúng ta phải nghiền ngẫm, quán chiếu, tư duy tính nguy hiểm và tác hại của những cảm giác, nghĩ tưởng, của những nhận thức theo vô minh, tham ái này, chúng ta phải nhìn thấy được nó vì không thấy biết được nó là chúng ta gặp nạn trong đó. Như vậy từ nãy giờ chúng ta tóm tắt tổng cương lĩnh về Thánh trí ngũ uẩn, thâu tóm lại cái lõi từ ngày đầu học cho đến giờ. Trong bài kinh Channa của Tăng Chi Bộ, Tập I.
"- Người có tham, thưa Hiền giả, bị tham chinh phục, tâm mất tự chủ, nghĩ đến hại mình, nghĩ đến hại người, nghĩ đến hại cả hai, cảm giác khổ ưu thuộc về tâm. Khi tham được đoạn tận, không nghĩ đến hại mình, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm giác khổ ưu thuộc về tâm
Tham, thưa Hiền giả, làm thành mù, làm thành không mắt, làm thành không trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn não, không đưa đến Niết-bàn" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, Channa)
Đức Phật nói kẻ bị tham, sân, si áp đảo làm cho mất tự chủ giống như kẻ mù, không còn thấy gì nữa, không còn biết gì nữa nên làm ra những việc hại mình hại người, khổ mình khổ người, còn khi chấm dứt được tham, sân, si thì mình sẽ thoát ra khỏi những cái này, đạt được Niết-bàn. Quán bất tịnh dùng để trị tham dục, quán vô thường là phần chung để tâm xả ra nhưng quán bất tịnh đó sâu sắc hay không là do người đó có hiểu vấn đề hay không rồi khai triển cái pháp cho sâu sắc do Đức Phật dạy.
Trong quán bất tịnh gồm quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi, do sự chiêm nghiệm của mình rồi dẫn chứng lời kinh cho chính xác và sự hiểu trong thực tập, quán chiếu của mình. Để đối trị cái sân thì dùng tâm từ, trong quán tâm từ thì phải nhớ thương mình trước chứ không phải trải tâm từ thương người ta, mình đang sân giận thì làm sao thương được người ta mà là thương cơn giận đang thiêu đốt mình, nó đang làm cho mình nóng bức, nhiệt não, nó đang làm cho mình ăn không được ngủ không xong thì phải thương cơn giận của mình, tội nghiệp mình, sau khi thương mình dạt dào rồi mới trải tình thương đó đến với người kia vì chúng ta đều là nạn nhân của cơn giận, đó chính là trải tâm từ. Còn phá cái si là phải quán về ánh sáng, quán về trí tuệ, phải tác ý làm cho mình tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, Đức Phật ví dụ giống như khăn cháy trên đầu thì phải dùng hết sức lực, tâm lực dập tắt được ngọn lửa.
"-- Này các Tỳ-kheo, khi khăn đầu hay đầu bị lửa cháy, thời phải làm gì?
-- Bạch Thế Tôn, khi khăn đầu hay đầu bị bị lửa cháy, để dập tắt khăn đầu hay đầu bị lửa cháy cần phải có ước muốn tăng thượng (chanda), tinh tấn (vàyàmo), cố gắng (ussàho), nỗ lực (ussohii), không có thối thất (appativami), chánh niệm và tỉnh giác" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IV. Khăn Ðầu)
Khi mình tác ý tinh cần, tinh tấn, trí tuệ như vậy mới phá được cái si mê, tâm lờ đờ, không nhiệt huyết tu hành, không chánh niệm tỉnh giác.
./.