Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghiệp 16 - Vì Sao Có 3 Cõi. docx

2026-03-03 00:52:47
NGHIỆP 16 - VÌ SAO CÓ BA CÕI - TÂM KHÔNG PHÒNG HỘ NGHIỆP RỈ CHẢY

THÍCH MINH THÀNH

Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Hữu, hữu, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được xem là có hữu?

- Này Ananda, nếu không có hành động (nghiệp) và sự chín muồi của dục giới thời dục hữu có thể trình bày được không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên thức được an lập trong giới thấp kém. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt.

- Và này Ananda, nếu không có hành động và sự chín muồi của sắc giới, thời sắc hữu có thể trình bày được không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên thức được an lập trong giới bậc trung. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt.

- Và này Ananda, nếu không có hành động và sự chín muồi của vô sắc giới, thời vô sắc hữu có thể trình bày được không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên thức được an lập trong giới bậc thù thắng. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 76.- Hiện Hữu).

Ngài Ananda hỏi Đức Phật tại sao có sự hiện hữu trong Tam giới. Hữu chính là sự hiện hữu trong 3 cõi, tại sao có sự hiện hữu trong dục giới, sắc giới và vô sắc giới, chính chỗ này đọc kinh không phải dễ hiểu. Tại sao lại có sự hiện hữu của những tấm thân da thịt nhơ nhớp bất tịnh? Đây là giải mã vũ trụ, câu hỏi này rất rộng, con người hay hỏi từ đâu ta sanh ra đây, tại sao ta có mặt trong cuộc đời này cũng như ngài Ananda hỏi Thế Tôn tại sao lại có sự hiện hữu những vóc dáng hình hài của con người, thú vật và đầy rẫy sự ham muốn dục vọng, đau khổ này. Tại sao lại có những thân xác bằng hình sắc vi tế, những cái bóng trong thế giới của địa ngục, chư thiên, ngạ quỷ giống như khi mình nằm chiêm bao, giống như những ảnh tượng lờ mờ, đây là thế giới của sắc giới. Tại sao lại có những thế giới không có hình sắc mà chỉ có tâm tưởng, không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ là những thế giới hoàn toàn của tâm tưởng, người ta trú vào trạng thái cực kì vi tế của tâm, chỉ là tâm tưởng chứ không có sắc hình, sắc tướng. Như vậy dục giới của chúng ta là thế giới thấp kém nhất, sắc giới là thế giới bậc trung còn vô sắc giới được Đức Phật gọi là bậc thù thắng, được an lập trong giới vực của bậc thù thắng. Nó càng vi tế chừng nào thì thọ mạng càng lâu dài chừng đó. Cho nên đời sống của địa ngục, chư Thiên rất lâu, còn đời sống của thế giới vô sắc là tuổi thọ không thể tính được. Bài pháp ngữ khi ngồi thiền có đoạn đời sống của chúng sanh, loài người rất ngắn ngủi như giọt sương trên đầu ngọn cỏ, tuổi thọ của loài người mà so với thế giới của sắc giới và vô sắc giới thì chưa đầy 1 ngày mình đã chết, còn 1 ngày đêm trong tầng trời của Tứ Đại Thiên Vương bằng 50 năm trong dục giới của mình. Những tầng trời cao hơn thì 1 ngày đêm của họ bằng 100 năm của mình vì cái tâm thô thiển, thô phù cho nên Đức Phật mới nói nguyên nhân tại sao có 3 cõi.

- Này Ananda, nếu không có hành động (nghiệp) và sự chín muồi của dục giới thời dục hữu có thể trình bày được không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên thức được an lập trong giới thấp kém. 

Chữ giới là thế giới thấp kém. Đức Phật nói phải có 2 chiều là do có nghiệp của chúng sanh và sự chín muồi của thế giới đó, tức là từ con người cho đến nhân sinh quan, vũ trụ quan. Nhân ở bên trong cộng với cái duyên ở bên ngoài hình thành nên thế giới của dục. Đầu tiên nghiệp là những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động tương thích với thế giới của dục, tương thích ở đây là sự vô minh, che đậy, tham ái, trói buộc… Vì vô minh, không có trí tuệ nhìn thấy được tam giới. Có những người ở vùng sâu vùng xa như người dân tộc, ở trong rừng sâu, từ nhỏ ăn lông ở lỗ dơ bẩn, đói thiếu, lạc hậu, ngu dốt, bây giờ mình đưa họ ra thành phố thì họ từ chối, họ chỉ muốn sống chỗ cũ, họ thích sự trần trụi dơ bẩn. Thậm chí có những bộ tộc ăn thịt người hoặc ăn thịt sống, vì họ bị sự vô minh che đậy và bị tham ái trói buộc. Từ chỗ này để mình hiểu ra dục giới của mình cũng giống vậy, do không hiểu được điều đó thể hiện sự thấp kém, họ không thấy như vậy là dơ bẩn, họ ưa thích, ham muốn điều đó, họ quen với những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động, họ quen với cách ăn uống nhai nuốt thì gọi là nghiệp. Cho nên họ không biết có những đời sống tốt hơn, cao đẹp, trân quý hơn, ngược lại họ đam mê, ưa thích, trói buộc trong các cảm thọ đó, những suy nghĩ, cái tưởng và sự nhận thức cũ kĩ thành ra họ cứ ở trong đó không thoát ra được. Nghiệp như thửa ruộng, những cái suy nghĩ, ngôn ngữ và hành động giống như mảnh ruộng, làm nền tảng còn thức là hột giống gieo vào mảnh ruộng, đất, nước thấm nhuần thì hạt giống đó mới nảy mầm, sanh trưởng. Chính sự ưa thích, ái là sự nhuận ước, những chỗ này hết sức sâu sắc và thâm sâu, Đức Phật giải mã tam giới, thái dương hệ, tất cả đời sống hiện hữu trong mười ngàn thế giới. Những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động đã quen như vậy rồi thì nó làm mảnh ruộng, cái thức là hột giống gieo vào mảnh ruộng đó để nảy lên một cái mầm do ái làm cho thấm nhuần, là cho nhuận ướt, làm cho sanh trưởng phát triển, như thế thì thức được an lập trong thế giới thấp kém. Sự nhận thức của người trong rừng sâu, ăn lông ở lỗ được an lập trong giới thấp kém, điều này nếu được thiền định quán chiếu thì rất thâm sâu. Trong thế giới loài người của chúng ta, cái thức được an lập trong các đẳng cấp khác nhau, những người trộm cắp thường xuyên ngó ngang ngó dọc nghĩ cách làm sao trộm cướp thành công, những người nghiện chỉ nghĩ đi tìm thuốc, những người kinh doanh chỉ nghĩ cách kiếm làm sao cho nhiều tiền. Đây là cái thức được an lập trong giới vực, phạm trù tùy theo từng loại, giống như giới doanh nhân, giới trí thức, giới khoa học… Cái tâm thức thấp kém nên có những người ở đâu là so đo đến đó, giận hờn, trách móc đủ chuyện, đưa họ đi chỗ nào cũng y như vậy, ở chỗ nào cũng bực mình, khó chịu. Có những hạng người đi tới đâu cũng sân si, gặp trường hợp nào cũng sân si. Có những người gặp ai cũng thể hiện cái tôi, có khi chỉ có một chuyện mà cứ kể hoài để thể hiện mình. Có những người ưa làm phước, đi đến đâu cũng nói chuyện họ bố thí, làm phước. Có những người an lập trong trí tuệ, bất cứ cái gì họ cũng đưa vào trí tuệ, kiến thức để họ có thể hiểu được, ngoài đời gọi là giới trí thức, giới khoa học, còn trong đạo gọi là trí tuệ. Đó là thức được an lập trong các giới vực khác nhau. Trời mưa nên đứa nhỏ chạy ra tắm trong vũng nước mưa, nó tạt nước chơi thì có bà cụ già kế bên nhà la mắng, bảo đi vào nhà thì đứa nhỏ mới nói bà không được giành của con, đây là vũng nước của con. Tâm thức vô minh, nhỏ hẹp, cạn cợt, chấp thủ giống như đứa trẻ đó giành vũng nước với bà cụ.

Ví như này các Tỳ-kheo, vào mùa thu khi trời mưa hạt lớn, chỗ này chỗ khác, trong các dấu chân của các con bò cái, có những vũng nước nhỏ đọng lại. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, chỉ còn những vũng nước nhỏ trong dấu chân các con bò cái là nước của biển lớn còn lại, chỗ này chỗ kia (Tăng Chi Bộ, Chương VII. Bảy Pháp, VII. Ðại Phẩm, (II) (62) Mặt Trời).

Tâm thức nhỏ hẹp như nước đọng lại trong dấu chân con bò, còn những tâm thức lớn như sông biển, đại dương. Thật sự khó để đứa trẻ đó biết được suy nghĩ của bà cụ cảm thấy thương nó, sợ nó bệnh chứ không phải giành vũng nước với nó. Cho nên cái thức rất ghê gớm, nó là hạt giống để nảy mầm. Nghiệp, thức và ái được Đức Phật nói gọn vì cái thức đó là nghiệp thức, nó chỉ biết những cái nó thường suy nghĩ, thường cảm thọ, thường hay giao tiếp, tiếp xúc. Sự tu học của mình là phá vỡ nghiệp thức, giống như 4 vách tường trong nhà tù rồi cứ lòng vòng trong đó 30 năm, thậm chí là chung thân, thì cái thức của tâm mê cũng giống vậy, chỉ biết ở trong đó còn ngoài ra là không biết. Cho nên thức thủ uẩn vô cùng khủng khiếp, mình tu là đem thánh trì vào để phá thức thủ uẩn, một mặt là mình chặn cái nghiệp, không tạo thêm nghiệp mới và giải quyết nghiệp cũ, một mặt là diệt trừ cái ái, một mặt là dùng thánh trí phá giải nghiệp thức. Cái biết của mình như nước đọng lại trong dấu chân trâu còn thánh trí là tứ đại hải dương, mình trú trong cái biết, sự nhận thức của mình thì mình nhận nước trong dấu chân trâu làm biển cả, không thể nào mình thấy được hải dương. Vì vậy không thể tin vào những suy nghĩ, cảm giác và sự nhận thức, khi nhận diện năm uẩn là phải lấy thánh trí áp đặt vào nó, áp đặt nó đi theo, sân si là sai, bản ngã là sai, dục là sai. Lấy thánh trí làm chuẩn thì từ từ mới chuyển hóa được nghiệp thức, phá được nghiệp thức, còn không thì thức được an lập trong giới bậc trung. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt. Đây được gọi là dục hữu, hiện hữu trong thế giới của dục, thành ra vô minh và tham ái rất ghê gớm, vô minh thì che đậy còn tham ái thì trói buộc. Vào ngồi thiền mà thấy người ta ngồi đâu mình ngồi đó cho ngay hàng thì đó là minh, còn thích ở đâu ngồi đó là vô minh, trong bài pháp Hang ổ của luân hồi con đã chia sẻ rất nhiều về vô minh vì nó rất dày, chỉ có tu tập mới tháo gỡ ra được từng lớp.

Tiến thêm một bước nữa là sắc giới, phàm phu thậm chí đã ly dục thì họ nhìn thấy thế giới này bẩn thỉu, thấp hèn, hạ liệt quá nên họ tu là họ xem thường những cái dục lạc, những sự tham muốn đều tránh xa nhưng họ không có thánh tri kiến, chánh tri kiến. Cho nên họ ly cái dục của dục giới nhưng lại mong muốn được cái dục cao cấp hơn, họ mong ước được đời sống thanh cao, trong sạch, phước lành, tự do tự tại thì đó là đời sống của sắc giới, của chư Thiên. Đời sống này cũng vô thường, tan hoại, cũng sanh tử, cũng là khổ đau nhưng họ lại lấy đó làm mục đích, cứu cánh, là chỗ hướng tới của họ, vì vậy tất cả sự tu hành của họ là muốn được lên thế giới này. Hiện nay cái tu này rất nhiều, tu để được lên chỗ tốt lành, vui sướng, đây chính là sắc giới, vì không thành tựu chánh tri kiến thì vô minh sẽ chi phối, thân kiến, chấp ngã, ngũ uẩn cho nên tất cả sự tu hành đều hướng tâm về chỗ không có sắc chất dơ bẩn, những cái dục thấp hèn phàm phu, họ chỉ muốn có đời sống cao thượng, tự do tự tại cộng thêm sự vô minh làm họ không thấy được ngũ uẩn vô thường thì lúc đó thức được an lập trong giới bậc trung. Vì họ suy nghĩ vậy nên cái nghiệp sẽ tương thích như vậy, tức là những sự suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động tương thích với đời sống của sắc giới. Thành ra mới có những vị lên núi vào rừng ở một mình tu để ly dục, không tiếp xúc với ai, những lời nói, hành động, cách sống của họ tạo ra cái nghiệp tương thích như vậy, họ mong muốn, ưa thích tới thế giới như vậy cho nên thức được an lập trong giới bậc trung. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt. Đây là sắc hữu, sự hiện hữu trong thế giới của sắc hay còn gọi là sắc giới. Có những người đam mê, quay cuồng trong cái dục, điên loạn trong cái dục. Có những người xa lánh cái dục, muốn ẩn dật tu hành ở nơi xa vắng không có con người. Trong đời sống của mình có những tâm thức như vậy, từ tâm thức ẩn dật tu hành hướng về những cái như vậy nên thức được an lập trong giới bậc trung. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi trong sắc giới. Do vô minh không hiểu, họ tưởng rằng được sanh lên thế giới đó là cứu cánh nhưng không phải vậy, đó là sắc giới.

Vô sắc giới cũng vậy, tức là thức được an lập trong giới bậc thù thắng. Họ suy nghĩ hình sắc vẫn còn vô thường, đau khổ nên họ muốn đạt đến cảnh giới không còn hình sắc nữa. Cho nên mình mới thấy có những người tu thiền tưởng rằng cái thức của họ trùm khắp, rõ biết vô lượng vô biên, đó là thức vô biên xứ tưởng. Họ thích ở trong trạng thái đó, họ sống trong thế giới của tưởng, họ an trú cái tâm trong đó. Hoặc là trú trong sự trống không vô tận vô biên, không có cái gì hết gọi là không vô biên và vô sở hữu xứ, họ an lạc, thanh tịnh và ưa thích cái tâm tưởng trong đó. Cái nghiệp của họ tương thích theo như vậy, nó ái luyến trong đó nhưng cũng do vô minh, không biết cái này cũng sanh diệt, vô thường, nó cũng nằm trong năm uẩn. Chính vì vậy mà thức được an lập trong giới bậc thù thắng. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt. Ở đây gọi là vô sắc hữu, tức là hiện hữu trong thế giới không có hình sắc, sắc tướng.

Bài kinh này chúng ta thấy được sự an lập của tam giới, giải quyết được câu hỏi triết học trọng đại của nhân loại Tôi sanh ra từ đâu, tại sao tôi có mặt ở đây. Đức Phật nói do nghiệp và sự chín muồi của dục giới thì dục hữu có mặt, do những suy nghĩ, ngôn ngữ, hành động của mình tương ứng, tương thích cộng với sự chín muồi của thế giới dục thì có sự hiện hữu của chúng sanh và thế giới của dục, từ đó có ra nhân sanh và vũ trụ. Nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt để hạt giống đó nảy mầm lên. Sự tu của mình đầu tiên là diệt tận nghiệp đen và phát huy nghiệp trắng. Suy nghĩ, lời nói và hành động phải lành thiện, sau đó mới nhiếp phục, đoạn tận dục ái, từ cái thức mà mình vượt ra để thành tựu chánh trí giải thoát. Thức là sự rõ biết nhưng trong bài kinh này là hạt giống, mình dùng cái trí đó để phá cái thức. Tình thức là sự nhận thức thường tình, cái thức bây giờ của mình không còn là sự nhận thức thông thường của người vô văn phàm phu nữa mà ở đây là an lập trong trí tuệ, như vậy hạt giống đó bị phá. Mình phát huy nghiệp trắng và đoạn tận nghiệp đen thì mảnh ruộng không còn nữa, hạt giống thì bị đốt, thả xuống sông cho gió thổi bay đi và không có nước để tưới, đất không có thì lấy gì nảy mầm? Như vậy là đoạn tận các hữu.

Trong 12 nhân duyên mà mình phá được mắc xích này ra thì tất cả những cái còn lại đều bung ra hết. Đây là đoạn tận sanh tử, chấm dứt luân hồi, phá vỡ khối vô minh uẩn to lớn, làm cho cạn kiệt tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn, đối với tam giới, đối với các hữu, dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. Đây là việc làm của bậc thánh chứ không phải đơn giản 1 ngày lên tụng 2 thời là xong mà đây là sự nỗ lực khủng khiếp, tháo gỡ nhận thức sai lầm lúc trước ra.

Rồi gia chủ Anathapindika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; Thế Tôn nói với gia chủ Anathapindika đang ngồi xuống một bên:

Này gia chủ, khi tâm không phòng hộ, thời thân nghiệp cũng không phòng hộ, khẩu nghiệp cũng không phòng hộ, ý nghiệp cũng không phòng hộ.

Với ai thân nghiệp không phòng hộ, khẩu nghiệp không phòng hộ, ý nghiệp không phòng hộ, thời thân nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy; khẩu nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy; ý nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy;

Với ai thân nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy, khẩu nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy, ý nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy, thời thân nghiệp bị hủ bại, khẩu nghiệp ... ý nghiệp bị hủ bại. 

Với ai thân nghiệp bị hủ bại, khẩu nghiệp ... ý nghiệp bị hủ bại, sự chết không được hiền thiện, mạng chung không được hiền thiện

Này gia chủ, ví như ngôi nhà nóc nhọn vụng lợp, thời nóc nhọn không được phòng hộ, rui kèo không được phòng hộ, vách tường không được phòng hộ; nóc nhọn bị đầy ứ, rỉ nước, các rui kèo bị đầy ứ rỉ nước, các vách tường bị đầy ứ, rỉ nước, nóc nhọn bị hủ bại, rui kèo bị hủ bại, vách tường bị hủ bại. Cũng vậy, này gia chủ, khi tâm không được phòng hộ, thời thân nghiệp cũng không được phòng hộ, khẩu nghiệp ... ý nghiệp ... sự chết không được hiền thiện, mạng chung không được hiền thiện (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, 105.- Nóc Nhọn (1)).

Nóc nhọn không được phòng hộ tức là cái mái lợp không được kín nên bị nước mưa rỉ chảy, thấm vào các cột, rui kèo bị mục và cuối cùng là sụp đổ. Đó là do lợp mái không kĩ lưỡng, không khéo léo. Tâm không phòng hộ thì thân nghiệp cũng không phòng hộ, khẩu nghiệp và ý nghiệp cũng không phòng hộ. Tâm phòng hộ là nhận diện được ngũ uẩn, có nhìn nhận thì mới có giữ gìn, khi biết cái thọ đang buông thả, đang phóng dật thì phải thu nhiếp, hộ trì căn, bảo hộ. Cái tâm phòng hộ như vậy thì tự động cái thân được phòng hộ, ý dẫn đầu và làm chủ nên có phòng hộ tâm thì sẽ phòng hộ được thân.

Này gia chủ, khi tâm được phòng hộ, thời thân nghiệp cũng được phòng hộ, khẩu nghiệp ... ý nghiệp cũng được phòng hộ. 

Với ai thân nghiệp được phòng hộ, khẩu nghiệp được phòng hộ, ý nghiệp được phòng hộ, thời thân nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy; khẩu nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy; ý nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy.

Với ai thân nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy, khẩu nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy, ý nghiệp không đầy ứ tham dục và rỉ chảy, thời thân nghiệp không bị hủ bại, khẩu nghiệp ... ý nghiệp không bị hủ bại.

Với ai thân nghiệp không bị hủ bại, khẩu nghiệp ... ý nghiệp không bị hủ bại, thời sự chết được hiền thiện, mạng chung được hiền thiện ... (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, 105.- Nóc Nhọn (1)).

Giống như căn nhà có nóc nhọn được khéo lợp, được phòng hộ thì kèo cột, tường vách không bị thấm ướt, không bị mục hư. Như vậy cái tâm không phòng hộ sẽ đưa đến thân nghiệp không phòng hộ, tức là những cử chỉ, hành động, oai nghi sẽ buông thả, thả lỏng. Khi hành động buông thả thì cái miệng phóng dật theo, Đức Phật nói trong các triền phược, sự phóng dật buông lung là một kiết sử, Minh Thành đọc tới đây bị sốc vì không thể ngờ vì ngày xưa mình hoặc các vị lớn hướng dẫn Tăng-Ni cũng có ý khi thấy ai đi nhìn xuống trang nghiêm thì lại nói người ta làm dáng, cứ bình thường đi làm gì mà phải gò bó, kĩ lưỡng dữ vậy. Đây là cái tâm bất thiện pháp, ác pháp, hồi xưa mình bị như vậy mà không hay biết, cứ tưởng vậy là hay, cuối cùng mình sống trong kiết sử. Sự thả lỏng, buông lung của mình là một sự trói cột cho nên khi mới ngồi thiền rất khó chịu, ngồi thấy cực khổ vì nhức mỏi, tê chân, bị ngứa, muỗi, kiến cắn… đó là kiết sử, không chịu ngồi yên. Vào trình pháp cũng vậy, quy định chỉ có 5 phút nhưng hễ cầm micro là nói không kiểm soát được, đó là cái dục đang vận hành, buông lung phóng dật không có chánh niệm tỉnh giác nhưng ai nhắc nhở là giận, buồn, đó cũng là kiết sử, là sự trói cột của thân tâm. Khi có chuyện đặc biệt cần thưa trình là chuyện khác, còn khi mình đưa câu hỏi thì lại muốn giảng luôn thì đây là vô minh, dục, bản ngã, buông lung hoạt động nhưng mình lại không hề hay biết, cứ nói là mình đang nói thiện pháp. Cái thâm sâu bên trong thánh pháp là mình không kiểm soát được bản ngã, không kiểm soát được dục, vô minh, thậm chí chuyện không đáng nói mình cũng nói. Đây là sự phòng hộ tâm, phòng hộ miệng, phòng hộ lời, phòng hộ thân. Bản thân Minh Thành vẫn bị nhưng phải kiểm soát, khéo léo chấn chỉnh, những lần sau phải có sự nhiếp phục. Khi giảng pháp về từ tâm hay dục, mình muốn nói, ưa nói, muốn khoe khoang, phô trương thì phải nhiếp phục những điều này. Càng học thì sẽ càng đi sâu vào những cái vi tế. Được khen ngợi mà không nhìn nhận rõ ràng thì không khéo bản ngã sẽ sanh khởi, mình chặn điều này bằng cách lạy sám hối diệt ngã, đây là sự sâu sắc. Còn thông thường được khen thì có cảm giác phơi phới, đây là không phòng hộ tâm rồi sẽ dẫn đến không phòng hộ lời, không phòng hộ thân. Ngay khi mình đang tu tập, đang nghe pháp hoặc đang ngồi thiền mà bản thân buông lung lại không biết chứ đừng nói gì ngoài đời, khi mọi người hồi hướng mà mình lại còn muốn hỏi pháp thì cái này không đúng vì mọi người đang có việc hoặc là đã tới giờ kết thúc còn mình cần thì phải gặp riêng để hỏi. Nó rành rành trước mắt mà mình không biết nên đó là vô minh, càng học sẽ càng thấy cái vô minh của mình nó dày đến mức nào, nhưng nếu sự chánh niệm tỉnh giác càng sâu, trí năm uẩn càng sáng thì tự động sẽ phát giác ra ngay chứ không thể chỉ dạy hết được. Cho nên không phải muốn nói là nói, phải phòng hộ tâm, phòng hộ lời, phòng hộ tất cả mọi thứ chứ không phòng hộ sẽ đầy ứ tham dục và rỉ chảy. Có một chú Phật tử lên sám hối rồi khóc vì sự việc ăn chuối, chú khóc vì mừng và buồn. Ở nhà chú thích ăn chuối, ăn cơm xong thì chú thấy có nải chuối nên lại bẻ ăn mà không hỏi ai. Khi bẻ rồi chú mới giật mình nhận ra mình phạm vào giới trộm cắp, lấy mà không xin phép, bị cái dục thúc giục bên trong. Chú để trái chuối xuống, chú thấy mình phạm lỗi và cần sám hối. Chú lên thưa với Minh Thành và khóc vì thấy nhục, nhà không thiếu đồ ăn mà lại thấy món mình thích là bẻ ngay, tới khi nhìn lại thì giật mình vì tự lấy ăn mà không xin phép. Chú khóc nhưng lại mừng vì đã thấy được cái dục vì trước giờ chú không thấy, Minh Thành rất xúc động vì chỉ là người Phật tử đến đây tu có mấy ngày mà đã nhìn ra cái dục, còn mình ở lâu trong chùa thì thấy sao? Cho nên trong cái đồ của thường trụ là chuyện hết sức quan trọng, không phải chuyện giỡn, phải học giới luật để biết, mình không phòng hộ thân, không phòng hộ lời, không phòng hộ những hành vi cử chỉ, ý nghĩ thì tâm, thân và miệng đầy ứ tham dục và rỉ chảy, muốn ăn gì là lấy và nhất là những người có trách nhiệm dưới bếp thì nguy hiểm vô cùng. Nhiều khi lâu lâu quý thầy nhắc nhở khi nấu phải tiếc phước, cẩn thận thì mình lại nói cái này do mình bỏ tiền ra mua, điều này không chấp nhận được. Mình nấu nhiều thì quý thầy nhắc nhở vì sợ hao tốn của tam bảo thì mình lại nói cái này mình bỏ tiền ra mua, đây là phàm phu. Khi được nhắc thì mình phải nhìn lại "con thấy đó là cái lỗi, con sẽ cố gắng" chứ không phải mình nói "con có tiền để con mua xài riêng" là không được. Đó là lý do mình phải phòng hộ lời, phòng hộ thân, phòng hộ tâm và tất cả mọi chứ, còn không thì đầy ứ tham dục và rỉ chảy. Vào đọc kinh cũng vậy, ví dụ đại chúng có 15 người thì chia đều ra đọc chứ không phải mình đọc một bài bằng 5 người đọc là không được. Mọi người có thấy vi tế không? Khi âm lượng của đại chúng đọc chỉ ở mức 6 thôi mà tới mình thì lên tới 9 thì đây cũng là bản ngã. Mình là cư sĩ mà lại đọc những bài kinh Đức Phật dạy cho người xuất gia cũng phải hết sức cẩn thận, ví dụ bài đó mình thích thì mình đọc, mình học để tu những bài phù hợp, mình đọc những bài cho người xuất gia thì phải kiểm soát tâm hết sức kĩ, có những thọ; tưởng; hành gì trong đó là phải thấy. Sự tu nó nhỏ nhiệm, vi tế và sâu sắc như vậy đó. Mình đọc những bài Đức Phật dạy cho những vị Tăng-Ni Tỳ-kheo mà mình lại tưởng mình cũng giống như họ thì nguy hiểm, vì âm thanh phát ra thọ; tưởng; hành. Con thấy đại chúng đọc từng cái nhưng con phải để tâm thọ; tưởng; hành vào chỗ đó rồi xem nó vận hành như thế nào. Cái gì cũng cần phải để tâm vào thì mới phòng hộ được, không thôi thì chỗ nào cũng rỉ chảy, không phải trong sinh hoạt bình thường mới rỉ chảy mà cả trong lúc tu tập cũng bị rỉ chảy, chẳng qua nó vi tế. Nếu mình nhìn rộng ra thì cũng là thiện pháp, nhưng ở đây mình muốn thánh pháp thì phải kiểm soát một cách sát sao cái tâm của mình, cho nên phải nhìn tâm rất kĩ, thật là kĩ lưỡng. Kĩ sư tâm hồn chính là người tu. Nói nôm na kĩ sư là ông thầy kĩ tính, phải thật kĩ trong tâm mình từng chút một, như vậy mới đi đến chỗ kiểm soát được các lậu hoặc, từ từ mới đi đến chỗ lậu tận, còn không thì bị nó qua mặt vù vù.

Phải phòng hộ tâm, phòng hộ những hành động của thân, phòng hộ những lời nói của miệng. Còn không phòng hộ thì đầy ứ tham dục và rỉ chảy. Nếu bị đầy ứ và rỉ chảy thì thân nghiệp bị hủ bại. Hủ là bị mục nát và bị bại hoại.

Với ai thân nghiệp bị hủ bại, khẩu nghiệp ... ý nghiệp bị hủ bại, sự chết không được hiền thiện, mạng chung không được hiền thiện.

Thân bị bại hoại, miệng và tâm cũng bị bại hoại. Bị bại hoại như vậy thì khi nhắm mắt ra đi không được hiền thiện, không được tốt lành, sẽ sanh vào cõi dữ. Cứ để cái dục phát huy, đầy ứ, rỉ chảy ra rồi cái sân cũng được phát huy hết mức, cái si cứ để cho nó trùm kín hết thân tâm, tràn ngập thân tâm là bóng đêm bao phủ trong sự vô minh, si ám thì sẽ bị hủ bại, bại hoại, khi chết sẽ không được tốt lành, chết mà đầy ứ tham dục rỉ chảy, sân hận, bản ngã, vô minh, bao nhiêu ác nghiệp đầy ứ thì chắc chắn sẽ đi vào cõi dữ. Cho nên sự phòng hộ những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình trong tâm, tức là phòng hộ thọ; tưởng; hành; thức là tuyệt đối quan trọng, phòng hộ những cảm thọ, cảm xúc, phòng hộ những hình bóng, những sự suy tưởng và ngay cả sự nhận thức, cái biết của mình cũng phải được phòng hộ, canh chừng, mình sẽ chết với cái thức nếu bỏ lơi nó vì biết trong tham sân si, bản ngã "biết như vậy thì để làm gì". Khi nhận thức mà sanh ra tham sân si, bản ngã thì dùng Như lý tác ý đánh đuổi thức thủ uẩn "biết mà để sanh ra tham dục, sân hận, si mê, bản ngã thì biết làm gì? Hủy bỏ, diệt tận cái biết này đi để sanh khởi ra những cái biết hiền thiện, từ bi hỷ xả vô lượng tâm", như vậy mình mới chuyển nghiệp thức đi vào trong thánh trí, còn không là đầy ứ rồi khi mạng chung không được hiền thiện. Phải lợp cái nhà cho kĩ lưỡng, kín kẽ và thật khéo léo chứ đừng để cho nó thấm ướt, dột nát, mục rã, sụp đổ. Minh Thành nhắc lại phải phòng hộ thân tâm vì nghiệp rỉ chảy là do tâm không phòng hộ. Khi mình có cơn giận với ai thì thọ; tưởng; hành vận hành lên, mình có những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng sanh khởi thì phải tác ý diệt tận và trải tâm từ thì đó là có phòng hộ, còn mình để cho thọ; tưởng; hành vận hành tiếp diễn, từ bên trong phát ra ngôn ngữ, hành động rồi đầy ứa, bị hủ bại, cứ như vậy thì khi chết đi vào cõi dữ. Nếu mình biết phòng hộ, canh chừng, mình biết dùng Như lý tác ý bảo vệ, giữ gìn thì chết sẽ được tốt lành, hiền thiện và sanh vào cõi lành tu tập tiếp để chứng nhập thánh trí. Vì vậy sự phòng hộ là hết sức quan trọng trong sự tu tập, càng buông lung chừng nào thì càng phải cẩn thận phòng hộ chừng đó, mình rất dễ bị môi trường tác động nên càng phải cẩn thận, kĩ lưỡng phòng hộ cho thân tâm trong hiện tại và tương lai được tốt lành.

Chúng ta tu học là để từ từ nhìn thấy rõ thân tâm mình để từ đó khắc phục chân thành, điều chỉnh những gì chưa được tốt. Mọi người hãy tự giác, tự nguyện, tự cố gắng nỗ lực để dần dần hoàn thiện, lớn mạnh trong giáo pháp. Khi mình ý thức và nhìn thấy được lỗi lầm là lỗi lầm để khắc phục, sửa đổi và hoàn thiện thì mình sẽ được lớn mạnh trong pháp và luật. Minh Thành không muốn nhận lễ của đại chúng quá nhiều và Minh Thành cũng đã nhắc đại chúng nhiều lần về điều này, có gì thì lên thưa, lạy Phật rồi bước qua lạy Tam bảo chứ Minh Thành không thể nhận lễ lớn như vậy của đại chúng, xin đại chúng nhớ kĩ lời Minh Thành đã chia sẻ. Xin nhắc lại với đại chúng, nếu quý vị có chuyện cần thưa thì cứ thưa chứ đừng lạy, nếu phát lồ sám hối thì lạy trước tam bảo chứ con không đủ đức độ lớn để nhận lễ lạy của đại chúng, thứ hai là khi ngồi thiền mà bị hôn trầm, ngồi bị nghiêng không được ngay thẳng mà có quý thầy lại chỉnh sửa thì mình phải chắp tay xá cảm ơn, thậm chí lấy thiền bảng đánh xuống thì mình phải chắp tay cám ơn, đó là phép tắt trong tùng lâm, các thầy hi sinh giờ tu để chăm sóc cho mình. Thứ ba là thầy Pháp Nghĩa cho đại chúng tụng oai nghi thì phải nhớ cho kĩ.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

1:24:07 là Phật tử nêu ý kiến.

./.