Từ Đâu Có Ra Nghiệp - phần 2
TỪ ĐÂU CÓ RA NGHIỆP? PHẦN 2
THÍCH MINH THÀNH
Thầy sẽ chia sẻ kinh nghiệm trong sự tu học và làm việc, sở dĩ ngày hôm nay mình lập Linh Quy Pháp Ấn, được nhiều nơi biết đến những bài pháp thầy chia sẻ. Thầy chắt chiu từng chút một kiến thức Phật pháp, khi thầy mới ra giảng pháp phải đi mượn mấy quay phim nhỏ, lấy ghế nhựa nhỏ rồi lấy cục đá lót vào để máy quay lên cục đá rồi quay, chứ không phải tự nhiên mà có những điều kiện, có những phương tiện, nhân duyên để ra giảng pháp. Thầy tiếc từng chút thời gian, mỗi khi thầy nhắc nhở không phải do khó khăn hay rắc rối mà muốn các huynh đệ phải có sự thích nghi, sự rèn luyện, sự thích ứng, thuần thục điêu luyện trong những việc mình làm thường trực. Nếu mình không thuần thục điêu luyện, không giỏi trong chuyên môn của mình thì sau này ra không làm được, phải có sự đầu tư rèn luyện, thậm chí là khổ luyện giống như trong quân đội. Quân đội là giáo dục bình thường của thế gian mà 5 phút là 5 phút, 10 phút là 10 phút, nếu mình còn thua cái này nữa thì làm sao mình có thể làm thầy thiên hạ? Đây là những cái đơn giản nhất rồi, nếu mình không để ý khắc phục, chấn chỉnh, làm mới mình thì mình cứ như vậy hoài, 5 năm-10 năm nữa mình cũng vậy thôi, không có bước chuyển hóa và đột phá. Vì vậy mình phải có sự để tâm, chìa khóa vàng để thành công chính là Tứ Như Ý Túc, điều quan trọng nhất là phải có sự mong muốn. Cái muốn của mình phải đủ sức để làm cho mình nỗ lực, tinh tấn, gắng sức, cái muốn đủ sức thì tự động sẽ sanh ra sự nỗ lực đó. Sau đó mình phải để tâm vào công việc mình đang làm, để tâm vào cái pháp mình đang học, để tâm vào con đường mình hành trì, để tâm và đặt hết tấm lòng trái tim vào đó, chứ không phải học cho có. Tiếp theo là Tư Duy Như Ý Túc, Thẩm Sát Như Ý Túc, nghĩa là không những đặt hết trái tim mình vào mà còn suy xét, tìm những cách thức, phương pháp để hoàn thành nhanh nhất, mau nhất và có hiệu quả nhất. Đó là chìa khóa vàng để thành công trong tất cả mọi phương diện thế gian và xuất thế gian. Nếu không vận dụng Tứ Như Ý Túc thì sẽ không được như ý, không được thành công trong tất cả mọi phương diện. Chẳng hạn như khi mọi người nghe thầy chia sẻ thì đâu có đơn giản để thầy nói được như vầy, mọi người lên mạng xem những hội thi diễn giảng, thầy đã từng học và cũng từng thực tập vào 25 năm trước. Muốn thuyết trình 1 bài không phải chuyện đơn giản, ít nhất phải có kiến thức về điều sắp nói, phải có tài liệu, phải có sự nghiên cứu, thậm chí phải có sự thực tập. Cho tới ngày hôm nay thầy ra chia sẻ Phật pháp hơn 15 năm nhưng đối với thầy mỗi một buổi giảng thầy đều trân trọng giống như lúc thầy mới bắt đầu ra giảng, thầy quý trọng mỗi một bài pháp. Với bài pháp đó mình vừa nghiên cứu, vừa tư duy, vừa chia sẻ trong hiện tại và để lại cho mai sau. Thành ra thầy xem việc giảng pháp rất quan trọng, chỉ sau việc tu, vì thế khi thầy chia sẻ về xúc:
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi. (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Tỳ-kheo).
Chỉ với một câu này thôi mà 1-2h đêm thầy phải nghiền ngẫm, gặp chuyện gì cũng nghiền ngẫm tiếp tục câu này. Chứ không phải lên nói cho xong bài rồi bỏ qua một cách đơn giản như vậy. 1h khuya này thầy giật mình khi tạng kinh còn mở thì thầy nhìn lại chuyện hôm qua, nghiền ngẫm tiếp chữ xúc, tuy là trong người không được khỏe nhưng khi thấy được gì là phải chia sẻ để mình nỗ lực thêm, phát ra thọ; tưởng; hành; thường và Như lý tác ý chánh tư duy và mình chia sẻ cho mọi người để cố gắng bộ kinh Nikāya được giảng ra trước khi mình nhắm mắt qua đời. Phải như vậy chứ không phải làm việc, học hay tu cho có, lúc nào bản thân Minh Thành nhìn lại cũng thấy hổ thẹn vì giới đức, thiền định, trí tuệ của mình, mỗi lần nghe tạng kinh rồi ngước lên nhìn Tam bảo thấy hổ thẹn. Mình phải có ý chí cầu tiến, tiến thủ không ngừng, nỗ lực tiến lên, khi làm cũng phải đem hết tâm huyết vào, làm Phật pháp cũng chính là làm cho mình.
Xúc là các nghiệp sanh khởi, câu này là cả một bầu trời trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác. Hiện tại mình đang có nghiệp gì? Mình đang có thọ gì? Trong danh và sắc thì danh là gì? Danh là xúc, tác ý, thọ; tưởng và tư. Những điều này phải nắm vững, mình chưa học 7 trí về thức vì cái này quá sâu xa. Hiện tại bây giờ nhìn lại thọ, tai tiếp xúc âm thanh có sự rõ biết, sau đó có thọ, kế đó là tưởng, tiếp theo là có suy nghĩ. Hôm qua thầy xuống núi tụng một thời kinh, chú đó mới 24 tuổi đi làm thợ hồ rồi bị tai nạn giao thông, khi nghe như vậy là sự tiếp xúc của tai với âm thanh đó, sau đó mình tác ý "tội nghiệp quá, cuộc đời vô thường đúng theo lời Phật dạy", kế đó phát sanh ra khổ thọ, ưu thọ, khi nghe rồi mình tưởng ra cảnh bị tai nạn giao thông rồi bắt đầu suy nghĩ theo hướng chánh tư duy, suy nghĩ theo hướng nhàm chán, thấy sự nguy hại của đời sống, sự nguy hại của sắc và mình suy nghĩ đến sự xuất ly. Cho nên khi tiếng kèn đám ma kết hợp những lời này thì đó là danh, lúc đó là xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư nhưng không phải là nghiệp xấu. Xúc để đưa đến chấm dứt, đoạn diệt các xúc, đó là sự tu tập của Bát Chánh Đạo. Có 2 người bạn đang đi với nhau thì nghe tiếng trống, nhìn lại thì thấy đó là tiếng đánh trống thổi kèn báo hiệu có người vinh quy bái tổ về làng. Hai huynh đệ cùng tu thấy vui quá, người sư huynh nói đệ chỉ nghe tiếng trống kèn bây giờ mà không nghe tiếng trống kèn của sau này, lúc này cơn vui của người sư đệ lắng dịu xuống. Ở đây ta thấy một cái là chánh tư duy và một cái là tà tư duy, một cái là Như lý tác ý và một cái là phi Như lý tác ý, mọi người đã thấy rõ chỗ dụng tâm không? Quy trình vận hành của tâm pháp là xúc, tác ý, thọ, tưởng; tư, hằng ngày lúc nào mình cũng có mà không biết, không biết thì gọi là vô minh và si mê. Cái này rất quan trọng vì mình đâu thể không xúc, làm sao mình không xúc khi mình có 6 căn, 6 trần, 6 thức? Lúc nào mình cũng xúc, chỉ khác nhau ở chỗ có tu tập hay không tu tập trong cái xúc mà thôi. Cái xúc này tạo thành nghiệp đen, nghiệp trắng hoặc vừa nghiệp đen vừa nghiệp trắng, hoặc có nghiệp không phải trắng không phải đen thì đây là Niết-bàn, là chấm dứt tất cả nghiệp. Nếu mình tiếp xúc, có cảm giác, tác ý lên và mình tưởng, sau đó mình suy nghĩ "người ta chết rồi, mình cố gắng làm phước, làm những điều lành để đời sau mình có sanh ra cũng được tốt đẹp" thì đây là đang hướng đến nghiệp trắng. Bài chia sẻ hôm nay rất đặc biệt vì có kèm theo tiếng kèn đám ma, thầy biết là có đám ma nhưng thầy vẫn cố tình nói pháp. Người có tư duy như vậy là hướng đến nghiệp trắng, trắng tức là thiện lành còn đen là ác độc, hung dữ. Có người lại đám ma thì nghĩ "sớm cũng chết, muộn cũng chết thôi giờ ráng hưởng thụ, ăn chơi đi chứ không mai mốt chết thì hết", thì đây là đang hướng vào nghiệp đen. Trong hoàn cảnh như vậy mà mình nghe, mình thấy, mình tiếp xúc mà mình nghĩ dòng sanh tử thật là ghê sợ, thật là khủng khiếp. Cái khủng bố của sanh, bị sanh, già, cái bị già, bệnh, bị bệnh, bị bệnh chết mà mình đi tìm cái chết thì đây mới là đại khủng bố. Mình nhìn sự thương xót của người thân, mẹ đầu bạc tiễn con đầu xanh mới hơn 20 tuổi, lá non trên cành nhưng bây giờ lá già phải khóc cho lá non. Đúng là vòng luân hồi thật đáng sợ, bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp đã có biết bao giọt nước mắt, bao nhiêu sự chia ly, đau thương tan tóc trong vòng luân hồi này.
Mình phát khởi tư duy, sư suy tư làm sao để chấm dứt vòng luân hồi này thì cái này mình đang hướng đến nghiệp không đen không trắng của Niết-bàn, chấm dứt sanh tử. Chỉ một tang lễ mà mình thấy ra được có 4 loại nghiệp, trong một loại tiếp xúc mà có 4 loại nghiệp:
Nghiệp đen.
Nghiệp trắng.
Nghiệp vừa đen vừa trắng.
Nghiệp không đen không trắng.
Tất cả đều từ xúc mà có ra các loại nghiệp này, cho nên cái xúc này rất quan trọng và thiết yếu, vì vậy không thể học qua loa, đọc một lần là xong. Cũng là xúc nhưng xúc bằng trí tuệ, bằng chánh tư duy, bằng Như lý tác ý, chánh niệm và tỉnh giác, chánh kiến thì cái xúc này đưa đến đoạn diệt tất cả xúc, chấm dứt tất cả xúc. Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là 6 nội xúc sứ, là 6 sự tiếp xúc ngay bên trong cơ thể. Sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp là 6 ngoại xúc sứ.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, I. Phẩm Vô Minh, X. Được Chấm Dứt)
Cho nên 6 loại tiếp xúc bên trong của 6 căn, 6 loại tiếp xúc bên ngoài, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp và sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều là vô thường, khổ, vô ngã, không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi. Nếu thường tu tập, thường chiêm nghiệm, thường tư duy như vậy thì người này sẽ vượt khỏi địa vị của phàm phu. Xúc trong vô minh nên tham ái sanh khởi, xúc trong vô minh là mình tiếp xúc trong sự không có sáng tỏ, không biết rõ, không thấy được các pháp vận hành. Nếu không học kinh thì khi tiếp xúc vẫn không biết gì, không biết tác ý, thọ, tưởng; tư hoàn toàn không biết gì hết, chỉ nghĩ là tôi tiếp xúc, tôi suy nghĩ, tôi có cảm giác thì đây là xúc trong vô minh nên ái sanh khởi, ái tăng trưởng, thuận theo thì mình thích, trái ngược thì ghét, mà thích hay ghét đều là ái. Những điều này rất là sâu sắc, từ chỗ tiếp xúc, tác ý, khởi lên ý nghĩ, bắt đầu có cảm giác rồi suy nghĩ, vậy là tạo nghiệp, từ đây mới sanh ra nghiệp. Thầy chiêm nghiệm khi thấy đứa trẻ chơi game trong thời gian dài, tiếp xúc hoài, xúc trong sự không sáng tỏ, rõ biết thì đam mê, mà đam mê là ái, không đi ra được nên trở thành bệnh. Một chữ bệnh nói đơn giản nhưng dẫn ra biết bao hệ lụy như bỏ học, sức khỏe đi xuống, tinh thần hoảng loạn không được minh mẫn, làm cho cha mẹ, cô bác lo lắng, thậm chí từ chỗ không chơi được nữa sẽ đi đến chỗ trộm cắp, có những vụ giết cha mẹ ông bà để tiếp tục được xúc với game. Đây là xúc trong vô minh sanh ra ái, từ ái tham sanh ra sân hận, tất cả sự vận hành đều bắt đầu từ xúc. Cho nên chỉ với một câu Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi là cả một bầu trời trí huệ cho mình quán chiếu.
Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý. (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Tưởng là suy tư, sau khi suy tư thì tạo nghiệp về thân, lời, ý. Đây là quy trình vận hành của tâm pháp, đây là tâm lý học siêu việt của Phật giáo. Nó rất rõ ràng, được chứng minh cụ thể trong mọi thời, mọi khắc, mọi sự, mọi việc. Đây là tâm lý học của trí tuệ. Hết sức sâu sắc trong chữ xúc, hết sức sâu sắc trong chữ suy tư là nghiệp. Hằng ngày mình xúc với pháp, trong pháp nói lên sự thật trí huệ, chính vì mình xúc thường với pháp nên mình tác ý theo pháp, cảm giác lạc thọ trong pháp, khi nghe kinh Đức Thế Tôn cùng chư vị Tỳ-kheo đi ngang khu rừng đang bốc cháy thì Thế Tôn nói tất cả pháp đang bốc cháy thì cái tưởng của mình đương nhiên là tưởng về Đức Phật, tưởng các vị Tỳ-kheo, tưởng theo lời pháp đó, suy nghĩ duyên nơi cái pháp đó cho nên xúc đó là xúc của trí huệ, cái xúc này đưa đến chỗ xuất ly, ra khỏi vô minh, tham ái, chấp thủ. Hằng ngày mình được nghe pháp, được pháp đàm, được đọc kinh thì mình cũng đang dùng xúc để tu, từ đó sanh khởi ra nghiệp không đen không trắng để đi đến Niết-bàn. Người ta mở mạng xem phim, ảnh đẹp còn mình xem để quán bất tịnh chứ không phải mình không xúc nhưng cái xúc này đưa đến chấm dứt dục và tham, đoạn tận dục và tham trong sắc. Nếu mình lên mạng xem những cái khác, xem những cái làm duyên phát sanh ra dục tham, tăng trưởng dục tham thì bản thân mình phải chịu chứ làm sao người khác giữ cho mình được. Xúc với trí tuệ thì đưa mình đến sự yểm ly, giải thoát còn xúc với tham ái, vô minh, si mê thì tăng trưởng sự chấp thủ, ràng buộc, tiếp tục luân hồi. Khi nghe nói xúc các nghiệp sanh khởi thì nghĩ rằng bây giờ không xúc nữa, điều này không đúng. Không xúc là hạn chế những sự tiếp xúc làm bất thiện pháp sanh khởi như dục tham, sân si, bản ngã, tranh đấu, đúng sai, cần phải tránh xa những sự tiếp xúc này. Đây chính là trung đạo.
Xúc đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, là nghiệp đoạn diệt (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Tỳ-kheo).
Hôm qua có chú Phật tử bên Mỹ gọi về nói nguyện với Tam bảo sẽ bỏ hút thuốc, tiền hút thuốc con sẽ gửi về cúng chùa, thầy cố gắng cầu nguyện giúp con. Nếu họ quyết tâm không tiếp xúc với thuốc nữa thì cái nghiệp nghiền thuốc sẽ hết, cho nên xúc đoạn diệt là nghiệp đoạn diệt. Mê game cũng vậy, mình bỏ từ từ rồi không tiếp xúc với nó nữa thì cái nghiệp về mê game sẽ hết. Mê phim ảnh xấu cũng trở thành chứng bệnh mới, tiếp xúc hoài thì bỏ không được, bây giờ tập bỏ từ từ, dứt hẳn không xúc nữa thì nghiệp sẽ hết. Tất cả do mình xúc trong vô minh sanh ra ái, ái rồi thủ, nắm chặt không buông ra được. Trước khi tập hút thuốc thì mình không có nghiền, trước khi tập chơi game thì mình không nghiền game, trước khi xem những phim ảnh thì mình đâu có nghiền nhưng sau khi xem, mình xúc trong vô minh thì mình sẽ nghiền, nghiền rồi ái tới lúc không thể thiếu, không thể không có được nữa, từ đó trở thành nghiệp, không những yêu thích mà còn bám giữ vào đó. Nếu tu cái này rất sâu sắc và cực kì hay, mỗi tâm, mỗi niệm, mỗi sự tiếp xúc đều được trí tuệ soi sáng. Khi thầy chiêm nghiệm cái này chỉ muốn bỏ hết mà lên rừng yên tu, con đường này đòi hỏi mình phải dấn thân thể nhập, chứng ngộ. Từ điều này mở rộng ra tình cảm nam nữ cũng từ sự tiếp xúc, có một chú đến khóc với thầy, 2 cô chú ăn ở với nhau, bây giờ cô này lại bỏ chú đi theo người khác, người này có danh vọng, địa vị hơn. Chú này bây giờ buồn, khổ, thậm chí muốn chết. Thầy mới khuyên bảo, chia sẻ, sắp xếp được thời gian để lên núi vài ngày thư giãn cho tinh thần được thoải mái, nhưng trong tâm thầy thấy từ chỗ xúc, trước khi mình quen người đó thì mình sống rất thoải mái, không bị lệ thuộc, nhưng sau khi tiếp xúc rồi từ trong cảm giác, cảm thọ của nam nữ, trong tình cảm yêu thương đó thì xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sẽ sanh thủ. Tiếp xúc sẽ có cảm giác yêu thích, mà đã yêu thích sẽ nắm giữ, mà nắm giữ thì tạo nghiệp, bây giờ không có xúc đó thì mình đau khổ. Nhưng có những người không vượt qua được vì ái thủ quá nặng, có những người đi đến chỗ quyên sinh, có những người thời gian cũng nguôi ngoai rồi tìm cái xúc khác, tìm bạn mới. Ở đây mình nói cho dễ hiểu là dần dần tình cảm cũng phai nhòa, không xúc với người cũ nữa thì tự nhiên sẽ hết, không còn khổ như lúc đầu mới chia tay nữa. Cho nên mới có nhiều trường hợp mà người đời hay nói là xác pháo đầy đường, lỡ bước sang ngang nhưng rồi người ở lại cũng phải sống thôi, thời gian nguôi ngoai thì cũng vượt qua được sự nhớ nhung, đau khổ lúc ban đầu thôi. Khi sống đi lấy chồng là một chuyến đò sang ngang thì khi chết cũng là chuyến đò sang ngang, khi đó những người thân trong gia đình cũng đau khổ, khóc lóc đau đớn nhưng rồi thời gian cũng làm dịu đi sự mong nhớ người thân đó, thời gian sau là hết nhớ hết khóc, chết là đi vào dĩ vãng, là hết rồi. Khi nghe tiếng nhạc đám ma thì tâm mình có khác không? Nếu mình nghe nhạc rap, rock thì tâm lại khác, khi đó xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư sẽ khác với lúc nghe nhạc đám ma. Có những người đi thi mà mở nhạc sôi động một lúc là giám khảo cũng đứng dậy nhảy luôn, nếu lên hát bình thường thì giám khảo đâu có đứng lên nhảy. Người hát làm nóng sân khấu truyền lửa cho người ngồi chấm thi rồi người ta cũng đứng lên nhảy luôn, đó là xúc tập khởi nên nghiệp tập khởi.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi.(Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Có những người xem phim, hay xem 1 đoạn video nào đó rồi cũng khóc cười theo đó luôn. Xem những cảnh nghèo khổ đói rách thì khóc nhưng xem cái này để sanh ra lòng từ bi, tình thương, trí huệ. Còn xúc để sanh ra tham sân si là khác. Mình mới vào chùa gặp người sư huynh, sư đệ mà mặt hầm hầm với mình trong khi mình không làm gì, rồi còn nói nặng với mình thì đó là xúc tập khởi nên nghiệp tập khởi. Những điều này mình phải suy tư, quán chiếu để nhìn rõ sự tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày. Đây là thiền ngữ trong thiền định của Tương Ưng Bộ kinh.
Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.
Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?
Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ... rồi an trú tưởng... rồi an trú các hành... rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú gì? Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc, hỷ đối với sắc đoạn diệt. Do hỷ đối với sắc đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ, hỷ đối với thọ đoạn diệt. Do hỷ đối với thọ đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú tưởng... không đắm trước và an trú các hành. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú các hành, hỷ đối với các hành đoạn diệt. Do hỷ đối với các hành đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức, hỷ đối với thức đoạn diệt. Do hỷ đối với thức đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, V. Thiền Ðịnh).
Cho nên hãy tu tập thiền định, lúc nào mình cũng nhìn lại thân tâm, danh pháp và sắc pháp. Sắc pháp là tứ đại, danh pháp là xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư xem nó vận hành như thế nào, đây chính là thiền định. Mình thường nhìn lại, thường quán chiếu thì mình sẽ hiểu biết như thật về ngũ uẩn, hiểu biết như thật về sắc thân tứ đại này, hiểu biết như thật về sự tập khởi và đoạn diệt của nó, từ đâu nó sanh ra, chấm dứt như nào. Nếu mình hiểu biết sự tập khởi và đoạn diệt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì mình không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước trong năm uẩn đó. Không có vui vẻ đối với sắc, không có đam mê, bị trói cột vào nó, mình chỉ có ý niệm từ bỏ, xa lìa, viễn ly, chấm dứt, không tái tục, tái ngộ nó nữa. Nếu mình không an trú, không say mê nó thì sự chấp thủ sẽ bị đoạn diệt, như vậy là toàn bộ khổ uẩn này sẽ chấm dứt, còn nếu mình hoan hỷ, thích thú, đam mê, ở trong đó thì mình sẽ nắm chặt rồi tạo nghiệp, mình sẽ tiếp tục sanh ra, có sanh thì có già, có già thì có chết. Như vậy thì sầu bi khổ ưu não sẽ khởi lên, là lý do của sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Nếu mình không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước, không an trú thì sự chấp thủ sẽ bị đoạn diệt. Tại sao mình không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước, không an trú? Vì mình sống với chánh kiến, thấy nó là vô thường, khổ, vô ngã, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi. Khi mình có chánh kiến, có chánh tư duy, Như lý tác ý thường trực thì mình mới không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước, không an trú ở nơi năm uẩn. Khi mình không có chánh tri kiến thì đương nhiên mình phải hoan hỷ, hoan nghênh vì nó đẹp, nó ngon, nó tốt rồi giành giựt về cho mình, nếu không thành tựu chánh kiến thì chắc chắn sẽ như vậy. Còn muốn thành tựu chánh tri kiến phải thân cận với bậc chân nhân, nghe pháp từ nơi bậc chân nhân, tư duy trong cái pháp đó, nỗ lực thực tập quán chiếu để chuyển hóa. Đó là những điều kiện để thành tựu chánh tri kiến, nếu mình không gặp chân nhân, không gặp người chân tu mà lại gặp tà sư thì càng phát triển thêm hướng dính mắc, chấp thủ trong năm uẩn, chạy theo danh lợi, tài sắc, "con phải có cái này, cái kia cho bằng người ta".
Vấn đề quan trọng là do sự vô minh, thành ra khi Đức Thế Tôn nói rằng trong cái thấy chỉ có thấy, trong cái nghe chỉ có nghe, trong cái ngửi chỉ có ngửi thì đây không phải là cảnh giới của phàm phu. Mình phải xét sâu vào nguồn gốc của xúc, thực pháp trong đời sống chính là bản thân mình, khi thấy một người con gái đẹp thì thấy có phải là thấy không? Có phải trong cái thấy chỉ có thấy không? Cái thấy của mình từ bản chất của con mắt cho đến các sắc, các nhãn thức, rồi thọ; tưởng; hành; thức đều là một khối dày của chấp ngã, vô minh. Vì vậy trong cái thấy của mình là cái thấy của vô minh, không phải là cái thấy của chánh tri kiến, cho nên cái xúc đó sẽ tạo ra nghiệp tiếp tục của vô minh, đó là vô minh duyên hành, tức là do vô minh làm điều kiện nên hành mới sanh khởi. Từ sự vô minh là cái không sáng tỏ, không thấy rõ, không nhận biết được ngũ uẩn nên thân hành, ý hành, khẩu hành đều hành động theo vô minh, mà hành động theo vô minh thì tạo nghiệp. Khi thấy người đẹp, nghe tiếng nói, hay lời nhạc êm ái thì đương nhiên không thể thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe. Khi thấy người xấu xí, một người mình không thích thì lúc đó mình ra sao? Còn khi thấy một người không đẹp không xấu, không thích cũng không ghét thì lúc đó ra sao? Tất cả cái thấy của mình đều ở trong vô minh, tôi đang thấy và người đó không đẹp không xấu. Lúc đó căn – trần – thức, thọ; tưởng; hành của mình đều là một khối vận hành của vô minh và tham ái, dù cho đẹp hay xấu, hoặc không đẹp không xấu nhưng cái nhìn của mình đều ở trong vô minh, tham ái và chấp thủ. Vì sâu sắc trong cái tưởng của mình là tôi, tôi đang gặp một người đẹp, tôi đang thấy người xấu và tôi gặp người không đẹp cũng không xấu. Xuất phát điểm của cái nhìn đó là cái tôi, cho nên khi nào mình thấy pháp tức là thấy rõ đây chỉ là tứ đại, sắc pháp, đây chỉ là nhãn căn, sắc trần, 3 cái này hội tụ lại, chừng nào mình thấy rõ được hết, tẩy sạch cái nhìn của tôi và của tôi, đi đến chỗ bất động tâm của A-la-hán thì lúc đó cái thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe. Còn bây giờ cái thấy, cái nghe của mình đầy rẫy dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, đầy rẫy tham sân si, còn cái xúc là vô lượng xúc, cái xúc trùng trùng vô tận chứ không phải chỉ có 1-2 cái xúc.
Khi tai nghe tiếng kèn đám ma thì có phải là xúc không? Khi xúc như vậy thì theo trình tự là có lỗ tai, có tiếng, có sự rõ biết của tiếng. Như vậy là căn – trần – thức giao thoa sanh ra thọ, là có cảm giác buồn vì là đám ma, tưởng là hình ảnh những người thân lạy và khóc, những hình bóng của người thổi kèn mặc đồ trắng, hành là suy nghĩ "nghe người chết mới hơn 20 tuổi nên tội nghiệp quá", thức là rõ biết những cái này. Ngay chỗ rõ biết được những cái thọ; tưởng; hành đó thì trong đó cái xúc tiếp diễn nữa thì mình mới biết, trong tâm mình phải có cảm giác, tưởng, suy nghĩ. Từ trong đó mới sanh ra cái thức, ý thức, khi nãy là ý căn mình để ý thì mình mới thấy lúc đó mình có cảm giác gì, để ý thì mình mới biết lúc đó mình đang có suy nghĩ gì. Phải có sự thực tập nhìn lại thì mới thấy ý xúc rất sâu sắc, ý xúc phải qua thọ do nhĩ xúc sanh bên ngoài rồi mới vào ý xúc bên trong, nhưng ý xúc bên trong không dừng lại 1 xúc, mà nó sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành, cứ sanh ra như vậy gọi là chúng sanh, nghĩa là chúng nó cứ sanh khởi vô tận như vậy. Khi con mắt tiếp xúc với sắc thì đâu phải vậy là xong, thọ; tưởng; hành; thức vận hành bên trong rồi tới ý xúc, qua đến giai đoạn thứ 3 là ý xúc tiếp xúc với pháp trần lại sanh thọ; tưởng; hành; thức. Nên khi ngồi thiền mình mới thấy tâm mình vận hành rất ghê gớm. Tâm mình không dừng lại ở xúc mà phải đi đến nguồn cội chính là sự vô minh, là sự nhìn thấy trong thân kiến chứ không phải cái thấy của chánh kiến. Nó bắt nguồn từ thân kiến nên cái nhìn sai trái hết thì làm sao mình có thể tu ở chỗ thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe? Cái gì thấy, cái gì nghe? Hoàn toàn là tôi nghe, tôi thấy, tôi ngửi, tôi xúc, đây chính là vô minh, là thân kiến. Chưa phá được cái này thì làm sao tu cái khác được, cho nên bất động A-la-hán là thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe thôi. Đó là bất động tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tức là hoàn toàn thoát khỏi tư tưởng tôi, của tôi và tự ngã của tôi, hoàn toàn khoát khỏi tư tưởng đó thì đến bậc Bất lai, chỉ còn năm thượng phần kiết sử, trong này còn mạn, cho nên mình phải y cứ trong kinh chứ không nghe những ông thầy sau này nói, dù cho ông đó có là ai đi nữa thì chỉ lấy bậc Chánh Đẳng Giác làm chuẩn tắc tu hành. Người ta hay nói nghèo là không có đất cấm dùi còn giờ mình nghèo đến mức không có dùi để cắm, giờ thầy nói thêm là nghèo đến mức không có người để cắm, tức là không có tôi, không có mình nào ở đây nữa. Nếu đi vào được dòng pháp này rồi thì trí huệ của mình rất khủng khiếp, vì nó phá hết tất cả pháp, không còn bất kì cái gì, còn giờ mình chỉ mới bắt đầu học để vung bồi trí huệ thì các huynh đệ phải vững niềm tin, kiên trì từ từ sẽ được. Thầy cũng đang tập chứ nhìn lại cũng phải hổ thẹn, còn nhiều cái sai quấy nhưng phải vững lòng tin để tiến. Dòng pháp này phá tan hết tất cả pháp, không còn gì tồn tại được với nó, có như vậy mới dọc ngang tung hoành trong tam giới, không còn nguyên nhân gì làm khổ được mình.
./.
THÍCH MINH THÀNH
Thầy sẽ chia sẻ kinh nghiệm trong sự tu học và làm việc, sở dĩ ngày hôm nay mình lập Linh Quy Pháp Ấn, được nhiều nơi biết đến những bài pháp thầy chia sẻ. Thầy chắt chiu từng chút một kiến thức Phật pháp, khi thầy mới ra giảng pháp phải đi mượn mấy quay phim nhỏ, lấy ghế nhựa nhỏ rồi lấy cục đá lót vào để máy quay lên cục đá rồi quay, chứ không phải tự nhiên mà có những điều kiện, có những phương tiện, nhân duyên để ra giảng pháp. Thầy tiếc từng chút thời gian, mỗi khi thầy nhắc nhở không phải do khó khăn hay rắc rối mà muốn các huynh đệ phải có sự thích nghi, sự rèn luyện, sự thích ứng, thuần thục điêu luyện trong những việc mình làm thường trực. Nếu mình không thuần thục điêu luyện, không giỏi trong chuyên môn của mình thì sau này ra không làm được, phải có sự đầu tư rèn luyện, thậm chí là khổ luyện giống như trong quân đội. Quân đội là giáo dục bình thường của thế gian mà 5 phút là 5 phút, 10 phút là 10 phút, nếu mình còn thua cái này nữa thì làm sao mình có thể làm thầy thiên hạ? Đây là những cái đơn giản nhất rồi, nếu mình không để ý khắc phục, chấn chỉnh, làm mới mình thì mình cứ như vậy hoài, 5 năm-10 năm nữa mình cũng vậy thôi, không có bước chuyển hóa và đột phá. Vì vậy mình phải có sự để tâm, chìa khóa vàng để thành công chính là Tứ Như Ý Túc, điều quan trọng nhất là phải có sự mong muốn. Cái muốn của mình phải đủ sức để làm cho mình nỗ lực, tinh tấn, gắng sức, cái muốn đủ sức thì tự động sẽ sanh ra sự nỗ lực đó. Sau đó mình phải để tâm vào công việc mình đang làm, để tâm vào cái pháp mình đang học, để tâm vào con đường mình hành trì, để tâm và đặt hết tấm lòng trái tim vào đó, chứ không phải học cho có. Tiếp theo là Tư Duy Như Ý Túc, Thẩm Sát Như Ý Túc, nghĩa là không những đặt hết trái tim mình vào mà còn suy xét, tìm những cách thức, phương pháp để hoàn thành nhanh nhất, mau nhất và có hiệu quả nhất. Đó là chìa khóa vàng để thành công trong tất cả mọi phương diện thế gian và xuất thế gian. Nếu không vận dụng Tứ Như Ý Túc thì sẽ không được như ý, không được thành công trong tất cả mọi phương diện. Chẳng hạn như khi mọi người nghe thầy chia sẻ thì đâu có đơn giản để thầy nói được như vầy, mọi người lên mạng xem những hội thi diễn giảng, thầy đã từng học và cũng từng thực tập vào 25 năm trước. Muốn thuyết trình 1 bài không phải chuyện đơn giản, ít nhất phải có kiến thức về điều sắp nói, phải có tài liệu, phải có sự nghiên cứu, thậm chí phải có sự thực tập. Cho tới ngày hôm nay thầy ra chia sẻ Phật pháp hơn 15 năm nhưng đối với thầy mỗi một buổi giảng thầy đều trân trọng giống như lúc thầy mới bắt đầu ra giảng, thầy quý trọng mỗi một bài pháp. Với bài pháp đó mình vừa nghiên cứu, vừa tư duy, vừa chia sẻ trong hiện tại và để lại cho mai sau. Thành ra thầy xem việc giảng pháp rất quan trọng, chỉ sau việc tu, vì thế khi thầy chia sẻ về xúc:
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi. (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Tỳ-kheo).
Chỉ với một câu này thôi mà 1-2h đêm thầy phải nghiền ngẫm, gặp chuyện gì cũng nghiền ngẫm tiếp tục câu này. Chứ không phải lên nói cho xong bài rồi bỏ qua một cách đơn giản như vậy. 1h khuya này thầy giật mình khi tạng kinh còn mở thì thầy nhìn lại chuyện hôm qua, nghiền ngẫm tiếp chữ xúc, tuy là trong người không được khỏe nhưng khi thấy được gì là phải chia sẻ để mình nỗ lực thêm, phát ra thọ; tưởng; hành; thường và Như lý tác ý chánh tư duy và mình chia sẻ cho mọi người để cố gắng bộ kinh Nikāya được giảng ra trước khi mình nhắm mắt qua đời. Phải như vậy chứ không phải làm việc, học hay tu cho có, lúc nào bản thân Minh Thành nhìn lại cũng thấy hổ thẹn vì giới đức, thiền định, trí tuệ của mình, mỗi lần nghe tạng kinh rồi ngước lên nhìn Tam bảo thấy hổ thẹn. Mình phải có ý chí cầu tiến, tiến thủ không ngừng, nỗ lực tiến lên, khi làm cũng phải đem hết tâm huyết vào, làm Phật pháp cũng chính là làm cho mình.
Xúc là các nghiệp sanh khởi, câu này là cả một bầu trời trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác. Hiện tại mình đang có nghiệp gì? Mình đang có thọ gì? Trong danh và sắc thì danh là gì? Danh là xúc, tác ý, thọ; tưởng và tư. Những điều này phải nắm vững, mình chưa học 7 trí về thức vì cái này quá sâu xa. Hiện tại bây giờ nhìn lại thọ, tai tiếp xúc âm thanh có sự rõ biết, sau đó có thọ, kế đó là tưởng, tiếp theo là có suy nghĩ. Hôm qua thầy xuống núi tụng một thời kinh, chú đó mới 24 tuổi đi làm thợ hồ rồi bị tai nạn giao thông, khi nghe như vậy là sự tiếp xúc của tai với âm thanh đó, sau đó mình tác ý "tội nghiệp quá, cuộc đời vô thường đúng theo lời Phật dạy", kế đó phát sanh ra khổ thọ, ưu thọ, khi nghe rồi mình tưởng ra cảnh bị tai nạn giao thông rồi bắt đầu suy nghĩ theo hướng chánh tư duy, suy nghĩ theo hướng nhàm chán, thấy sự nguy hại của đời sống, sự nguy hại của sắc và mình suy nghĩ đến sự xuất ly. Cho nên khi tiếng kèn đám ma kết hợp những lời này thì đó là danh, lúc đó là xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư nhưng không phải là nghiệp xấu. Xúc để đưa đến chấm dứt, đoạn diệt các xúc, đó là sự tu tập của Bát Chánh Đạo. Có 2 người bạn đang đi với nhau thì nghe tiếng trống, nhìn lại thì thấy đó là tiếng đánh trống thổi kèn báo hiệu có người vinh quy bái tổ về làng. Hai huynh đệ cùng tu thấy vui quá, người sư huynh nói đệ chỉ nghe tiếng trống kèn bây giờ mà không nghe tiếng trống kèn của sau này, lúc này cơn vui của người sư đệ lắng dịu xuống. Ở đây ta thấy một cái là chánh tư duy và một cái là tà tư duy, một cái là Như lý tác ý và một cái là phi Như lý tác ý, mọi người đã thấy rõ chỗ dụng tâm không? Quy trình vận hành của tâm pháp là xúc, tác ý, thọ, tưởng; tư, hằng ngày lúc nào mình cũng có mà không biết, không biết thì gọi là vô minh và si mê. Cái này rất quan trọng vì mình đâu thể không xúc, làm sao mình không xúc khi mình có 6 căn, 6 trần, 6 thức? Lúc nào mình cũng xúc, chỉ khác nhau ở chỗ có tu tập hay không tu tập trong cái xúc mà thôi. Cái xúc này tạo thành nghiệp đen, nghiệp trắng hoặc vừa nghiệp đen vừa nghiệp trắng, hoặc có nghiệp không phải trắng không phải đen thì đây là Niết-bàn, là chấm dứt tất cả nghiệp. Nếu mình tiếp xúc, có cảm giác, tác ý lên và mình tưởng, sau đó mình suy nghĩ "người ta chết rồi, mình cố gắng làm phước, làm những điều lành để đời sau mình có sanh ra cũng được tốt đẹp" thì đây là đang hướng đến nghiệp trắng. Bài chia sẻ hôm nay rất đặc biệt vì có kèm theo tiếng kèn đám ma, thầy biết là có đám ma nhưng thầy vẫn cố tình nói pháp. Người có tư duy như vậy là hướng đến nghiệp trắng, trắng tức là thiện lành còn đen là ác độc, hung dữ. Có người lại đám ma thì nghĩ "sớm cũng chết, muộn cũng chết thôi giờ ráng hưởng thụ, ăn chơi đi chứ không mai mốt chết thì hết", thì đây là đang hướng vào nghiệp đen. Trong hoàn cảnh như vậy mà mình nghe, mình thấy, mình tiếp xúc mà mình nghĩ dòng sanh tử thật là ghê sợ, thật là khủng khiếp. Cái khủng bố của sanh, bị sanh, già, cái bị già, bệnh, bị bệnh, bị bệnh chết mà mình đi tìm cái chết thì đây mới là đại khủng bố. Mình nhìn sự thương xót của người thân, mẹ đầu bạc tiễn con đầu xanh mới hơn 20 tuổi, lá non trên cành nhưng bây giờ lá già phải khóc cho lá non. Đúng là vòng luân hồi thật đáng sợ, bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp đã có biết bao giọt nước mắt, bao nhiêu sự chia ly, đau thương tan tóc trong vòng luân hồi này.
Mình phát khởi tư duy, sư suy tư làm sao để chấm dứt vòng luân hồi này thì cái này mình đang hướng đến nghiệp không đen không trắng của Niết-bàn, chấm dứt sanh tử. Chỉ một tang lễ mà mình thấy ra được có 4 loại nghiệp, trong một loại tiếp xúc mà có 4 loại nghiệp:
Nghiệp đen.
Nghiệp trắng.
Nghiệp vừa đen vừa trắng.
Nghiệp không đen không trắng.
Tất cả đều từ xúc mà có ra các loại nghiệp này, cho nên cái xúc này rất quan trọng và thiết yếu, vì vậy không thể học qua loa, đọc một lần là xong. Cũng là xúc nhưng xúc bằng trí tuệ, bằng chánh tư duy, bằng Như lý tác ý, chánh niệm và tỉnh giác, chánh kiến thì cái xúc này đưa đến đoạn diệt tất cả xúc, chấm dứt tất cả xúc. Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là 6 nội xúc sứ, là 6 sự tiếp xúc ngay bên trong cơ thể. Sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp là 6 ngoại xúc sứ.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, I. Phẩm Vô Minh, X. Được Chấm Dứt)
Cho nên 6 loại tiếp xúc bên trong của 6 căn, 6 loại tiếp xúc bên ngoài, sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp và sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều là vô thường, khổ, vô ngã, không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi. Nếu thường tu tập, thường chiêm nghiệm, thường tư duy như vậy thì người này sẽ vượt khỏi địa vị của phàm phu. Xúc trong vô minh nên tham ái sanh khởi, xúc trong vô minh là mình tiếp xúc trong sự không có sáng tỏ, không biết rõ, không thấy được các pháp vận hành. Nếu không học kinh thì khi tiếp xúc vẫn không biết gì, không biết tác ý, thọ, tưởng; tư hoàn toàn không biết gì hết, chỉ nghĩ là tôi tiếp xúc, tôi suy nghĩ, tôi có cảm giác thì đây là xúc trong vô minh nên ái sanh khởi, ái tăng trưởng, thuận theo thì mình thích, trái ngược thì ghét, mà thích hay ghét đều là ái. Những điều này rất là sâu sắc, từ chỗ tiếp xúc, tác ý, khởi lên ý nghĩ, bắt đầu có cảm giác rồi suy nghĩ, vậy là tạo nghiệp, từ đây mới sanh ra nghiệp. Thầy chiêm nghiệm khi thấy đứa trẻ chơi game trong thời gian dài, tiếp xúc hoài, xúc trong sự không sáng tỏ, rõ biết thì đam mê, mà đam mê là ái, không đi ra được nên trở thành bệnh. Một chữ bệnh nói đơn giản nhưng dẫn ra biết bao hệ lụy như bỏ học, sức khỏe đi xuống, tinh thần hoảng loạn không được minh mẫn, làm cho cha mẹ, cô bác lo lắng, thậm chí từ chỗ không chơi được nữa sẽ đi đến chỗ trộm cắp, có những vụ giết cha mẹ ông bà để tiếp tục được xúc với game. Đây là xúc trong vô minh sanh ra ái, từ ái tham sanh ra sân hận, tất cả sự vận hành đều bắt đầu từ xúc. Cho nên chỉ với một câu Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi là cả một bầu trời trí huệ cho mình quán chiếu.
Này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý. (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Tưởng là suy tư, sau khi suy tư thì tạo nghiệp về thân, lời, ý. Đây là quy trình vận hành của tâm pháp, đây là tâm lý học siêu việt của Phật giáo. Nó rất rõ ràng, được chứng minh cụ thể trong mọi thời, mọi khắc, mọi sự, mọi việc. Đây là tâm lý học của trí tuệ. Hết sức sâu sắc trong chữ xúc, hết sức sâu sắc trong chữ suy tư là nghiệp. Hằng ngày mình xúc với pháp, trong pháp nói lên sự thật trí huệ, chính vì mình xúc thường với pháp nên mình tác ý theo pháp, cảm giác lạc thọ trong pháp, khi nghe kinh Đức Thế Tôn cùng chư vị Tỳ-kheo đi ngang khu rừng đang bốc cháy thì Thế Tôn nói tất cả pháp đang bốc cháy thì cái tưởng của mình đương nhiên là tưởng về Đức Phật, tưởng các vị Tỳ-kheo, tưởng theo lời pháp đó, suy nghĩ duyên nơi cái pháp đó cho nên xúc đó là xúc của trí huệ, cái xúc này đưa đến chỗ xuất ly, ra khỏi vô minh, tham ái, chấp thủ. Hằng ngày mình được nghe pháp, được pháp đàm, được đọc kinh thì mình cũng đang dùng xúc để tu, từ đó sanh khởi ra nghiệp không đen không trắng để đi đến Niết-bàn. Người ta mở mạng xem phim, ảnh đẹp còn mình xem để quán bất tịnh chứ không phải mình không xúc nhưng cái xúc này đưa đến chấm dứt dục và tham, đoạn tận dục và tham trong sắc. Nếu mình lên mạng xem những cái khác, xem những cái làm duyên phát sanh ra dục tham, tăng trưởng dục tham thì bản thân mình phải chịu chứ làm sao người khác giữ cho mình được. Xúc với trí tuệ thì đưa mình đến sự yểm ly, giải thoát còn xúc với tham ái, vô minh, si mê thì tăng trưởng sự chấp thủ, ràng buộc, tiếp tục luân hồi. Khi nghe nói xúc các nghiệp sanh khởi thì nghĩ rằng bây giờ không xúc nữa, điều này không đúng. Không xúc là hạn chế những sự tiếp xúc làm bất thiện pháp sanh khởi như dục tham, sân si, bản ngã, tranh đấu, đúng sai, cần phải tránh xa những sự tiếp xúc này. Đây chính là trung đạo.
Xúc đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, là nghiệp đoạn diệt (Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Tỳ-kheo).
Hôm qua có chú Phật tử bên Mỹ gọi về nói nguyện với Tam bảo sẽ bỏ hút thuốc, tiền hút thuốc con sẽ gửi về cúng chùa, thầy cố gắng cầu nguyện giúp con. Nếu họ quyết tâm không tiếp xúc với thuốc nữa thì cái nghiệp nghiền thuốc sẽ hết, cho nên xúc đoạn diệt là nghiệp đoạn diệt. Mê game cũng vậy, mình bỏ từ từ rồi không tiếp xúc với nó nữa thì cái nghiệp về mê game sẽ hết. Mê phim ảnh xấu cũng trở thành chứng bệnh mới, tiếp xúc hoài thì bỏ không được, bây giờ tập bỏ từ từ, dứt hẳn không xúc nữa thì nghiệp sẽ hết. Tất cả do mình xúc trong vô minh sanh ra ái, ái rồi thủ, nắm chặt không buông ra được. Trước khi tập hút thuốc thì mình không có nghiền, trước khi tập chơi game thì mình không nghiền game, trước khi xem những phim ảnh thì mình đâu có nghiền nhưng sau khi xem, mình xúc trong vô minh thì mình sẽ nghiền, nghiền rồi ái tới lúc không thể thiếu, không thể không có được nữa, từ đó trở thành nghiệp, không những yêu thích mà còn bám giữ vào đó. Nếu tu cái này rất sâu sắc và cực kì hay, mỗi tâm, mỗi niệm, mỗi sự tiếp xúc đều được trí tuệ soi sáng. Khi thầy chiêm nghiệm cái này chỉ muốn bỏ hết mà lên rừng yên tu, con đường này đòi hỏi mình phải dấn thân thể nhập, chứng ngộ. Từ điều này mở rộng ra tình cảm nam nữ cũng từ sự tiếp xúc, có một chú đến khóc với thầy, 2 cô chú ăn ở với nhau, bây giờ cô này lại bỏ chú đi theo người khác, người này có danh vọng, địa vị hơn. Chú này bây giờ buồn, khổ, thậm chí muốn chết. Thầy mới khuyên bảo, chia sẻ, sắp xếp được thời gian để lên núi vài ngày thư giãn cho tinh thần được thoải mái, nhưng trong tâm thầy thấy từ chỗ xúc, trước khi mình quen người đó thì mình sống rất thoải mái, không bị lệ thuộc, nhưng sau khi tiếp xúc rồi từ trong cảm giác, cảm thọ của nam nữ, trong tình cảm yêu thương đó thì xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sẽ sanh thủ. Tiếp xúc sẽ có cảm giác yêu thích, mà đã yêu thích sẽ nắm giữ, mà nắm giữ thì tạo nghiệp, bây giờ không có xúc đó thì mình đau khổ. Nhưng có những người không vượt qua được vì ái thủ quá nặng, có những người đi đến chỗ quyên sinh, có những người thời gian cũng nguôi ngoai rồi tìm cái xúc khác, tìm bạn mới. Ở đây mình nói cho dễ hiểu là dần dần tình cảm cũng phai nhòa, không xúc với người cũ nữa thì tự nhiên sẽ hết, không còn khổ như lúc đầu mới chia tay nữa. Cho nên mới có nhiều trường hợp mà người đời hay nói là xác pháo đầy đường, lỡ bước sang ngang nhưng rồi người ở lại cũng phải sống thôi, thời gian nguôi ngoai thì cũng vượt qua được sự nhớ nhung, đau khổ lúc ban đầu thôi. Khi sống đi lấy chồng là một chuyến đò sang ngang thì khi chết cũng là chuyến đò sang ngang, khi đó những người thân trong gia đình cũng đau khổ, khóc lóc đau đớn nhưng rồi thời gian cũng làm dịu đi sự mong nhớ người thân đó, thời gian sau là hết nhớ hết khóc, chết là đi vào dĩ vãng, là hết rồi. Khi nghe tiếng nhạc đám ma thì tâm mình có khác không? Nếu mình nghe nhạc rap, rock thì tâm lại khác, khi đó xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư sẽ khác với lúc nghe nhạc đám ma. Có những người đi thi mà mở nhạc sôi động một lúc là giám khảo cũng đứng dậy nhảy luôn, nếu lên hát bình thường thì giám khảo đâu có đứng lên nhảy. Người hát làm nóng sân khấu truyền lửa cho người ngồi chấm thi rồi người ta cũng đứng lên nhảy luôn, đó là xúc tập khởi nên nghiệp tập khởi.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các nghiệp sanh khởi? Này các Tỳ-kheo, xúc là các nghiệp sanh khởi.(Chương VI. Sáu Pháp, VI. Ðại Phẩm, (IX) (63) Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Có những người xem phim, hay xem 1 đoạn video nào đó rồi cũng khóc cười theo đó luôn. Xem những cảnh nghèo khổ đói rách thì khóc nhưng xem cái này để sanh ra lòng từ bi, tình thương, trí huệ. Còn xúc để sanh ra tham sân si là khác. Mình mới vào chùa gặp người sư huynh, sư đệ mà mặt hầm hầm với mình trong khi mình không làm gì, rồi còn nói nặng với mình thì đó là xúc tập khởi nên nghiệp tập khởi. Những điều này mình phải suy tư, quán chiếu để nhìn rõ sự tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày. Đây là thiền ngữ trong thiền định của Tương Ưng Bộ kinh.
Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.
Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?
Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ... rồi an trú tưởng... rồi an trú các hành... rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú gì? Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc, hỷ đối với sắc đoạn diệt. Do hỷ đối với sắc đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ, hỷ đối với thọ đoạn diệt. Do hỷ đối với thọ đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú tưởng... không đắm trước và an trú các hành. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú các hành, hỷ đối với các hành đoạn diệt. Do hỷ đối với các hành đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức. Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức, hỷ đối với thức đoạn diệt. Do hỷ đối với thức đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, V. Thiền Ðịnh).
Cho nên hãy tu tập thiền định, lúc nào mình cũng nhìn lại thân tâm, danh pháp và sắc pháp. Sắc pháp là tứ đại, danh pháp là xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư xem nó vận hành như thế nào, đây chính là thiền định. Mình thường nhìn lại, thường quán chiếu thì mình sẽ hiểu biết như thật về ngũ uẩn, hiểu biết như thật về sắc thân tứ đại này, hiểu biết như thật về sự tập khởi và đoạn diệt của nó, từ đâu nó sanh ra, chấm dứt như nào. Nếu mình hiểu biết sự tập khởi và đoạn diệt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì mình không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước trong năm uẩn đó. Không có vui vẻ đối với sắc, không có đam mê, bị trói cột vào nó, mình chỉ có ý niệm từ bỏ, xa lìa, viễn ly, chấm dứt, không tái tục, tái ngộ nó nữa. Nếu mình không an trú, không say mê nó thì sự chấp thủ sẽ bị đoạn diệt, như vậy là toàn bộ khổ uẩn này sẽ chấm dứt, còn nếu mình hoan hỷ, thích thú, đam mê, ở trong đó thì mình sẽ nắm chặt rồi tạo nghiệp, mình sẽ tiếp tục sanh ra, có sanh thì có già, có già thì có chết. Như vậy thì sầu bi khổ ưu não sẽ khởi lên, là lý do của sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Nếu mình không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước, không an trú thì sự chấp thủ sẽ bị đoạn diệt. Tại sao mình không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước, không an trú? Vì mình sống với chánh kiến, thấy nó là vô thường, khổ, vô ngã, không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi. Khi mình có chánh kiến, có chánh tư duy, Như lý tác ý thường trực thì mình mới không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước, không an trú ở nơi năm uẩn. Khi mình không có chánh tri kiến thì đương nhiên mình phải hoan hỷ, hoan nghênh vì nó đẹp, nó ngon, nó tốt rồi giành giựt về cho mình, nếu không thành tựu chánh kiến thì chắc chắn sẽ như vậy. Còn muốn thành tựu chánh tri kiến phải thân cận với bậc chân nhân, nghe pháp từ nơi bậc chân nhân, tư duy trong cái pháp đó, nỗ lực thực tập quán chiếu để chuyển hóa. Đó là những điều kiện để thành tựu chánh tri kiến, nếu mình không gặp chân nhân, không gặp người chân tu mà lại gặp tà sư thì càng phát triển thêm hướng dính mắc, chấp thủ trong năm uẩn, chạy theo danh lợi, tài sắc, "con phải có cái này, cái kia cho bằng người ta".
Vấn đề quan trọng là do sự vô minh, thành ra khi Đức Thế Tôn nói rằng trong cái thấy chỉ có thấy, trong cái nghe chỉ có nghe, trong cái ngửi chỉ có ngửi thì đây không phải là cảnh giới của phàm phu. Mình phải xét sâu vào nguồn gốc của xúc, thực pháp trong đời sống chính là bản thân mình, khi thấy một người con gái đẹp thì thấy có phải là thấy không? Có phải trong cái thấy chỉ có thấy không? Cái thấy của mình từ bản chất của con mắt cho đến các sắc, các nhãn thức, rồi thọ; tưởng; hành; thức đều là một khối dày của chấp ngã, vô minh. Vì vậy trong cái thấy của mình là cái thấy của vô minh, không phải là cái thấy của chánh tri kiến, cho nên cái xúc đó sẽ tạo ra nghiệp tiếp tục của vô minh, đó là vô minh duyên hành, tức là do vô minh làm điều kiện nên hành mới sanh khởi. Từ sự vô minh là cái không sáng tỏ, không thấy rõ, không nhận biết được ngũ uẩn nên thân hành, ý hành, khẩu hành đều hành động theo vô minh, mà hành động theo vô minh thì tạo nghiệp. Khi thấy người đẹp, nghe tiếng nói, hay lời nhạc êm ái thì đương nhiên không thể thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe. Khi thấy người xấu xí, một người mình không thích thì lúc đó mình ra sao? Còn khi thấy một người không đẹp không xấu, không thích cũng không ghét thì lúc đó ra sao? Tất cả cái thấy của mình đều ở trong vô minh, tôi đang thấy và người đó không đẹp không xấu. Lúc đó căn – trần – thức, thọ; tưởng; hành của mình đều là một khối vận hành của vô minh và tham ái, dù cho đẹp hay xấu, hoặc không đẹp không xấu nhưng cái nhìn của mình đều ở trong vô minh, tham ái và chấp thủ. Vì sâu sắc trong cái tưởng của mình là tôi, tôi đang gặp một người đẹp, tôi đang thấy người xấu và tôi gặp người không đẹp cũng không xấu. Xuất phát điểm của cái nhìn đó là cái tôi, cho nên khi nào mình thấy pháp tức là thấy rõ đây chỉ là tứ đại, sắc pháp, đây chỉ là nhãn căn, sắc trần, 3 cái này hội tụ lại, chừng nào mình thấy rõ được hết, tẩy sạch cái nhìn của tôi và của tôi, đi đến chỗ bất động tâm của A-la-hán thì lúc đó cái thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe. Còn bây giờ cái thấy, cái nghe của mình đầy rẫy dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, đầy rẫy tham sân si, còn cái xúc là vô lượng xúc, cái xúc trùng trùng vô tận chứ không phải chỉ có 1-2 cái xúc.
Khi tai nghe tiếng kèn đám ma thì có phải là xúc không? Khi xúc như vậy thì theo trình tự là có lỗ tai, có tiếng, có sự rõ biết của tiếng. Như vậy là căn – trần – thức giao thoa sanh ra thọ, là có cảm giác buồn vì là đám ma, tưởng là hình ảnh những người thân lạy và khóc, những hình bóng của người thổi kèn mặc đồ trắng, hành là suy nghĩ "nghe người chết mới hơn 20 tuổi nên tội nghiệp quá", thức là rõ biết những cái này. Ngay chỗ rõ biết được những cái thọ; tưởng; hành đó thì trong đó cái xúc tiếp diễn nữa thì mình mới biết, trong tâm mình phải có cảm giác, tưởng, suy nghĩ. Từ trong đó mới sanh ra cái thức, ý thức, khi nãy là ý căn mình để ý thì mình mới thấy lúc đó mình có cảm giác gì, để ý thì mình mới biết lúc đó mình đang có suy nghĩ gì. Phải có sự thực tập nhìn lại thì mới thấy ý xúc rất sâu sắc, ý xúc phải qua thọ do nhĩ xúc sanh bên ngoài rồi mới vào ý xúc bên trong, nhưng ý xúc bên trong không dừng lại 1 xúc, mà nó sẽ sanh ra thọ; tưởng; hành, cứ sanh ra như vậy gọi là chúng sanh, nghĩa là chúng nó cứ sanh khởi vô tận như vậy. Khi con mắt tiếp xúc với sắc thì đâu phải vậy là xong, thọ; tưởng; hành; thức vận hành bên trong rồi tới ý xúc, qua đến giai đoạn thứ 3 là ý xúc tiếp xúc với pháp trần lại sanh thọ; tưởng; hành; thức. Nên khi ngồi thiền mình mới thấy tâm mình vận hành rất ghê gớm. Tâm mình không dừng lại ở xúc mà phải đi đến nguồn cội chính là sự vô minh, là sự nhìn thấy trong thân kiến chứ không phải cái thấy của chánh kiến. Nó bắt nguồn từ thân kiến nên cái nhìn sai trái hết thì làm sao mình có thể tu ở chỗ thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe? Cái gì thấy, cái gì nghe? Hoàn toàn là tôi nghe, tôi thấy, tôi ngửi, tôi xúc, đây chính là vô minh, là thân kiến. Chưa phá được cái này thì làm sao tu cái khác được, cho nên bất động A-la-hán là thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe thôi. Đó là bất động tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tức là hoàn toàn thoát khỏi tư tưởng tôi, của tôi và tự ngã của tôi, hoàn toàn khoát khỏi tư tưởng đó thì đến bậc Bất lai, chỉ còn năm thượng phần kiết sử, trong này còn mạn, cho nên mình phải y cứ trong kinh chứ không nghe những ông thầy sau này nói, dù cho ông đó có là ai đi nữa thì chỉ lấy bậc Chánh Đẳng Giác làm chuẩn tắc tu hành. Người ta hay nói nghèo là không có đất cấm dùi còn giờ mình nghèo đến mức không có dùi để cắm, giờ thầy nói thêm là nghèo đến mức không có người để cắm, tức là không có tôi, không có mình nào ở đây nữa. Nếu đi vào được dòng pháp này rồi thì trí huệ của mình rất khủng khiếp, vì nó phá hết tất cả pháp, không còn bất kì cái gì, còn giờ mình chỉ mới bắt đầu học để vung bồi trí huệ thì các huynh đệ phải vững niềm tin, kiên trì từ từ sẽ được. Thầy cũng đang tập chứ nhìn lại cũng phải hổ thẹn, còn nhiều cái sai quấy nhưng phải vững lòng tin để tiến. Dòng pháp này phá tan hết tất cả pháp, không còn gì tồn tại được với nó, có như vậy mới dọc ngang tung hoành trong tam giới, không còn nguyên nhân gì làm khổ được mình.
./.