Pháp Đàm Kinh Tạng Nikāya - Tâm Là Gì 1AB
Pháp Đàm Kinh Tạng Nikāya
TÂM LÀ CÁI GÌ?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chánh niệm tỉnh giác PAGEREF _Toc72154080 \h 1
II. Ngũ uẩn PAGEREF _Toc72154081 \h 2
III. Nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc72154082 \h 5
IV. Thọ uẩn, tham – sân - si PAGEREF _Toc72154083 \h 7
V. Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc72154084 \h 10
VI. Chấp thủ năm thủ uẩn là khổ PAGEREF _Toc72154085 \h 12
VII. Dục – tham - ái PAGEREF _Toc72154086 \h 15
VIII. Lịch sử kết tập kinh tạng PAGEREF _Toc72154087 \h 16
I. Chánh niệm tỉnh giác
Lời đầu tiên, Minh Thành cảm ơn các Phật tử có một cái tâm chân thành tu học, chia sẻ đến cho mọi người, nhất là cô Diệu Huệ đã đưa đón các quý thầy về đây giảng pháp và các Phật tử khác. Hôm nay có duyên được gặp quý thầy cũng như gia đình của cô chú, lời đầu tiên Minh Thành trân trọng tấm lòng quý kính Tam bảo và sự tu học của các vị. Hôm nay là buổi trà đạo, vừa uống trà vừa tâm sự tu học. Minh Thành muốn lắng nghe những suy nghĩ, cảm nhận, những sự hiểu của mọi người như thế nào về Phật pháp, có những khó khăn, nghi vấn hoặc có điều gì mình thấy chưa sáng tỏ về pháp học cũng như pháp hành thì hãy chia sẻ. Sau đó sẽ đến Minh Thành chia sẻ.
Khi chúng ta không nắm vững được lời dạy gốc trong tạng kinh Nikāya thì chúng ta bị loạng chạng, không có chuẩn mực rõ ràng, như vậy chúng ta tu sẽ không đến kết quả rốt ráo, hoặc có kết quả nhưng chỉ ở khía cạnh, góc độ chứ không phải là sự toàn diện của chánh niệm. 28 năm trước Minh Thành cũng như vậy, cách đây 1,5 năm là Minh Thành bỏ hết tất cả bài giảng cũ, trong 2 năm nay chuyên về tạng kinh Nikāya, lấy tạng kinh Nikāya làm chuẩn tắc trong pháp học và pháp hành và khi vào trong tạng kinh này rồi thì rõ như mặt trời.
Minh Thành mới vừa in 5000 quyển Nghi thức tu học kinh Nikāya, trong đây ghi thời khóa mỗi ngày ra sao, tu học những bài kinh nào, cần thuộc bài nào để khi mình thực tập quán chiếu sẽ thấy được tất cả. Đây là một trình tự, một đạo lộ, một đường lối phương pháp rõ ràng chứ không phải nói chung chung. Chánh niệm và tỉnh giác là phần Căn bản trí trong quyển Nghi thức tu học kinh Nikāya. Chánh niệm tỉnh giác số 1, số 2 là lời của Chánh Đẳng Chánh Giác, định nghĩa của Đức Phật. Chánh niệm tỉnh giác 1 nằm trong Tương Ưng Bộ, tập IV, trang 340, kinh Tật Bệnh:
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
Và này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Đây là lời giáo giới của Ta cho các ông.”
(Tương Ưng Bộ Kinh tập IV, bài kinh Tật Bệnh)
Chánh niệm tỉnh giác số 2 ở Tăng Chi Bộ kinh tập III.
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt; Rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt; Rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt. Này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác;”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập III, bài kinh Tôn Giả Nanda)
II. Ngũ uẩn
Minh Thành phát hiện ra sự thật mà Minh Thành bị sốc, tất cả những cái tu học chung chung đều không sử dụng được, đó chỉ là thiện pháp lúc ban đầu thôi, những pháp lành gieo duyên chứ còn tu học như vậy là mình đi vào trong rừng rậm, không có lối ra. Còn khi học 4 bộ kinh Nikāya này thì mọi người sẽ thấy một đạo lộ, gọi là thánh đạo rực sáng trên mặt trời. Tất cả bao nhiêu ngàn bài kinh đều chỉ có một đường lối, không có đường thứ 2.
Ở đây Minh Thành chỉ nói cái cốt lõi, nếu không nắm được chìa khóa này thì không thể mở đại tạng kinh Nikāya được, dù cho có đọc kinh suốt đời hay nghiên cứu tới chết cũng không nắm được thật sự cái lõi của tạng kinh Nikāya là ở đâu. Mình hiểu chung chung thì chỉ đúng trên văn tự và tri thức thôi. Có chìa khóa để mở tạng kinh này, nếu không nắm được chìa khóa này thì tất cả sự tu tập của mình đều không có chân đứng, giống như nhà không có nền móng. Ai cũng nhớ bát khổ: sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, cầu bất đắc là khổ, oán tắng hội là khổ. Nhưng cuối cùng trong kinh Nikāya mới có câu: Tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Đây là câu tóm thâu toàn bộ trí tuệ của tạng kinh Nikāya, nhưng không phải chỉ có một câu này mà tràn ngập hết tất cả tạng kinh Nikāya là Đức Phật trình bày về thánh trí năm uẩn. Nếu mình không nắm được năm uẩn thì tất cả sự tu học của mình chỉ nằm ngoài da.
Như vậy đầu tiên là mình phải nhận diện được năm uẩn, còn không nhận diện được năm uẩn thì chánh niệm tỉnh giác của mình không có nền móng, không có chỗ đứng. Có người nói tâm là sự thấy biết, người khác nói tâm là sự nhận biết. Nếu tâm mình mà mình còn không biết thì làm sao mình kiểm soát được nó? Làm sao mình nhiếp phục được tâm? Làm sao mình quản lý được tâm mình? Làm sao mình làm chủ được tâm mình? Đây là chỗ mà Minh Thành muốn trao chìa khóa cho quý vị, mình không thấy biết được tâm mình một cách chính xác rõ ràng thì làm sao hàng phục tâm?
Mình nói một cách chung chung, bao nhiêu ngôn từ, bao nhiêu lý thuyết nhưng thật sự mình không thấy được tâm. Đây là một vấn đề hết sức thực tế, hết sức quan trọng. Mình tu đủ thứ kiểu, học bao nhiêu thứ mà tâm mình lại không biết, đây chính là chỗ không có chân đứng trong pháp và luật, cái nhà không có móng. Cho nên mình tu học hoài cũng không làm chủ được thân tâm vì không biết được nó rõ ràng. Hỏi thì mỗi người nói một kiểu, không có một cái chuẩn, không có định lý rõ ràng, vì vậy mà tại sao mình phải đi vào tạng kinh Nikāya, Đức Phật đã chứng ngộ và tuyên bố:
“Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào Như Lai chưa có liễu tri, tuệ tri, thắng tri về năm uẩn, Ta không có tuyên bố rằng Ta thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho đến khi nào Ta hoàn toàn liễu tri, tuệ tri, thắng tri, tức là Ta hoàn toàn thấy biết tường tận tất cả mọi phương diện, khía cạnh của năm uẩn thì lúc đó Ta ở giữa Trời, Người, Sa-môn, Bà-la-môn, tất cả giới tu hành, Ta rống lên tiếng rống của sư tử Ta là bậc giác ngộ tối thượng giữa Nhân – Thiên.
Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”
(Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển).
Giác ngộ như thật là giác ngộ năm uẩn. Năm uẩn là thân tâm và thế giới. Trong con người của mình có đầy đủ năm uẩn.
Sắc uẩn là thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại… Tất cả những gì mình thấy Đức Phật tóm lại trong chữ Sắc. Thân thể này là sắc, tô, chén, ly, bàn, tủ… sơn hà đại địa, núi sông là sắc uẩn, sắc pháp. Còn mình nhìn cái chén ra cái chén, cái ly ra cái ly chứ mình không biết nó là sắc pháp.
Thọ; tưởng; hành; thức là tâm. Thọ: Có 3 loại cảm giác: Cảm giác dễ chịu; cảm giác khó chịu; cảm giác không dễ chịu không khó chịu... Một ngày của mình lòng vòng trong 3 loại cảm giác này.
Tưởng: Là những hình bóng trong tâm. Mình nhớ đứa con, ba mẹ… thì hình bóng đó hiện ra trong tâm thì đó là tưởng uẩn.
Hành: Là lời nói lầm thầm, suy nghĩ đi theo tưởng uẩn, giống như khi xem tivi thì vừa có hình ảnh, âm thanh đi chung với nhau.
Thức: Là cái biết mình đang có những hình bóng, suy nghĩ, lời nói lầm thầm trong tâm.
III. Nhận diện năm uẩn
Mình ngồi tại đây thực tập nhận diện năm uẩn, mình sẽ thấy biết bằng con mắt của mình ngay tại chỗ ngồi này, chứ không phải đợi trải qua bao nhiêu năm mới thấy được năm uẩn. Hằng ngày mình có sống với thọ; tưởng; hành không? Sáng – trưa – chiều tối nằm chiêm bao cũng có hoạt động mà mình không thấy, không biết thì Đức Phật gọi là vô minh. Chính thân tâm này là ngũ uẩn, nó đang vận hành, hoạt động, chi phối, áp đảo mình, làm cho mình sầu bi khổ ưu não mà mình không thấy, không biết tự thân tâm mình thì Phật gọi đó là vô minh.
Mình giận một người nào đó thì trong tâm mình có hình bóng người đó không? Có cảm giác khó chịu đi theo không? Có lời nói lầm thầm bực bội không? Trong đó mình biết là mình đang có cảm giác bực bội, nghĩ tưởng đó không? Đây chính là ngũ uẩn đang vận hành hay còn gọi là ngũ uẩn vận hành trong cảm giác sân. Lúc đó cái thân mình vẫn khó chịu, sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều bị động chuyển.
Khi mình tham đối với một người nào đó hay một món đồ ưa thích thì có cảm giác dễ chịu. Cái tưởng mình thử món đồ đó. Cái hình bóng món đồ đó hiện ra. Suy nghĩ là nếu mình có món đồ này thì hay ta, thì cái suy nghĩ đó là hành uẩn và mình rõ biết cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó là thức uẩn. Gương mặt mình lúc đó tươi tắn lên, khoan khoái, bịn rịn không đi được. Như vậy ngũ uẩn của mình đều bị chinh phục trong tham, dục, ái. Ngũ uẩn vận hành trong cuộc sống, xuyên suốt trong thân tâm mình trong từng giờ, từng phút, từng giây.
Mọi người cứ đọc "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách" nhưng khi đọc xong, trở ra thì mình bỏ mất uẩn còn lại ngủ (ngũ), mê mê mờ mờ. Thành ra sự nhận diện năm uẩn này, sự thấy rõ năm uẩn này, hiểu biết về năm uẩn này thì đó là chánh tri kiến trong Bát Chánh Đạo. Đây là cửa đầu tiên của chánh tri kiến. Vì khi mình nhìn ra đó là năm thứ chứ không phải một thì bản ngã của mình sẽ tan vỡ, cái định kiến về bản ngã, cái nhìn sai lầm về thân cho rằng có một cái tôi sẽ bị năm pháp này làm cho bể ra, phân tán ra.
Cánh cửa đầu tiên của Bát Thánh Đạo là chánh tri kiến, mà chánh tri kiến là nhìn thấy thân tâm này là ngũ uẩn chứ không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Học cái này tuyệt vời ở chỗ khi mình nói vô thường, vô ngã là nói trên từ ngữ, trên môi nhưng khi nhìn các cảm thọ sanh diệt thì mình sẽ thấy bằng mắt. Cho nên Đức Thế Tôn định nghĩa pháp của Ngài là: pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, không có trở qua thời gian, có khả năng hướng thượng được người trí tự mình giác hiểu (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu).
Người trí là người nhìn lại năm uẩn, thấy biết được năm uẩn. Pháp của Ta là đến để mà thấy chứ không phải đến để tin, không thấy không biết về năm uẩn thì làm sao tin? Mình học Phật bao nhiêu năm nhưng khi hỏi tham sân si ở đâu có biết không? Nói là trong tâm, nhưng tâm là cái gì?
IV. Thọ uẩn, tham – sân - si
Bây giờ Minh Thành chỉ cho quý vị ở trong cảm giác. Khi mình nghe điện thoại mà bị nói xối xả, chỉ trích mình thì cảm giác gì sanh khởi lên? Ngực nóng hừng hực lên, gương mặt đổi màu, lỗ tai lùng bùng, hai mắt mờ, cái miệng giật giật nói ra. Trong cảm giác khó chịu, bực tức đó Đức Phật gọi là sân tùy miên trú ẩn trong khổ thọ đó. Tùy là đi theo, miên là miên man. Trong cảm giác bực bội, sân hận khó chịu đó có sân tùy miên. Xưa nay mình nói tu là diệt tham sân si mà không biết tham sân si trú ẩn nơi nào thì làm sao diệt?
Hôm nay mình biết được tham sân si trú ẩn trong cảm giác, một khi mình thường trực nhìn lại sẽ thấy vừa không hài lòng với cái gì là cảm giác trong tâm bực lên, mình sẽ thấy sự động chuyển của cảm giác. Còn lúc trước mình không biết, vừa khởi lên là mình nhập theo luôn vì mình không biết nguồn cơn nó ở đâu, nó vận hành ra sao, nó chấm dứt ra sao. Vì vậy Đức Phật dạy chánh niệm tỉnh giác là khi Tỷ-kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt. Nghĩa là cảm giác sân nổi lên thì mình biết đây là cảm giác nguy hiểm, "bây giờ tôi đang có cảm thọ giận, bực bội, khó chịu", khi cảm thọ giận lắng dịu xuống mình cũng biết. Đó là chánh niệm tỉnh giác.
Khi mình khởi lên sự tham muốn cũng giống như vậy, mình gặp một người đẹp, ưa thích thì trong lòng có cảm giác dễ chịu, đó là lạc thọ, trong đó có sự bịn rịn, lưu luyến, không muốn rời xa. Mình nhìn thấy rõ cảm giác này là cảm giác ưa muốn, ràng buộc, người ta đi khuất bóng mà mình vẫn đứng nhìn theo. Mình thấy các thọ sanh khởi, an trú và chấm dứt. Trong thọ đó có hình bóng, khi về hình bóng người đẹp đó vẫn hiện ra, trong hình bóng đó mình có dục, tham, ái, sân. Cho nên mình biết trong tâm mình đang có hình bóng gì, hình bóng này tan biến rồi mình phải biết, như vậy gọi là rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt.
Những điều này rõ như ánh mặt trời. Mình đọc được hết tham sân si trong tâm mình. Có tham mình biết có tham, có sân mình biết có sân, lúc si xuất hiện là trạng thái đờ đẫn. Tất cả mình đều thấy biết và Đức Phật chỉ dạy phương pháp đánh đuổi: Tham dùng bất tịnh quán, sân dùng từ tâm giải thoát và si dùng tinh cần, tinh tấn dõng mãnh, dùng trí tuệ quán chiếu để đánh đuổi. Mọi người về nghe thêm 4 bài Thánh Trí Tham, Sân, Si để hiểu rõ thêm.
Rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt. Chữ Tầm nói dễ hiểu đó là hành, là những suy nghĩ. Khi thấy có vọng tưởng, vọng niệm bất thiện là mình đánh đuổi tức là mình đang biết rõ các suy nghĩ khởi lên, các suy nghĩ an trú và các suy nghĩ đi đến chỗ chấm dứt. Chưa chắc khi có suy nghĩ khởi lên là mình nhận ra nó, nếu vô minh thì mình không thể nhận biết hết được. Không phải mình quán chỉ 1-2 lần hay 5-10 lần mà có thể nhận ra tham sân si mà thực tế phải quán cả 100 lần hay cả ngàn lần thì từ từ mới thuần phục được.
Đức Phật dạy mình phải tu tập tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa kiên cố, vững chắc, cho đến khi thuần thục. Lúc đầu mình biết nhưng cơn sân vẫn chiến thắng mình nhưng không sao hết, rồi từ từ mình mới giành phần thắng cho đến khi mình nhiếp phục được nó thì đại công cáo thành. Chữ Tầm nói sâu sắc hơn là cái tâm mình hướng đến. Mình ngồi đây nhưng cái tâm mình hướng tới việc hôm nay về trễ, cái tâm mình hướng đến vấn đề đi về thì cái đó gọi là tầm. Cái tâm lo ra gọi là tầm. Cái tâm đang hướng ngoại, không tập trung vào cái pháp mình đang học gọi là tầm. Cái này cũng hết sức quan trọng trong sự tu học.
Mình đang ngồi nghe pháp trong giảng đường thì có con chó sủa hoặc có tiếng xe chạy thì mình quay qua nhìn hoặc ngồi nghe nhưng lại nhớ không biết lúc đi có khóa cửa không thì đó gọi là tầm, cái tâm bị phóng ra ngoài. Cho nên chữ Tầm này rất thâm sâu, khi cái tâm mình đang suy tầm về cái gì thì mình phải biết, đó gọi là chánh niệm tỉnh giác. Nếu suy tầm về dục thì Đức Phật dạy mình ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy. Đó gọi là chánh tư duy. Cái tâm đang suy tầm về vấn đề bực bội, nhớ về ai đó rồi giận thì cái tầm này gọi là sân tầm. Khi mình có suy nghĩ như vậy mà mình tác ý lìa khỏi suy nghĩ đó, không đi theo suy nghĩ đó thì đó gọi là chánh tư duy, ly sân tư duy. Thành ra sự tu này hết sức là vi tế, nhỏ nhiệm, sâu sắc, hết sức khéo léo và thiện xảo trong thân tâm.
Một cái suy nghĩ, một hình bóng, một cảm giác cũng không được để qua mặt. Một người quản lý tâm linh, quản lý một căn nhà thân tâm chính mình một cách tuyệt diệu. Cho nên Đức Phật mới nói người trí tự mình giác hiểu, nếu không có trí thì không thể đi vào cái pháp này. Cái pháp này chỉ là nhìn lại thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng chính mình chứ không bắt mình lên trời, xuống biển để đi tìm một cái gì cao siêu. Mới đầu mình không quen vì mình chỉ quen nhìn ra ngoài, nhìn người này người kia nhưng tập từ từ rồi sẽ quen nhìn lại thân tâm. Một khi đã quen rồi rất lý thú, vì có gì trong tâm mình cũng biết giống như mình làm chủ nhà thì tất cả mọi ngõ ngách trong nhà mình phải biết, chứ làm chủ nhà mà hỏi gì cũng không biết thì làm sao gọi là chủ nhà? Cũng vậy, một người không biết được thân tâm, không nhìn ra năm uẩn thì Đức Phật gọi là vô minh, si ám đối với tự thân tâm của mình.
Cho nên thánh trí năm uẩn này là tinh hoa, là cốt lõi, là con mắt của tạng kinh Nikāya. Tất cả những gì Đức Phật nói trong tạng kinh đều để mình thành tựu trí năm uẩn, mà trí năm uẩn là thân tâm chính mình. Mình nắm được chỗ này, không phải nhìn trong kinh mà là nhìn lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình thì mình sẽ thấy được mật mã mở ra sự giác ngộ của Đức Phật, rồi từ đó mình có thể nắm bắt được, có thể tu học được, có thể hành trì được.
V. Tứ Niệm Xứ
Chánh niệm tỉnh giác khi nãy mình nói là thọ; tưởng; hành; thức. Khi đi tới đi lui, nhìn thẳng nhìn quanh, co tay duỗi tay, mặc áo, ăn, uống, nhai, nếm, đại – tiểu tiện cho đến thức, nói, im lặng đều tỉnh giác thì đó gọi là chánh niệm tỉnh giác. Đây là phần sắc uẩn. Chính là bên ngoài và bên trong, chính là thân và tâm. Còn mình nói chánh niệm tỉnh giác là làm gì biết nấy thì không đủ, vì Thân Hành Niệm phải đủ 6 khía cạnh, riêng phần niệm thân phải đủ 6 khía cạnh: Niệm hơi thở; niệm oai nghi; niệm hành động; niệm tứ đại; niệm 32 thể trược; niệm 9 giai đoạn của một tử thi.
Đức Phật gọi ai niệm thân thì người đó thể nhập cảnh giới của bất tử, còn bây giờ mình chỉ thích cái gì đơn giản thôi, nhiều quá khó nhớ thì làm sao làm được. Chính cái chỗ mình thích đơn giản này là mình sẽ chết, cái sự thích đơn giản, làm biếng là một trong những kiết sử, không muốn tinh tấn, không muốn Chánh Đẳng Chánh Giác vì Chánh Đẳng Chánh Giác là phải biết tất cả mọi phương diện, khía cạnh. Mình nấu cơm mà chỉ biết mỗi cái nấu cơm hoặc chỉ biết làm 1 món đồ ăn rồi ăn hoài như vậy thì có được không? Cho nên cái tâm ý mà muốn cho đơn giản, dễ dàng, làm cái gì thì làm 1 cái thôi thì cái tâm đó là kiết sử, là 1 thứ vô minh, si ám, cái tâm đó sẽ không thể giác ngộ. Thành ra sự tu học theo Đức Phật là một sự toàn giác. Sự thấy biết này là một sự toàn diện, toàn cuộc, toàn bộ tất cả mọi khía cạnh, mọi góc độ về năm uẩn đều phải được thấy biết.
Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
Chánh niệm ở đây chính là Tứ Niệm Xứ, mà Tứ Niệm Xứ là một sự thường xuyên, thường trực luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và những thứ đang vận hành bên trong. Đây chính là Tứ Niệm Xứ, chứ không phải mình ngồi đọc cho xong là hết, quán thân bất tịnh, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã,… học kiểu đó là mình giết Tứ Niệm Xứ, học như vậy là phản pháp, cho nên pháp mạt luôn. Ba mươi năm Minh Thành trong chùa mà không biết Tứ Niệm Xứ, không biết chánh pháp thật sự. Nói tới đâu là có kinh điển tới đó, nằm trong bộ nào, trang mấy, ở chương nào chứ không phải nói chung chung, hiểu chung chung, làm chung chung rồi kết quả cũng chung chung, không được rõ ràng.
Muốn có được chánh niệm tỉnh giác thì thứ nhất mình phải thành tựu trí tuệ tự thân, tức là thấy được năm uẩn, thấy được cái thân mấy chục kí lô này là sắc uẩn, thấy được cảm giác là thọ uẩn, thấy được những hình bóng trong tâm là tưởng uẩn, thấy được những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ là hành uẩn, thấy được sự rõ biết là thức uẩn. Tất cả đều phải đứng trên trí năm uẩn mà tu hành, nếu không thấy năm uẩn thì không thể tu Tứ Niệm Xứ một cách đầy đủ. Mình không biết tâm mình thì làm sao mình tu? Vì ngũ uẩn chính là thân tâm, thọ; tưởng; hành; thức chính là tâm.
Thậm chí những nhà bác học, khoa học vĩ đại trên thế giới thường hay nói Tôi suy nghĩ, thì cái suy nghĩ đó chỉ mới có 1 uẩn. Người này vẫn ở trong vô minh, tuy là bác học, khoa học nhưng đối với thánh trí của Phật là vô minh mà người đó còn không biết đó là hành uẩn mà nhận cái đó là tâm của mình. Thành ra trước ánh sáng của Chánh Đẳng Giác thì tất cả khoa học, bác học… đều là vô minh và là dục, tham, ái đối với năm uẩn. Đây chính là trí huệ khủng, trí huệ này làm vỡ tung hết tất cả pháp, làm cho thánh trí của mình thấu triệt hết tất cả vũ trụ vạn vật, thân tâm này được phơi bày ra ánh sáng. Ngày xưa tất cả các vị sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp đều khen Đức Phật:
“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới!”
(Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn,
I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni).
Sau khi Đức Phật thuyết pháp thì được mọi người tán thán như vậy. Ngũ uẩn này là trí tuệ mà Đức Phật đem lại cống hiến vĩ đại cho muôn loài, chứ không phải chỉ cho nhân loại. Đây là thánh trí ngũ uẩn. Những gì bị che giấu trong hằng vô lượng kiếp đều bị thánh trí này phơi bày ra hết. Mình không thấy được năm uẩn này thì tu 1 tỷ kiếp nữa cũng không bao giờ đi đến giác ngộ giải thoát, vì mình nhận nó là mình, là của mình, những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức, rõ biết đều là tôi hết, năm uẩn này là tôi. Cho nên thật sự mình thấy được năm uẩn rồi thì sẽ thấy được gương mặt thật sự của Như Lai, Đức Phật chứng ngộ thánh trí năm uẩn này, tóm thâu hết tất cả pháp trong vũ trụ.
VI. Chấp thủ năm thủ uẩn là khổ
Tất cả những gì mình khổ có phải khổ vì năm uẩn không? Có phải khổ vì vật chất không? Khổ vì thân thể này, khổ vì tài sản này, khổ vì cảm giác, suy tưởng này chứ khổ vì cái gì? Cho nên tóm lại, đây là câu làm nên lịch sử tạng kinh Nikāya: Năm thủ uẩn là khổ. Ngày nào mình còn ưa thích, còn dục, ái, tham đắm đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì ngày đó mình còn tiếp tục khổ. Cho đến khi nào không chơi với sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa, mà nhàm chán, viễn ly, ly tham, từ bỏ, chấm dứt năm uẩn thì lúc đó là thể nhập thế giới bất tử.
Đức Phật là một bậc thoát ra khỏi năm uẩn, còn mình say sưa, đam mê, thích thú, khao khát trong năm uẩn này. Mình khao khát thân người khác, khao khát tiền bạc, tài sản chính là khao khát sắc uẩn. Mình khao khát những cảm giác êm ái, nuông chiều là khao khát thọ uẩn. Mình ngồi tưởng tượng mình sẽ như vậy thì đó là khao khát tưởng uẩn. Mình thấy suy nghĩ của mình hay quá, có 1 không 2, suy nghĩ của tôi là ngon thì đó là ưa thích hành uẩn. Thức uẩn cũng như vậy. Thành ra tất cả chúng ta là kiến bò miệng chén, lòng vòng trong năm uẩn, không thoát ra được, vĩnh viễn vô tận không đi ra được. Nếu không có bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện trình bày thánh trí năm uẩn này thì vĩnh viễn nhân loại không có ngày thoát ra, cho nên Đức Thế Tôn đã từng nói:
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc”
(Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ,
I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi).
“Máu đã đổ xuống, nước mắt đã tràn ra, những sầu bi khổ ưu não đã đổ xuống. Này các Tỳ-kheo, là đầy khắp bốn biển.”
Xương chất chồng như núi cao, mộ phần càng ngày càng thêm lớn, đó là dòng sanh tử mình đã đi qua, chứ không phải mình mới có mặt trên cuộc đời này. Tất cả những thân thể trong sáu nẻo luân hồi mình đã trải qua hết. Mình đã dục, tham ái, đã vô minh, sân hận, si mê, đã cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc… chín ngàn tỷ lần rồi mà mình vẫn không chán, vẫn tiếp tục dục, tham, ái, và tiếp tục khổ nữa. Cái dòng khổ này tiếp diễn bất tận, trừ khi nào mọi người giác ngộ được thánh trí năm uẩn, thấy được bản chất của nó là vô thường, vô ngã, là trống rỗng để mình thực hiện việc nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt thì lúc đó thánh trí mới bắt đầu xuất hiện, và mình mới có khả năng thoát ra khỏi vòng luân hồi này.
Đây là một sự cống hiến vĩ đại chưa từng có, 91 lần trái đất này thành hoại mà chỉ có 6 Đức Phật ra đời: Phật Tỳ Bà Thi; Phật Thi Khí; Phật Tỳ Xá Phù; Phật Câu Lưu Tôn; Phật Câu Na Hàm Mâu Ni; Phật Ca Diếp. Nếu mình gặp được trí huệ này mà còn không tu học thì mình sẽ còn chứng kiến 8000 lần trái đất thành hoại mà mình vẫn còn vô minh và khát ái trong năm uẩn.
Mọi người nghĩ thử xem có phải nguyên một ngày là mình đi tìm năm uẩn không? Đi tìm sắc, đi tìm những cảm giác, những nghĩ tưởng chứ không có gì khác. Mà những cái này là vô thường, nó biến đổi nay còn mai mất, sớm nở tối tàn, yêu đó rồi hận đó, được đó rồi mất đó, sống đó rồi chết đó. Cho nên Đức Phật đã từng nói:
“Này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh … tự mình bị chết … tự mình bị sầu … tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.”
“Như Lai thấy bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu bi khổ ưu não. Như Lai đi tìm cái không sanh, không bệnh, không già, không chết và cuối cùng Như Lai chứng ngộ được cảnh giới bất tử.”
(Trung Bộ Kinh, Kinh Thánh Cầu).
Cảnh giới bất tử chính là bốn cửa thành cảnh già, bệnh, chết và một người đi xuất gia. Sau đó Thái tử Tất-đạt-đa nói với phụ vương nếu Ngài không muốn con xuất gia thì cho con đừng bị già, bệnh, chết thì phụ vương nói cái này không được. Như vậy, đó là lý do cũng là mục đích, cũng là sự thành tựu vĩ đại của Bồ tát Tất-đạt-đa, cũng chính là lý do cho sự có mặt của đạo Phật, sự chứng ngộ của Đức Phật và sự đem lại lợi ích, lợi lạc, hạnh phúc cho đa số giữa Chư Thiên và loài người, chính là sự chứng ngộ thánh trí năm uẩn của Đức Phật.
Tất cả chúng ta hiện nay học, dạy, hành trì thì đại đa số là ưa thích, là mê lầm trong năm uẩn. Vậy là chánh pháp bị mai một 2000 năm qua, sau khi Đức Phật nhập diệt 500 là chánh pháp bị mai một cho tới bây giờ. Hiện nay không có ai giảng thánh pháp này, nếu có thì chỉ giảng một phần rất nhỏ chứ không đầy đủ thánh trí về năm uẩn này. Cho nên Minh Thành đã bỏ 28 năm tu học khi gặp được nhân duyên truyền trao thánh pháp này. Từ đây cho đến ngày chết, còn hơi tàn nào, còn sinh mạng nào, một thời gian cũng hành trì pháp này, cũng nói pháp này và truyền bá pháp này. Mình khổ là khổ với năm uẩn, chỉ riêng sắc uẩn thôi là mình đã chết trong đó 3000 lần rồi.
VII. Dục – tham - ái
Mình đang đói bụng, đi đến bữa tiệc dọn ra 10 món ngon thì lúc đó người ta ngồi nói chuyện mà mình thì đói bụng thì mình có cảm giác gì? Minh Thành sẽ chỉ cho mọi người 3 loại để mình phân biệt dục, ái và tham.
Dục ái trong đạo Phật không chỉ nói vấn đề nam nữ, cái này không cần tu cũng biết. Bên trong mình là một cảm giác thúc giục nhanh mau để ăn vì đói. Dục là một cảm giác thúc giục. Không khéo thì khi gắp thức ăn cũng bị dục thúc giục gắp nhanh, lẹ để ăn cho nhiều. Thậm chí có nhiều người gắp miếng to, bự nhất để ăn chứ không cần biết ai nữa. Cho nên có ông già đi tu Phật thất chùa Hoằng Pháp, Minh Thành hỏi khi tu về nhớ gì nhất thì ông nói ấn tượng nhất là lên bàn ngồi chỉ có 4 miếng tàu hủ mà ông kia ăn mất 2 miếng. Tiếp theo, khi gắp đồ ăn để vào miệng thì có cảm giác thích thú, đó là ái. Khi nhai chưa hết thì gắp miếng thứ 2 chờ sẵn, đó là tham, muốn thêm nữa.
Như vậy dục, tham, ái hết sức là sâu sắc, không phải chỉ chuyện nam nữ mà trong tất cả mọi trường hợp, khi 6 căn tiếp xúc 6 trần là nó sẽ sanh khởi, an trú, xâm chiếm thân tâm mà mình không thấy, không biết nên gọi đó là vô minh. Những khi thọ; tưởng sanh lên là thấy, an trú là thấy, chấm dứt là thấy để mình điểm mặt, chỉ tên thì từ từ mình mới có khả năng nhiếp phục, làm chủ nó. Một người đã nhiếp phục, đã thấy biết tường tận thân tâm mình, có khả năng nhiếp phục làm chủ thì con người đó không tự chủ, không giải thoát thì gọi là gì? Như vậy là tuyệt vời, siêu khoa học, không có bất cứ một hình ảnh mê tín gì trong đây, không có bất cứ một cái gì tà kiến trong đây, nó sáng rõ như chỉ trong lòng bàn tay.
Cái gì làm cho mình đau khổ? Dục làm cho mình khổ thì nhiếp phục dục. Dục ở đâu? Ở trong cảm giác. Cái gì làm cho mình khổ? Sân làm cho mình khổ? Sân ở đâu? Ở trong cảm giác. Si ở đâu? Ở trong cảm giác, thấy được là nhiếp phục, tẩy sạch, trừ diệt, đoạn tận, chấm dứt để không còn hiện hữu trong tương lai. Đó là thánh trí của Phật, diệt tận tham sân si. Một khi tham sân si đã sạch sẽ thì đi đến Niết-bàn. Không còn tham sân si đối với ngũ uẩn. Tất cả những pháp đều phải đứng trên năm uẩn. Nếu không có năm uẩn là không có chân đứng như nhà không móng. Mình nói là tham nhưng tham cái gì? Một là tham sắc, hai là tham cảm giác, ba là tham những cái nghĩ tưởng.
VIII. Lịch sử kết tập kinh tạng
Cũng như mình học được một ít kiến thức Phật pháp là đi đến đâu mình cũng huyên thuyên, ai nói gì mình cũng phản bác lại cho rằng ý kiến của mình mới đúng. Đây là thức thủ uẩn, mình ở trong đó mà mình không biết, là chấp thủ, là thức thủ uẩn. Vì cái thấy của mình không có căn cứ trên thánh trí của Phật, hết sức là nguy hiểm. Cái học bây giờ toàn dựa vào tổ này tổ kia, nhưng tổ nào đi nữa cũng chỉ là chúng sanh chứ không được Đức Phật xác nhận, chừng nào Phật xác nhận đó là bậc thánh A-la-hán thì mới được gọi là đúng. Còn mình là phàm phu, không biết được ai giỏi hay dở thì làm sao gọi người đó là thánh Tăng, ngay cả những vị thánh Tăng, đó là phàm phu mà phàm phu thì không có giá trị. Phàm phu thì làm sao biết vị đó là thánh?
Điều Minh Thành sắp nói sau đây có liên hệ đến lịch sử kiết tập của Phật giáo, nếu mình không nắm vững thì tu không thành tựu, tất cả những gì mình học đều rơi vào ngõ cụt. Sau khi Đức Phật nhập diệt thì Ngài Ma-ha-ca-diếp yêu cầu mở đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất. Trong lần kết tập này có 500 vị A-la-hán được Đức Phật công nhận, trong 500 vị A-la-hán này có Ngài Ma-ha-ca-diếp và lần kết tập này cũng chính Ngài Ma-ha-ca-diếp trủ trì và Ngài là đại thánh.
Trong lần kết tập thứ nhất viết được 4 bộ kinh Nikāya, không có Tiểu Bộ, phải hơn 200 năm sau khi Đức Phật nhập diệt mới có Tiểu Bộ kinh. Trong lần kết tập thứ hai là do có tranh luận trong Tăng đoàn, chia sẻ, phân phái ra. Tất cả những vị này là phàm Tăng, thánh Tăng thì làm gì có tranh luận, làm gì có phân phái. Cho nên chia ra làm 20 bộ phái trong lần kết tập lần thứ 2. Sau đó kết tập lần thứ 3, thứ 4 cho đến lần thứ 5, thứ 6, vậy mà những người sau này lại ưa thích những bộ kinh sau này. Cho nên lần kết tập thứ nhất không có luận tạng, không có vi diệu pháp. Nhưng bây giờ chính Minh Thành đi qua các nước Nam tông như Myanmar là chỗ Phật giáo đứng nhất thế giới, Minh Thành vào đảnh lễ, cúng dường các vị Tam tạng pháp sư.
Có một sư bên Việt Nam qua đó học tiến sĩ mà nói bên đây tạng vi diệu mới là tinh hoa nhất, cốt lõi nhất còn kinh là thứ yếu, không quan trọng. Minh Thành nghe xong là giật mình, cho nên bây giờ bên đó đại đa số đi theo vi diệu pháp, Phật giáo Nam tông ở Việt Nam cũng vậy. Đây là sự thật hết sức đau lòng và cay đắng. Đừng nói chi Phật giáo phát triển, ngay cả Phật giáo nguyên thủy Nam tông cũng không chú trọng tạng kinh thật sự của Đức Phật, trong khi bao nhiêu lần kết tập về sau này mới có tạng vi diệu pháp. Hàng mấy trăm năm sau mới xuất hiện tạng vi diệu pháp được những người về sau này chú giải những lời của Phật, vậy mà bây giờ đi học cái đó. Tại sao vậy?
Vì tạng kinh Nikāya tu chứng mới có thể thấy biết được, nếu không tu chứng là không thể hiểu được. Còn những tạng kinh sau là tri thức, kiến thức, học thức như triết lý, lấy cái đó để biện luận, giảng dạy, làm học thuyết. Cái này rất dễ, chính chỗ này làm cho chánh pháp mai một và hiện tại bây giờ, dù cho có giảng kinh Nikāya cũng giảng theo kiến thức nghiên cứu, giảng theo kiểu học thuyết, chứ không đưa ra được đạo lộ tu hành. Đây là một sự đau lòng và cay đắng. Minh Thành hết sức may mắn khi có nhân duyên này, đánh đuổi cả cuộc đời của mình để đi tìm và cuối cùng đã tìm ra. Bây giờ Minh Thành đang thắp sáng lại ngọn đèn chánh pháp này, hiện giờ có được 8 đạo tràng Nikāya trong – ngoài nước tu học theo quyển sách Kinh Nghiệm Tu Học Kinh Nikāya.
Không cần đông, chỉ 5-7 người cũng có thể thực tập tu học theo kinh Nikāya. Thậm chí Minh Thành có thể giảng trực tuyến từ xa, còn chánh pháp Đức Phật nói trong này cũng là Tứ Niệm Xứ, cho nên học cái này tuyệt vời lắm. Không phải mình học là mình nhiếp phục được ngay năm uẩn và có thể từ bỏ ngay năm uẩn, nhưng mình biết được đạo lộ tu học là như vậy và mình biết mình đang đứng ở đâu trong đạo lộ này. Nếu mình nhiếp phục được tham sân si và bản ngã phần nào thì ít nhất mình sẽ không rơi vào những con đường tăm tối, thối đọa. Mình sẽ ở trong cảnh giới của Nhân – Thiên, lần lần mình sẽ lưu cái tâm hướng Dự lưu để từ từ mình bước vào dòng trí huệ thật sự của Đức Phật. Làm được như vậy là quá tuyệt vời. Một đống hột xoàn giả với một hột thật thì mọi người chọn cái nào?
Cho nên hiện tại bây giờ Minh Thành đang khôi phục lại chánh pháp có từ hơn 2000 năm trước. Tuy rằng sự tu học của mình chưa được thâm sâu nhưng sự tin tưởng, thấy biết về pháp tuyệt đối không bị lay động mà ngược lại rất rõ ràng và rành rẽ. Mình đã nắm vững con đường và phương pháp cho nên có lòng tin bất động, chính mình thực tập sẽ thấy, sẽ biết tham sân si hoạt động như thế nào, phương pháp nhiếp phục như thế nào và con đường thoát ra như thế nào. Thật sự rất tuyệt vời.
IX. Hai con đường tu tập
Phát triển về tài chính nó có nhiều phương diện. Đối với người xuất gia là khác, đối với cư sĩ hiểu đạo sâu sắc là khác, mà đối với một người cư sĩ mới bình thường là khác. Mình có hai hướng tu tập. Một hướng là nhân thiên pháp, một hướng là bất tử pháp. Nhân thiên pháp là những công việc phước báu, lành thiện ở trong luân hồi.
Nếu như mình tham muốn chân chánh thì cái đó không có tội. Mình làm nghề chân chánh, không lừa gạt người ta, không có đi đồ lậu, không bán thuốc phiện. Không làm năm nghề Đức Phật nói không thực hành, là tà mạng đó. Là không bán rượu, không bán thịt, không bán người, không bán vũ khí và không bán thuốc độc. Đó là năm nghề Đức Phật gọi là tà mạng. Nếu mình không làm năm nghề đó, làm nghề chân chánh đàng thì mình không có tội.
Đó là nhân thiên pháp, nếu mà bất tử pháp là khác. Bất tử pháp thì người này vẫn làm bình thường như vậy. Mà những cái làm của người này không bị tham đắm trong đó. Mà làm vì bổn phận, làm vì trách nhiệm và làm những cái đó để hộ trì tam bảo, để in kinh ấn tống, để duy trì ngọn đèn chánh pháp với thế gian, thì cái đó một đẳng cấp khác nữa. Không phải ai làm cái gì mình cũng nói người ta tham hết là không phải. Cho nên nó phân biệt ra hai cái là nhân thiên pháp và bất thiện pháp nó khác nhau.
Người tu nhân thiên pháp là người đó không chấm dứt sanh tử. Người đó muốn còn đời sau để hưởng nữa, thì vẫn được. Nhưng mà còn đời sau, còn luân hồi sanh tử thì nó còn rơi lọt, không biết được. Khi nào nhập lưu tu đạo hoàng, thì Đức Phật sát huyết người này tiến thẳng đến chánh giác. Còn nếu chưa nhập lưu thì rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dễ ợt. Hằng ngày mình đọc báo chí tin tức là toàn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không. Những kẻ giết, người xâm hại ngay trong hiện tại thì đã vô địa ngục rồi, ngục tù rồi, đừng nói chi nhắm mắt. Một cái tâm sân hận, một cái tâm tham dục như vậy, một cái tâm si ám như vậy thì địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mà vô đó là khủng khiếp lắm, một ngàn năm ở mình thì ở dưới đó mới một ngày một đêm. Mà sống trong đó một ngàn tuổi, là tính ra nhiêu. Ngàn năm có một ngày, một ngàn tuổi ra bao nhiêu? Vô số kể, thật khủng khiếp.
X. Quán thọ
Nhưng mà cái thọ uẩn hết sức quan trọng. Đức Phật nói: tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, nơi cảm giác. Tại vì cái thọ này đặc biệt, nó gắn kết thân và tâm. Cho nên sân lên người ta nhìn cái sắc người ta biết mình sân. Chứ cái tưởng của mình người ta không đọc được, cái thức của mình người ta không biết. Nhưng mà cảm thọ của mình biểu hiện trên thân mình nó có chỗ. Ví dụ: Dục khởi nó có chỗ, sân khởi nó có chỗ, tham khởi nó có chỗ và si khởi nhìn cái mặt biết không?
Cho nên cái thọ là một cái chỗ hội tụ tất cả pháp. Cho nên cái thọ này là sự gắn kết giữa thân và tâm. Cho nên mình tu chỗ quán thọ là chỗ quan trọng nhất, tuyệt đối quan trọng. Muốn nhìn cái gì trong thân tâm mình, nhìn vô cái thọ là nó hiện ra hết. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, bài kinh Cội Rễ trong Tăng Chi Bộ kinh. Trong cảm thọ, trong cảm giác nó hội tụ ở đó hết.
Ví dụ: Ông xã đi làm về mệt, mới bước vào nhà nói một câu gì đó tự nhiên mình bực mình, mình thấy khó chịu. Mình phải thấy được cảm giác đó và tại sao mình khó chịu vậy. Mình phải hoá giải cảm giác đó liền, mình biết cảm giác này là không tốt, cảm giác này là không nên. Nhiều khi ổng đi làm về ổng mệt, mình phải có sự thông cảm, phải có sự quan tâm, phải có sự độ lượng tha thứ. Mình hoá giải cảm thọ lập tức, mới vừa khởi lên là mình hoá giải liền, không cho nó bùng phát lên. Mình không có chấp nhận một cảm giác sân, một cảm giác khó chịu, mình không có làm cho nó tăng tưởng, phát triển, bành trướng. Mà mình có một hướng chấm dứt, hướng từ bỏ, hướng tẩy sạch. Là đó sự tu rất là thâm sâu.
Còn cái kia nó khởi lên một cái là mình chấp nhận, không những vậy mà mình còn làm cho nó lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển, bành trướng. Đức Phật còn dùng từ là áp đảo, là mình chết trong cảm thọ đó luôn. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là các khía cạnh của năm uẩn đối với thiện pháp. Mà phải nhìn thấy năm uẩn rồi mới tu tập được, nếu không nhìn thấy được năm uẩn thì ba mươi bảy phẩm trà đạo chỉ còn trên lí thuyết thôi.
Ví dụ: Chánh kiến là thấy được năm uẩn. Rồi bây giờ chánh tư duy là gì? Là một sự suy nghĩ đánh đuổi những ham muốn, những nóng giận, những cái hại người ta. Những suy nghĩ đó thuộc về cái gì uẩn? Đó là thuộc về hành uẩn. Rồi sự tinh tấn của mình, mình cũng dùng những cảm giác, suy nghĩ, tác ý. Thì nó cũng thuộc về hành uẩn, thọ uẩn. Cho nên ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng phải đứng trên ngũ uẩn. Nếu không đứng trên ngũ uẩn là sụp đổ hết. Tại vì ngũ uẩn là thân tâm mình, mình không biết thân tâm mình thì làm sao mình tu. Mình không nhìn thấy được những cảm giác, nghĩ tưởng của mình thì làm sao mình tu. Giống như điều đó mình bước vào nhà mà mình mở của mình đi vô vậy.
Mình thành tựu trí ngũ uẩn thì chỗ đó mình tu học cái gì cũng vững chắc, cũng có nền tảng. Còn nếu không là trên suy tưởng thôi. Đến để mà thấy tức là mình quay trở về mình nhìn ra thân thể, cảm giác, những nghĩ tưởng, nhận thức trong thân tâm của mình. Khi có tham mình biết, nhưng mà không phải biết không. Mà để cho nó sanh rồi nó diệt, mà mình phải dùng nhiều phương pháp đánh đuổi, tẩy sạch, trừ diệt nó. Thì đó gọi là tinh cần, đó gọi là tinh tấn trong bát chánh đạo.
Khi mà mình thấy như vậy, mình tác ý, đánh đuổi, nhiếp phục, tẩy sạch nó thì như vậy mình sẽ có khả năng hướng thượng. Mà điều đó tự mình thấy, tự mình biết. Tự mình biết mình có tham, tự mình thấy mình đã diệt những cái tham nào. Tự mình biết mình có sân và tự mình biết mình đã nhiếp phục được bao nhiêu phần. Tự mình biết mình có si và mình đã dùng những phương pháp đánh đuổi như nào. Cái đó là tự mình biết, tự mình thấy. Và những điều đó giúp mình thăng hoa, hướng thượng trong pháp và luật của Như Lai.
XI. Bốn bộc lưu
Bước tới, dừng lại không có quan trọng. Đó chỉ là một hình ảnh Đức Phật nói với một cái biểu trưng. Tức là bộc lưu đó là gì? Dục bộc lưu, kiến bộc lưu, hữu bộc lưu, vô minh bộc lưu. Bốn dòng thác lũ này cuốn hết chúng sanh trong tam giới. bộc lưu là dòng thác lũ. Bởi vì cái dục trong người mình, cái ham muốn trong người mình nó là một dòng thác lũ nó cuốn trôi mình đi. Suốt một cuộc đời của mình bị ham muốn nó cuốn trôi mình. Nó cuốn trôi mình từ khi sanh ra cho đến chến luôn đó là dục bọc lưu.
Rồi hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu. Hữu bộc lưu là dòng thác lũ thứ hai. Là ưa thích sự hiện hữu. Nếu mình nói nghĩa mà dễ hiểu là mình rất ưa thích thể hiện mình. Nghĩa sâu là mình ưa thích sự hiện hữu trong luân hồi, mình ưa thích có mặt trong ngũ uẩn. Cho nên nói tu mà chám dứt ngũ uẩn, tu mà nói giải thoát, chứng ngộ cái gì đó, tu là mình thích. Nếu nói tu là đây là đời sống cuối cùng, không còn đời sống nào khác nữa, thì mình sợ liền. Sợ không? Không còn đời sống nữa.
Đại đa số người ta muốn tu để đời sau người ta hưởng, tu là được cái này, được cái kia. Tu mà được cái gì đó thì mình mới tu chứ. Thì như vậy là dòng thác lũ thứ hai là hữu bọc lưu. Tức là dòng thác lũ trong sự mình muốn hiện hữu, muốn có mặt, muốn tồn tại ở trong năm uẩn này.
Ví dụ: Mình nói đơn giản là nhốt mình trong nhà một ngày không gặp ai hết, không mạng, không gì hết thì mình có buồn không? Mình có muốn đi tiếp xúc không? Mình có muốn bấm điện thoại không? Những cái thúc dục, muốn đó là dục bọc lưu đó. Mình không có chiến thắng được cái dục đó, cái mong muốn đó, cái thúc dục trong đó. Mình muốn gặp người này, gặp người kia để nói chuyện này nọ kia, còn ngồi thiền là mình khó chịu. Ngồi là mệt lắm, ngồi đối diện nội tâm mình làm biếng lắm. Còn ngồi nói chuyện café mình nói chuyện ba bốn tiếng không sao hết. Nhưng mà ngồi thiền nửa tiếng là mệt. Thấy chưa? Như vậy là gì? Nhìn sâu vô trong là một dòng thác lũ của dục, một dòng thác lũ của hiện hữu, một dòng thác lũ của kiến chấp.
Những cái hiểu biết của mình đã học, mà giờ nói sai một cái là mình khó chịu lắm, không phải dễ đâu. Kiến bọc lưu. Những cái thấy biết của mình, những cái tích luỹ thấy biết của mình, cái đó trở thành dòng thác lũ và nhấn chìm mình ở trong sanh tử. Khung khiếp không? Tại cái thấy biết của luân hồi, thấy biết của vô minh, thấy biết của nghiệp. Chứ không phải thấy biết của thánh trí. Nếu mà căn cứ vào kinh Nikaya, thấy biết đúng như vây đó, thì gọi là thấy biết của bậc thánh, tri kiến của bậc thánh. Còn cái thấy biết của mình là thấy biết trong ngũ uẩn, thấy biết trong nghiệp. Thấy biết trong vô minh, trong chấp ngã, mình bấu cứng như vậy là kiến bọc lưu, chết chìm.
Rồi gì nữa? Vô minh bộc lưu. Là sự không thấy, không biết của mình về năm uẩn. Không thấy không biết về cảm giác, không thấy không biết về tham sân si, không thấy không biết về những cấu uế của nội tâm mình không thấy, không biết. Mình không thấy, không biết thì mình đâu biết tâm mình là cái gì đâu. Rồi càng không biết tham sân si sanh khởi ở đâu, tại sao nó sanh khởi, nó an trú như thế nào, nó quậy phá mình như thế nào, nó áp đảo mình như thế nào, nó làm cho làm cho mình khổ não như thế nào, mà mình cứ tưởng người kia làm cho mình khổ không thôi. Tại người kia, tại bà kia, tại nó. Mình không biết tại tham sân si bản ngã, mình không biết tại cái gốc khổ của nó là ngũ uẩn, là ngũ thủ uẩn. Là sự bám chặt vào trong năm uẩn. Thì cái đó mới khổ, mình không thấy được điều đó. Thì chính điều đó là cái dòng thác lũ thứ tư. Gọi là vô minh bộc lưu.
Cho nên ta không tiến tới, ta không đứng lại. Vì ta không nhìn thấy những thứ này là thứ vô thường, những thứ vô ngã, những thứ duyên sanh, những thứ trống rống, những thứ không có thật thì ta thoát ra thôi. Cần gì đứng liên tiến lại gì đâu.
Tại vì mình thấy nó thiệt, thì mình mới có tiến lên, đứng lại, làm gì để thoát ra. Còn Đức Thế Tôn nhìn thấu được bản chất của nó là trống rỗng, nó là bong bóng, nó là bọt nước. Cho nên không quan trọng ở chỗ dừng lại, hay tiến lên mà quan trọng mình thấy được cái bản chất của tứ lưu, bốn dòng thác lũ. Đức Thế Tôn vượt ra dục tham đối với bốn dòng thác lũ này.
Mình tu hiểu biết rồi, mà nghĩ giờ bỏ hết trơn sao ta. Mình hiểu biết rồi mà nó cũng bình định, nó không muốn đi. Có lúc mình quyết định đi, có hồi mình nói thôi tiếc, tiếc giờ năm uẩn bỏ hết sao. Thì trong thời gian này mình phải tác ý mạnh luôn. Khi mình xác định luôn thì lúc đó hướng dự lưu, cho đến nhập lưu thánh quả. Là chính thức bước vào dòng trí huệ, không còn thối đoạ, không còn thói chuyển, không còn thối lui, không còn lui sụp. Xác quyết một trăm phần trăm tất cả là năm uẩn, mà năm uẩn này là vô thường, khổ, vô ngã. Bản chất của nó là như vậy. Xác quyết một trăm phần trăm không còn giao động nữa. Mà khi mình đang hướng tới mạnh mẽ, siêng năng, tinh tấn, nỗ lực, quyết tâm thì cái đó là hướng dự lưu, là đã bước vào bốn đôi tám chúng của hiền thánh. Đây là đa văn thánh đệ tử thật sự của Đức Phật.
Còn mình chưa thấy được năm uẩn thì mình còn xa, mình ở vòng ngoài, chưa gọi là đệ tử của Đức Phật, chưa gọi là đa văn thánh đệ tử. Nếu mình chưa thấy năm uẩn. Chưa thấy được mục đích li tham năm uẩn trên cuộc đời này, thì mình còn dài dài. Dòng luân hồi còn vô tận, mênh mông.
Bốn đôi tám chúng là gì?
Bốn đôi tám chúng là bốn thánh quả, là bốn bậc hướng đến thánh quả đó. Sơ quả là Tu Đà Hoàn. Nhị quả, tam quả rồi tứ quả. Rồi có bốn cái quả hướng tới bốn cái quả đó. Giống như một người đậu đại học và một người đang luyện thi đại học.
Ví dụ: Vị này đang hướng tới quả thứ nhất, hướng tới quả thứ hai, hướng tới quả thứ ba, hướng tới quả thứ tư. Thì cái đó mới gọi là bốn đôi tám chúng, hiền thành của Phật.
Mà những vị này thành tựu trí năm uẩn của Phật hết. Không có vị nào không thành tựu trí năm uần mà được vô bốn đôi tám chúng đó hết. Tại vì trí năm uẩn là thân tâm của mình chứ đâu phải là cái gì đâu. Mình không thấy biết thân tâm của mình thì làm sao mình nhìn được những rác bẩn, cấu uế, tham sân si bản ngã. Rồi làm sao mình trừ diệt.
Đang có cảm giác sân mình phải tác ý trừ diệt. Chứ mình không phải cố gắng đi theo cái sân đó. Đó là không phải. Tức là mình biết có cảm giác sân, khó chịu, thì mình phải tìm cách hoá giải cảm giác đó. Chứ không phải mình đi theo nó, mình biết nó làm cái gì. Mình biết có nó rồi mình đánh đuổi nó, mình tẩy sạch nó.
Ví dụ: Mình biết trong nhà mình có con rắn độc thì mình phải tìm cách đuổi nó ra. Chứ không phải mình biết nó rồi, mình xem nó bò đi đâu, nó ra làm sao, nó màu gì. Không phải, mà là tìm cách mình đánh đuổi nó càng mau càng tốt. Chứ không phải mục đích mình thấy cái sân, để mình hiểu cái sân là không phải. Mà là biết sân để mình đánh đuổi cái sân nó ra. Hồi trước mình không biết cái sân, vị trí nó ở chỗ nào. Mình biết vị trí nó ở trong cảm thọ, ở trong cảm giác, thì mình dùng từ tâm, dùng quán vô thường, để mình quán chiếu.
TÂM LÀ CÁI GÌ?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chánh niệm tỉnh giác PAGEREF _Toc72154080 \h 1
II. Ngũ uẩn PAGEREF _Toc72154081 \h 2
III. Nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc72154082 \h 5
IV. Thọ uẩn, tham – sân - si PAGEREF _Toc72154083 \h 7
V. Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc72154084 \h 10
VI. Chấp thủ năm thủ uẩn là khổ PAGEREF _Toc72154085 \h 12
VII. Dục – tham - ái PAGEREF _Toc72154086 \h 15
VIII. Lịch sử kết tập kinh tạng PAGEREF _Toc72154087 \h 16
I. Chánh niệm tỉnh giác
Lời đầu tiên, Minh Thành cảm ơn các Phật tử có một cái tâm chân thành tu học, chia sẻ đến cho mọi người, nhất là cô Diệu Huệ đã đưa đón các quý thầy về đây giảng pháp và các Phật tử khác. Hôm nay có duyên được gặp quý thầy cũng như gia đình của cô chú, lời đầu tiên Minh Thành trân trọng tấm lòng quý kính Tam bảo và sự tu học của các vị. Hôm nay là buổi trà đạo, vừa uống trà vừa tâm sự tu học. Minh Thành muốn lắng nghe những suy nghĩ, cảm nhận, những sự hiểu của mọi người như thế nào về Phật pháp, có những khó khăn, nghi vấn hoặc có điều gì mình thấy chưa sáng tỏ về pháp học cũng như pháp hành thì hãy chia sẻ. Sau đó sẽ đến Minh Thành chia sẻ.
Khi chúng ta không nắm vững được lời dạy gốc trong tạng kinh Nikāya thì chúng ta bị loạng chạng, không có chuẩn mực rõ ràng, như vậy chúng ta tu sẽ không đến kết quả rốt ráo, hoặc có kết quả nhưng chỉ ở khía cạnh, góc độ chứ không phải là sự toàn diện của chánh niệm. 28 năm trước Minh Thành cũng như vậy, cách đây 1,5 năm là Minh Thành bỏ hết tất cả bài giảng cũ, trong 2 năm nay chuyên về tạng kinh Nikāya, lấy tạng kinh Nikāya làm chuẩn tắc trong pháp học và pháp hành và khi vào trong tạng kinh này rồi thì rõ như mặt trời.
Minh Thành mới vừa in 5000 quyển Nghi thức tu học kinh Nikāya, trong đây ghi thời khóa mỗi ngày ra sao, tu học những bài kinh nào, cần thuộc bài nào để khi mình thực tập quán chiếu sẽ thấy được tất cả. Đây là một trình tự, một đạo lộ, một đường lối phương pháp rõ ràng chứ không phải nói chung chung. Chánh niệm và tỉnh giác là phần Căn bản trí trong quyển Nghi thức tu học kinh Nikāya. Chánh niệm tỉnh giác số 1, số 2 là lời của Chánh Đẳng Chánh Giác, định nghĩa của Đức Phật. Chánh niệm tỉnh giác 1 nằm trong Tương Ưng Bộ, tập IV, trang 340, kinh Tật Bệnh:
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
Và này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Đây là lời giáo giới của Ta cho các ông.”
(Tương Ưng Bộ Kinh tập IV, bài kinh Tật Bệnh)
Chánh niệm tỉnh giác số 2 ở Tăng Chi Bộ kinh tập III.
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt; Rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt; Rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt. Này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác;”
(Tăng Chi Bộ Kinh tập III, bài kinh Tôn Giả Nanda)
II. Ngũ uẩn
Minh Thành phát hiện ra sự thật mà Minh Thành bị sốc, tất cả những cái tu học chung chung đều không sử dụng được, đó chỉ là thiện pháp lúc ban đầu thôi, những pháp lành gieo duyên chứ còn tu học như vậy là mình đi vào trong rừng rậm, không có lối ra. Còn khi học 4 bộ kinh Nikāya này thì mọi người sẽ thấy một đạo lộ, gọi là thánh đạo rực sáng trên mặt trời. Tất cả bao nhiêu ngàn bài kinh đều chỉ có một đường lối, không có đường thứ 2.
Ở đây Minh Thành chỉ nói cái cốt lõi, nếu không nắm được chìa khóa này thì không thể mở đại tạng kinh Nikāya được, dù cho có đọc kinh suốt đời hay nghiên cứu tới chết cũng không nắm được thật sự cái lõi của tạng kinh Nikāya là ở đâu. Mình hiểu chung chung thì chỉ đúng trên văn tự và tri thức thôi. Có chìa khóa để mở tạng kinh này, nếu không nắm được chìa khóa này thì tất cả sự tu tập của mình đều không có chân đứng, giống như nhà không có nền móng. Ai cũng nhớ bát khổ: sanh là khổ, bệnh là khổ, già là khổ, chết là khổ, cầu bất đắc là khổ, oán tắng hội là khổ. Nhưng cuối cùng trong kinh Nikāya mới có câu: Tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Đây là câu tóm thâu toàn bộ trí tuệ của tạng kinh Nikāya, nhưng không phải chỉ có một câu này mà tràn ngập hết tất cả tạng kinh Nikāya là Đức Phật trình bày về thánh trí năm uẩn. Nếu mình không nắm được năm uẩn thì tất cả sự tu học của mình chỉ nằm ngoài da.
Như vậy đầu tiên là mình phải nhận diện được năm uẩn, còn không nhận diện được năm uẩn thì chánh niệm tỉnh giác của mình không có nền móng, không có chỗ đứng. Có người nói tâm là sự thấy biết, người khác nói tâm là sự nhận biết. Nếu tâm mình mà mình còn không biết thì làm sao mình kiểm soát được nó? Làm sao mình nhiếp phục được tâm? Làm sao mình quản lý được tâm mình? Làm sao mình làm chủ được tâm mình? Đây là chỗ mà Minh Thành muốn trao chìa khóa cho quý vị, mình không thấy biết được tâm mình một cách chính xác rõ ràng thì làm sao hàng phục tâm?
Mình nói một cách chung chung, bao nhiêu ngôn từ, bao nhiêu lý thuyết nhưng thật sự mình không thấy được tâm. Đây là một vấn đề hết sức thực tế, hết sức quan trọng. Mình tu đủ thứ kiểu, học bao nhiêu thứ mà tâm mình lại không biết, đây chính là chỗ không có chân đứng trong pháp và luật, cái nhà không có móng. Cho nên mình tu học hoài cũng không làm chủ được thân tâm vì không biết được nó rõ ràng. Hỏi thì mỗi người nói một kiểu, không có một cái chuẩn, không có định lý rõ ràng, vì vậy mà tại sao mình phải đi vào tạng kinh Nikāya, Đức Phật đã chứng ngộ và tuyên bố:
“Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào Như Lai chưa có liễu tri, tuệ tri, thắng tri về năm uẩn, Ta không có tuyên bố rằng Ta thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho đến khi nào Ta hoàn toàn liễu tri, tuệ tri, thắng tri, tức là Ta hoàn toàn thấy biết tường tận tất cả mọi phương diện, khía cạnh của năm uẩn thì lúc đó Ta ở giữa Trời, Người, Sa-môn, Bà-la-môn, tất cả giới tu hành, Ta rống lên tiếng rống của sư tử Ta là bậc giác ngộ tối thượng giữa Nhân – Thiên.
Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”
(Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển).
Giác ngộ như thật là giác ngộ năm uẩn. Năm uẩn là thân tâm và thế giới. Trong con người của mình có đầy đủ năm uẩn.
Sắc uẩn là thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại… Tất cả những gì mình thấy Đức Phật tóm lại trong chữ Sắc. Thân thể này là sắc, tô, chén, ly, bàn, tủ… sơn hà đại địa, núi sông là sắc uẩn, sắc pháp. Còn mình nhìn cái chén ra cái chén, cái ly ra cái ly chứ mình không biết nó là sắc pháp.
Thọ; tưởng; hành; thức là tâm. Thọ: Có 3 loại cảm giác: Cảm giác dễ chịu; cảm giác khó chịu; cảm giác không dễ chịu không khó chịu... Một ngày của mình lòng vòng trong 3 loại cảm giác này.
Tưởng: Là những hình bóng trong tâm. Mình nhớ đứa con, ba mẹ… thì hình bóng đó hiện ra trong tâm thì đó là tưởng uẩn.
Hành: Là lời nói lầm thầm, suy nghĩ đi theo tưởng uẩn, giống như khi xem tivi thì vừa có hình ảnh, âm thanh đi chung với nhau.
Thức: Là cái biết mình đang có những hình bóng, suy nghĩ, lời nói lầm thầm trong tâm.
III. Nhận diện năm uẩn
Mình ngồi tại đây thực tập nhận diện năm uẩn, mình sẽ thấy biết bằng con mắt của mình ngay tại chỗ ngồi này, chứ không phải đợi trải qua bao nhiêu năm mới thấy được năm uẩn. Hằng ngày mình có sống với thọ; tưởng; hành không? Sáng – trưa – chiều tối nằm chiêm bao cũng có hoạt động mà mình không thấy, không biết thì Đức Phật gọi là vô minh. Chính thân tâm này là ngũ uẩn, nó đang vận hành, hoạt động, chi phối, áp đảo mình, làm cho mình sầu bi khổ ưu não mà mình không thấy, không biết tự thân tâm mình thì Phật gọi đó là vô minh.
Mình giận một người nào đó thì trong tâm mình có hình bóng người đó không? Có cảm giác khó chịu đi theo không? Có lời nói lầm thầm bực bội không? Trong đó mình biết là mình đang có cảm giác bực bội, nghĩ tưởng đó không? Đây chính là ngũ uẩn đang vận hành hay còn gọi là ngũ uẩn vận hành trong cảm giác sân. Lúc đó cái thân mình vẫn khó chịu, sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều bị động chuyển.
Khi mình tham đối với một người nào đó hay một món đồ ưa thích thì có cảm giác dễ chịu. Cái tưởng mình thử món đồ đó. Cái hình bóng món đồ đó hiện ra. Suy nghĩ là nếu mình có món đồ này thì hay ta, thì cái suy nghĩ đó là hành uẩn và mình rõ biết cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó là thức uẩn. Gương mặt mình lúc đó tươi tắn lên, khoan khoái, bịn rịn không đi được. Như vậy ngũ uẩn của mình đều bị chinh phục trong tham, dục, ái. Ngũ uẩn vận hành trong cuộc sống, xuyên suốt trong thân tâm mình trong từng giờ, từng phút, từng giây.
Mọi người cứ đọc "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách" nhưng khi đọc xong, trở ra thì mình bỏ mất uẩn còn lại ngủ (ngũ), mê mê mờ mờ. Thành ra sự nhận diện năm uẩn này, sự thấy rõ năm uẩn này, hiểu biết về năm uẩn này thì đó là chánh tri kiến trong Bát Chánh Đạo. Đây là cửa đầu tiên của chánh tri kiến. Vì khi mình nhìn ra đó là năm thứ chứ không phải một thì bản ngã của mình sẽ tan vỡ, cái định kiến về bản ngã, cái nhìn sai lầm về thân cho rằng có một cái tôi sẽ bị năm pháp này làm cho bể ra, phân tán ra.
Cánh cửa đầu tiên của Bát Thánh Đạo là chánh tri kiến, mà chánh tri kiến là nhìn thấy thân tâm này là ngũ uẩn chứ không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Học cái này tuyệt vời ở chỗ khi mình nói vô thường, vô ngã là nói trên từ ngữ, trên môi nhưng khi nhìn các cảm thọ sanh diệt thì mình sẽ thấy bằng mắt. Cho nên Đức Thế Tôn định nghĩa pháp của Ngài là: pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, không có trở qua thời gian, có khả năng hướng thượng được người trí tự mình giác hiểu (Tương Ưng Bộ, tập V. Thiên Đại Phẩm, chương IX. Tương Ưng Dự Lưu).
Người trí là người nhìn lại năm uẩn, thấy biết được năm uẩn. Pháp của Ta là đến để mà thấy chứ không phải đến để tin, không thấy không biết về năm uẩn thì làm sao tin? Mình học Phật bao nhiêu năm nhưng khi hỏi tham sân si ở đâu có biết không? Nói là trong tâm, nhưng tâm là cái gì?
IV. Thọ uẩn, tham – sân - si
Bây giờ Minh Thành chỉ cho quý vị ở trong cảm giác. Khi mình nghe điện thoại mà bị nói xối xả, chỉ trích mình thì cảm giác gì sanh khởi lên? Ngực nóng hừng hực lên, gương mặt đổi màu, lỗ tai lùng bùng, hai mắt mờ, cái miệng giật giật nói ra. Trong cảm giác khó chịu, bực tức đó Đức Phật gọi là sân tùy miên trú ẩn trong khổ thọ đó. Tùy là đi theo, miên là miên man. Trong cảm giác bực bội, sân hận khó chịu đó có sân tùy miên. Xưa nay mình nói tu là diệt tham sân si mà không biết tham sân si trú ẩn nơi nào thì làm sao diệt?
Hôm nay mình biết được tham sân si trú ẩn trong cảm giác, một khi mình thường trực nhìn lại sẽ thấy vừa không hài lòng với cái gì là cảm giác trong tâm bực lên, mình sẽ thấy sự động chuyển của cảm giác. Còn lúc trước mình không biết, vừa khởi lên là mình nhập theo luôn vì mình không biết nguồn cơn nó ở đâu, nó vận hành ra sao, nó chấm dứt ra sao. Vì vậy Đức Phật dạy chánh niệm tỉnh giác là khi Tỷ-kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt. Nghĩa là cảm giác sân nổi lên thì mình biết đây là cảm giác nguy hiểm, "bây giờ tôi đang có cảm thọ giận, bực bội, khó chịu", khi cảm thọ giận lắng dịu xuống mình cũng biết. Đó là chánh niệm tỉnh giác.
Khi mình khởi lên sự tham muốn cũng giống như vậy, mình gặp một người đẹp, ưa thích thì trong lòng có cảm giác dễ chịu, đó là lạc thọ, trong đó có sự bịn rịn, lưu luyến, không muốn rời xa. Mình nhìn thấy rõ cảm giác này là cảm giác ưa muốn, ràng buộc, người ta đi khuất bóng mà mình vẫn đứng nhìn theo. Mình thấy các thọ sanh khởi, an trú và chấm dứt. Trong thọ đó có hình bóng, khi về hình bóng người đẹp đó vẫn hiện ra, trong hình bóng đó mình có dục, tham, ái, sân. Cho nên mình biết trong tâm mình đang có hình bóng gì, hình bóng này tan biến rồi mình phải biết, như vậy gọi là rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt.
Những điều này rõ như ánh mặt trời. Mình đọc được hết tham sân si trong tâm mình. Có tham mình biết có tham, có sân mình biết có sân, lúc si xuất hiện là trạng thái đờ đẫn. Tất cả mình đều thấy biết và Đức Phật chỉ dạy phương pháp đánh đuổi: Tham dùng bất tịnh quán, sân dùng từ tâm giải thoát và si dùng tinh cần, tinh tấn dõng mãnh, dùng trí tuệ quán chiếu để đánh đuổi. Mọi người về nghe thêm 4 bài Thánh Trí Tham, Sân, Si để hiểu rõ thêm.
Rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt. Chữ Tầm nói dễ hiểu đó là hành, là những suy nghĩ. Khi thấy có vọng tưởng, vọng niệm bất thiện là mình đánh đuổi tức là mình đang biết rõ các suy nghĩ khởi lên, các suy nghĩ an trú và các suy nghĩ đi đến chỗ chấm dứt. Chưa chắc khi có suy nghĩ khởi lên là mình nhận ra nó, nếu vô minh thì mình không thể nhận biết hết được. Không phải mình quán chỉ 1-2 lần hay 5-10 lần mà có thể nhận ra tham sân si mà thực tế phải quán cả 100 lần hay cả ngàn lần thì từ từ mới thuần phục được.
Đức Phật dạy mình phải tu tập tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa kiên cố, vững chắc, cho đến khi thuần thục. Lúc đầu mình biết nhưng cơn sân vẫn chiến thắng mình nhưng không sao hết, rồi từ từ mình mới giành phần thắng cho đến khi mình nhiếp phục được nó thì đại công cáo thành. Chữ Tầm nói sâu sắc hơn là cái tâm mình hướng đến. Mình ngồi đây nhưng cái tâm mình hướng tới việc hôm nay về trễ, cái tâm mình hướng đến vấn đề đi về thì cái đó gọi là tầm. Cái tâm lo ra gọi là tầm. Cái tâm đang hướng ngoại, không tập trung vào cái pháp mình đang học gọi là tầm. Cái này cũng hết sức quan trọng trong sự tu học.
Mình đang ngồi nghe pháp trong giảng đường thì có con chó sủa hoặc có tiếng xe chạy thì mình quay qua nhìn hoặc ngồi nghe nhưng lại nhớ không biết lúc đi có khóa cửa không thì đó gọi là tầm, cái tâm bị phóng ra ngoài. Cho nên chữ Tầm này rất thâm sâu, khi cái tâm mình đang suy tầm về cái gì thì mình phải biết, đó gọi là chánh niệm tỉnh giác. Nếu suy tầm về dục thì Đức Phật dạy mình ly dục tư duy, ly sân tư duy, bất hại tư duy. Đó gọi là chánh tư duy. Cái tâm đang suy tầm về vấn đề bực bội, nhớ về ai đó rồi giận thì cái tầm này gọi là sân tầm. Khi mình có suy nghĩ như vậy mà mình tác ý lìa khỏi suy nghĩ đó, không đi theo suy nghĩ đó thì đó gọi là chánh tư duy, ly sân tư duy. Thành ra sự tu này hết sức là vi tế, nhỏ nhiệm, sâu sắc, hết sức khéo léo và thiện xảo trong thân tâm.
Một cái suy nghĩ, một hình bóng, một cảm giác cũng không được để qua mặt. Một người quản lý tâm linh, quản lý một căn nhà thân tâm chính mình một cách tuyệt diệu. Cho nên Đức Phật mới nói người trí tự mình giác hiểu, nếu không có trí thì không thể đi vào cái pháp này. Cái pháp này chỉ là nhìn lại thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng chính mình chứ không bắt mình lên trời, xuống biển để đi tìm một cái gì cao siêu. Mới đầu mình không quen vì mình chỉ quen nhìn ra ngoài, nhìn người này người kia nhưng tập từ từ rồi sẽ quen nhìn lại thân tâm. Một khi đã quen rồi rất lý thú, vì có gì trong tâm mình cũng biết giống như mình làm chủ nhà thì tất cả mọi ngõ ngách trong nhà mình phải biết, chứ làm chủ nhà mà hỏi gì cũng không biết thì làm sao gọi là chủ nhà? Cũng vậy, một người không biết được thân tâm, không nhìn ra năm uẩn thì Đức Phật gọi là vô minh, si ám đối với tự thân tâm của mình.
Cho nên thánh trí năm uẩn này là tinh hoa, là cốt lõi, là con mắt của tạng kinh Nikāya. Tất cả những gì Đức Phật nói trong tạng kinh đều để mình thành tựu trí năm uẩn, mà trí năm uẩn là thân tâm chính mình. Mình nắm được chỗ này, không phải nhìn trong kinh mà là nhìn lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức của mình thì mình sẽ thấy được mật mã mở ra sự giác ngộ của Đức Phật, rồi từ đó mình có thể nắm bắt được, có thể tu học được, có thể hành trì được.
V. Tứ Niệm Xứ
Chánh niệm tỉnh giác khi nãy mình nói là thọ; tưởng; hành; thức. Khi đi tới đi lui, nhìn thẳng nhìn quanh, co tay duỗi tay, mặc áo, ăn, uống, nhai, nếm, đại – tiểu tiện cho đến thức, nói, im lặng đều tỉnh giác thì đó gọi là chánh niệm tỉnh giác. Đây là phần sắc uẩn. Chính là bên ngoài và bên trong, chính là thân và tâm. Còn mình nói chánh niệm tỉnh giác là làm gì biết nấy thì không đủ, vì Thân Hành Niệm phải đủ 6 khía cạnh, riêng phần niệm thân phải đủ 6 khía cạnh: Niệm hơi thở; niệm oai nghi; niệm hành động; niệm tứ đại; niệm 32 thể trược; niệm 9 giai đoạn của một tử thi.
Đức Phật gọi ai niệm thân thì người đó thể nhập cảnh giới của bất tử, còn bây giờ mình chỉ thích cái gì đơn giản thôi, nhiều quá khó nhớ thì làm sao làm được. Chính cái chỗ mình thích đơn giản này là mình sẽ chết, cái sự thích đơn giản, làm biếng là một trong những kiết sử, không muốn tinh tấn, không muốn Chánh Đẳng Chánh Giác vì Chánh Đẳng Chánh Giác là phải biết tất cả mọi phương diện, khía cạnh. Mình nấu cơm mà chỉ biết mỗi cái nấu cơm hoặc chỉ biết làm 1 món đồ ăn rồi ăn hoài như vậy thì có được không? Cho nên cái tâm ý mà muốn cho đơn giản, dễ dàng, làm cái gì thì làm 1 cái thôi thì cái tâm đó là kiết sử, là 1 thứ vô minh, si ám, cái tâm đó sẽ không thể giác ngộ. Thành ra sự tu học theo Đức Phật là một sự toàn giác. Sự thấy biết này là một sự toàn diện, toàn cuộc, toàn bộ tất cả mọi khía cạnh, mọi góc độ về năm uẩn đều phải được thấy biết.
Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
Chánh niệm ở đây chính là Tứ Niệm Xứ, mà Tứ Niệm Xứ là một sự thường xuyên, thường trực luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và những thứ đang vận hành bên trong. Đây chính là Tứ Niệm Xứ, chứ không phải mình ngồi đọc cho xong là hết, quán thân bất tịnh, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã,… học kiểu đó là mình giết Tứ Niệm Xứ, học như vậy là phản pháp, cho nên pháp mạt luôn. Ba mươi năm Minh Thành trong chùa mà không biết Tứ Niệm Xứ, không biết chánh pháp thật sự. Nói tới đâu là có kinh điển tới đó, nằm trong bộ nào, trang mấy, ở chương nào chứ không phải nói chung chung, hiểu chung chung, làm chung chung rồi kết quả cũng chung chung, không được rõ ràng.
Muốn có được chánh niệm tỉnh giác thì thứ nhất mình phải thành tựu trí tuệ tự thân, tức là thấy được năm uẩn, thấy được cái thân mấy chục kí lô này là sắc uẩn, thấy được cảm giác là thọ uẩn, thấy được những hình bóng trong tâm là tưởng uẩn, thấy được những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ là hành uẩn, thấy được sự rõ biết là thức uẩn. Tất cả đều phải đứng trên trí năm uẩn mà tu hành, nếu không thấy năm uẩn thì không thể tu Tứ Niệm Xứ một cách đầy đủ. Mình không biết tâm mình thì làm sao mình tu? Vì ngũ uẩn chính là thân tâm, thọ; tưởng; hành; thức chính là tâm.
Thậm chí những nhà bác học, khoa học vĩ đại trên thế giới thường hay nói Tôi suy nghĩ, thì cái suy nghĩ đó chỉ mới có 1 uẩn. Người này vẫn ở trong vô minh, tuy là bác học, khoa học nhưng đối với thánh trí của Phật là vô minh mà người đó còn không biết đó là hành uẩn mà nhận cái đó là tâm của mình. Thành ra trước ánh sáng của Chánh Đẳng Giác thì tất cả khoa học, bác học… đều là vô minh và là dục, tham, ái đối với năm uẩn. Đây chính là trí huệ khủng, trí huệ này làm vỡ tung hết tất cả pháp, làm cho thánh trí của mình thấu triệt hết tất cả vũ trụ vạn vật, thân tâm này được phơi bày ra ánh sáng. Ngày xưa tất cả các vị sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp đều khen Đức Phật:
“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới!”
(Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn,
I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni).
Sau khi Đức Phật thuyết pháp thì được mọi người tán thán như vậy. Ngũ uẩn này là trí tuệ mà Đức Phật đem lại cống hiến vĩ đại cho muôn loài, chứ không phải chỉ cho nhân loại. Đây là thánh trí ngũ uẩn. Những gì bị che giấu trong hằng vô lượng kiếp đều bị thánh trí này phơi bày ra hết. Mình không thấy được năm uẩn này thì tu 1 tỷ kiếp nữa cũng không bao giờ đi đến giác ngộ giải thoát, vì mình nhận nó là mình, là của mình, những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng, nhận thức, rõ biết đều là tôi hết, năm uẩn này là tôi. Cho nên thật sự mình thấy được năm uẩn rồi thì sẽ thấy được gương mặt thật sự của Như Lai, Đức Phật chứng ngộ thánh trí năm uẩn này, tóm thâu hết tất cả pháp trong vũ trụ.
VI. Chấp thủ năm thủ uẩn là khổ
Tất cả những gì mình khổ có phải khổ vì năm uẩn không? Có phải khổ vì vật chất không? Khổ vì thân thể này, khổ vì tài sản này, khổ vì cảm giác, suy tưởng này chứ khổ vì cái gì? Cho nên tóm lại, đây là câu làm nên lịch sử tạng kinh Nikāya: Năm thủ uẩn là khổ. Ngày nào mình còn ưa thích, còn dục, ái, tham đắm đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì ngày đó mình còn tiếp tục khổ. Cho đến khi nào không chơi với sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa, mà nhàm chán, viễn ly, ly tham, từ bỏ, chấm dứt năm uẩn thì lúc đó là thể nhập thế giới bất tử.
Đức Phật là một bậc thoát ra khỏi năm uẩn, còn mình say sưa, đam mê, thích thú, khao khát trong năm uẩn này. Mình khao khát thân người khác, khao khát tiền bạc, tài sản chính là khao khát sắc uẩn. Mình khao khát những cảm giác êm ái, nuông chiều là khao khát thọ uẩn. Mình ngồi tưởng tượng mình sẽ như vậy thì đó là khao khát tưởng uẩn. Mình thấy suy nghĩ của mình hay quá, có 1 không 2, suy nghĩ của tôi là ngon thì đó là ưa thích hành uẩn. Thức uẩn cũng như vậy. Thành ra tất cả chúng ta là kiến bò miệng chén, lòng vòng trong năm uẩn, không thoát ra được, vĩnh viễn vô tận không đi ra được. Nếu không có bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện trình bày thánh trí năm uẩn này thì vĩnh viễn nhân loại không có ngày thoát ra, cho nên Đức Thế Tôn đã từng nói:
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc”
(Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ,
I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi).
“Máu đã đổ xuống, nước mắt đã tràn ra, những sầu bi khổ ưu não đã đổ xuống. Này các Tỳ-kheo, là đầy khắp bốn biển.”
Xương chất chồng như núi cao, mộ phần càng ngày càng thêm lớn, đó là dòng sanh tử mình đã đi qua, chứ không phải mình mới có mặt trên cuộc đời này. Tất cả những thân thể trong sáu nẻo luân hồi mình đã trải qua hết. Mình đã dục, tham ái, đã vô minh, sân hận, si mê, đã cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc… chín ngàn tỷ lần rồi mà mình vẫn không chán, vẫn tiếp tục dục, tham, ái, và tiếp tục khổ nữa. Cái dòng khổ này tiếp diễn bất tận, trừ khi nào mọi người giác ngộ được thánh trí năm uẩn, thấy được bản chất của nó là vô thường, vô ngã, là trống rỗng để mình thực hiện việc nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt thì lúc đó thánh trí mới bắt đầu xuất hiện, và mình mới có khả năng thoát ra khỏi vòng luân hồi này.
Đây là một sự cống hiến vĩ đại chưa từng có, 91 lần trái đất này thành hoại mà chỉ có 6 Đức Phật ra đời: Phật Tỳ Bà Thi; Phật Thi Khí; Phật Tỳ Xá Phù; Phật Câu Lưu Tôn; Phật Câu Na Hàm Mâu Ni; Phật Ca Diếp. Nếu mình gặp được trí huệ này mà còn không tu học thì mình sẽ còn chứng kiến 8000 lần trái đất thành hoại mà mình vẫn còn vô minh và khát ái trong năm uẩn.
Mọi người nghĩ thử xem có phải nguyên một ngày là mình đi tìm năm uẩn không? Đi tìm sắc, đi tìm những cảm giác, những nghĩ tưởng chứ không có gì khác. Mà những cái này là vô thường, nó biến đổi nay còn mai mất, sớm nở tối tàn, yêu đó rồi hận đó, được đó rồi mất đó, sống đó rồi chết đó. Cho nên Đức Phật đã từng nói:
“Này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh … tự mình bị chết … tự mình bị sầu … tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.”
“Như Lai thấy bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu bi khổ ưu não. Như Lai đi tìm cái không sanh, không bệnh, không già, không chết và cuối cùng Như Lai chứng ngộ được cảnh giới bất tử.”
(Trung Bộ Kinh, Kinh Thánh Cầu).
Cảnh giới bất tử chính là bốn cửa thành cảnh già, bệnh, chết và một người đi xuất gia. Sau đó Thái tử Tất-đạt-đa nói với phụ vương nếu Ngài không muốn con xuất gia thì cho con đừng bị già, bệnh, chết thì phụ vương nói cái này không được. Như vậy, đó là lý do cũng là mục đích, cũng là sự thành tựu vĩ đại của Bồ tát Tất-đạt-đa, cũng chính là lý do cho sự có mặt của đạo Phật, sự chứng ngộ của Đức Phật và sự đem lại lợi ích, lợi lạc, hạnh phúc cho đa số giữa Chư Thiên và loài người, chính là sự chứng ngộ thánh trí năm uẩn của Đức Phật.
Tất cả chúng ta hiện nay học, dạy, hành trì thì đại đa số là ưa thích, là mê lầm trong năm uẩn. Vậy là chánh pháp bị mai một 2000 năm qua, sau khi Đức Phật nhập diệt 500 là chánh pháp bị mai một cho tới bây giờ. Hiện nay không có ai giảng thánh pháp này, nếu có thì chỉ giảng một phần rất nhỏ chứ không đầy đủ thánh trí về năm uẩn này. Cho nên Minh Thành đã bỏ 28 năm tu học khi gặp được nhân duyên truyền trao thánh pháp này. Từ đây cho đến ngày chết, còn hơi tàn nào, còn sinh mạng nào, một thời gian cũng hành trì pháp này, cũng nói pháp này và truyền bá pháp này. Mình khổ là khổ với năm uẩn, chỉ riêng sắc uẩn thôi là mình đã chết trong đó 3000 lần rồi.
VII. Dục – tham - ái
Mình đang đói bụng, đi đến bữa tiệc dọn ra 10 món ngon thì lúc đó người ta ngồi nói chuyện mà mình thì đói bụng thì mình có cảm giác gì? Minh Thành sẽ chỉ cho mọi người 3 loại để mình phân biệt dục, ái và tham.
Dục ái trong đạo Phật không chỉ nói vấn đề nam nữ, cái này không cần tu cũng biết. Bên trong mình là một cảm giác thúc giục nhanh mau để ăn vì đói. Dục là một cảm giác thúc giục. Không khéo thì khi gắp thức ăn cũng bị dục thúc giục gắp nhanh, lẹ để ăn cho nhiều. Thậm chí có nhiều người gắp miếng to, bự nhất để ăn chứ không cần biết ai nữa. Cho nên có ông già đi tu Phật thất chùa Hoằng Pháp, Minh Thành hỏi khi tu về nhớ gì nhất thì ông nói ấn tượng nhất là lên bàn ngồi chỉ có 4 miếng tàu hủ mà ông kia ăn mất 2 miếng. Tiếp theo, khi gắp đồ ăn để vào miệng thì có cảm giác thích thú, đó là ái. Khi nhai chưa hết thì gắp miếng thứ 2 chờ sẵn, đó là tham, muốn thêm nữa.
Như vậy dục, tham, ái hết sức là sâu sắc, không phải chỉ chuyện nam nữ mà trong tất cả mọi trường hợp, khi 6 căn tiếp xúc 6 trần là nó sẽ sanh khởi, an trú, xâm chiếm thân tâm mà mình không thấy, không biết nên gọi đó là vô minh. Những khi thọ; tưởng sanh lên là thấy, an trú là thấy, chấm dứt là thấy để mình điểm mặt, chỉ tên thì từ từ mình mới có khả năng nhiếp phục, làm chủ nó. Một người đã nhiếp phục, đã thấy biết tường tận thân tâm mình, có khả năng nhiếp phục làm chủ thì con người đó không tự chủ, không giải thoát thì gọi là gì? Như vậy là tuyệt vời, siêu khoa học, không có bất cứ một hình ảnh mê tín gì trong đây, không có bất cứ một cái gì tà kiến trong đây, nó sáng rõ như chỉ trong lòng bàn tay.
Cái gì làm cho mình đau khổ? Dục làm cho mình khổ thì nhiếp phục dục. Dục ở đâu? Ở trong cảm giác. Cái gì làm cho mình khổ? Sân làm cho mình khổ? Sân ở đâu? Ở trong cảm giác. Si ở đâu? Ở trong cảm giác, thấy được là nhiếp phục, tẩy sạch, trừ diệt, đoạn tận, chấm dứt để không còn hiện hữu trong tương lai. Đó là thánh trí của Phật, diệt tận tham sân si. Một khi tham sân si đã sạch sẽ thì đi đến Niết-bàn. Không còn tham sân si đối với ngũ uẩn. Tất cả những pháp đều phải đứng trên năm uẩn. Nếu không có năm uẩn là không có chân đứng như nhà không móng. Mình nói là tham nhưng tham cái gì? Một là tham sắc, hai là tham cảm giác, ba là tham những cái nghĩ tưởng.
VIII. Lịch sử kết tập kinh tạng
Cũng như mình học được một ít kiến thức Phật pháp là đi đến đâu mình cũng huyên thuyên, ai nói gì mình cũng phản bác lại cho rằng ý kiến của mình mới đúng. Đây là thức thủ uẩn, mình ở trong đó mà mình không biết, là chấp thủ, là thức thủ uẩn. Vì cái thấy của mình không có căn cứ trên thánh trí của Phật, hết sức là nguy hiểm. Cái học bây giờ toàn dựa vào tổ này tổ kia, nhưng tổ nào đi nữa cũng chỉ là chúng sanh chứ không được Đức Phật xác nhận, chừng nào Phật xác nhận đó là bậc thánh A-la-hán thì mới được gọi là đúng. Còn mình là phàm phu, không biết được ai giỏi hay dở thì làm sao gọi người đó là thánh Tăng, ngay cả những vị thánh Tăng, đó là phàm phu mà phàm phu thì không có giá trị. Phàm phu thì làm sao biết vị đó là thánh?
Điều Minh Thành sắp nói sau đây có liên hệ đến lịch sử kiết tập của Phật giáo, nếu mình không nắm vững thì tu không thành tựu, tất cả những gì mình học đều rơi vào ngõ cụt. Sau khi Đức Phật nhập diệt thì Ngài Ma-ha-ca-diếp yêu cầu mở đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất. Trong lần kết tập này có 500 vị A-la-hán được Đức Phật công nhận, trong 500 vị A-la-hán này có Ngài Ma-ha-ca-diếp và lần kết tập này cũng chính Ngài Ma-ha-ca-diếp trủ trì và Ngài là đại thánh.
Trong lần kết tập thứ nhất viết được 4 bộ kinh Nikāya, không có Tiểu Bộ, phải hơn 200 năm sau khi Đức Phật nhập diệt mới có Tiểu Bộ kinh. Trong lần kết tập thứ hai là do có tranh luận trong Tăng đoàn, chia sẻ, phân phái ra. Tất cả những vị này là phàm Tăng, thánh Tăng thì làm gì có tranh luận, làm gì có phân phái. Cho nên chia ra làm 20 bộ phái trong lần kết tập lần thứ 2. Sau đó kết tập lần thứ 3, thứ 4 cho đến lần thứ 5, thứ 6, vậy mà những người sau này lại ưa thích những bộ kinh sau này. Cho nên lần kết tập thứ nhất không có luận tạng, không có vi diệu pháp. Nhưng bây giờ chính Minh Thành đi qua các nước Nam tông như Myanmar là chỗ Phật giáo đứng nhất thế giới, Minh Thành vào đảnh lễ, cúng dường các vị Tam tạng pháp sư.
Có một sư bên Việt Nam qua đó học tiến sĩ mà nói bên đây tạng vi diệu mới là tinh hoa nhất, cốt lõi nhất còn kinh là thứ yếu, không quan trọng. Minh Thành nghe xong là giật mình, cho nên bây giờ bên đó đại đa số đi theo vi diệu pháp, Phật giáo Nam tông ở Việt Nam cũng vậy. Đây là sự thật hết sức đau lòng và cay đắng. Đừng nói chi Phật giáo phát triển, ngay cả Phật giáo nguyên thủy Nam tông cũng không chú trọng tạng kinh thật sự của Đức Phật, trong khi bao nhiêu lần kết tập về sau này mới có tạng vi diệu pháp. Hàng mấy trăm năm sau mới xuất hiện tạng vi diệu pháp được những người về sau này chú giải những lời của Phật, vậy mà bây giờ đi học cái đó. Tại sao vậy?
Vì tạng kinh Nikāya tu chứng mới có thể thấy biết được, nếu không tu chứng là không thể hiểu được. Còn những tạng kinh sau là tri thức, kiến thức, học thức như triết lý, lấy cái đó để biện luận, giảng dạy, làm học thuyết. Cái này rất dễ, chính chỗ này làm cho chánh pháp mai một và hiện tại bây giờ, dù cho có giảng kinh Nikāya cũng giảng theo kiến thức nghiên cứu, giảng theo kiểu học thuyết, chứ không đưa ra được đạo lộ tu hành. Đây là một sự đau lòng và cay đắng. Minh Thành hết sức may mắn khi có nhân duyên này, đánh đuổi cả cuộc đời của mình để đi tìm và cuối cùng đã tìm ra. Bây giờ Minh Thành đang thắp sáng lại ngọn đèn chánh pháp này, hiện giờ có được 8 đạo tràng Nikāya trong – ngoài nước tu học theo quyển sách Kinh Nghiệm Tu Học Kinh Nikāya.
Không cần đông, chỉ 5-7 người cũng có thể thực tập tu học theo kinh Nikāya. Thậm chí Minh Thành có thể giảng trực tuyến từ xa, còn chánh pháp Đức Phật nói trong này cũng là Tứ Niệm Xứ, cho nên học cái này tuyệt vời lắm. Không phải mình học là mình nhiếp phục được ngay năm uẩn và có thể từ bỏ ngay năm uẩn, nhưng mình biết được đạo lộ tu học là như vậy và mình biết mình đang đứng ở đâu trong đạo lộ này. Nếu mình nhiếp phục được tham sân si và bản ngã phần nào thì ít nhất mình sẽ không rơi vào những con đường tăm tối, thối đọa. Mình sẽ ở trong cảnh giới của Nhân – Thiên, lần lần mình sẽ lưu cái tâm hướng Dự lưu để từ từ mình bước vào dòng trí huệ thật sự của Đức Phật. Làm được như vậy là quá tuyệt vời. Một đống hột xoàn giả với một hột thật thì mọi người chọn cái nào?
Cho nên hiện tại bây giờ Minh Thành đang khôi phục lại chánh pháp có từ hơn 2000 năm trước. Tuy rằng sự tu học của mình chưa được thâm sâu nhưng sự tin tưởng, thấy biết về pháp tuyệt đối không bị lay động mà ngược lại rất rõ ràng và rành rẽ. Mình đã nắm vững con đường và phương pháp cho nên có lòng tin bất động, chính mình thực tập sẽ thấy, sẽ biết tham sân si hoạt động như thế nào, phương pháp nhiếp phục như thế nào và con đường thoát ra như thế nào. Thật sự rất tuyệt vời.
IX. Hai con đường tu tập
Phát triển về tài chính nó có nhiều phương diện. Đối với người xuất gia là khác, đối với cư sĩ hiểu đạo sâu sắc là khác, mà đối với một người cư sĩ mới bình thường là khác. Mình có hai hướng tu tập. Một hướng là nhân thiên pháp, một hướng là bất tử pháp. Nhân thiên pháp là những công việc phước báu, lành thiện ở trong luân hồi.
Nếu như mình tham muốn chân chánh thì cái đó không có tội. Mình làm nghề chân chánh, không lừa gạt người ta, không có đi đồ lậu, không bán thuốc phiện. Không làm năm nghề Đức Phật nói không thực hành, là tà mạng đó. Là không bán rượu, không bán thịt, không bán người, không bán vũ khí và không bán thuốc độc. Đó là năm nghề Đức Phật gọi là tà mạng. Nếu mình không làm năm nghề đó, làm nghề chân chánh đàng thì mình không có tội.
Đó là nhân thiên pháp, nếu mà bất tử pháp là khác. Bất tử pháp thì người này vẫn làm bình thường như vậy. Mà những cái làm của người này không bị tham đắm trong đó. Mà làm vì bổn phận, làm vì trách nhiệm và làm những cái đó để hộ trì tam bảo, để in kinh ấn tống, để duy trì ngọn đèn chánh pháp với thế gian, thì cái đó một đẳng cấp khác nữa. Không phải ai làm cái gì mình cũng nói người ta tham hết là không phải. Cho nên nó phân biệt ra hai cái là nhân thiên pháp và bất thiện pháp nó khác nhau.
Người tu nhân thiên pháp là người đó không chấm dứt sanh tử. Người đó muốn còn đời sau để hưởng nữa, thì vẫn được. Nhưng mà còn đời sau, còn luân hồi sanh tử thì nó còn rơi lọt, không biết được. Khi nào nhập lưu tu đạo hoàng, thì Đức Phật sát huyết người này tiến thẳng đến chánh giác. Còn nếu chưa nhập lưu thì rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dễ ợt. Hằng ngày mình đọc báo chí tin tức là toàn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không. Những kẻ giết, người xâm hại ngay trong hiện tại thì đã vô địa ngục rồi, ngục tù rồi, đừng nói chi nhắm mắt. Một cái tâm sân hận, một cái tâm tham dục như vậy, một cái tâm si ám như vậy thì địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mà vô đó là khủng khiếp lắm, một ngàn năm ở mình thì ở dưới đó mới một ngày một đêm. Mà sống trong đó một ngàn tuổi, là tính ra nhiêu. Ngàn năm có một ngày, một ngàn tuổi ra bao nhiêu? Vô số kể, thật khủng khiếp.
X. Quán thọ
Nhưng mà cái thọ uẩn hết sức quan trọng. Đức Phật nói: tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, nơi cảm giác. Tại vì cái thọ này đặc biệt, nó gắn kết thân và tâm. Cho nên sân lên người ta nhìn cái sắc người ta biết mình sân. Chứ cái tưởng của mình người ta không đọc được, cái thức của mình người ta không biết. Nhưng mà cảm thọ của mình biểu hiện trên thân mình nó có chỗ. Ví dụ: Dục khởi nó có chỗ, sân khởi nó có chỗ, tham khởi nó có chỗ và si khởi nhìn cái mặt biết không?
Cho nên cái thọ là một cái chỗ hội tụ tất cả pháp. Cho nên cái thọ này là sự gắn kết giữa thân và tâm. Cho nên mình tu chỗ quán thọ là chỗ quan trọng nhất, tuyệt đối quan trọng. Muốn nhìn cái gì trong thân tâm mình, nhìn vô cái thọ là nó hiện ra hết. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, bài kinh Cội Rễ trong Tăng Chi Bộ kinh. Trong cảm thọ, trong cảm giác nó hội tụ ở đó hết.
Ví dụ: Ông xã đi làm về mệt, mới bước vào nhà nói một câu gì đó tự nhiên mình bực mình, mình thấy khó chịu. Mình phải thấy được cảm giác đó và tại sao mình khó chịu vậy. Mình phải hoá giải cảm giác đó liền, mình biết cảm giác này là không tốt, cảm giác này là không nên. Nhiều khi ổng đi làm về ổng mệt, mình phải có sự thông cảm, phải có sự quan tâm, phải có sự độ lượng tha thứ. Mình hoá giải cảm thọ lập tức, mới vừa khởi lên là mình hoá giải liền, không cho nó bùng phát lên. Mình không có chấp nhận một cảm giác sân, một cảm giác khó chịu, mình không có làm cho nó tăng tưởng, phát triển, bành trướng. Mà mình có một hướng chấm dứt, hướng từ bỏ, hướng tẩy sạch. Là đó sự tu rất là thâm sâu.
Còn cái kia nó khởi lên một cái là mình chấp nhận, không những vậy mà mình còn làm cho nó lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển, bành trướng. Đức Phật còn dùng từ là áp đảo, là mình chết trong cảm thọ đó luôn. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là các khía cạnh của năm uẩn đối với thiện pháp. Mà phải nhìn thấy năm uẩn rồi mới tu tập được, nếu không nhìn thấy được năm uẩn thì ba mươi bảy phẩm trà đạo chỉ còn trên lí thuyết thôi.
Ví dụ: Chánh kiến là thấy được năm uẩn. Rồi bây giờ chánh tư duy là gì? Là một sự suy nghĩ đánh đuổi những ham muốn, những nóng giận, những cái hại người ta. Những suy nghĩ đó thuộc về cái gì uẩn? Đó là thuộc về hành uẩn. Rồi sự tinh tấn của mình, mình cũng dùng những cảm giác, suy nghĩ, tác ý. Thì nó cũng thuộc về hành uẩn, thọ uẩn. Cho nên ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng phải đứng trên ngũ uẩn. Nếu không đứng trên ngũ uẩn là sụp đổ hết. Tại vì ngũ uẩn là thân tâm mình, mình không biết thân tâm mình thì làm sao mình tu. Mình không nhìn thấy được những cảm giác, nghĩ tưởng của mình thì làm sao mình tu. Giống như điều đó mình bước vào nhà mà mình mở của mình đi vô vậy.
Mình thành tựu trí ngũ uẩn thì chỗ đó mình tu học cái gì cũng vững chắc, cũng có nền tảng. Còn nếu không là trên suy tưởng thôi. Đến để mà thấy tức là mình quay trở về mình nhìn ra thân thể, cảm giác, những nghĩ tưởng, nhận thức trong thân tâm của mình. Khi có tham mình biết, nhưng mà không phải biết không. Mà để cho nó sanh rồi nó diệt, mà mình phải dùng nhiều phương pháp đánh đuổi, tẩy sạch, trừ diệt nó. Thì đó gọi là tinh cần, đó gọi là tinh tấn trong bát chánh đạo.
Khi mà mình thấy như vậy, mình tác ý, đánh đuổi, nhiếp phục, tẩy sạch nó thì như vậy mình sẽ có khả năng hướng thượng. Mà điều đó tự mình thấy, tự mình biết. Tự mình biết mình có tham, tự mình thấy mình đã diệt những cái tham nào. Tự mình biết mình có sân và tự mình biết mình đã nhiếp phục được bao nhiêu phần. Tự mình biết mình có si và mình đã dùng những phương pháp đánh đuổi như nào. Cái đó là tự mình biết, tự mình thấy. Và những điều đó giúp mình thăng hoa, hướng thượng trong pháp và luật của Như Lai.
XI. Bốn bộc lưu
Bước tới, dừng lại không có quan trọng. Đó chỉ là một hình ảnh Đức Phật nói với một cái biểu trưng. Tức là bộc lưu đó là gì? Dục bộc lưu, kiến bộc lưu, hữu bộc lưu, vô minh bộc lưu. Bốn dòng thác lũ này cuốn hết chúng sanh trong tam giới. bộc lưu là dòng thác lũ. Bởi vì cái dục trong người mình, cái ham muốn trong người mình nó là một dòng thác lũ nó cuốn trôi mình đi. Suốt một cuộc đời của mình bị ham muốn nó cuốn trôi mình. Nó cuốn trôi mình từ khi sanh ra cho đến chến luôn đó là dục bọc lưu.
Rồi hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu. Hữu bộc lưu là dòng thác lũ thứ hai. Là ưa thích sự hiện hữu. Nếu mình nói nghĩa mà dễ hiểu là mình rất ưa thích thể hiện mình. Nghĩa sâu là mình ưa thích sự hiện hữu trong luân hồi, mình ưa thích có mặt trong ngũ uẩn. Cho nên nói tu mà chám dứt ngũ uẩn, tu mà nói giải thoát, chứng ngộ cái gì đó, tu là mình thích. Nếu nói tu là đây là đời sống cuối cùng, không còn đời sống nào khác nữa, thì mình sợ liền. Sợ không? Không còn đời sống nữa.
Đại đa số người ta muốn tu để đời sau người ta hưởng, tu là được cái này, được cái kia. Tu mà được cái gì đó thì mình mới tu chứ. Thì như vậy là dòng thác lũ thứ hai là hữu bọc lưu. Tức là dòng thác lũ trong sự mình muốn hiện hữu, muốn có mặt, muốn tồn tại ở trong năm uẩn này.
Ví dụ: Mình nói đơn giản là nhốt mình trong nhà một ngày không gặp ai hết, không mạng, không gì hết thì mình có buồn không? Mình có muốn đi tiếp xúc không? Mình có muốn bấm điện thoại không? Những cái thúc dục, muốn đó là dục bọc lưu đó. Mình không có chiến thắng được cái dục đó, cái mong muốn đó, cái thúc dục trong đó. Mình muốn gặp người này, gặp người kia để nói chuyện này nọ kia, còn ngồi thiền là mình khó chịu. Ngồi là mệt lắm, ngồi đối diện nội tâm mình làm biếng lắm. Còn ngồi nói chuyện café mình nói chuyện ba bốn tiếng không sao hết. Nhưng mà ngồi thiền nửa tiếng là mệt. Thấy chưa? Như vậy là gì? Nhìn sâu vô trong là một dòng thác lũ của dục, một dòng thác lũ của hiện hữu, một dòng thác lũ của kiến chấp.
Những cái hiểu biết của mình đã học, mà giờ nói sai một cái là mình khó chịu lắm, không phải dễ đâu. Kiến bọc lưu. Những cái thấy biết của mình, những cái tích luỹ thấy biết của mình, cái đó trở thành dòng thác lũ và nhấn chìm mình ở trong sanh tử. Khung khiếp không? Tại cái thấy biết của luân hồi, thấy biết của vô minh, thấy biết của nghiệp. Chứ không phải thấy biết của thánh trí. Nếu mà căn cứ vào kinh Nikaya, thấy biết đúng như vây đó, thì gọi là thấy biết của bậc thánh, tri kiến của bậc thánh. Còn cái thấy biết của mình là thấy biết trong ngũ uẩn, thấy biết trong nghiệp. Thấy biết trong vô minh, trong chấp ngã, mình bấu cứng như vậy là kiến bọc lưu, chết chìm.
Rồi gì nữa? Vô minh bộc lưu. Là sự không thấy, không biết của mình về năm uẩn. Không thấy không biết về cảm giác, không thấy không biết về tham sân si, không thấy không biết về những cấu uế của nội tâm mình không thấy, không biết. Mình không thấy, không biết thì mình đâu biết tâm mình là cái gì đâu. Rồi càng không biết tham sân si sanh khởi ở đâu, tại sao nó sanh khởi, nó an trú như thế nào, nó quậy phá mình như thế nào, nó áp đảo mình như thế nào, nó làm cho làm cho mình khổ não như thế nào, mà mình cứ tưởng người kia làm cho mình khổ không thôi. Tại người kia, tại bà kia, tại nó. Mình không biết tại tham sân si bản ngã, mình không biết tại cái gốc khổ của nó là ngũ uẩn, là ngũ thủ uẩn. Là sự bám chặt vào trong năm uẩn. Thì cái đó mới khổ, mình không thấy được điều đó. Thì chính điều đó là cái dòng thác lũ thứ tư. Gọi là vô minh bộc lưu.
Cho nên ta không tiến tới, ta không đứng lại. Vì ta không nhìn thấy những thứ này là thứ vô thường, những thứ vô ngã, những thứ duyên sanh, những thứ trống rống, những thứ không có thật thì ta thoát ra thôi. Cần gì đứng liên tiến lại gì đâu.
Tại vì mình thấy nó thiệt, thì mình mới có tiến lên, đứng lại, làm gì để thoát ra. Còn Đức Thế Tôn nhìn thấu được bản chất của nó là trống rỗng, nó là bong bóng, nó là bọt nước. Cho nên không quan trọng ở chỗ dừng lại, hay tiến lên mà quan trọng mình thấy được cái bản chất của tứ lưu, bốn dòng thác lũ. Đức Thế Tôn vượt ra dục tham đối với bốn dòng thác lũ này.
Mình tu hiểu biết rồi, mà nghĩ giờ bỏ hết trơn sao ta. Mình hiểu biết rồi mà nó cũng bình định, nó không muốn đi. Có lúc mình quyết định đi, có hồi mình nói thôi tiếc, tiếc giờ năm uẩn bỏ hết sao. Thì trong thời gian này mình phải tác ý mạnh luôn. Khi mình xác định luôn thì lúc đó hướng dự lưu, cho đến nhập lưu thánh quả. Là chính thức bước vào dòng trí huệ, không còn thối đoạ, không còn thói chuyển, không còn thối lui, không còn lui sụp. Xác quyết một trăm phần trăm tất cả là năm uẩn, mà năm uẩn này là vô thường, khổ, vô ngã. Bản chất của nó là như vậy. Xác quyết một trăm phần trăm không còn giao động nữa. Mà khi mình đang hướng tới mạnh mẽ, siêng năng, tinh tấn, nỗ lực, quyết tâm thì cái đó là hướng dự lưu, là đã bước vào bốn đôi tám chúng của hiền thánh. Đây là đa văn thánh đệ tử thật sự của Đức Phật.
Còn mình chưa thấy được năm uẩn thì mình còn xa, mình ở vòng ngoài, chưa gọi là đệ tử của Đức Phật, chưa gọi là đa văn thánh đệ tử. Nếu mình chưa thấy năm uẩn. Chưa thấy được mục đích li tham năm uẩn trên cuộc đời này, thì mình còn dài dài. Dòng luân hồi còn vô tận, mênh mông.
Bốn đôi tám chúng là gì?
Bốn đôi tám chúng là bốn thánh quả, là bốn bậc hướng đến thánh quả đó. Sơ quả là Tu Đà Hoàn. Nhị quả, tam quả rồi tứ quả. Rồi có bốn cái quả hướng tới bốn cái quả đó. Giống như một người đậu đại học và một người đang luyện thi đại học.
Ví dụ: Vị này đang hướng tới quả thứ nhất, hướng tới quả thứ hai, hướng tới quả thứ ba, hướng tới quả thứ tư. Thì cái đó mới gọi là bốn đôi tám chúng, hiền thành của Phật.
Mà những vị này thành tựu trí năm uẩn của Phật hết. Không có vị nào không thành tựu trí năm uần mà được vô bốn đôi tám chúng đó hết. Tại vì trí năm uẩn là thân tâm của mình chứ đâu phải là cái gì đâu. Mình không thấy biết thân tâm của mình thì làm sao mình nhìn được những rác bẩn, cấu uế, tham sân si bản ngã. Rồi làm sao mình trừ diệt.
Đang có cảm giác sân mình phải tác ý trừ diệt. Chứ mình không phải cố gắng đi theo cái sân đó. Đó là không phải. Tức là mình biết có cảm giác sân, khó chịu, thì mình phải tìm cách hoá giải cảm giác đó. Chứ không phải mình đi theo nó, mình biết nó làm cái gì. Mình biết có nó rồi mình đánh đuổi nó, mình tẩy sạch nó.
Ví dụ: Mình biết trong nhà mình có con rắn độc thì mình phải tìm cách đuổi nó ra. Chứ không phải mình biết nó rồi, mình xem nó bò đi đâu, nó ra làm sao, nó màu gì. Không phải, mà là tìm cách mình đánh đuổi nó càng mau càng tốt. Chứ không phải mục đích mình thấy cái sân, để mình hiểu cái sân là không phải. Mà là biết sân để mình đánh đuổi cái sân nó ra. Hồi trước mình không biết cái sân, vị trí nó ở chỗ nào. Mình biết vị trí nó ở trong cảm thọ, ở trong cảm giác, thì mình dùng từ tâm, dùng quán vô thường, để mình quán chiếu.